Trận chiến trên eo biển Tsushima
Trận chiến cuối cùng của thiết giáp hạm Bismark
Trận chiến trên vùng biển San hô
Trận chiến trên eo biển Tsushima
Giới thiệu
Trận chiến Tsushima diễn ra ngày 27-28/5/1905 giữa Hạm đội Baltic của Nga dưới quyền đô đốc Zinovi Rozhdestvensky và hạm đội Nhật dưới quyền Đô đốc Togo Heihachiro trên eo biển Triều Tiên. Nó đánh dấu một bước ngoặt về sự thay đổi quyền lực ở khu vực Thái Bình Dương đầu thế kỷ 20.
Căn nguyên sâu xa
Chiến tranh Nga-Nhật nổ ra như là kết quả của sự tranh giành phạm vi ảnh hưởng từ đống tro tàn của đế chế Trung Hoa giữa một cường quốc cũ (Nga) và cường quốc mới (Nhật). Trong cuộc chiến Trung-Nhật (1895-1896) mà chiến thắng thuộc về quân đội hiện đại hơn của Nhật, đã tạo cho đế quốc mặt trời mọc này một chỗ đứng trong châu Á đại lục, với cảng chiến lược Arthur tại Mãn Châu, cùng với Đài loan và một khoản tiền bồi thường lớn.
Nước Nga, sử dụng sức mạnh ngoại giao của mình giữa các cường quốc phương Tây, đã buộc Trung quốc ký một hợp đồng cho thuê, đưa cảng Arthur lại cho Nga. Phong trào Nghĩa hoà Đoàn nổ ra năm 1900 đã tạo điều kiện cho Nga để lại một đơn vị gìn giữ hoà bình ở TQ, và nước Nga đã sử dụng lực lượng đó để chiếm và củng cố cảng Arthur. Căng thẳng vẫn ở mức cao vào năm 1901 mặc dù quá trình đàm phán vẫn tiếp tục, Nhật Bản sắp xếp một hiệp ước với Anh theo đó bảo đảm sự trợ giúp của Anh nếu như có một cường quốc nào khác ngoài Nga liên quan đến vụ việc. Bộ Hải quân Nga đã đánh giá thấp một cách nghiêm trọng quyết tâm của người Nhật và khả năng tiến hành chiến tranh hiện đại của họ. Nhưng thật sự thì con đường dẫn đến chiến thắng của người Nhật đã bắt đầu từ rất lâu trước đó, khi mà họ mở cửa đối với phương Tây.
Phát triển Hải quân
Trong thế kỷ 16, tướng quân mạc phủ Tokugawa, lãnh chúa phong kiến của Nhật, đã tách rời nước Nhật khỏi phần còn lại của thế giới. Trong nhiều thế kỷ, kỹ thuật quân sự tiên tiến nhất ở đây là súng hoả mai. Cùng với sự tiếp xúc với phương Tây, sau khi hạm đội của đô đốc Perry (Mỹ) tới vịnh
Hạt nhân của hải quân mới chính là sự huấn luyện, mà đã vượt quá mức yêu cầu. Một ví dụ sống động là về đô đốc Isoroku Yamamoto, người đã bị thương trong trận chiến Tsushima, sau này là kiến trúc sư trưởng của vụ tập kích Trân Châu Cảng lịch sử. Khi còn là một học viên trẻ của hải quân Nhật, cả lớp của ông ta đã được yêu cầu phải bơi qua giữa 2 hòn đảo ngoài khơi phía bắc Nhật Bản. Nơi đó đang có một luồng nước lạnh chảy rất xiết, cùng với những bầy cá mập. Nhiều tá học viên đã không thể chạm tới bờ.
Kỹ năng pháo binh và vận động cũng được tập luyện rất thường xuyên như thể họ đang chiến đấu thật. Các pháo thủ tập bắn với đạn thật, các chiến hạm tập di chuyển vận động với vận tốc như trong chiến đấu mà kết quả có thể khiến con tàu bị hỏng, thậm chí mất tàu. Các sĩ quan và thủy thủ luôn được đòi hỏi phải đáp ứng các yêu cầu ở mức cao nhất, không có bất cứ sự kém cỏi nào được chấp nhận. Việc giáng chức, hay đuổi khỏi quân đội rất thường xuyên xảy ra, từ các sĩ quan cao cấp cho tới những lính mới.
Chú gấu già nua
Hải quân Nga, hoàn toàn trái ngược, đang ở trong tình trạng suy tàn. Mặc dù nhiều thủy thủ Nga rất có năng lực, Bộ hải quân lại toàn những kẻ thủ cựu, và ngân sách dùng để duy trì hạm đội Nga lại đặc biệt nhỏ. Tuy vậy, nước Nga, vì sức mạnh trên bộ, vẫn được các nước phương Tây vị nể. Nhưng ngày 10/1/1904, nước Nhật đã làm cả thế giới ngạc nhiên khi tuyên chiến với Nga và tấn công cảng Arthur từ biển. Hải quân Nhật nhanh chóng chiếm ưu thế và tiêu diệt hạm đội Thái Bình Dương của Nga trong trận chiến
Yêu cầu cần phải tái thiết lập lại quyền lực trên bộ và trên biển đã dẫn tới việc Hạm đội Baltic được lệnh lên đường sang châu Á ngày 15/10/1904. Hạm đội khi đó được đổi tên là Hải đội Thái Bình Dương số 2. Hạm đội được đặt dưới sự chỉ huy của đô đốc Zinovy Petrvich Rozhestvensky, được tăng thêm bởi một số tuần dương hạm cũ kiểu những năm 1880 dưới quyền đô đốc Nebagatov cùng một số tàu vận tải. Rozhestvensky đã chỉ huy hạm đội của mình thực hiện một kỳ công là đi qua một quãng đường dài hơn 18000 hải lý (hơn 33.300 km) và đến châu Á nhiều tháng sau đó (trong số những nơi mà hạm đội này ghé qua có cảng Cam Ranh ở Việt nam). Đáng tiếc là thất bại thảm hại của hạm đội Nga sau đó đã làm lu mờ kỳ tích trên. Mục tiêu của hạm đội là đến được
Diễn biến trận chiến
Trước khi bước vào cuộc chiến, ngườ Nhật đang có những lợi thế mang tính quyết định: chiến trường gần quê nhà, một lực lượng gọn nhẹ hơn gồm toàn những chiến hạm kiểu mới và đồng bộ về tốc độ và hoả lực, thủy thủ được huấn luyện chu đáo và đang có nhuệ khí rất cao, việc lên kế hoạch và tập luyện kỹ lưỡng cho cả mục tiêu chiến lược và chiến thuật.
Ngày 27/5/1905, đô đốc
Hạm đội Nga bị phát hiện khi một đội tuần dương hạm của Nhật tìm ra 2 tàu bệnh viện của họ trong một khu vực đầy sương mù ở eo
Kỳ hạm Knyaz Suvorov khai hoả trước tiên, ba phút sau, chiếc kỳ hạm của đô đốc
Trở lại với diễn biến của trận chiến, trong 40 phút đầu tiên, người Nhật xối mưa đạn xuống 2 thiết giáp hạm Nga là chiếc Knyaz Suvorov (tàu chỉ huy) và Oslyabya. Chiếc Oslyabya bị đánh đắm cùng với thuyền trưởng Vladimir Ber cùng phần lớn thủ thủ đoàn. Đô đốc Rozhestvensky bị thương nặng ở đầu, còn chiếc kỳ hạm của ông cũng bị hư hại nặng, hầu như không thể chỉ huy hạm đội được nữa. Chỉ huy 2 thiết giáp hạm Hoàng đế Alexander III và Borodino, thuyền trưởng Bukhvostov và Serebrenikov, cố gắng trong vô vọng để che chắn cho chiếc kỳ hạm và đưa hạm đội trở lại tuyến đường đến
Bỏ lại chiếc kỳ hạm Knyaz Suvorov đang bốc cháy, chiếc Borodino chạy về phía nam, thuyền phó Makarov thay thế thuyền trưởng Serebrenikov, đang bị thương, chỉ huy tàu. Tuy nhiên, nó cùng những chiếc khác bị quân Nhật chặn lại. Chiếc Borodino và Hoàng đế Alexander III bị đánh chìm ngay trước khi màn đêm buông xuống. Và gần như cùng lúc, kỳ hạm Knyaz Suvorov bắt đầu chìm vì bị ngư lôi Nhật đánh trúng. Chiếc khu trục hạm Buyny do Kolomeitsov chỉ huy vội chạy đến để cứu tư lệnh Rozhestvensky và bộ tham mưu. Những sĩ quan của chiếc Kyaz Suvorov gồm đại uý Nikolay Bogdanov, Vyrbov, và thiếu uý Verner Kursel từ chối rời tàu và đã chịu chung số phận với chiếc kỳ hạm.
Tối hôm đó, từ trên boong chiếc Hoàng đế Nicholas I, chuẩn đô đốc Nebogatov tiếp nhận quyền chỉ huy hạm đội.
Sang ngày hôm sau, 5 chiếc thiết giáp hạm dưới quyền Nebogatov buộc phải đầu hàng. Chuẩn đô đốc Enkwist cùng 3 tuần dương hạm Oleg,
Nói chung, một số chiến hạm Nga đã chiến đấu rất anh dũng, đôi lúc trước nhiều tàu địch. Nhưng trước một đối phương hơn hẳn về mọi mặt thì tinh thần thôi là chưa đủ, chưa kể là tinh thần chiến đấu của toàn hạm đội Nhật cũng rất cao. Tổng kết cuộc chiến đã phản ánh chiến thắng vang dội cho phía Nhật. Hạm đội Nga mất phần lớn số tàu chiến, 4380 người chết, 5917 bị thương, 4000 bị bắt làm tù binh, trong đó có 3 đô đốc. Hạm đội Thái Bình Dương, Baltic, và hạm đội dự bị của họ hầu như không còn tồn tại. Phía Nhật mất 117 người, 583 bị thương, mất 3 tàu phóng lôi.
Ảnh hưởng của trận Tsushima
"Người Nga không quá tệ như cái cách mà họ bị đánh bại, và họ bị thảm bại vì họ đã thờ ơ và không bị đẩy vào thế đường cùng như ở Crimea hay như ở cuộc kháng chiến chống Napoleon, trong khi mỗi binh sĩ và thủy thủ Nhật tin rằng, mà thật sự nó đúng như vậy, rằng vận mệnh dân tộc họ đang lâm nguy và mỗi cố gắng của từng cá nhân có thể quyết định đại cục" (theo tờ New York Sun).
Tổng thống Mỹ Theodore Roosevelt chủ trì hội nghị hoà bình ở
TT Roosevelt đã nhận ra sự ra đời của một con hổ mới của phương Đông. Ông viết trong một bức thư cá nhân năm 1906: "Trong nhiều năm, người Anh, người Mỹ, người Đức, những người xem nhau như kẻ thù trong nền ngoại thương ở Thái Bình Dương, sẽ phải dè chứng Nhật Bản hơn bất cứ quốc gia nào khác trong quá khứ
Nếu chúng ta cố đối xử với họ như cách ta đối xử với người TQ, và cùng lúc chúng ta không thể giữ cho lực lượng hải quân ở mức cao nhất về trình độ và quy mô, thì chẳng khác nào chúng ta đã tự rước hoạ vào thân".
Về phản ứng của công chúng Nhật trước hiệp định
Nước Nhật giờ đây đã có ưu thế trên biển để hỗ trợ cho những bước đi của nó ở Mãn châu, Triều tiên và nhiều nơi khác. Trong khi đó, trong hơn 3 thập niên tiếp theo, những nước phương Tây phải đối phó với chiến tranh thế giới thứ nhất, cách mạng Nga, sự tái sinh của nước Đức quốc xã, và dần rời xa khu vực châu Á. Còn Yamamoto thì lên chỉ huy hạm đội Nhật, và những bài học từ Tsushima, cảng Arthur đã trở thành triết lý quân sự của ông. Những nền tảng quân sự, chính trị, kinh tế cho một trận chiến mới ở Thái Bình Dương đã được thiết lập mà những diễn viên chính trong đó là nước Nhật và nước Mỹ.
Trận chiến cuối cùng của thiết giáp hạm Bismark
Trong WW 2 đã diễn ra trận hải chiến lịch sử trên Đại Tây Dương. Một lực lượng hùng hậu hải quân Hoàng gia Anh phải chịu bao tổn thất nặng nề mới đánh chìm được tàu Bismark của quân Đức. Gần đây, các nhà nghiên cứu người Mỹ với phương tiện kỹ thuật hiện đại đã tìm thấy xác con tàu này dưới biển.
Hải quân Đức và hải quân Anh vốn có những mối thù truyền kiếp. Từ WW 1, người Anh đã từng đau đầu vì chiến thuật đánh lẻ lợi hại của tàu chiến Đức: chúng thường ra khơi đơn độc, lặng lẽ tiếp cận các đoàn tầu Anh, đánh chìm vài chiếc rồi rút lui êm thấm. Người Đức vẫn duy trì chiến thuật này đến WW 2. Tháng 12 năm 1939, thiết giáp hạm của Đức "Đô đốc Nam tước Phon Shpée" trong một trận hải chiến, trước khi thúc thủ đã nhấn chìm 9 tàu chiến Anh với tổng trọng tải 50 ngàn tấn. Chỉ trong một thời gian ngắn, hải quân Đức với chiến thuật "đơn thương độc mã" đã tiêu diệt hơn 100 tàu chiến Anh. Dĩ nhiên, hải quân Anh không đời nào chịu ngồi bó tay nhìn tàu Đức tung hoành như vậy. Vào tháng 5-1941 đã diễn ra trận phục thù tạo nên cơn bão lửa trên Đại Tây Dương.
Đầu tháng 5, được tin đoàn tàu vận tải Anh bắt đầu rời Hoa Kỳ chở hàng về nước, các thống chế Đức quyết định cử hai tàu đi đón đầu và tiêu diệt. Thiết giáp hạm Bismark có nhiệm vụ tấn công tiêu diệt các tàu chiến hộ tống còn tuần dương hạm Hoàng tử Oighens sẽ xử lý các tàu hàng. Ngoài ra, hai tàu thiết giáp Sharnhorrst và Gnayzenau đang neo đậu trong hải cảng
Ngày 18-5-1941, Bismark và Hoàng tử Oighen rời cảng Gotenhafen tiến về phía eo biển Ban tích. Ở đó, ngày hôm sau họ gặp tàu
Ngày 21-5, hai còn tàu Đức đến vùng biển Kors-Ford, và ra khơi Đại Tây Dương. Cũng ngày hôm đó, một chiếc máy bay trinh sát Anh bay ngang vùng biển Kors-Ford, dĩ nhiên là không tình cờ. Viên phi công đã chụp ảnh và báo cáo về cho bộ tư lệnh hải quân. Người Anh hiểu ra ngay ý đồ của hai tàu Đức. Từ hải cảng Skara Flow-căn cứ hải quân lớn nhất của Anh-phó đô đốc Holland được lệnh ra quân trên siêu hạm Hud. Dẫn đầu hải đoàn gồm Hud, thiết giáp hạm Wells và sáu khu trục hạm. Đích thân tư lệnh Tovy chỉ huy một hạm đội gồm thiết giáp hạm King George V, hàng không mẫu hạm Victories, 4 tuần dương hạm và 7 khu trục hạm tiến về phía bờ biển Tây Nam Ireland. Như vậy, quân Anh đã giăng bẫy kỹ càng.
19 gi ờ 22 phút ng ày 23-5, tàu Souffolk phát hiện Bismark và Hoàng tử Oighen ở khoảng cách 7 dặm. Chiếc tàu Anh khôn khéo nương trong sương mù không cho quân Đức trông thấy, đeo bám đối phương đồng thời báo cáo cho Tovy và Holland về hướng di chuyển, tốc độ và tọa độ của hai tàu Đức. Sau đó tàu Norfolk tiếp cận đối phương nhưng bị Bismark bắn rát phải rút lui, tuy vậy đã kịp thông báo tình hình tàu Đức cho Tovy. Ông này ra lệnh cho tàu Souffolk và
Ngày 24, lúc 5 giờ 35 phút, tàu Hud nhìn thấy tàu Đức ngay chính diện.
Sau khi đánh đắm Hud, tàu Bismark quay sang bắn tàu Wells. 4 quả đạn 380 ly và 2 quả 203 ly đã phá huỷ tháp đại pháo của tàu Wells. Để khỏi chung số phận với tàu Hud, tàu Wells thả khói mù chạy trốn.
Tuy lập kỳ tích hạ siêu hạm Hud nhưng Bismark cũng bị hư hại đáng kể: một quả đạn Anh trúng phần mũi làm hỏng 4 máy, quả nữa trúng khoang chứa nhiên liệu khiến dầu chảy mất khá nhiều, 7 giờ 27 phút, đô đốc Lutiens liên lạc với tổng hành dinh và được lệnh cho phép Bismark về một trong những cảng Pháp, còn tàu Hoàng tử Oighen vẫn tiếp tục thực hiện nhiệm vụ tấn công đoàn tàu hàng.
Cay cú vì bị mất tàu Hud, Bộ tư lệnh hải quân Anh lập tức điều động một lực lượng khổng lồ bổ sung cho cuộc săn tàu Bismark. Lực lượng này gồm thiết giáp hạm Rodnay, hàng không mẫu hạm Arc Royal, tuần dương hạm Cheffild và một thiết giáp hạm từ cảng Galifaks tới. Ngoài ra, một thiết giáp hạm và 4 khu trục hạm đang hộ tống đoàn tầu hàng từ Mỹ về Anh cũng được huy động tăng cường cho lực lượng này. 18 giờ, Lutiens bất ngờ ra lệnh quay sang bắn phá Souffolk và Norflk, buộc hai tàu này phải tránh xa. Nhân cơ hội đó, tàu Hoàng tử Oighen tách ra khỏi tàu Bismark tiếp tục hải trình đi tìm và diệt đoàn tàu hàng của Anh. Khoảng 23 giờ, 9 chiếc máy bay ném bom Swordfish và 5 chiếc tiêm kích Fulmar từ hàng không mẫu hạm Victories lợi dụng trời mưa kéo đến tấn công Bismark. Chỉ một quả bom trúng vỏ thép, không gây thiệt hại đáng kể, còn Bismark thì bắn rơi 2 chiếc máy bay Fulmar.
Sau đó Bismark khôn khéo thoát khỏi tầm kiểm soát của hải quân Anh và tiến về phía nước Pháp.
Ngày 26, vào lúc 10 giờ 20, khi quân Anh tưởng đã hết hy vọng tìm thấy đối phương thì bất ngờ chiếc thuỷ phi cơ Anh "Catalyna" nhìn thấy Bismark ở vùng biển cách đ ất Pháp chừng 690 dặm. Bộ tư lệnh hải quân Anh hiểu rằng sẽ rất khó đuổi kịp nếu không cầm chân nó lại. Phi đội trên hàng không mẫu hạm Arc Royal được giao nhiệm vụ này. 15 chiếc máy bay ném bom, bất chấp thời tiết xấu, đã xuất trận và ráo riết tấn công mục tiêu. Một trong hai trái bom rơi trúng tàu Bismark đã làm hư hỏng một bộ phận điều khiển. Lutiens quả đã tiên đoán đúng! Lúc này, các tàu Anh đã gần cạn nhiên liệu, nếu không có quả bom "định mệnh" ấy, hẳn quân Anh đã phải bỏ dở cuộc săn này. Tuy nhiên, dù phần lái có bị trục trặc, Bismark vẫn lợi dụng bóng đêm tiếp tục lẩn trốn.
Chẳng may, hồi 1giờ 20 phút sáng 27-5, Bismark bất ngờ chạm trán với khu trục hạm Piorun. Chiếc tàu nhỏ này không có đại pháo nhưng bắn nát Bismark bằng đạn 120 ly. Nhìn thấy luồng lửa đạn, các tàu Anh xúm vào trợ lực cho Piorun. Hai trái ngư lôi bắn trúng tàu Bismark. Chiếc thiết giáp hạm khổng lồ khựng lại. Bờ biển Pháp lúc này chỉ còn cách không đầy 400 dặm. 8 giờ 47 phút, tàu King George V và tàu Rodnay chính thức tham chiến. Rodnay phóng một loạt ngư lôi. Chỉ hai phút sau Bismark bắt đầu giáng trả những đòn quyết liệt. Lúc bấy giờ trong khu vực xảy ra trận đánh tình cờ có mặt một chiếc tàu ngầm Đức. Tàu ngầm này vừa mới tham gia một chiến dịch khác về ngang qua đây, đạn dược hết nhẵn nên đành "giương mắt" nhìn hai bên quyết chiến mà không giúp gì được cho Bismark. Đến 10 giờ, Bismark hết đạn còn King George V và Rodnay hết nhiên liệu. Tovy ra lệnh cho tuần dương hạm Dorsershir tiếp tục bắn phá Bismark.
Được lệnh của Tovy, tàu Dorsershir tiến lại gần Bismark bấy giờ đang im như chết nã hai trái ngư lôi vào hông phải, sau đó, như trong một cuộc tập trận huấn luyện, Dorsershir quành qua bên hông trái nã tiếp một trái nữa. Bên tàu Bismark, Lutiens ra lệnh cho thuỷ thủ đoàn đặt chất nổ vào khoang máy và chuẩn bị rời tàu, còn ông ta và thuyền trưởng sẽ ở lại trong đài chỉ huy để cùng chết với con tàu. Nhưng tàu Bismark không chịu nổi sự công phá dữ dội của quân Anh, đã chìm sớm hơn dự kiến của đô đốc Lutiens. 10 giờ 36 phút ngày 27-5-1941 là thời khắc cuối cùng.
Tàu Dorsershir và tàu Maori vớt được 110 người, tàu ngầm Đức cứu được 3 người nữa. Lúc ra khơi, tàu Bismark mang theo trên mình 2403 sĩ quan và thuỷ thủ.
Trận chiến trên vùng biển San hô
Giới thiệu
Trận hải chiến trên vùng biển San hô là cuộc đụng độ trên biển lớn trong Đệ nhị thế chiến, nó diễn ra trong hai ngày 7-8 tháng 5/1942 giữa lực lượng của Mỹ và Nhật Bản. Trận chiến này là một bước ngoặt bởi vì nó đã chặn đứng đà tiến công của quân Nhật xuống phía nam.
Mục tiêu
Nỗi lo sợ về mưu đồ của chủ nghĩa đế quốc Nhật đối với Austrlia bắt đầu từ đầu thế kỷ khi mà nước Nga bị đánh bại trong cuộc chiến Nga-Nhật năm 1904-1905. Những câu chuyện và những vở kịch đã góp phần làm thổi phồng lên nguy cơ đó hay còn được gọi là "mối đe doạ da vàng". Trong những năm 30, những tài liệu của Nhật như tài liệu về Khối thịnh vượng chung Đại Đông Á thỉnh thoảng đề cập
Diễn biến toàn chiến dịch
Ngày 7/4/1942
Trung uý Kiyoshinge Sato của quân đội Hoàng gia Nhật rời Rabaul, nằm trên mũi phía bắc của đảo New Britain trong vùng biển San hô vào vùng nội địa của Talasea. Nhiệm vụ của anh ta là bảo đảm rằng không còn một trạm vô tuyến nào còn lại trên đảo, cho phép quân Nhật mở một chiến dịch đổ bộ vào cảng Moresby và quần đảo Solomon từ Rabaul, bắt đầu từ Tulagi. Việc chiếm được cảng Moresby là bước quyết định để tấn công bắc Úc, khống chế không lực nước này.
Nước Nhật đã tin chắc vào ưu thế tuyệt đối của mình tại chiến trường Thái Bình Dương. Sau vụ đột kích vào Trân Châu Cảng, lá cờ Mặt trời mọc đã dễ dàng tung bay ở Hồng Kông, Singapore, Philippine, Java, Sumatra
Những hạm đội của phương Tây tan vỡ, và cái ngày mà quyền kiểm soát của Nhật được đưa đến từng ngóc ngách của thế giới dường như không còn xa.
Ngày 8/4/1942
Nhật chiếm được Talasea. Bộ tư lệnh tối cao chuẩn bị chiếm cảng Moresby, một căn cứ không quân lớn của
Giữa tháng 4/1942
Đơn vị tình báo của tướng Douglas McArthur liên tục cập nhật thông tin về hoạt động của quân Nhật trong khu vực gần Tulagi và Rabaul cho đô đốc Nimitz và bộ tham mưu, đang đóng tại Trân Châu Cảng. MacArthur đặt cược lớn vào sự an toàn của Moresby. Kế hoạch của ông là điều động binh lính hỗ trợ cho các chuỗi đảo, biến Moresby thành bước đệm để sau này tiến thẳng đến Philippine.
Ngày 29/4/1942
Chiến dịch MO, được chỉ huy bởi Đô đốc Inouye nhận được quân lệnh tấn công cảng Moresby. Lực lượng Nhật đóng ở Rabaul và Tulagi. Hạm đội đồng minh tại khu vực do chuẩn đô đốc Fletcher chỉ huy. Còn chỉ huy toàn bộ hải quân đồng minh ở Thái Bình Dương là Đô đốc C.W.Nimitz. Những tàu chiến của đồng minh lúc đó được trang bị radar, một kỹ thuật mà người Nhật chưa có.
Về phía hạm đội của Australia, chỉ huy là Chuẩn Đô đốc Sir John Gregory Crace, một thành viên của Hải quân Anh sinh tại Australia. Lực lượng bao gồm tuần dương hạm hạng nặng HMAS Australia (tàu chỉ huy), tuần dương hạm hạng nhẹ HMAS Hobart, và chiếc HMAS Canberra, ngoài ra còn có một số tàu của Mỹ là tuần dương hạm USS Chicago, khu trục hạm USS Perkins, USS Walker, USS Farragut cũng nằm dưới sự chỉ huy của Crace. Không quân của Crace gồm những máy bay bay từ các căn cứ ở
Ngày 30/4/1942
Tình báo Nhật xác định Mỹ có khoảng 200 máy bay chủ lực ở
Trong thời gian này, đơn vị tình báo Mỹ "Magic" biết được rằng phía Nhật đang di chuyển không lực của mình từ quần đảo
Phía Mỹ cũng đã điều động 22000 quân tới
Hải quân Nhật cũng đoán rằng sẽ có hải chiến trước khi họ có thể đổ bộ lên Moresby. Tình báo của họ xác định rằng có 1 tàu sân bay Mỹ đang trong khu vực, họ nghĩ rằng đó là chiếc
Nimitz không bị lừa dễ dàng. Đô đốc Fitch cùng tàu sân bay
Ngày 1/5/1942
Người Úc biết rằng quân Nhật đang hướng về Tulagi, và họ cho rút đơn vị đồn trú nhỏ của họ ở đó trước khi người Nhật đến vào ngày 3.
Đội tàu của đô đốc Fitch và Crace gặp lực lượng của Fletcher. Fletcher, chỉ huy đội tuần dương hạm của Hạm đội Thái Bình Dương, xem tàu sân bay chủ yếu là nơi để phóng máy bay đi, nhưng vẫn là một tàu chiến mặt biển với khả năng tư chiến đấu. Ông thuộc những người theo trường phái cũ, những người luôn xem tàu sân bay như một con tàu luôn cần được tiếp nhiên liệu và phải sẵn sàng di chuyển bất cứ lúc nào. Tiếp dầu và tiếp tế luôn nằm trong suy nghĩ của Fletcher. Những con tàu được tập trung lại và chờ được tiếp tế để chuẩn bị cho giao tranh. Tuy vậy, trận hải chiến ở biển San hô lại là trận giao tranh trên biển đầu tiên mà những tàu chiến rên mặt biển không hề bắn ra một phát đạn. Những máy bay ném bom bổ nhào, máy bay phóng ngư lôi từ tàu sân bay là trở thành một phần mới của chiến tranh.
Ngày 2/5/1942
MacArthur báo cáo rằng đối phương đang di chuyển về phía Tulagi. Fletcher vội rời đội hình, để Fitch ở lại tiếp nhiên liệu. Fletcher lao nhanh về phía Solomon xem ông ta có thể làm được gì. Ông lo ngại rằng quân Nhật có thể nhận thấy sự có mặt của mình ở khu vực bởi vì một máy bay trinh sát của ông đã phát hiện và ném bom một tàu ngầm Nhật tối hôm qua. Fletcher đã gặp may, bởi vì trong đêm mà 11 chiếc tàu của ông hướng về quần đảo Solomon, thời tiết xấu đã che giấu sự hiện diện của ông.
Ngày 3/5/1942
Quân Nhật chiếm Tulagi mà không gặp sự kháng cự nào, chuẩn bị xây dựng một căn cứ thủy ! phi cơ. Lính công binh với trang thiết bị đổ bộ lên bờ, và người Nhật ghi thêm một thắng lợi dễ dàng nữa.
Fletcher đang ở giữa vùng biển San hô và lại đang tiếp nhiên liệu. Những khu trục hạm của ông ta đợi tàu dầu
Ngày 4/5/1942
Yorktown bắt đầu phóng đi những phi cơ của mình trong cơn mưa và gió giật tới 35 hải lý/h. Từng đợt phi cơ ném bom Mỹ tấn công Tulagi vào sáng sớm. Những pháo thủ Nhật tỏ ra thiếu kinh nghiệm và hoả lực của họ không chính xác. Những con tàu của Nhật bắt đầu quay đầu chạy về phía bắc, trở lại Rabaul và an toàn.
Ba thủy phi cơ Nhật bay lên không. Fletcher gửi đi bốn tiêm kích cơ để chặn đánh những thủy phi cơ này. Cả 3 chiếc đều bị bắn rơi. Lần đầu tiên, người Mỹ gặp kẻ thù trong một trận đánh mở, họ để lỡ một trận đánh lớn vì sương mù, nhưng tin rằng mình đã đánh đắm 2 khu trục hạm, 1 tàu vận tải, 4 tàu chiến nhỏ, làm mắc cạn một tuần dương hạm hạng nhẹ, và làm hư hỏng một khu trục hạm và tàu vận tải khác.
Ngày 5/5/1942
Đội tàu Yorktown của Fletcher gặp đội Lexington của Fitch và đơn vị hỗ trợ của Crace 300 dặm về phía nam Solomon. Hai phi công tiêm kích cơ của
Đêm đó, Fletcher lại tiếp liệu, và hướng về tây bắc, ước tính rằng bất cứ lực lượng nào muốn tấn công Moresby đều phải qua đây từ Rabaul. Mục đích chính của ông là tiếp tục chuẩn bị cho trận giao chiến quyết định. Bề ngoài thì đó là một mong muốn hợp lo-gic, nhưng sau đó Fletcher chịu nhiều sự chỉ trích vì sự chuẩn bị liên tục của mình. Tại
Ngày 6/5/1942
Nhật phái một thủy phi cơ trinh sát đi để xác định xem có phải một đơn vị Mỹ đang di chuyển lên phía bắc không. Trên boong những chiếc tàu sân bay Shokaku và Zuikaku, những phi công Nhật đang rất háo hức giao chiến với người Mỹ, họ đã chờ đợi được phá huỷ những tàu sân bay Mỹ trong 6 tháng nay. Người Nhật tỏ vẻ khinh thường sức mạnh quân sự của phương tây. Hại đội quân đang di chuyển về phía nhau. Fletcher phái đi chiếc tàu chở dầu
Ngày 7/5/1942
6h sáng, máy bay trên tàu sân bay Nhật được phái đi trinh sát khu vực phía sau hạm đội để bảo đảm rằng hạm đội Mỹ không vòng ra phía sau hậu quân.
7h30, máy bay Nhật phát hiện tàu chiến trên mặt biển. Những máy bay ném bom bắt đầu áp sát. Chúng không phải là tàu sân bay mà là chiếc
8h sáng, một phi công trinh sát của chiếc Yorktown báo cáo rằng anh phát hiện 2 tàu sân bay và 4 tuần dương hạm hạng nặng. Để đối phó, chiếc Lexington phái đi 2 tiêm kích cơ, 28 máy bay ném bom bổ nhào, cùng một tá máy bay phóng ngư lôi nhắm đến mục tiêu cách đó 175 dặm. Fitch đã đưa hầu hết lực lượng của mình đi, chỉ để lại 8 máy bay ném bom bổ nhào lại trên tàu. Tuy vậy, báo cáo đó là sai lầm. Hai tuần dương hạm hạng nhẹ cũ, một tàu sân bay hạng nhẹ, 3 thuyền chiến là tất cả những gì mà người phi công đã thấy. Cuộc tìm kiếm của
8h30, những máy bay của Lexington và Yorktown, 93 chiếc cả thảy, đối mặt với 9 tiêm kích cơ mà người Nhật dùng để bảo vệ hạm đội trên. Người Mỹ phát hiện ra một điều quan trọng là khả năng cơ động linh hoạt của những chiếc Zero phần lớn là nhờ trọng lượng nhẹ của nó, tuy nhiên vì vậy mà chỗ ngồi của phi công không được bọc thép, cũng như không có lớp vỏ tự hàn kín bảo vệ thùng xăng. Một tràng đạn súng máy bắn chính xác có thể giết chết phi công hay làm máy bay bốc cháy. Còn một điều tệ hại khác được phát hiện, những chiếc máy bay phóng ngư lôi TBD của Mỹ rất chậm chạp. Những máy bay ném bom bổ nhào đã ở phía trước nhiều dặm, chờ đợi sự hỗ trợ của những máy bay phóng ngư lôi. Việc phải bay vòng vòng của các máy bay ném bom báo động cho kẻ thù, nếu phải tác chiến một mình thì hiệu quả những cuộc tấn công phối hợp cao-thấp sẽ không còn. Một tháng sau, trong trận Midway, toàn bộ Liên đội phóng ngư lôi số 8, sử dụng TBD, đã bị Zero tiêu diệt vì sự chậm chạp của mình.
9h20, tàu sân bay hạng nhẹ của Nhật, chiếc Shoho, bị ném bom và phóng ngư lôi, nó bắt đầu chìm. 6 chiếc Zero vẫn còn trên không. Hai tiêm kích cơ của Mỹ bị rơi, 3 trong số 6 chiếc Zero bị hạ, cùng với một máy bay trinh sát bay từ đất liền ra. Những phi công Mỹ đã được khuyến cáo không cố không chiến với những chiếc Zero, vốn cơ động hơn, mà bay thật cao, nhằm khiến cho Zero cạn nhiên liệu trong nỗ lực truy đuổi máy bay Mỹ.
Những người Mỹ trở nên hân hoan. Một nước Mỹ đang khổ sở vì sự tiếp nối liên tục của những thất bại từ Trân Châu Cảng đến Philippine đã nghe thấy một thông điệp làm chấn động quốc gia. Chỉ huy Liên đội trinh sát số 2, Robert E.Dixon, hét trong điện đài "
Một tình huống kỳ quái xảy ra trong đêm, khi đó những phi công đồng minh đang quay trở về tàu sân bay Yorktown thì có 18 chiếc máy bay Nhật gia nhập đội hình. Những phi công Nhật mỏi mệt sau một ngày dài đã nhầm chiếc
Lúc bấy giờ, trên đài chỉ huy của chiếc HMAS Australia là chuẩn đô đốc Crace, thuyền trưởng chiếc kỳ hạm Harold Francomb, cùng những sĩ quan chuyên trách. Hải đội của Crace được gọi là Lực lượng Anzac. Lúc 10h30, Crace ra lệnh cho toàn đơn vị vào vị trí sẵn sàng chiến đấu, tiếng kèn hiệu vang lên trên khắp con tàu. Đó là cấp độ sẵn sàng đầu tiên. Tất cả các cửa sập, cửa không thấm nước đều được đóng lại. Tất cả các tháp pháo, ụ súng, kho chứa đạn dược, các vị trí cấp cứu đều phải trong tình trạng sẵn sàng. Các bác sĩ, y tá trực chiến trong các trạm xá. Cha tuyên uý cũng sẵn sàng giúp đỡ những ai bị thương hay hấp hối. Những bữa ăn vẫn được cung cấp trong khi giao chiến. Hải đội di chuyển với vận tốc 25 hải lý/h hướng về eo Jomard (lối vào biển San hô) trước khi trời tối. Crace cùng đội tàu của mình giờ đây hoàn toàn tách ra khỏi hạm đội Mỹ, các tàu đều được sơn xám và nguỵ trang. Nhiệm vụ của lực lượng Anzac bây giờ là tuần tra, bảo vệ eo Jomard (gần quần đảo Louisiade), đây là nơi mà lực lượng Nhật đổ bộ chiếm cảng Moresby sẽ đi qua. Lực lượng Anzac nói chung dễ bị tổn thương vì không có không quân hỗ trợ.
12h09, chiếc Sims lãnh cú đánh trực tiếp đầu tiên. Trong vòng nửa giờ, nó bắt đầu chìm. Chiếc Neosho bắn rơi một chiếc máy bay ném bom của Nhật. Viên phi công lái máy bay lao vào boong tàu, làm bùng lên một ngọn lửa và lan nhanh ra cả mạn phải. Thủy thủ trên chiếc Sims cố gắng thoát qua chiếc Neosho, trong khi thủy thủ đoàn của
5h chiều, hai hạm đội đang ở rất gần. Trước đó phía Mỹ đã tấn công một cách nhầm lẫn vào một đội tàu mà họ nghĩ là đội chủ lực. Còn phía Nhật thì tấn công một tàu chở dầu và tàu hộ tống của nó. Người Mỹ quay lui trở ra, đô đốc Fletcher hướng về phía đông nam để đợi đến sáng. Người Nhật đi về phía bắc, nhiệm vụ của họ là yểm trợ lực lượng chiếm Moresby chứ không phải tiêu diệt hạm đội Mỹ.
Thủy thủ đoàn của
Về phía Lực lượng Anzac do Crace chỉ huy, đến cuối buổi chiều hôm đó, họ phát hiện một đội phi cơ đang hướng về phía mình, ước tính có khoảng 21 máy bay. Chúng được trang bị một quả bom 800 kg hay một ngư lôi với đầu đạn chứa nửa tấn TNT và được đẩy đi bằng một hỗn hợp oxy lỏng và không khí. Những ngư lôi có tốc độ khoảng 90 hải lý/h, tầm hoạt động 20km và có thể đánh đắm hầu như mọi con tàu với chỉ một cú đánh.
Khi bom Nhật bắt đầu rơi xuống, thuyền trưởng Farncomb của chiếc kỳ hạm HMAS Australia đủ kinh nghiệm để đưa chiếc tàu tránh khỏi nơi mà những quả bom rơi xuống 10 giây sau. Đội tàu di chuyển trong đội hình viên kim cương, hướng về phía những phi đội Nhật. Thuyền trưởng của mỗi con tàu thực hiện các hành động tránh bom của riêng mình, với những yêu cầu đặc biệt lớn đặt lên những động cơ. Từ trên đài chỉ huy, liên tục là những yêu cầu tăng thêm vòng quay động cơ, hay những cứ ngoặt dữ dội ở cả 2 mạn tàu, và nhiều lần gần như đã đạt đến điểm giới hạn của con tàu.
Những thợ máy trong buồng động cơ sớm nhận ra những âm thanh lốp bốp mà họ nghe thấy là từ những đinh tán rivê rơi ra từ sườn tàu và những chỗ nối dưới làn mưa đạn từ trên không bắn xuống. Còn những thủy thủ trên boong thì nghe được những tiếng vù vù bên tai do những làn đạn đang xẹt qua. Lực lượng Anzac đáp trả với tất cả những gì họ có. Ngay cả những khẩu trọng pháo cỡ 200mm cũng bắn ra những viên đạn 120 kg để tạo ra những bức tường nước trước mặt những phi cơ bay thấp.
Những máy bay Nhật gầm rú trên không, phía dưới, những khẩu súng phòng không liên tục nhả đạn. Cao xạ bắn ra những viên đạn 40mm hay súng máy 6 nòng Oerlikon bắn ra những tràng đạn 13mm. Đã có một quả ngư lôi chạy ngang qua bên dưới chiếc USS Chicago. HMAS Hobart bị một lỗ thủng khổng lồ trên ống khói.
Nhưng nói chung thì thiệt hại cho Anzac là không lớn, do hoả lực phía Nhật không chính xác. Có 3 người Mỹ và 6 người
Khi mà những máy bay Nhật gần như rút đi, thì thình lình một tốp máy bay ném bom tầm cao xuất hiện và trút xuống những đợt bom 225 kg. chúng tạo thành những cột nước khổng lồ, có chiều cao lớn hơn cả đài chỉ huy. Nhưng những chiến hạm vẫn may mắn tránh được. Một phút sau đó, có thêm 3 chiếc máy bay ném bom bay tới và tấn công đội tàu
Những phi công Nhật, đến lượt mình, lại báo cáo rằng họ đã đánh chìm một thiết giáp hạm, làm hư hỏng nặng một thiết giáp hạm khác và một tuần dương hạm. Trên thực tế thì lực lượng của Crace gần như vẫn toàn vẹn.
Sự kháng cự kiên cường của lực lượng Anzac đã khiến lực lượng đổ bộ chiếm Moresby của Nhật (Chiến dịch MO) lúng túng. Trong khi đó, lực lượng tàu sân bay hỗ trợ cho đơn vị này lại đang phải giao chiến với Mỹ, kết quả là đô đốc Takagi và Goto phải rút khỏi trận chiến, có lẽ là lần đầu tiên sau 1000 năm lịch sử hải quân Nhật.
Ngày 8/5/1942
5h30 sáng, những máy bay cất cánh từ đất liền của Mỹ không phát hiện được tàu sân bay địch. Đô đốc Fitch, người được chỉ định điều khiển chiến dịch về mặt chiến thuật, phát động một đợt tìm kiếm khắp 360 độ quanh vị trí hạm đội.
8h23, nhóm tác chiếm của Mỹ bị người Nhật phát hiện, họ cũng đang tích cực tìm kiếm kẻ thù. Phía Nhật có lợi thế về thời tiết, họ ẩn nấp dưới sự che chở của những tán mây dày, còn phía Mỹ phơi mình trước ánh mặt trời.
9h24, chiếc Yorktown phóng ra 24 máy bay ném bom, 6 tiêm kích cơ, 9 máy bay phóng lôi.
11h40, phi công của chiếc
Còn chiếc Zuikaku thì mất hầu hết số máy bay của mình.
Những chiến đấu cơ Zero và máy bay phóng ngư lôi của Nhật liên tục công kích chiếc
Trận hải chiến trong biển San hô hoàn toàn diễn ra trên và từ không trung. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử, một trận hải chiến diễn ra mà không tàu của bên nào nhìn thấy nhau.
Những ước tính của người Mỹ tỏ ra thận trọng. Họ cho rằng 1 trong 2 tàu sân bay của Nhật đã bị hư hỏng, nhưng vẫn có thể chiến đấu được. Tuy vậy, người Nhật thì cho rằng họ đã thắng. Họ báo cáo rằng cả 2 tàu sân bay Mỹ đã bị đánh chìm. Trong trận hải chiến tàu sân bay lớn đầu tiên trong lịch sử, người Nhật có vẻ thắng thế.
2h47 chiều, một trong số những ngư lôi đánh trúng
4h chiều,
4h30, tất cả các vị trí được bỏ ngỏ, con tàu mất hoàn toàn năng lượng. Nó đã thật sự bị chết.
4h35, 3 khu trục hạm
5h07 chiều, đô đốc Fitch ra lệnh từ trên đài chỉ huy, "Hãy đưa tất cả mọi người ra ngoài", đó là mệnh lệnh bỏ tàu. Đến 6h tối, hầu hết trong số 2700 thủy thủ và sĩ quan đã rời Lexington và lên boong những khu trục hạm. Ngay cả chú chó của Fitch, được bọc trong áo phao, cũng được một con tàu gần đó vớt lên.
6h10 tối, mệnh lệnh chấm dứt sự tồn tại của
Khi màn đêm buông xuống, đô đốc Fletcher lưỡng lự không biết có nên tiếp tục phát động một đợt tấn công mới nhằm vào quân Nhật không. Câu trả lời của đô đốc Nimitz từ Trân Châu Cảng là yêu cầu Fletcher rút khỏi biển San hô. Hạm đội quay về hướng nam mà không ý thức rằng họ đang ở gần xác tàu
Đô đốc Inouye từ Rabaul ra lệnh hoãn cuộc tấn công vào Moresby vô thời hạn. Mất chiếc Shoho, cùng với việc Shokaku bị hỏng nặng, ông ta không muốn liều lĩnh. Khi đô đốc Yamamoto, tổng tư lệnh hạm đội liên hợp biết quyết định đó, ông ta gần như nổi điên. Ông yêu cầu đô đốc Takagi quay lại vùng biển San hô và quét sạch lực lượng Mỹ ra khỏi đó ngay lập tức.
Ngày 9/5/1942
Đô đốc Fletcher vẫn sẵn sàng tiếp tục chiến đấu. Tờ "New York Times" gọi đây là một thắng lợi vĩ đại của Mỹ và cho rằng 17 trong số 22 chiến hạm Nhật bị chìm. Còn ước tính của Fletcher về thiệt hại của đối phương là 2 khu trục hạm, 3 tàu vận tải, 4 thuyền chiến, 1 tuần dương hạm, một tàu sân bay hạng nhẹ, cùng một tuần dương hạm hạng nhẹ khác bị mắc cạn. Số máy bay Nhật bị rơi là khoảng 144, tổng số thương vong là 5100. Tổn thất về phía Mỹ là 1 tàu sân bay, một khu trục hạm và một tàu chở dầu, 66 máy bay và 543 người thiệt mạng.
Vào nửa đêm, khu trục hạm Mỹ USS Henley hướng về phía chiếc
Ngày 10/5/1942
12h30, chiếc
Khi đêm xuống, những người sống sót tiếp tục tuyệt vọng. Họ không biết liệu con tàu có thể chịu được hết đêm nay. Những người trên bè cứu sinh đang chết dần, từng người một.
Ngày 11/5/1942
Cuối cùng thì chiếc USS Henley cũng tới được chỗ chiếc Neosho, 109 người trên Neosho và 14 người trên chiếc Sims được đưa lên tàu. 21 người thiệt mạng. Chiếc Neosho bị
Thoạt nhìn, thì trận hải chiến trên vùng biển San hô có vẻ là một thắng lợi cho người Nhật. Họ chỉ mất một tàu sân bay hạng nhẹ và đã đánh chìm chiếc Lexington. Nhưng nếu như nó là một thắng lợi chiến thuật của người Nhật thì lại đồng thời là thắng lợi chiến lược cho Đồng minh. Nó chấm dứt sự bành trướng xuống phía nam của Nhật, chặn đứng đà tiến công vũ bão của họ, ngăn chặn nguy cơ
Trận hải chiến Midway
Kế hoạch chiến tranh của Hải quân Nhật
Đô đốc Isoruku Yamamoto, tổng tư lệnh hạm đội liên hợp Nhật, đã bị choáng váng bởi cuộc tập kích đường không ngày 18/4/1942 của 18 chiếc máy bay ném bom hạng trung B-25 do trung tá Doolittle chỉ huy. Những máy bay này cất cánh từ trên boong của tàu sân bay Hornet, được hỗ trợ bởi tàu sân bay
Kế hoạch cho trận đánh được Yamamoto cùng bộ tham mưu của mình lập ra. Toàn bộ lực lượng của Hạm đội liên hợp sẽ được phái đến để giao chiến với Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ quanh Midway. Việc tấn công và chiếm Midway chỉ là mục tiêu phụ, mục tiêu quan trọng nhất là tiêu diệt toàn bộ lực lượng tàu sân bay của hải quân Mỹ, khi chúng được phái đến để tăng viện cho Midway. Việc triệt tiêu lực lượng tàu sân bay Mỹ đồng nghĩa với việc loại luôn Hải quân Mỹ khỏi cuộc chiến vì sau khi hầu như toàn bộ số thiết giáp hạm của Mỹ bị tiêu diệt ở Trân Châu Cảng, tàu sân bay là chỗ dựa cuối cùng cho hải quân Hoa Kỳ.
Lực lượng của hạm đội liên hợp gồm 7 thiết giáp hạm, 10 tàu sân bay, 24 tuần dương hạm, và hơn 70 khu trục hạm, được phân chia ra thành khoảng 6 hạm đội. Đô đốc Yamamoto sẽ chỉ huy Thành phần chính, gồm các thiết giáp hạm Yamato, Nagato, Mutsu, những thiết giáp hạm mạnh nhất của hải quân Nhật. Ngoài ra, còn có tàu sân bay hạng nhẹ Hosho, với 8 máy bay chống tàu ngầm và nhiều khu trục hạm.
Hạm đội hàng không thứ nhất do phó đô đốc Nagumo Chuichi chỉ huy. Hạt nhân sức mạnh là 6 tàu sân bay hạng nặng. 2 thiết giáp hạm, 2 tuần dương hạm hạng nặng và một hải đội khu trục hạm sẽ tạo thành vành đai bảo vệ lực lượng tàu sân bay. Đây sẽ là lực lượng chính thực hiện kế hoạch của Yamamoto. Kỳ hạm của Nagumo là tàu sân bay hạng nặng Akagi.
Lực lượng đột kích
Đô đốc Kondo Nobutake sẽ chỉ huy hạm đội 2, gồm các thiết giáp hạm Kongo, Haruna, tàu sân bay hạng nhẹ Zuiho. Nhiệm vụ của ông ta là bảo vệ cho lực lượng đổ bộ dưới quyền chuẩn đô đốc Tanaka Raizo.
Đầu tiên, Hosogaya sẽ tấn công các cơ sở của hải quân Mỹ ở cảng Dutch, quần đảo Aleutian (tây nam bang
Kế hoạch này được trình lên Bộ tổng tham mưu hải quân và được chấp nhận. Tuy vậy, lục quân muốn theo đuổi kế hoạch riêng của mình: chiến dịch MO.
Chiến dịch MO, chiếm đảo Tulagi và cảng Moresby trong vùng biển San hô, được sự hỗ trợ của 2 tàu sân bay hạng nặng Shokaku và Zuikaku. Đây là một sự phân chia nghiêm trọng lực lượng của Nagamo, 2 tàu sân bay này là 1/3 sức mạnh của Hạm đội hàng không số 1.
Sở dĩ đô đốc Yamamoto cho phép những tàu sân bay này tham gia MO vì ông tin rằng hải quân Mỹ đã hoàn toàn bị đánh bại và không thể phát động những chiến dịch lớn nữa. Nhưng ông đã lầm, trong trận hải chiến trên vùng biển San hô (8/5/1942), cả 2 chiếc tàu sân bay trên, cùng tàu sân bay hạng nhẹ Shoho, đã bị loại khỏi vòng chiến. (xem thêm trong bài Trận chiến biển San hô).
Trò chơi mật mã
Joseph Rochefort là chỉ huy của Văn phòng tình báo tác chiến. Đứng đầu một đội gồm những chuyên gia về toán, truyền thông, và mã hoá, Rochefort đã phá được mật mã của hải quân Nhật từ trước khi cuộc chiến bắt đầu và có thể đọc được ít nhất 10% nội dụng từ các bức điện của quân Nhật.
Trên lý thuyết, 10% là một con số nhỏ, nhưng với một người thông minh như Rochefort, chúng vẫn có thể có ích. Vào cuối tháng 4/1942, một số tín hiệu radio bị chặn lại và giải mã, nó cho thấy quân Nhật đang chuẩn bị cho một chiến dịch trong vùng biển San hô. Đô đốc Nimitz, tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương đã dựa vào những thông tin đó để chuẩn bị kế hoạch đối phó.
Trong khi mà lực lượng Nhật và Mỹ vẫn còn đang giao chiến với nhau ở biển San hô, các nhân viên của Rochefort nhận thấy một sự tăng vọt các tín hiệu radio của phía Nhật. Họ khám phá ra rằng một chiến dịch mới đang hình thành, và sẽ bao gồm tất cả các đơn vị hạm đội mà người Nhật có thể có. Trong các thông điệp của phía Nhật, có nhắc đến địa danh "AF", mặc dù không có chứng cứ cụ thể, nhưng Phòng tình báo cho rằng, AF ám chỉ Midway. Tuy vậy, những sĩ quan cấp cao tin rằng, nếu ở Thái Bình Dương có một nơi nào đó đáng để tập trung một lực lượng lớn đến vậy thì đó chỉ có thể là Midway.
Để chứng minh, Rochefort sử dụng một mẹo nhỏ. Ông yêu cầu Midway gửi đi một thông điệp, qua sóng vô tuyến không mã hoá, rằng máy lọc nước biển gặp trục trặc. Và ngay sau đó, các nhân viên của Rochefort bắt được một bức điện có nội dung "AF gặp vấn đề với máy khử muối của mình".
Những gì mà Phòng tình báo cung cấp cho Nimitz thật vô giá. Đầu tiên, ông biết rằng mục tiêu của Yamamoto là Midway. Thêm nữa, ông cũng biết về vành đai tàu ngầm mà Yamamoto sắp thiết lập, cho phép ông triển khai lực lượng một cách an toàn. Cuối cùng, ông có thể yên tâm tập trung tất cả lực lượng quanh Midway.
Những chuẩn bị cuối cùng
Sau khi chiếc tàu sân bay Lexington bị chìm ở biển San hô, trong tay Nimitz chỉ còn 3 tàu sân bay là Enterprise, Hornet, và Yorktown. Tuy nhiên, vấn đề là phó đô đốc Halsey "Bò hoang", người chỉ huy tàu sân bay cự phách và can trường của hạm đội, lại bị ốm. Trong bệnh viện, Nimitz đề nghị Halsey cử người thay thế. Halsey chọn chuẩn đô đốc Raymond A.Spruance, là người chỉ huy đội tuần dương hạm bảo vệ cho Halsey, để chỉ huy trận hải chiến quan trọng nhất trong lịch sử nước Mỹ.
Vài ngày sau, đô đốc Fletcher cùng tàu sân bay
Với 1300 người tham gia, việc sửa chữa
Ngày 1/6, tàu sân bay Saratoga rời cảng San Diego, California, hối hả hướng về Midway, hy vọng kịp tham gia trận đánh, nhưng nó đã không đến kịp.
Khoảng 2h40, ngày 3/6/1942, quân Nhật tấn công cảng Dutch, nằm ở điểm cuối cùng của
Cách đó hàng trăm km về phía nam, những phi công ở căn cứ Midway cũng bắt đầu thức dậy. Nhưng phi cơ trinh sát cất cánh đi làm nhiệm vụ. Vào khoảng 9h sáng, lực lượng đổ bộ của chuẩn đô đốc Tanaka Raizo bị phát hiện. Một số máy bay từ Midway cất cánh và tấn công đội tàu này, nhưng không gây nhiều thiệt hại.
Những tàu sân bay Mỹ tiếp tục giữ nguyên vị trí ở phía bắc Midway, chờ đợi kẻ thù xuất hiện. Đô đốc Fletcher đưa chiếc
Trận hải chiến quan trọng nhất lịch sử thế giới hiện đại
Ngày 4/6/1942, trên đảo Midway, lúc 2h30 sáng, những đội bay bắt đầu thức giấc. Chỉ 15 phút sau, những đồng nghiệp bên kia chiếc tuyến của họ cũng đã sẵn sàng. Những phi công và nhân viên không lực thuộc Hạm đội hàng không số 1 bắt đầu tập trung trên boong tàu, chuẩn bị cho đợt không kích Midway.
4h30, những máy bay đầu tiên cất cánh khỏi sàn tàu sân bay, 108 chiếc từ 4 tàu sân bay cỡ lớn: Akagi (kỳ hạm), Kaga, Soryo, và Hiryu. Trước đó nửa giờ, các máy bay trinh sát của Nhật cũng được phóng đi, nhưng số lượng rất ít.
Gần 6h, tín hiệu về các máy bay Nhật bắt đầu hiện lên trên màn hình radar. Midway phóng đi tất cả các máy bay hiện có. Gồm 27 tiêm kích cơ do thiếu tá Floyd Parks chỉ huy, 6 máy bay phóng lôi, 4 máy bay ném bom hạng trung, 11 máy bay ném bom bổ nhào, 19 chiếc B-17, cùng 48 máy bay khác.
Phi đội của Thiếu tá Parks không thể ngăn chặn tốp ném bom của Nhật vì gặp những chiếc Zero đi hộ tống. 15 tiêm kích cơ Mỹ bị bắn hạ, và họ không thể bảo vệ Midway khỏi cuộc oanh tạc, nhiệm vụ đó giờ đây trông cậy vào các lực lượng phòng không mặt đất. Tổng số thiệt hại của phía Nhật trên vùng trời Midway là 15 chiếc, cùng khoảng 32 chiếc nữa bị hư hại. Phía Nhật đã ném bom phá huỷ nhiều cơ sở hạ tầng trên đảo, nhưng không thể ném bom bất cứ phi cơ nào vì người Mỹ đã kịp cho cất cánh toàn bộ.
Thậm chí ngay trước khi Midway bị tấn công, đô đốc Nagumo cũng đã gặp bất lợi khi vị trí của họ bị máy bay Mỹ phát hiện. Vào khoảng 5h53, thông tin này đã đến được với tàu
Lúc 7h sáng, đợt tấn công của phía Mỹ vào các tàu sân bay Nhật bắt đầu. Tham gia lực lượng này chủ yếu là các máy bay cất cánh từ Midway và một số máy bay phóng lôi từ tàu sân bay Hornet. Họ bị những chiếc Zero của Nhật bao vây, bị hoả lực phòng không từ hạm đội Nhật bủa vây. Nhiều chiếc bị bắn rơi và hạm đội của Nagumo hầu như vô sự.
Nagumo quan sát cuộc tấn công đầu tiên của quân Mỹ từ đài chỉ huy mà không mấy ấn tượng. dù vậy, nó cũng khiến ông tin rằng cần phải ném bom Midway thêm một lần nữa. Nhưng cùng lúc đó, đô đốc Spruance, sau khi nhận được tin tức từ máy bay trinh sát, đã cho hạm đội của mình tiến về phía kẻ thù để giảm khoảng cách. Vào lúc khoảng 7h, khi mà các máy bay Nhật bắt đầu rời khỏi vùng trời Midway thì phía Mỹ tính toán nhanh rằng nếu họ phóng các máy bay của mình ngay bây giờ, họ có thể tấn công tàu sân bay Nhật khi mà những máy bay đang được lắp vũ khí trên boong, một tình thế rất hiểm nghèo cho phía Nhật. Vì vậy, cả Enterprise và Yorktown bắt đầu phóng đi các máy bay của mình, từ khoảng 7h đến 7h55. Chuẩn đô đốc Mitscher sẽ chỉ huy chiếc Hornet tác chiến độc lập.
Trong khi đó, Nagumo lại tiếp tục bị tấn công dồn dập. Mặc dù không bị hư hại gì, nhưng chúng càng khiến cho Nagumo tin chắc rằng, cần có thêm một cuộc không kích thứ hai nhằm vào Midway. Lúc 7h15, Nagumo ra lệnh vũ trang cho những máy bay của mình bằng bom thay vì ngư lôi. Lúc 7h30, máy bay trinh sát báo cho Nagumo biết rằng có khoảng 10 tàu chiến đang ở khu vực gần đó. Mặc dù khá lo lắng về sự hiện diện này, Nagumo vẫn tin rằng không lực từ đảo Midway vẫn là mối đe dọa lớn nhất, vì vậy, việc lắp bom vẫn được tiếp tục.
Sự yếu kém của trinh sát đã làm hại Nagumo khi mà phải mất 1 tiếng sau, họ mới xác định được những tàu chiến đó là tàu sân bay. Lúc đó là 8h20, Nagumo lo lắng thật sự, ông không còn nhiều thời gian. Vì vậy, lệnh mới được ban ra, người ta gỡ bom khỏi máy bay và thay thế nó bằng ngư lôi. Chính dưới áp lực thời gian và sự thay đổi liên tục như vậy, bom sau khi được gỡ ra đã không được chuyển vào khoang chứa mà vẫn để trên boong. Và đó là một sai lầm chết người của phía Nhật, những tàu sân bay của họ đang dần trở thành một thùng thuốc súng nổi.
9h17, Nagumo chuyển hướng sang những tàu sân bay Mỹ. Nhưng chỉ 1 phút sau, ông thấy mình đang đối mặt với một tốp máy bay phóng lôi của đối phương. Đó là những máy bay thuộc liên đội VT-8 từ chiếc Hornet, tuy vậy những máy bay cũ kĩ và nặng nề này không phải là đối thủ của Zero. Chỉ có 1 phi công trong đội máy bay đó sống sót, thiếu úy George Gay. (Ngày 31/8/1995, một phi đội máy bay đã rải một phần tro hài cốt của Gay xuống nơi mà những bạn đồng chí của ông đã hy sinh).
Ngay sau đó là VT-6 từ
Dù vậy, những cuộc tấn công vô vọng của những máy bay phóng ngư lôi cũng có tác dụng làm chậm quá trình chuẩn bị của người Nhật và làm xáo trộn đội hình tiêm kích cơ bảo vệ hạm đội. Mọi chuyện thay đổi vào khoảng 10h25, 3 liên đội máy bay ném bom bổ nhào SBD từ tàu
Mỗi Cluskey kéo mũi máy bay xuống, tạo một góc 70 độ, hướng thẳng vào chiếc Kaga. Mặc dù quả bom của ông đã trận mục tiêu, nhưng một đồng đội phía sau đã thả bom trúng ngay vào một chiếc máy bay đang đậu ở phần đuôi đường băng, khiến sàn tàu bốc cháy. Ngay sau đó, một quả bom khác xuyên qua thang nâng ở phía trước, phát nổ ngay giữa những chiếc máy bay đang được tiếp xăng và vũ trang trong khoang chứa máy bay. Sức nổ của nó làm vỡ tung những cửa sổ trên đài chỉ huy. Quả bom thứ ba kích nổ một chiếc xe bồn đậu ngay trước đài chỉ huy. Vụ nổ tiếp sau đó giết chết thuyền trưởng cùng các sĩ quan chỉ huy. Con tàu hoàn toàn mất điều khiển. Ngọn lửa bùng lên không thể kiểm soát nổi. Đến 17h, lệnh bỏ tàu được ban ra.
Chiếc Akagi cũng trong tình cảnh tương tự. Quả bom đầu tiên đánh trúng thang nâng giữa, kích nổ số đạn dược chưa được cất. Quả thứ hai đánh vào những máy bay đang được vũ trang, kích nổ toàn bộ số đạn dược gắn trên chúng. Boong tàu Akagi chìm trong một loạt vụ nổ liên hoàn. Động cơ tàu ngừng hoạt động lúc 10h40. Đô đốc Nagumo rời chỉ huy sở đang bốc cháy của mình lúc 10h46, lệnh bỏ tàu được ban bố. Thuyền trưởng Aoki là người cuối cùng rời tàu, lúc 3h sáng ngày 5/6.
Chiếc Soryu bị trúng 3 quả bom, rải đều từ mũi tàu đến đuôi tàu, phá huỷ hầu như toàn bộ thang nâng, máy bay, bom đạn. Ngọn lửa dữ dội đến mức cánh cửa thép ở khoang chứa phải tan chảy. Con tàu ngừng hoạt động lúc 10h40. Thuyền trưởng Yanagimoto tự vẫn. Khoảng 19h20, con tàu chìm hoàn toàn.
Lúc này, phía Nhật chỉ còn duy nhất một tàu sân bay có thể hoạt động, là chiếc Hiryu. Vào khoảng 11h, Hiryu phái đi 18 chiếc máy bay ném bom, hộ tống bởi 6 tiêm kích cơ, để trả thù. Vào khoảng giữa trưa, những máy bay này tiến sát chiếc
Nhưng người Mỹ mới là những người có tiếng nói cuối cùng trong ngày này. Từ trên chiếc Enterprise, 24 máy bay ném bom, nhiều chiếc được chuyển từ Yorktown sang, cất cánh tấn công chiếc Hiryu. Lúc 14h50, Hiryu bị máy bay trinh sát phát hiện. 13 máy bay ném bom tấn công Hiryu khi những phi công của nó đang ăn, 11 chiếc khác tấn công những thiết giáp hạm hộ tống. Hiryu bị trúng liên tiếp 4 quả bom. Boong tàu hoàn toàn bị phá huỷ, khoang chứa máy bay chìm trong biển lửa. Nhưng phần dưới con tàu vẫn chưa bị ảnh hưởng, và nó vẫn có thể lao đi với vận tốc 30 hải lý/h. Tuy vậy, ngọn lửa cũng nhanh chóng ln xuống dưới, khiến động cơ ngừng hoạt động. Thủy thủ đoàn rời tàu vào khoảng 3h15 sáng hôm sau, 5/6.
Trong khi cả 4 chiếc tàu sân bay của Nhật hoàn toàn bị đánh chìm, thì chiếc
Đô đốc Yamamoto, trong một nỗ lực cuối cùng để tìm kiếm một điều gì đó, đã ra lệnh pháo kích Midway. Nhiệm vụ này được giao cho đô đốc Kurita, chỉ huy hải đội tuần dương hạm mới nhất và nhanh nhất Nhật Bản. Nhưng vào lúc 0h sáng ngày 5/6, Yamamoto rút lại lệnh của mình. Khi đang trên đường quay về, Kurita phát hiện một tàu ngầm Mỹ, ông ra lệnh tất cả các tàu rẽ ngoặt một góc 45 độ để tránh. Trong quá trình vận động, 2 tuần dương hạm hạng nặng Mogami và Mikuma va chạm với nhau, khiến chúng không thể đi nhanh được.
Sang ngày 6, máy bay từ
Kết quả
Trận chiến Midway đã kết thúc, thiệt hại cho phía Nhật hết sức nặng nề. 4 tàu sân bay hạng nặng, 1 tuần dương hạm, 272 máy bay, 100 phi công, 3400 thủy thủ, 3 thuyền trưởng hàng không mẫu hạm đầy kinh nghiệm cùng một đô đốc, bí mật của loại máy bay Zero. Tổn thất của phía Mỹ gồm 1 tàu sân bay và 1 khu trục hạm cùng khoảng 150 máy bay.
Giờ đây cán cân lực lượng lại chuyển sang phía người Mỹ, ngay sau trận chiến, Nhật chỉ còn 2 tàu sân bay hạng nặng, còn của Mỹ là 4. Số phi công Nhật thiệt mạng tương đương với số mà nước Nhật có thể đào tạo trong 1 năm. Việc khám phá ra bí mật của chiếc Zero cho phép người Mỹ chế tạo thành công chiếc F6F Hellcat, mà chỉ 1 năm sau đã bắt đầu chấm dứt sự thống trị trên không của người Nhật. Quan trọng hơn, trận chiến Midway đã làm xoay chuyển cục diện chiến tranh, quyền chủ động tấn công giờ đây đã thuộc về người Mỹ.
Trận chiến Falkland
Một cuộc xung đột kỳ lạ trên khu vực Nam Đại Tây Dương, khi nước Anh và Argentina lao vào một cuộc chiến trên khu vực đảo Falkland, một thuộc địa của Anh.
Sự đối địch bắt đầu 19/3/1982, khi 60 công nhân Argentina được một tàu chiến của nước này thả lên một hòn đảo be tí gọi là South Georgia ,một nơi hầu như không có người ở, cách bờ biển Argentina 1200 dặm, và là một phần của Falkland. Những công nhân mau chóng tháo dỡ một trại săn cá voi bỏ hoang để tận dụng sắt thép, rồi họ giương ngọn cờ trắng-xanh lơ của
Quần đảo Falkland bao gồm khoảng 200 hòn đảo ở Nam Đại Tây Dương, ngoài khơi nơi tận cùng của lục địa Nam Mỹ, một nơi khét tiếng vì cái lạnh khủng khiếp, biển động dữ dội, và đất đai cằn cỗi. Đảo Đông và Tây Falkland, những hòn đảo lớn nhất, cách bờ biển khoảng 300 dặm.
Dân cư của đảo gồm khoảng 2000 người, hơn 600.000 con cừu, và 10 triệu con chim cánh cụt. Nuôi cừu là ngành kinh tế chính.Người dân ở đây chủ yếu có nguồn gốc Anh.
Anh và
Sau sự kiên công nhân Argentina đổ bộ lên đảo, nhà đương cục Anh ở đây thông báo rằng những hành động như vậy là phi pháp, và yêu cầu những người này rời đảo, hoặc xin phép chính thức nếu muốn ở lại. Mặc dù một số công nhân rời đi, phần lớn vẫn ở lại. Thủ tướng Anh Margaret Thatcher đưa ra một sự phản đối ngoại giao mạnh mẽ, tàu phá băng Endurance, đang ở
Đến cuối tháng 3, trên các phương tiện truyền thông tràn ngập thông tin về những căng thẳng ngày càng dâng cao giữa
Tại Lầu Năm Góc , Lực lượng phản ứng nhanh (RDF)đặc biệt quan tấm đến quá trình cuộc chiến, vì khoảng cách địa lý mà phía Anh phải đối diện cũng tương tự từ Mỹ đến Vùng Vịnh, một nhiệm vụ mà RDF sẽ phải gánh vác.
Cuộc xâm lăng của
2/4/1982 ,một đơn vị khoảng 1000 lính
3/4/1982, biệt kích Argentina tràn lên South Georgia, nơi họ đụng độ với một nhóm nhỏ lính thủy đánh bộ Anh, được gởi đến để đuổi những công nhân xây dựng Argentina còn ở lại. Trong cuộc chiến ở cảng Grytviken, phía Anh thông báo đã tiêu diệt 2 trực thăng và giết từ 10 đến 15 lính Argentina, phía Argentina thông báo có 3 thương vong. Một lần nữa, lính Anh bị bắt mà không có thương vong nào.
Xuyên suốt cuộc chiến Falkland, thế giới biết về cuộc chiến chỉ thông qua những tuyên bố của Anh và
Trả đũa:
Ngày 5/4, đội tiên phong của hạm đội liên hợp Anh, bao gồm 2 tàu sân bay Invincible và Hermes, bắt đầu hướng tới Falkland, chở theo từ 5000 đến 6000 lính.Anh sử dụng đảo Ascension , ở khoảng giữa từ Anh tới Falkland, như một điểm tập trung quân.
Ngày 7/4, phía Anh tuyên bố từ ngày 12/4, chiến hạm của nước này sẽ phong toả một vùng biển có bán kính 200 dặm kể từ đảo
Những nhà phân tích sau đó đã kết luận rằng chính khoảng thời gian trong tháng tư là bước ngoặt trong quá trình chuẩn bị chiến tranh, khi mà những tư lệnh của
Thiếu những đường băng tương xứng,
Giữa tháng 4, cả 2 bên đều hung hăng vận động lực lượng, khí tài đến khu vực chiến sự. Tàu sân bay Veinticinco de Mayo rời quân cảng Puerto Belgrano tiến về Falkland, cùng với 3 tàu ngầm, 1 tuần dương hạm, 2 khu trục hạm và một số tàu khác.Tàu của Argentina chủ yếu ở ngoài khu vực phong toả của người Anh. 22/4, con tàu đầu tiên của hạm đội Anh tiến vào khu vực chiến sự. Sáng đó, một đơn vị lính Anh bí mật đổ bộ lên South Georgia để trinh sát, 2 trực thăng của Anh bị rơi trong một trân bão tuyết trong chiến dịch đó, tất cả nhân viên phi hành đoàn được cứu, và tai nạn đã không được thông báo mãi đến 3 tuần rưỡi sau.
Cuộc tấn công của người Anh:
Ngày 25/4, một lực lượng gồm trực thăng vũ trang và những đơn vị chiến đấu Anh tấn công lực lượng
Trận chiến đầu tiên trên 2 đảo chính Đông và Tây Falkland diễn ra ngày 1/5, khi những chiến đấu cơ Harrier và máy bay ném bom Vulcan (được tiếp dầu trên không trong hành trình từ đảo Ascension, một kỷ lục với một chuyến ném bom) của Anh oanh tạc dữ dội sân bay tại Stanley và Goose Green.
Trận không chiến đầu tiên cũng diễn ra ngày 1/5, khi một nhóm máy bay Mirage và máy bay ném bom Canberra của Argentina tấn công và làm hư hại nhẹ 2 tàu chiến Anh. Một phi công Anh lái phi cơ Harrier được gửi đến để giao chiến với Mirage sau này kể lại anh ta đã phóng một tên lửa không đối không Sidewinder của Mỹ vào một máy bay Argentina như thế nào " Sau khoảng 3 đến 4 giây, tên lửa súng mục tiêu. Có một tiếng nổ khủng khiếp, và tôi cảm thấy muốn bệnh". Trong suốt cuộc chiến, phía Argentina chịu thiệt hại rất lớn về số máy bay vì sự vượt trội về tên lửa phòng không, cả không đối không và đất đối không, trong kho vũ khí của Anh.
Sự kiện đẫm máu nhất cuộc chiến diễn ra ngày 2/5, khi một tàu ngầm Anh, chiếc Conqueror, phóng 2 quả ngư lôi điều khiển bằng dây vào thân tàu của tuần dương hạm Tướng Belgrano. Trong hơn 1000 người đang ở trên tàu, hơn 320 người chết trong nước biển lạnh cóng, số còn lại được những tàu gần đó cứu.
Sự kiện đó đã làm Argentina choáng váng, nhưng chỉ 2 ngày sau, người Anh cũng phải nếm trải sự khủng khiếp của chiến tranh. Ngày 4/5, một phi công Argentina bay trên chiếc máy bay lỗi thời Super Etendard phóng một tên lửa điều khiển bằng radar Exocet(Pháp) từ khoảng cách 20 dặm trúng và làm hư hại rất nặng khu trục hạm Sheffield của hải quân Anh. 20 người chết, 24 người khác bị phỏng nặng. Theo một số báo cáo sau này, tàu
Cùng ngày, không quân Anh tiếp tục oanh tạc sân bay ở
Cuộc chiến lớn trên bộ bắt đầu vào ngày 21/5, khi 1000 lính thủy đánh bộ Hoàng gia đổ bộ lên đảo Đông
Từ 21 đến 25 tháng 5,
Trận không-hải chiến chính diễn ra ngày 25/5, nay là ngày lễ của
Cuộc chiến trên bộ:
Đến cuối tháng 5, sự chú ý chuyển sang cuộc chiến trên bộ. Quân Anh rời khỏi công sự tại Port San Carlos và chiếm lại
Suốt đầu tháng 6, phía Anh chuyển đại pháo, súng cối, và những thiết bị khác lên vùng đất cao gần
8/6, với chiến thắng đã trong tầm tay, người Anh lại chịu cuộc phản công đầy tính coi thường nhất của
Bắt đầu bằng một cuộc tấn công bất ngờ đêm 11, rạng sáng 12/6, những đơn vị Gurkha và Vệ binh dày dặn trận mạc tiến về
Sau này, những nhà phân tích cho rằng nước Anh nợ chiến thắng của họ đối với những đơn vị tinh nhuệ Gurkha, Vệ binh
Tổn thất:
Trong suốt cuộc chiến, 2 bên đưa ra rất nhiều báo cáo khác nhau về tổn thất, và có thể sẽ chẳng ai có thể khẳng định con số chính xác. Nhưng theo ước đoán gần nhất thì số thiệt hại nhân mạng về phía Anh là 260, và phía
Phía Anh công bố đã tiêu diệt 74 máy bay
Phân tích:
Trong khi tìm kiếm những bài học từ chiến tranh, cuộc tranh luận sôi nổi nhất là những có phải trận giao chiến trên biển chỉ ra rằng tốt hơn là nên có một số lượng lớn hơn những con tàu nhỏ hơn chứ không phải một số ít hơn những con tàu lớn hơn. Một số chuyên gia biện luận rằng nếu một tên lửa Exocet trị giá 200.000 dollar có thể phá hủy một khu trục hạm 50 triệu dollar như chiếc Coventry thì một vũ khí tương tự có thể phá hủy một tuần dương hạm trang bị hệ thống Aegis trị giá 1 tỷ dollar của hải quân Mỹ, một chiếc tàu cũng có nhiều cấu trúc làm bằng nhôm ( trên thực tế, hiện nay các tàu của Hải quân Mỹ đều không còn sử dụng nhôm).Những người này nói tốt hơn là nên chế tạo nhiều hơn những chiếc tàu rẻ hơn, thay vì những chiếc kiểu Aegis hay tàu sân bay lớn.
Những người khác lại phản bác rằng những tổn thất của Hải quân Anh đã không xảy ra nếu họ có một loại tàu sân bay lớn (như lớp Nimitz của Mỹ) để bảo vệ hạm đội bằng những tiêm kích cơ F-14, máy bay cảnh báo sớm và radar. Nhớ đó, có thể phát hiện và phá hủy phi cơ đối phương rất lâu trước khi nó kịp khai hỏa.
Tuy vậy, bài học chung nhất có thể rút ra từ cuộc chiến Falkland là lòng dũng cảm và sự yếu đuối của con người vẫn là chìa khoá của thành công hay thất bại kể cả trong thời đại kỹ thuật cao.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét