Anton Pavlovich Chekhov
Mục Lục
Sơ lược về tác giả
Anton Pavlovich Chekhov ( 1860 1904 ) là nhà văn và nhà soạn kịch người Nga. Ông sinh ra trong một gia đình làm bánh, ông của ông thuộc thành phần nông nô tại
Ông mất vì bệnh lao phổi năm 1904.
Anh béo và anh gầy
Trên sân ga của tuyến đường sắt Nikôlai có hai người bạn cũ gặp nhau: một người béo, một người gầy. Anh béo vừa ăn ở nhà ga xong, môi láng nhẫy bơ như quả đào chín . Người anh ta toát ra mùi rượu nho loại nặng, mùi nước hoa cam. Còn anh gầy thì mới xuống tàu, hai tay lỉnh kỉnh nào vali, nào hộp, nào túi. Người anh ta toát ra mùi thịt ướp, mùi bã cà phê . Sau lưng anh ta là một người đàn bà gầy gò, cằm dài đó là vợ anh ta, và một cậu học sinh cao lêu đêu mắt nhíu lại đó là con trai anh ta.
– Porphiri đấy à! anh béo kêu lên khi vừa nhác thấy anh gầy Đúng là cậu ư? Ôi, ông bạn thân mến của tôi! Bao đông bao hè chúng mình không gặp nhau rồi!
– Trời! anh gầy sửng sốt Misa! Bạn từ thuở nhỏ của tôi! Cậu ở đâu ra thế?
Hai người bạn ôm hôn nhau đến ba lần, mắt rưng rưng chăm chăm nhìn nhau . Cả hai đều kinh ngạc một cách đầy thú vị.
– Cậu ạ – anh gầy bắt đầu nói sau khi ôm hôn Mình quả không ngờ! Đột ngột quá! Nào, cậu nhìn thẳng vào mình xem nào! Ô, trông cậu vẫn đẹp trai như xưa, vẫn lịch thiệp, sang trọng như xưa! Chà, hay thật! À, mà cậu bây giờ thế nào rồi? Giàu không? Lấy vợ chưa? Mình thì có vợ rồi, cậu thấy đấy… Đây, vợ mình đây, Luida, nguyên họ là Vaxenbac, theo đạo Luyte. Còn đây là con trai mình, Naphanain, học sinh lớp ba. Này con, bác đây là bạn hồi nhỏ của bố đấy! Cùng học phổ thông với nhau.
Naphanain ngập ngừng một lát rồi bỏ chiếc mũ mềm xuống.
– Cùng học phổ thông với bố đấy con ạ! anh gầy nói tiếp À này, cậu còn nhớ cậu bị chúng nó trêu chọc thế nào không? Ch�! �ng nó gọi cậu là Gêxôxtrat vì cậu lấy thuốc lá châm cháy một cuốn sách của thư viện, còn mình thì chúng nó gọi là Ephian vì mình hay mách. Hô hô…Dạo ấy bọn mình trẻ con thật! Đừng sợ con, Naphanain! Con lại gần bác chút nữa nào…Còn đây là vợ mình, nguyên họ là Vaxenbac, theo đạo Luyte…
Naphanain suy nghĩ một lát rồi nép vào sau lưng bố.
– Này anh bạn, bây giờ sống ra sao? anh béo hỏi, nhìn bạn mình với vẻ đầy hoan hỉ – Làm ở đâu? Thành đạt rồi chứ?
– Ừ, mình cũng có đi làm, anh bạn ạ! Hai năm nay mình là viên chức bậc tám, cũng được mề đay "Xtalixnap". Lương lậu chẳng đáng là bao…nhưng mà thôi, thây kệ nó! Vợ mình dạy nhạc, mình thì làm thêm tẩu thuốc bằng gỗ. Tẩu đẹp lắm cậu ạ! Mình bán một rúp một cái cơ đấy. Nếu ai mua cả chục hay nhiều hơn thì cậu biết đấy, có bớt chút ít. Cũng cố sống qua loa thế nào xong thôi. Cậu biết không, trước mình làm ở cục, bây giờ thì mình được chuyển về đây, thăng lên bậc bẩy cũng trong ngành đó thôi…Mình sẽ làm ở đây. Còn cậu sao rồi? Chắc là cỡ viên chức bậc năm rồi chứ? Phải không?
– Không đâu, anh bạn ạ, cao hơn thế nữa đấy, – anh béo nói Mình là viên chức bậc ba rồi…có hai mề đay của Nhà nước.
Anh gầy bỗng dưng tái mét mặt, ngây ra như phỗng đá, nhưng lát sau thì anh toét miệng cười, mặt mày nhăn nhúm, dường như mắt anh ta sáng hẳn lên. Toàn thân anh ta rúm ró, so vai rụt cổ khúm núm… Cả mấy thứ vali, hộp, túi của anh ta cũng như co rúm lại, nhăn nhó… Chiếc cằm dài của bà vợ như dài thêm ra, thằng Naphanain thì rụt chân v�! �o và g�! �i hết cúc áo lại…
– Dạ, bẩm quan trên, tôi… tôi rất lấy làm hân hạnh ạ. Bạn nghĩa là bạn… từ thuở nhỏ, thế rồi bỗng nhiên làm chức to thế, hì hì hì…
– Thôi, cậu đừng nói thế đi! anh béo cau mặt Sao cậu lại giở giọng thế? Mình với cậu là bạn từ thuở nhỏ, việc gì cậu lại giở giọng quan cách thế?
– Dạ bẩm quan… Quan lớn dạy gì kia ạ… anh gầy cười hì hì, người càng rúm ró hơn Quan lớn chiếu cố cho thế này là đội ơn mưa móc cho kẻ bần hàn đấy ạ… Dạ bẩm quan trên, thưa đây là con trai tôi Naphanain… và vợ tôi là Luida, theo đạo Luyte đấy ạ…
Anh béo định quở trách điều gì thêm, nhưng gương mặt anh gầy toát ra vẻ kính cẩn, lâng lâng hoan hỉ đến mức anh béo cảm thấy buồn nôn, Anh béo ngoảnh mặt đi và đưa tay từ biệt anh gầy.
Anh gầy nắm ba ngón tay anh béo, cúi gập mình xuống chào và cười lên như một chú tẫu: "Hì hì hì". Bà vợ mỉm cười, Naphanain kéo chân lại và buông thõng chiếc mũ xuống. Cả ba người đều sững sờ một cách đầy thú vị.
Chú thích:
Gêxôtrat – người Hy Lạp, năm 356 trước Công nguyên đã đốt đền Actêmiđa Ephecxcaia để tên mình trở thành bất tử.
Ephian nhà hoạt động chính trị của Aten thời cổ. Năm 480 trước Công nguyên đã phản bội, chỉ cho quân Ba Tư lối đi vòng qua khe Phermôpinxki. Toán dân binh Xpacta ở Hy Lạp bảo vệ khe núi này đã hy sinh một cách anh dũng.
Cây vĩ cầm cho Rothschild
Đó là một thị trấn nhỏ, còn tồi tệ hơn một cái làng, trong đó dân cư hầu như toàn ông già bà lão, chết hiếm tới mức khó chịu. Bệnh viện và nhà tù cần rất ít quan tài. Nói tóm lại, công việc ở đây rất chán. Giá Iakov Ivanovich làm nghề đóng quan tài ở trên tỉnh thì có lẽ lão đã có một ngôi nhà riêng hẳn hoi, và ở đó người ta gọi lão là ông Iakov Matveevich, chứ không như cái giống dân mách qué ở đây, gọi trống không cái tên Iakov, đã thế còn đặt cho lão cái biệt danh "lão Đồng", hoạ có trời mới hiểu là gì. Iakov sống nghèo khổ như một gã mugic tầm thường, ngôi nhà gỗ cũ kỹ chật chội, trong đó cả lão, Marpha, cái bếp lò, cái giường đôi, đống quan tài và các thứ đồ đạc khác đều nhét vào một cái phòng duy nhất.
Iakov đóng những chiếc quan tài đẹp và chắc chắn. Đối với đám mugic và cánh đàn ông thị trấn, lão đóng quan tài theo kích cỡ của bản thân và chưa một lần nhầm lẫn, bởi vì có bói cũng không ra một người cao to, chắc khỏe như lão, kể cả trong nhà tù, mặc dù lão đã bẩy mươi tuổi. Đối với đám người có máu mặt và phụ nữ, những cỗ quan tài được đóng theo kích thước của họ mà lão đo rất kỹ bằng cái thước sắt. Còn quan tài đặt cho con trẻ lão nhận một cách miễn cưỡng, đóng chẳng theo một kích cỡ nào, và lúc nhận tiền công bao giờ cũng nói:
– Thật tình, tôi chả thích làm nhưng việc vặt vãnh thế này.
Ngoài nghề đóng quan tài, lão còn chơi đàn thuê để kiếm thêm chút đỉnh. Ở thị trấn, trên các đám cưới, người ta hay gọi đội nhạc Do thái tới chơi. Đội nhạc do lão thợ thiếc Moise Ilich Sakhkes làm ông bầu và th! ường thu về cho mình già nửa số thu nhập. Vì Iakov kéo vĩ cầm rất hay, nhất là những bài hát Nga, nên Sakhkes thỉnh thoảng vẫn mời lão chơi trong đội nhạc của mình và trả cho lão năm mươi copek một ngày, không tính những món thưởng của khách. Cứ thoạt ngồi vào ban nhạc là bao giờ người Iakov cũng đẫm mồ hôi và mặt thì đỏ gay đỏ gắt; không khí nóng nực nồng nặc mùi tỏi đến ngạt thở, tiếng violon rít lên, tiếng contrebasse khàn khàn bên tai trái, còn bên tai phải là tiếng sáo nức nở của gã Do Thái tóc hung, gầy nhom, mặt chằng chịt những đường gân xanh đỏ, mang cái tên của Rothschild, một người giàu nổi tiếng. Và gã Do Thái đáng nguyền rủa này, kể cả những lúc vui vẻ nhất, vẫn cố tình thổi sáo thật não nùng. Không có một nguyên cớ rõ ràng nào, nhưng trong người Iakov cứ dần dần tích tụ sự ganh ghét và lòng khinh bỉ đối với dân Do Thái, đặc bịêt với Rothschild; lão nhiếc móc, chửi mắng gã bằng đủ lời xấu xa, có lần còn định tẩn cả gã nữa. Rothschild giận giữ, làu bàu, nhìn lão, rít qua kẽ răng:
– Nếu không trọng cái tài của ông thì tôi đã ném ông qua cửa sổ từ lâu rồi.
Sau đó gã bật khóc. Chính vì thế người ta mời lão Đồng rất hãn hữu, chỉ trong trường hợp vắng mặt một nhạc công Do Thái nào đó.
Iakov không bao giờ có được tâm trạng sảng khoái bởi lão luôn phải chịu những thất thu ghê gớm. Ví dụ, chủ nhật và những ngày lễ làm việc là có tội, còn thứ hai – húy nhật, chính vì thế trong một năm, muốn hay không, phải có tới gần hai trăm ngày ăn không ngồi rồi. Thiệt hại mới lớn làm sao! Này nhé, có những đám cưới lại khôn! g cần n! hạc, hay Sekhkes không mời Iakov, thế là thiệt rồi. Cảnh sát trưởng hai năm liền ốm đau, tàn tạ và Iakov mong chờ lão chết từng ngày, ấy vậy mà lão lại lên tỉnh chữa bệnh rồi ngoẻo luôn ở đó. Này nhé, thiệt hại có khi lên tới cả mươi rúp, nếu như buộc phải đóng một cái quan tài đắt tiền có hoa văn phủ nhũ. Những tính toán thua lỗ thường dày vò Iakov vào ban đêm; lão đặt chiếc vĩ cầm lên chăn, và khi đủ mọi ý nghĩ vớ vẩn len vào đầu, lão lại bật giây đàn, cây vĩ cầm phát ra những âm thanh trong bóng tối khiến lão nhẹ lòng hơn.
Ngày mùng sáu tháng năm năm ngoái Marpha bỗng nhiên lăn ra ốm. Bà thở nặng nhọc, uống nhiều nước và đi đứng loạng choạng, thế mà buổi sáng vẫn tự mình nhóm lò, thậm chí còn đi kín nước. Tới chiều bà nằm một chỗ. Iakov chơi đàn suốt ngày, tối mịt mới xem đến quyển sổ ghi chép những thất thu hàng ngày, và vì buồn chán lão làm bản tổng kết cả năm. Tổng cộng mất tất cả hơn nghìn rúp. Điều đó làm lão sốc tới mức vứt toẹt quyển sổ xuống sàn và di di chân lên. Sau đó lão lại vớ lấy cái bàn gảy và tính toán rất lâu, thở dài căng thẳng. Mặt mũi lão đỏ gay và đẫm mồ hôi. Lão nghĩ hơn nghìn rúp thất thu đó nếu đem gửi nhà băng thì mỗi năm lãi suất cũng chẳng được là bao – có 40 rúp. Có nghĩa 40 rúp này cũng là một mất mát nữa. Nói tóm lại, dù có xoay xở như thế nào, thì ở đâu cũng độc thấy mất mát, không hơn.
– Iakov! – Marpha bất ngờ gọi lão. – Tôi chết đến nơi rồi.
Lão nhìn bà vợ. Mặt bà đỏ rực vì nóng, sáng rỡ và sung sướng khác thường. Lão Đồng quen nhìn thấy mặt bà nhợt nh�! �t, len l! ét thảm hại, giờ đây lão thấy lúng túng. Hình như bà lão đốc chứng chết thật và tỏ ra sung sướng vì cuối cùng đã vĩnh viễn rời khỏi cái nhà này, thoát khỏi đống quan tài và khỏi Iakov… Bà nhìn lên trần, đôi môi động đậy, nét mặt của bà thật hạnh phúc, như thể bà đã nhìn thấy cái chết, người giải thoát cho bà, và đang thầm thì với nó.
Trời hửng sáng, từ cửa sổ nhìn thấy rõ bình minh đang cháy rực. Nhìn bà vợ già, Iakov không hiểu sao nhớ ra rằng cả cuộc đời chưa một lần lão vuốt ve bà, chưa từng thương xót bà, chưa bao giờ nghĩ tới việc mua cho bà lấy một tấm khăn choàng nhỏ, mà chỉ la mắng bà, chửi bới vì thua lỗ, nhào tới bà với những nắm đấm. Thật ra thì chưa bao giờ lão đánh vợ cả, nhưng mỗi lần dọa nạt như thế cũng đã đủ làm cho bà sợ rúm cả người. Ngoài ra, lão còn không cho bà uống trà, sợ tốn kém, và bà chỉ uống nước trắng. Chính vì vậy nên lão hiểu được vì sao nét mặt bà giờ đây thật kỳ lạ, sung sướng và lão cảm thấy khiếp hãi.
Chờ cho sáng hẳn, lão mượn ngựa của hàng xóm và chở Marpha tới bệnh viện. Ở đó không nhiều bệnh nhân lắm, vì thế lão không phải đợi lâu, chỉ mất có ba tiếng. Và thật quá may cho lão, lần này tiếp bệnh nhân không phải là quan đốc, vì bản thân ngài cũng bị ốm, mà là viên y tá Maksim Nikolaich, người mà cả thị trấn kháo nhau rằng mặc dù là tay bợm rượu và thích gây gổ, song còn biết việc hơn đốc tờ.
– Xin chào ngài, – Iakov vừa dìu vợ vào phòng khám, vừa chào hỏi. – Xin được thứ lỗi, chúng tôi tới quấy quả ngài, Maksim Nikolaich, vì việc vặt này. Chả là bà xã ch! úng tôi! vừa mới bị ốm. Nói thế nào nhỉ, bạn đời, như người ta thường gọi, dạ, xin lỗi ngài về cách nói năng…
Cau đôi lông mày bạc và vuốt cái ống nghe, viên y tá bắt đầu khám cho bà già. Marpha ngồi trên ghế đẩu người gập xuống, gầy gò, mũi nhọn với cái miệng há ra, nhìn nghiêng trông bà giống như con chim đang khát nước.
– Rồi… Xong rồi – viên y tá chậm chạp nói và thở dài. – Bội nhiễm, mà cũng có thể sốt nóng. Hiện đang có dịch thương hàn ở thành phố. Biết làm sao được? Bà già sống thế cũng là đủ rồi, lạy trời… Bà ấy bao nhiêu tuổi vậy?
– Thiếu một tuổi tròn bẩy mươi, thưa ngài Masim Nikolaich.
– Biết làm sao? Bà già sống đủ rồi. Đã đến lúc được về với Chúa.
– Dạ, ngài dạy thật chí lý, Masim Nikolaich, – Iakov nói, mỉm cười nhũn nhặn, – xin được đa tạ lòng tốt của ngài, nhưng chúng tôi cũng xin phép được trình bầy, mọi loài sâu bọ đều muốn sống cả ạ.
– Chứ lại à! – Viên y tá nói với cái giọng như thể sự sống chết của bà già phụ thuộc cả vào lão. – Thôi, thế này nhé, ông bạn, đắp khăn nhúng nước lạnh lên đầu bà ấy và cho bà ấy uống chỗ thuốc bột này, ngày hai lần. Còn bây giờ xin tạm biệt.
Căn cứ vào nét mặt của viên y tá, Iakov hiểu rằng việc của vợ lão hỏng rồi và chẳng có thuốc bột nào có thể cứu nổi. Lão hiểu rất rõ rằng Marpha sẽ chết rất nhanh, chỉ nay mai thôi. Lão khẽ nắm khuỷu tay viên y tá, nháy mắt và nói thầm:
– Masim Nikolaich, hay đặt giác hút cho bà ấy?
– Không có thời giờ, không có thời giờ. Làm ơn đưa bà �! �y ra ngo! ài. Đi ngay cho. Tạm biệt.
- Xin ngài làm ơn, làm phúc, – Iakov van nài, – Tự ngài cũng biết đấy, nếu như bà ấy bị đau bụng hay đau cái gì bên trong cơ, lúc đó mới dùng đến thuốc bột, thuốc nước, đằng này bà ấy lại bị cảm! Trong trường hợp bị cảm thì việc đầu tiên là phải rút bớt máu, Maksim Nikolaich.
Viên y tá đã gọi bệnh nhân tiếp theo. Một mụ đàn bà dẫn một đứa trẻ bước vào phòng.
– Ra ngoài đi, đi đi… – Lão cau có nói với Iakov. – Đừng làm vướng tôi.
– Thôi thì ít nhất ông cũng đặt cho bà ấy một con đỉa vậy! Được thế chúng tôi sẽ suốt đời cầu nguyện cho ông!
Viên y tá nổi đóa, gắt lên:
– Cứ lải nhải mãi! Đồ ngu…
Iakov cũng tức điên, mặt đỏ tía, nhưng lão không nói một lời, chỉ đỡ Marpha dậy và dìu bà ra khỏi phòng khám. Mãi tới lúc ngồi vào trong xe ngựa lão mới nhìn cái bệnh viện một cách nghiệt ngã và nhạo báng, nói:
– Người ta tống bọn bay vào cả đây, lũ nghệ sĩ! Đám nhà giàu chúng bay đặt giác hút, còn người nghèo thì tới một con đỉa cũng không cho. Quân bạo chúa!
Khi về tới nhà, Marpha đứng một lúc, tay vịn vào bếp lò. Bà sợ rằng nếu như đi nằm thì thể nào Iakov cũng sẽ lại than vãn về tiền nong, thua lỗ và chửi mắng bà cứ nằm đấy, chả chịu làm việc. Còn Iakov nhìn bà ngán ngẩm và nhớ ra rằng ngày mai là ngày lễ Thánh Ioan, ngày kia là ngày lễ Thánh Nikolai Ban Phép Lạ, sau đó là chủ nhật, còn sau nữa, thứ hai – húy nhật. Cả bốn ngày không được làm việc, mà Marpha có thể sẽ chết vào một trong những ngày này; nghĩa là quan tài phải đóng ngay ngà! y hôm na! y. Lão cầm lấy cái thước sắt, tiến tới bên vợ để lấy số đo của bà. Sau đó bà đi nằm, còn lão làm dấu thánh rồi bắt tay vào việc.
Khi đóng xong cỗ quan, lão Đồng đeo kính và ghi vào quyển sổ của mình: "Quan tài cho Marpha Ivanovna – giá 2 rúp 40 copek".
Và lão thở hắt ra. Trong thời gian đó bà già vẫn nằm, mắt nhắm nghiền. Nhưng tới chiều, lúc chạng vạng, bỗng nhiên bà gọi chồng.
– Mình còn nhớ chứ, Iakov? – Bà vừa hỏi, vừa nhìn lão vui vẻ. – Mình còn nhớ cách đây năm mươi năm Chúa đã cho chúng ta một đứa trẻ tóc vàng? Mình với tôi khi đó thường hay ra ngồi ở bờ sông, cùng hát… dưới một cây liễu, – và bà cười cay đắng, nói thêm: – Con gái bé bỏng chết mất rồi.
Iakov căng óc, nhưng không thể nào nhớ nổi, cả đứa bé, lẫn cây liễu.
– Bà nằm mơ đấy thôi, – lão nói.
Ông mục sư tới ban phép Mình Thánh và xức dầu cho bà. Sau đấy Marpha bắt đầu lảm nhảm những câu khó hiểu và tới gần sáng thì chết.
Các bà già hàng xóm tới tắm rửa, khâm liệm và đặt bà vào áo quan. Để khỏi phải chi phí cho người trợ tế, Iakov tự đọc lấy thánh thi, còn về phần mộ thì lão không phải trả một đồng nào, vì người gác nghĩa địa là cha đỡ đầu của lão. Bốn mugíc khiêng quan tài tới nghĩa địa cũng không lấy tiền, vì quý trọng Marpha. Đi sau quan tài là những bà già, những người hành khất, hai người tàn tật. Những người gặp trên đường đều làm dấu thánh một cách sùng kính. Iakov lấy làm hài lòng vì đã thu xếp công việc ổn thỏa, hết lòng, lại không tốn kém, không làm mất lòng ai. Khi từ biệt Marpha lần cuố! i, lão s! ờ chiếc quan tài, bụng nghĩ: "Cỗ quan tốt thật!".
Nhưng trên đường từ nghĩa địa về nhà bỗng nhiên một nỗi buồn ghê gớm choán lấy lão. Iakov thấy mình không được khoẻ: hơi thở nóng và nặng, hai chân bủn rủn, khát nước. Đã thế đủ mọi ý nghĩ cứ len vào đầu. Lại nghĩ tới việc cả đời chưa một lần thương xót Marpha, chưa một lần âu yếm bà. Năm mươi hai năm sống chung dưới một mái nhà, vậy mà chưa một lần lão nghĩ tới vợ, không để ý, như thể bà là con mèo hay con chó. Thế mà chính bà hàng ngày nhóm lò, nấu nướng, kín nước, bổ củi, nằm cùng một giường với lão, khi lão từ những đám cưới trở về say khướt, bao giờ bà cũng sùng kính đỡ lấy cây vĩ cầm, treo lên tường, giúp lão đi ngủ. Bà làm tất cả những việc đó một cách thầm lặng, dáng vẻ rụt rè, lo lắng. Trên đường lão gặp Rothschild đang đi tới. Thằng Do Thái vừa cười, vừa cúi chào.
– Thế mà cháu cứ đi tìm bác mãi! – gã nói. – Ông Moisei Ilich gửi lời chào bác và mời bác tới ngay chỗ ông ấy.
Iakov chẳng còn bụng dạ nghĩ tới việc đó. Lão chỉ muốn khóc.
– Để tao yên! – Lão nói và đi tiếp.
– Thế là thế nào? – Rothschild lo lắng, chạy lên phía trước. – Ông Moissei Ilich giận chết! Ông ấy bảo phải đến ngay!
Iakov khó chịu bởi thằng Do Thái thở hổn hển, mắt hấp háy, mà sao mặt nó lại nhiều tàn nhang màu hung đỏ thế. Nhìn chiếc áo khoác màu xanh lá cây với những mụn vá sẫm màu và cả cái thân hình mảnh khảnh, yếu ớt của nó mà phát tởm.
– Sao mày cứ thọc vào chuyện của tao thế hả, đồ tỏi lép? – Iakov hét lên. – Đ! ừng có! bám lấy tao!
Thằng Do Thái cũng nổi xung, quát lại:
– Xin ông bé cái miệng đi cho, kẻo tôi cho ông bay qua bờ giậu bây giờ!
– Xéo ngay cho khuất mắt tao! – Iakov gào lên và nắm tay xấn tới. – Không sao sống nổi với loài sâu bọ này!
Rotsild chết lặng vì sợ hãi, ngồi thụp xuống, hai tay quơ quơ trên đầu như thể đỡ đòn, sau đó nó bật dậy, ba chân bốn cẳng chạy mất hút. Trên bờ sông nó nhảy tưng tưng, hai tay vung vẩy, và thấy rõ cái lưng dài, còm nhom của nó cứ giật lên. Đám trẻ con mừng rỡ gặp dịp, chạy theo nó, la hét: "Thằng Do Thái! Thằng Do Thái!". Đàn chó cũng đuổi theo nó, sủa váng lên. Có ai đó cười hô hố, sau đó huýt sáo, đàn chó nhâu nhâu sủa dữ hơn… Sau đó chắc có một con cắn Rothschild, bởi vọng lại tiếng thét đau đớn, tuyệt vọng của nó
Iakov dạo trên bãi chăn gia súc, sau đấy, không mục đích, lão đi ra phía ngoài thị trấn. Đám trẻ con la lên "Lão Đồng kìa! Lão Đồng kìa!". A mà con sông đây rồi. Ở đó những con giẽ giun và những con vịt trời kêu chí chóe. Trời nắng gắt, mặt nước phản chiếu ánh sáng làm chói cả mắt. Iakov men theo con đường hẹp dọc bờ sông và nhìn thấy từ bến tắm một bà béo tốt, má đỏ hây, đi lên, lão thoáng nghĩ: "Rõ thật, một con rái cá!" . Cách bến tắm không xa bọn trẻ con đang câu tôm bằng mồi thịt. Nhìn thấy lão chúng gào lên một cách độc địa: " Lão Đồng! Lão Đồng!". A mà cây liễu to lớn, già nua với cái hốc tướng đây rồi, và trên cây sao mà lắm tổ quạ… Bỗng nhiên trong trí nhớ của lão hiện lên hình ảnh một đứa trẻ tóc vàng, như sống thật, và cả cây liễu mà Marpha �! �ã nói ! tới. Đúng rồi, nó đây rồi, chính là cây liễu đó – nó vẫn còn xanh, nhưng im lặng và buồn bã… Nó đã già quá rồi, cây liễu khốn khổ!
Lão ngồi dưới gốc cây và bắt đầu nhớ lại. Ở bờ bên kia, nơi hiện đang là cánh đồng cỏ ngập nước, trước đây là một cánh rừng bạch dương bạt ngàn, còn trên quả đồi trọc nổi rõ phía chân trời, ngày xưa là một rừng thông già xanh ngăn ngắt. Trên sông xà lan xuôi ngược. Còn bây giờ tất cả bình địa, bằng phẳng, và bên bờ bên kia còn mỗi cây bạch dương non trẻ, cân đối, giống như một cô nương, đứng trơ trọi một mình. Trên sông chỉ thấy ngỗng và vịt, không giống với cảnh xà lan đi lại. Có cảm tưởng khác với ngày xưa, đến ngỗng cũng trở nên ít hơn. Iakov nhắm mắt và trong óc tưởng tượng của lão từng đàn ngỗng lớn nối tiếp nhau bơi qua bơi lại.
Lão không sao hiểu nổi, tại sao lại như thế, tại sao có đến bốn, năm mươi năm lão không ra sông lấy một lần, mà giá có ra tới đây thì chắc gì lão đã để ý tới nó? Vậy mà đây là một con sông thật lớn, hoàn toàn không phải loại vớ vẩn; trên sông có thể lập những khu đánh bắt cá để bán cho đám thương gia, cho những công chức và các hàng ăn ở trên bến và sau đó tiền thu được đem gửi vào nhà băng; có thể dong duổi trên thuyền từ trang ấp này tới trang ấp khác và chơi đàn, mọi người đua nhau mời lão đi biểu diễn và sẽ trả tiền; cũng có thể thử vài chuyến xà lan – làm việc này còn tốt hơn chán vạn nghề đóng quan tài; và cuối cùng, có thể nuôi ngỗng, mổ thịt, tới mùa đông chuyển lên Moskva. Trời đất, mỗi con ngỗng quèn một năm cũng cho t! ới cả! chục rúp. Thế mà lão đã bỏ qua, chẳng làm một việc gì như thế cả. Những tổn thất mới lớn làm sao! Ôi chao là thiệt hại! Mà nếu như làm tất cả cùng một lúc, cả đánh cá, kéo vĩ cầm, chở xà lan và giết ngỗng, thì sẽ kiếm được bội tiền! Nhưng tất cả những việc đó ngay cả trong mơ lão cũng không nghĩ ra, cuộc đời trôi qua chẳng ích lợi, chẳng vui thú gì, trôi qua vô tích sự, chẳng ra đâu vào đâu; phía trước không còn tương lai, mà ngoái lại đằng sau thì chẳng có gì hết, ngoài những mất mát, những mất mát lớn đến nỗi chỉ nghĩ tới thôi đã thấy ớn lạnh cả người. Mà tại sao con người ta lại không có thể sống như thế nào đó, để khỏi phải chịu những thiệt hại, mất mát nhỉ? Thử hỏi, vì sao người ta lại chặt cả cánh rừng bạch dương và đồi thông đi như thế? Vì sao những bãi thả gia súc quý như vậy lại bị bỏ hoang? Tại sao người ta luôn làm những việc chẳng cần thiết? Vì sao Iakov cả đời lúc nào cũng luôn miệng chửi bới, gầm gừ, xấn xổ đấm đá, bắt nạt vợ mình? Thử hỏi, cần gì phải doạ nạt, lăng mạ một thằng Do Thái? Vì sao mọi người lại cứ cản trở nhau, không cho nhau sống? Chính điều này gây biết bao tổn thất! Những tổn thất khủng khiếp! Nếu không có sự ganh ghét, đố kỵ và độc ác, mọi người có thể mang lại cho nhau những lợi ích lớn đến nhường nào.
Cả buổi tối và suốt đêm lão toàn mơ thấy đứa trẻ sơ sinh, cây liễu, cá, những con ngỗng bị đập chết, Marpha nhìn nghiêng giống như con chim khát nước, khuôn mặt nhợt nhạt, thảm hại của Rothschild, và những bộ mặt các kiểu từ mọi phía kéo đến nói về sự thiệt hại! . Lão tr! ở mình hết bên nọ sang bên kia và năm lần tỉnh dậy để kéo đàn.
Đến sáng lão gắng hết sức đứng dậy để tới bệnh viện. Cũng vẫn Masim Nikoliaich yêu cầu đắp khăn lạnh lên đầu, uống thuốc bột, và qua nét mặt cùng giọng nói của viên y tá, Iakov hiểu rằng việc của lão đã hỏng và không một thứ thuốc bột nào có thể cứu giúp được. Trên đường về nhà lão nghĩ cái chết chỉ mang lại ích lợi mà thôi: khỏi phải ăn, chẳng cần uống, lại không phải đóng thuế, không làm mếch lòng ai, và bởi vì con người nằm dưới đất không phải một, hai năm, mà hàng trăm, hàng nghìn năm, do đó, nếu tính hết, thì cả một nguồn lợi lớn. Cuộc sống đem lại cho con người sự thiệt thòi, còn cái chết lại cho nó những lợi lộc. Ý nghĩ này, tất nhiên, có lý, song dù sao nó cũng xúc phạm và thật cay đắng: vì sao lại tồn tại trên đời một trật tự lạ lùng vậy, cuộc sống mà con người chỉ được hưởng một lần duy nhất, lại trôi qua chẳng chút ích lợi gì?
Chết lão không tiếc, nhưng khi về tới nhà, nhìn thấy cây vĩ cầm, tim lão thắt lại và lão bắt đầu thấy tiếc. Cây đàn này không mang xuống mồ được, giờ đây nó sẽ đơn côi và sẽ không tránh khỏi số phận của những cây bạch dương, của rừng thông già. Mọi thứ trên thế giới này đã mất đi và sẽ còn mất nữa! Iakov bước ra, ngồi trên bậc cửa nhà, ôm riết cây đàn vào ngực. Trong khi vẫn nghĩ tới cuộc sống mất mát, chẳng chút lợi lộc, lão bắt đầu kéo đàn, bản thân cũng không hiểu tại sao, nhưng tiếng đàn của lão vang lên rầu rĩ và cảm động. Những giọt nước mắt lăn trên má lão. Và lão càng nghĩ thì tiếng hát! của c�! �y đàn càng buồn thảm.
Thanh chốt cửa kẹt lên vài tiếng và Rothschild xuất hiện trong cổng. Nó mạnh bạo đi được nửa sân, nhưng khi nhìn thấy Iakov, đột nhiên nó khựng lại, cả người co quắp, và chắc vì sợ hãi, nó không nói, mà chỉ làm những động tác như thể muốn ra hiệu bằng mấy ngón tay báo giờ cho lão.
– Lại đây, đừng sợ, – Iakov dịu dàng nói và dỗ nó lại gần. – Lại đây nào.
Rothschild nhìn lão ngờ vực, tiến thêm mấy bước và dừng lại cách lão một sazen[1].
– Xin bác đừng đánh cháu! – Nó nói, hơi chùng người xuống. – Ông Moisêi Ilich lại phái cháu tới mời bác. Ông bảo đừng có sợ, cứ đến nhà ông Iakov và bảo không có bác là không xong. Thứ năm này có một đám cưới… Vâng, phải! Ngài Sapovalov gả con gái cho một người tử tế. Mà đám cưới to lắm nhé, u-u![2] – Gã Do Thái nói thêm, hấp háy một bên mắt.
– Bác không thể… – Iakov phều phào, thở nặng nhọc – Bác không được khỏe, anh bạn ạ.
Rồi lão tiếp tục kéo đàn, những giọt nước mắt rỏ xuống cây vĩ cầm. Rothschild nghe chăm chú, đứng nghiêng người về phía lão, hai tay khoanh trước ngực. Nỗi sợ hãi, nghi ngại trên nét mặt nó dần dần biến thành nỗi sầu muộn, đau khổ. Nó trợn ngược mắt, dường như đang chịu đựng một khoái cảm đớn đau, thì thào: "Vakhkhkh!..". Và những giọt nước mắt từ từ chảy dài trên má nó, nhỏ xuống chiếc áo khoác màu lá cây.
Sau đó Iakov nằm cả ngày, buồn bã. Đến tối, lúc ông mục sư tới làm lễ rửa tội, hỏi lão có nhớ một tội lỗi nào nào thật đặc biệt mà lão đã mắc phải lúc sinh thời. Ia! kov cố ! căng cái trí não đã trở nên yếu ớt, chợt nhớ lại khuôn mặt bất hạnh của Marpha, tiếng thét tuyệt vọng của thằng Do Thái bị chó cắn, lão thều thào:
– Cây vĩ cầm cho thằng Rothschild.
– Được rồi, – Ông mục sư đáp.
Hiện cả thành phố đều thắc mắc không biết thằng Rothschild kiếm đâu ra cây vĩ cầm tốt thế? Nó mua hay đánh cắp được, cũng có thể nó kiếm được từ hiệu cầm đồ? Nó đã bỏ ống sáo từ lâu, và hiện giờ chỉ kéo vĩ cầm. Dưới cần đàn tuôn chảy những âm thanh não nùng giống như những âm thanh của cây sáo trước đây, nhưng khi nó thử chơi lại những gì mà Iakov đã chơi lúc ngồi ở bậc cửa, thì tiếng đàn của nó u sầu, thê lương tới mức khiến tất cả những người nghe đều phải khóc. Cả bản thân nó, cuối cùng thể nào nó cũng trợn ngược mắt và thều thào: "Vakhkhkh!". Bài hát mới đó được người ta ưa thích đến nỗi những thương gia và các viên chức giành giật nhau mời Rothschild về nhà và bắt nó chơi đi chơi lại cả chục lần liền.
Đào Tuấn Ảnh dịch từ nguyên bản tiếng Nga
_____________________
Chú thích của người dịch:
[1] Sazen bằng 2,134m
[2] Trong nguyên bản, Rothschild nói năng không rõ ràng, mạch lạc, tiếng Nga ngọng. Miêu tả sự khiếm khuyết của Rothschild, tác giả muốn nhấn mạnh tới sự thay đổi trong tâm lý của Iakov. Khi Iakov còn sống, những khuyết tật của Rothschild làm ông khó chịu, nhưng trước lúc ông chết, những khuyết tật đó làm cho ông thương xót, ân hận vì đã xử tệ với nó, song cái chính là ông đã nhìn thấy tài năng v! à sự n! hạy cảm âm nhạc của nó, tâm hồn nó…
Dấu chấm than
Yefim Formich Perekladin, một viên chức khả kính đi nằm với một tâm trạng vô cùng bực tức, thậm chí ông như phát khùng lên khi vợ ông hỏi có chuyện gì mà lại khó chịu đến vậy, ông gầm lên, hét thẳng vào mặt vợ: "Giời ạ, đừng có mà ầm lên như thế, đồ quỉ già!".
Sự thể là ông vừa mới trở về từ một buổi tiệc ồn ào mà ở đó, mọi chuyện cứ như chỉ nhằm vào có mỗi một mình ông, làm ông vô cùng ấm ức mà chẳng thể làm gì!
Lúc đầu, họ ngồi với nhau trò chuyện chung chung về vấn đề giáo dục. Nhưng dần dần họ chuyển sang bàn tán về chất lượng đào tạo của các viên chức hành chính trong bộ, mà cũng như ông, chẳng được bài bản cho lắm. Từ đó, họ đưa ra những nhận xét châm chọc, mỉa mai, rồi họ cười khẩy đầy vẻ chế nhạo. Thế rồi, vẫn như người Nga thường làm khi nói chuyện về những chủ đề như vậy, họ mào đầu bằng những chuyện vô thưởng vô phạt để rồi ngay sau đó nhằm thẳng ngay vào một cá nhân cụ thể!
Một anh trẻ tuổi quay sang Yefim Formich Perekladin nói: "Còn bác thì sao, bác Yefim Formich Perekladin? Bác đúng là một ví dụ đấy, bác cũng giữ một vị trí kha khá đấy chứ, phải không nào? một vị trí cũng khá quan trọng đúng không? nhưng bằng cấp của bác thì sao nhỉ?". "Ồ, không nhiều!", ông trả lời cộc lốc. "Nhưng cậu biết đấy, chúng tôi đâu có cần bằng này bằng nọ, công việc của chúng tôi là làm sao viết cho đúng chính tả là được, chỉ cần có thế!" "Nhưng ở đâu dạy cho bác viết đúng chính tả, viết đúng ngữ pháp nào?", anh trẻ tiếp tục. "Ồ, cậu biết đấy, tôi vẫn học theo cách thông thường ấy mà, sau ! 40 năm làm một công việc gì đó thì chính cậu cũng sẽ trở thành một chuyên gia ngay thôi mà! Dĩ nhiên, lúc đầu cũng sẽ có khó khăn đấy, tôi cũng vậy, nhưng sau đó thì sẽ tìm ra một bí quyết nào đó, ai chả thế!", ông đáp. "Thế bác sử dụng dấu chấm câu như thế nào?", anh trẻ hỏi. "Dấu chấm câu ư? Chẳng có vấn đề gì cả, tôi dùng chúng một cách thuần thục!" "Hừ…", anh trẻ tuổi im lặng một lát rồi tiếp tục: "Nhưng làm mãi mới tìm ra một cách nào đó thì không phải do bằng cấp đúng không nào! Bác có thể chấm các dấu chấm câu rất đúng chỗ nhưng thế thì chưa đủ, bác phải hiểu tại sao bác lại làm như vậy. Nếu bác muốn đánh một dấu phẩy thì chí ít bác cũng phải biết tại sao lại là dấu phẩy mà không phải một dấu nào khác. Thưa bác, việc đánh dấu với bác chỉ là bản năng, chỉ là thói quen không hơn không kém, còn đâu là nguyên tắc của nó thì… đó chỉ là một hành động máy móc, bản năng!".
Yefim Formich Perekladin chẳng nói được câu nào, cố mở ra một nụ cười gượng gạo (bởi vì anh trẻ lại là con trai một của một vị kha khá trong bộ, và chính anh cũng đang giữ một vị trí chắc chắn trong bộ giáo dục!). Nhưng giờ đây, khi đã về nhà mìmh, càng cố ngủ thì ông lại càng ấm ức, trằn trọc mà không tài nào ngủ được. "Mình đã làm việc được 40 năm – ông nghĩ – cho đến giờ vẫn chưa ai bảo mình là người ngốc ngếch, thế mà cái thằng nhóc này lại dám bảo mình như vậy, mình mà lại chỉ làm theo thói quen ư?, chỉ là "phản ứng có điều kiện" là " hành động máy móc" thôi ư? Ôi! Quỷ tha ma bắt anh đi! Đồ trứng khôn hơn vịt!..! Tôi bi�! ��t những điều tôi làm hơn anh chứ, rõ ràng là như vậy mặc dù tôi chưa bao giờ thèm học ở cái trường chính quy của anh cả!"
Giờ đây, trong hơi ấm của chăn bông và sau khi đã rủa thầm cái anh chàng trẻ tuổi thích xoi mói bằng những lời lẽ thậm tệ nhất mà ông biết, ông cũng thấy hả giận phần nào và thấy như dễ chịu hơn. Ông vừa nghĩ ngợi vừa lẩm bẩm trong khi đã cảm thấy buồn ngủ: "Tôi biết…. tôi hiểu chứ… tôi không bao giờ đặt một dấu hai chấm ở chỗ của dấu phẩy, đúng không nào… vì thế là tôi biết tôi đang làm gì chứ! Còn anh đấy, anh bạn trẻ, hãy cứ làm đi… hãy cứ sống thêm một ít nữa đi rồi anh sẽ tha hồ mà cạnh khóe lão già này…!"
Ông thấy bay ngang qua đôi mắt nhắm nghiền của mình trong bóng tối những cái dấu phẩy và cả những cái cười mỉa mai bay chập chờn trong một đám mây bụi, chúng lóe sáng như những vệt sao băng rồi bốc cháy. Cái thứ nhất… cái thứ hai… cứ thế hiện ra vô số những chiếc dấu phẩy nhấp nháy nhấp nháy, chập chờn bay lượn… "Cút hết đi, đồ chết tiệt", Yefim Formich Perekladin rủa thầm trong đầu khi ông cảm thấy tay chân trở nên nặng nề, ông sắp chìm vào một giấc ngủ mỏi mệt… "Tôi biết quá đi chứ về những con dấu… tôi biết quá rõ về những con dấu… tôi sẽ nói cho anh rõ các con dấu khác nhau chỗ nào nếu anh muốn, tôi biết mình đang làm gì chứ chẳng phải ngẫu nhiên mà làm đâu! Kiểm tra đi, rồi anh sẽ thấy!.. Này nhé… dấu phẩy được đặt ở nhiều chỗ khác nhau, đôi khi chúng cần thiết, đôi khi không. Một tài liệu mà càng phức tạp thì anh lại phải d! ùng đ�! �n chúng càng nhiều. Chúng luôn đứng trước các đại từ chỉ định những khi ta không muốn nhắc lại trong câu những chữ như: "cái mà" "người mà", v.v. và nếu anh có một danh sách các quan chức cần phải kể ra thì anh phải phân biệt người này với người kia bằng những dấu phẩy… tôi biết rõ như vậy đấy!"
Lại một con dấu phẩy vàng rực, hiện ra lượn lờ xoay tít rồi lại biến mất nhưng ngay lập tức, một con dấu chấm câu sáng lấp lánh hiện ngay ra… "Dấu chấm câu ư… anh phải đặt nó vào khi muốn kết thúc hoặc muốn một khoảng thời gian ngắn để ngừng lại lấy hơi và ngước lên nhìn vào những người đang nghe anh đọc. Sau tất cả các đoạn dài dài một tí, anh cũng phải dùng một dấu chấm, để khi cô thư ký đọc, cô ta sẽ không bị hụt hơi và nói lắp! Đấy, cách dùng dấu chấm câu chỉ đơn giản có thế!"
Những dấu phẩy như mạ vàng lại xuất hiện trở lại, chúng nhập vào với những dấu chấm rồi xoay tít mù, chập chờn, chập chờn… rồi sau đó Yefim Formich Perekladin lại nhìn thấy một lũ những dấu chấm phẩy và dấu hai chấm… "Tôi biết rõ những con dấu này", ông nghĩ, "khi mà dấu phẩy không thể dùng được mà dấu chấm đã quá nhiều thì người ta sẽ dùng đến dấu chấm phẩy, mình luôn đặt dấu chấm phẩy trước "nhưng" và "vì thế". Còn dấu hai chấm thì sao? Thì chúng luôn được đặt trước những từ đại loại như một quyết định hay một mệnh lệnh nào đó…" Những dấu chấm phẩy và hai chấm nhạt dần rồi hiện ra một loạt các dấu chấm hỏi. Chúng như thoát ra khỏi bóng tối và cứ như đang nhảy theo điệu cancan của người Ph! áp.
! "Nào, bây giờ đến dấu hỏi chấm đây, có hàng nghìn dấu hỏi chấm chứ gì? Được rồi, ta sẽ tìm ra chỗ đứng cho chúng mày. Người ta thường đặt chúng vào cuối những câu hỏi hoặc yêu cầu gì đó ví dụ như: "Trong quỹ của bộ còn bao nhiêu tiền?" hoặc "Bên công an chắc sẽ không tìm ra đâu nhỉ?", còn khi mà các dấu chấm hỏi đứng thẳng lên trong trường hợp dùng cho các câu có tính chất phê chuẩn hoặc mệnh lệnh thì chúng lại trở thành các dấu chấm than… Hừ… bây giờ đến cái dấu luôn được dùng khi bắt đầu những lá thư, khi "Kính thưa ngài!" hoặc khi "Thưa đức ông cao quý, người đỡ đầu của tôi!"… Nhưng đối với một bản báo cáo thì sao nhỉ? Dấu chấm than thường đứng cao hơn so với các con chữ, chúng có tính chất chờ đợi, mong chờ một điều gì đó xảy ra, v.v trong một báo cáo, chúng được dùng khi… khi mà… khi nào nhỉ???.. Khi… thực ra là… khi nào nhỉ… xem nào, nghĩ một tí xem nào… hừ!.."
Yefim Formich Perekladin trở mình, mở mắt ra, nhưng khi vừa mới nhắm mắt lại thì những chiếc dấu chấm than lại hiện ngay ra trong bóng tối rõ mồn một. "Ôi quỷ tha ma bắt chúng đi! Mà khi nào thì dùng dấu chấm than nhỉ?", ông tự hỏi rồi cố quên đi những vị khách không mời mà đến đang lởn vởn trong đầu. "Có phải mình đã thực sự quên cách dùng dấu chấm than không nhỉ? Hay là mình chưa bao giờ phải dùng đến chúng cả?"
Yefim Formich Perekladin cố nhớ lại tất cả các báo cáo mà mình đã viết trong suốt 40 năm qua ở công sở. Nhưng càng suy nghĩ, cân nhắc, ông lại càng không tìm ra câu trả lời thỏa đáng. Ông không thể nào tìm r! a một l! ần nào trong suốt thời gian qua đã dùng đến dấu chấm than cả. "Hãy tưởng tượng xem, một nhân viên hành chính sự nghiệp mà trong suốt bốn mươi năm phục vụ chưa một lần dùng đến dấu chấm than! Chúng biến đi đâu hết cả nhỉ, cái con quỷ gầy gò dài ngoằng ấy!"
Từ phía sau hàng dấu chấm than nhấp nháy như lửa cháy ấy lấp ló bộ mặt của cái anh trẻ tuổi, khuôn mặt ấy như đang cười cợt một cách đầy ác cảm và đắc thắng, những cái dấu cũng như cười cợt theo rồi chúng họp nhau lại thành một cái dấu chấm than to đùng trong bóng tối. Yefim Formich Perekladin lắc đầu rồi mở mắt ra, "Ôi đồ quỷ sứ", ông nghĩ, "mình phải dậy thật sớm ngày mai mà những điều đáng nguyền rủa này lại không để mình yên, cứ bám riết lấy mình…đồ chết tiệt!"
"Nhưng chúng biến đi đâu được nhỉ, suốt bao năm làm việc mới rút ra được kinh nghiệm mà bỗng dưng với cái dấu chấm than này mình lại trở thành người vỡ nợ, một kẻ ngã ngựa giữa đường! Bốn mươi năm mà chưa một lần dùng dấu chấm than, thật kỳ lạ!"
Yefim Formich Perekladin làm dấu, nhắm mắt lại rồi lại mở ngay ra nhưng cái dấu chấm than to tướng đó vẫn hiện ra rõ mồn một. "Sao thế, không ngủ được à?", Mafusa, vợ ông hỏi. "Đúng rồi, thử hỏi bà ấy xem," ông quay sang phía vợ, "bà ấy vẫn luôn luôn khoe khoang là học sinh của một trường nổi tiếng dành cho nữ sinh cơ mà". Ông liền hỏi: "Bà nó này, bà có biết là dấu chấm than được dùng như thế nào không?". "Tất nhiên rồi", bà trả lời. "Thế ông nghĩ là tôi đã bỏ phí bảy năm để học trong một trường chuyên à! Tôi thuộc lòng cách dùn! g của t! ất cả các loại dấu, dấu chấm than thì dùng cho những câu cảm thán, chào hỏi, sự bột phát, bùng nổ, khi vui sương thích thú hoặc tức giận và những cảm giác đại loại như thế." "Vậy à…" Yefim Formich Perekladin nghĩ ngợi…. "Vui sướng, giận hờn hoặc những cảm giác đại loại như thế…"
Yefim Formich Perekladin lại chìm vào suy nghĩ…. "Trong bốn mươi năm qua mình đã từng viết báo cáo, hàng nghìn, hàng chục nghìn cái báo cáo nhưng không thể nhớ lại một dòng nào có cái tâm trạng đại loại như vui sướng, giận dữ hoặc tâm trạng tương tự như vậy trong các báo cáo của mình cả!.. "Và những tâm trạng đại loại như vậy…" Ông phân vân, tự hỏi: "Nhưng có cần tâm trạng, cảm xúc gì không trong công việc của một viên chức thư ký hành chính như mình? Thật ra viết báo cáo thì chẳng cần có cảm xúc gì với chúng đâu!"
Khuôn mặt khó chịu của cái anh trẻ lại ló ra, thập thò hé nhìn từ phía sau cái dấu chấm than đỏ rực ấy, cười cười như thương hại…Yefim Formich Perekladin ngồi dậy, cảm thấy đầu đau như búa bổ, mồ hôi rịn ra trên trán… ngọn đèn nhỏ mập mờ, le lói… vẫn những đồ đạc được xếp đặt ngăn nắp, sạch sẽ và luôn bóng bẩy vì luôn được một bàn tay phụ nữ mềm mại dịu dàng chăm sóc. Nhưng Yefim Formich Perekladin, viên chức hành chính sự nghiệp mẫn cán vẫn cảm thấy ảm đạm, lạnh lẽo cứ như là người đang lên cơn sốt phát ban làm ông mệt mỏi, chán chường!
Cái dấu chấm than không còn ở trong bóng tối, phía sau mí mắt ông nữa mà như hiện ra hẳn trước mắt ông, gần ngay bàn trang điểm của vợ ông luôn nhấp nháy, n! hấp nh�! �y một cách ác độc. "Một cái máy viết", nó lầm rầm y như một con ma, "một cái máy viết" rồi như thở ra một luồng hơi lạnh lẽo bao trùm lên ông: "Một tên làm khoán cục mịch đần độn". Ông liền kéo cái chăn trùm kín mít lên đầu nhưng cái con ma chết tiệt ấy vẫn chẳng chịu rời. Ông úp mặt vào vai vợ nhưng cái bóng ma quái ác vẫn không chịu biến mất mà lại hiện ra ngay trước mắt ông phía bên kia vai bà Mafusa.
Thế là suốt cả đêm Yefim Formich Perekladin tội nghiệp bị những bóng ma con dấu ám ảnh. Thậm chí cả lúc ban ngày những bóng ma ấy cũng không chịu rời khỏi ông. Ông thấy chúng ở khắp mọi nơi, ở trong giày khi ông xỏ giày, ở trong chén trà khi ông uống nhằm tỉnh táo hơn, thậm chí cả trên chiếc huy chương đeo lủng lẳng trên ngực áo ông. "Những cảm xúc tương tự…", ông nghĩ, sự thật là như vậy, mình không có cảm xúc, mình sẽ đến để nói với ông giám đốc. Nhưng ông ta biết làm gì đây với những cảm xúc? Không, chẳng để làm gì cả, ông ta cũng chỉ là một cái máy. Một viên chức máy!
Khi Yefim Formich Perekladin đi ra đến đường, gọi một anh đánh xe, trông anh ta cũng như một chiếc dấu chấm than đang đánh xe vậy, cả cái anh vẫn đứng gác ở cổng lối ra vào phòng ông giám đốc nữa, cũng giống y một cái dấu chấm than nốt… tất cả như đang thể hiện với ông về niềm vui, tức giận và cả căm hờn… Cả cái cán bút và cái ngòi bút của ông trông cũng y xì như một cái dấu chấm than! Yefim Formich Perekladin cầm nó lên, hờ hững viết ra cái tên và chức danh của mình: "Yefim Formich Perekladin, thư ký bộ giáo dục!!!". Khi ông đánh ba dấu chấm than ấy, tro! ng ông d! âng lên một cảm xúc thật kỳ lạ, vừa vui vẻ, vừa tức giận lại như vừa có chút gì như sung sướng trào lên trong lòng.
"Đây! hãy giữ lấy, giữ lấy!", ông lầm bầm, nhấn mạnh vào cây bút trong tay ông. Cái dấu chấm than đỏ rực như đã mãn nguyện vụt biến mất.
Giận Dỗi
Quỷ tha ma bắt cô đi? Cô làm gì từ sáng đến giờ mà cơm nước tanh bành thế này. Tôi đi làm hùng hục cả ngày, về đến nhà được cô cho ăn uống thế này sao? á, à, cô định không cho tôi nói hả? Tôi cứ bắt đầu lên tiếng là cô lại giở cái võ nước mắt ra chứ gì? Thà chết còn hơn lấy phải cô vợ thế này.
Vừa gầm gừ, người chồng vừa gõ thìa vào đĩa, rồi ném khăn ăn xuống bàn, tức giận bỏ sang phòng khác sau khi đập mạnh cánh cửa. Người vợ bật khóc, lấy khăn tay chấm nước mắt rồi cũng bỏ sang phòng khác. Bữa ăn kết thúc ở đó.
Người chồng vào phòng đọc, gieo mình xuống đi văng, giúi mặt vào gối.
“Đúng là điên thì mới lấy vợ – anh ta nghĩ – cuộc sống gia đình mới “ấm áp” làm sao! Thật không còn gì để nói nữa.Vừa mới lấy vợ được mấy tháng đã muốn treo cổ tự vẫn rồi”.
Mười lăm phút sau có tiếng bước chân khe khẽ ở ngoài của phòng đọc…
“Biết ngay mà. Hành hạ người ta, chửi rủa người ta, bây giờ lại định đến làm lành ấy à? Quên đi nhớ? Thà chết chứ nhất định lần này mình không chịu nhún!”
Có tiếng kẹt cửa. Ai đó bước vào phòng, nhẹ nhàng đi về phía đi văng.
“Được rồi, cứ xin lỗi đi! Cứ khóc lóc, vật nài đi! Tôi sẽ cho cô biết thế nào là lễ độ. Tôi thà chết chứ nhất định không thèm đáp lời cô đâu”
Người chồng giúi sâu mặt vào gối làm bộ như đang ngủ say. Nhưng xem ra đàn ông cũng yếu đuôi như đàn bà, cũng dễ mủi lòng lắm chứ. Khi thấy có một bàn tay ấm nóng đặt lên lưng. Người chồng vờ ngả sang một bên.
“á à lại sắp giở! cái trò ôm ấp, hôn hít ra đây mà. ôi, mình không thể cầm lòng trước sự dịu dàng như thế này được! Nhưng dù sao cũng phải tha lỗi cho cô ấy. Không nên làm cô ấy quá xúc động, lo lắng khi bụng mang dạ chửa thế này. Chỉ dày vò chút xíu thôi, phạt một chút xíu thôi rồi tha cho cô ấy vậy”.
Người chồng nghe thấy tiếng thở dài ngay bên tai mình và cảm nhận được một bàn tay nhỏ bé đang chạm vào vai và cổ.
“Đây là lần cuối cùng mình tha thứ cho cô ấy. Dày vò cô ấy thế là đủ rồi. Thực ra mình cũng có lỗi trong chuyện này. Chỉ vì một chuyện vớ vẩn mà mình đã làm ầm lên rồi…”
– Thôi được rồi, anh không giận em nữa đâu, em yêu! – Người chồng quờ tay ra phía sau ôm lấy cái thân thể ấm áp ấy.
– ối!
Người chồng quay đầu lại, hóa ra đó là con chó Đanka lông xù.
Hỏng Việc
Tôi muốn khóc, khóc thật to, hoặc gào lên cho nhẹ bớt cõi lòng.
Hôm ấy là một ngày tuyệt đẹp. Tôi ăn vận thật sang trọng, tóc trải bóng mượt, xịt nước hoa thơm lừng, tóm lại hào hoa như Đông Joăng để đến gặp nàng. Nàng sống ở nhà nghỉ tại Xacônhiki. Nàng trẻ trung, xinh đẹp, có một món hồi môn là 30.000 đồng vàng, nàng có học đôi chút và yêu tôi, một nhà văn quèn, yêu kinh khủng, với một tình yêu hết sức dịu dàng.
Khi đến Xacônhiki tôi bắt gặp nàng ngồi trên chiếc ghế quen thuộc của chúng tôi dưới hàng thông mọc thẳng tắp. Thoáng nhìn thấy tôi nàng đứng dậy, nét mặt rạng rỡ:
– Chàng thật tệ? – nàng cất lời – vì sao chàng lại có thể đến muộn như vậy? Chàng biết là em rất buồn và mong chàng kia mà. Chàng thật là…
Tôi hôn bàn tay thon thả của nàng rồi vội vã ngồi xuống ghế cạnh nàng. Lòng tôi rạo rực, xốn xang có cảm giác trái tim tôi đập loạn nhịp và muốn vỡ tung ra…
Có gì là lạ đâu cơ chứ? Hôm nay tôi đến đây là để quyết định số phận của mình mà. Cuộc đời tôi từ ngày mai sẽ ra sao hoàn toàn phụ thuộc vào cuộc gặp gỡ chiều hôm nay. Tiết trời thật đẹp, nhưng tôi đâu có tâm trí nào mà để ý đến thời tiết cơ chứ! Thậm chí tôi còn không nghe thấy cả tiếng chim hoạ mi hót líu lo trên cao.
Sao chàng cứ im lặng mãi thế – Âu yếm nhìn tôi, nàng khẽ hỏi.
ừ, tại vì trời hôm nay đẹp quá! Thế… mẹ em hôm nay có được khoẻ không?
Cám ơn chàng, bà vẫn khoẻ.
Em biết không, Varvara Petrôpna, tôi muốn nói với em rằng… hôm nay tôi đến đây để nói với em rằng:.. suốt bao tháng qua t! ôi đã im lặng như một thằng ngốc… còn bây giờ đây tôi nghĩ mình không thể im lặng thêm được nữa.
Varia e lệ nhìn xuống đất, những ngón tay của nàng run run vuốt ve bông hoa nhỏ. Chắc nàng cũng đoán được là tôi định nói gì. Tôi im lặng giây lâu rồi nói tiếp:
– Chính tôi cũng không hiểu nổi vì sao mình lại có thể im lặng được lâu như vậy… Nhưng dù có rụt rè, có nhút nhát đến đâu đi chăng nữa thì cũng đến lúc tôi phải thú thật với em rằng… Có thể em sẽ giận tôi, sẽ trách cứ tôi nhưng… Tôi dừng lại một phút, cố gắng chọn những từ thích hợp.
“Hãy nói đi chàng – đôi mắt nàng như giục dã – sao chàng cứ ấp a ấp úng mãi thế?”
– Chắc hẳn em cũng đoán được rằng tại sao chiều nào tôi cũng đến đây và làm vướng mắt em… Làm sao một con người nhạy cảm như em lại không đoán được cơ chứ? Có lẽ từ lâu rồi… em đã cảm nhận được tình cảm mà tôi dành cho em, đúng không Varvara Petrôpna?
Varia cúi đầu xuống thấp hơn nữa, những ngón tay nàng xoắn lấy nhau
– Varvara Petrốpna!
– Chàng gọi em à?
– Tôi… Tôi… thật sự không biết phải diễn đạt tình cảm của mình như thế nào đây? Tôi… yêu em. Vâng, tôi yêu em nhiều lắm. Chỉ có mấy từ ấy thôi mà mãi tôi không thốt được thành lời… Tôi yêu em… biết nói thế nào cho em hiểu được những tình cảm mà tôi dành cho em bây giờ? Xin em hãy tìm tất cả những lời tỏ tình nồng nàn nhất, những lời thề son sắt nhất trong những trang tiểu thuyết tình yêu lãng mạn nhất có trên đời này, vâng, tất cả những thứ đ! ó cộng! lại sẽ là những gì đang dâng lên nghẹn ngào trái tim tôi lúc này. Varvara Petrốpna, tại sao em lại không nói gì thế?
– Chàng bảo sao cơ ạ?
– Chẳng lẽ em lại từ chối tình yêu của tôi?
Varia ngẩng đầu lên và mỉm cười với tôi. “Trời ơi, nhìn đôi môi nàng kìa, nàng như muốn nói với tôi: “Em đồng ý!”.
Tôi cầm lấy đôi tay tuyệt đẹp của nàng mà hôn say đắm. Nàng đẹp quá! Trong lúc tôi âu yếm đôi bàn tay nàng, nàng ngả mái đầu xinh xắn của mình vào ngực tôi. Lần đầu tiên tôi chợt nhận ra rằng nàng có một mái tóc bồng bềnh rất dễ thương. Tôi hôn lên mái tóc thơm nồng ấy mà trong lồng ngực thấy ấm áp lạ kỳ, cứ như thể có một chiếc ấm Xamôva nóng hôi hổi đang ở trong đó vậy. Varia ngước mặt lên nhìn tôi. Không biết phải làm gì hơn tôi đặt lên môi nàng một nụ hôn nồng ấm.
Vào đúng lúc nàng đã nằm trọn trong vòng tay tôi, lúc mà 30.000 đồng vàng sắp sửa thuộc về tôi, vâng vào cái giây phút mà tôi sắp làm chủ tương lai sáng lạn, có vợ đẹp, tiền đầy túi, sự nghiệp hứa hẹn rộng mở thì không hiểu sao tôi lại lỡ lời…
Tôi bỗng muốn khoe mẽ, phô trương trước mặt nàng. Đến tận bây giờ tôi vẫn không hiểu được lúc ấy thực ra mình muốn cái gì nữa.
– Varvara Pêtrốpna – sau nụ hôn đầu tiên tôi nói – Trước khi ngỏ lời cầu hôn chính thức với em tôi thấy mình có trách nhiệm cao cả là phải tâm sự thẳng thắn với em một số điều. Tôi sẽ nói ngắn gọn thế này… Varvara, em có biết tôi là một người như thế nào không? Đúng, tôi là một con người trung thực, một con người cần cù. Tôi ! là một! con người kiêu hãnh? Tôi sẽ có một sự nghiệp của mình… nhưng tôi… tôi rất nghèo. Tôi không có gì hết.
– Em biết, – nàng nói, – nhưng có nhiều tiền không chắc đã có hạnh phúc.
– Đúng. Nào tôi có định nói về chuyện tiền bạc đâu. Tôi đâu có hổ thẹn vì sự nghèo khó của mình Những cô pếch mà tôi kiếm được từ những tập bản thảo của mình không bao giờ tôi đổi lấy tiền trăm, bạc vạn mà người khác…
– Em hiểu mà…
– Tôi đã quen với sự túng bấn, đối với tôi nó không hề đáng sợ. Tôi có thể nhịn đói cả tuần… Nhưng còn em, liệu em có thể đi được hai bước mà không có xe ngựa không? Có thể không sắm những chiếc váy áo mới không? Có thể vài ngày chỉ ăn bánh mỳ và uống nước lã xuông không? Em đã quen ném tiền qua cửa sổ mà không hề thấy tiếc. Vậy liệu em có thể vì tôi mà hy sinh hết những sung sướng, tiện nghi mà bấy lâu nay em đã quen không?
– Nhưng em có của hồi môn, em có một khoản tiền kha khá mà.
– Mấy chục ngàn ấy thì có ý nghĩa gì? Với số tiền ấy liệu chúng ta sẽ sống được mấy năm? Rồi sau đó thì sao? Là sự thiếu thốn, túng quẫn. Rồi những giọt nước mắt, những nếp nhăn, những sợi tóc bạc sẽ nhanh chóng xuất hiện. Hãy tin tôi, tôi biết tôi đang nói gì mà. Để đấu tranh với sự đói nghèo con người cần phải có một nghị lực phi thường mà không phải ai cũng có được.
“Ôi tôi đang nói năng luyên thuyên cái gì thế không biết!” – Tôi dừng lại giây lát, rồi tiếp tục thao thao bất tuyệt:
“Tôi xin em hãy suy nghĩ cho thật chín chắn trước kh! i quyết! định gắn bó cả cuộc đời với tôi. Nếu em có được cái nghị lực ấy thì hãy đi theo tôi, bằng không hãy từ chối lời cầu hôn của tôi khi còn chưa muộn. Thà rằng tôi mất em còn hơn phải chứng kiến cảnh em sống cực khổ. Một trăm rúp nhuận bút mà hàng tháng tôi nhận được không đủ cho em tiêu vặt. Em hãy nghĩ kỹ trước khi đã quá muộn.”
– Nhưng em có của hồi môn mà?
– Là bao nhiêu tiền nào? Hai mươi ngàn? Ba mươi ngàn ư? Hay là một triệu? Tôi là một con người tự trọng, làm sao tôi có thể tiêu tiền bố mẹ cho em được. Không, không đời nào? Tôi đứng bật dậy, đi vòng quanh chiếc ghế. Varvara đăm chiêu suy nghĩ. Tôi hân hoan ra mặt. Rõ ràng là nàng phải rất kính trọng tôi thì những tâm sự của tôi về lòng tự trọng mới khiến nàng đăm chiêu, tư lự đến thế.
– Em hãy quyết định đi, một đằng là có tôi và mất tất cả, một đằng là không có tôi nhưng em sẽ có một cuộc sống giàu sang, hạnh phúc. Liệu em có đủ nghị lực vứt bỏ tất cả?
Tôi đã luyên thuyên như thế rất lâu. Hình như càng nói tôi càng hăng thì phải. Khi lảm nhảm những điều vớ vẩn ấy, người tôi như bị tách làm hai. Một nửa thì suy nghĩ như những điều tôi nói, nửa kia lại ngạo nghễ: “30.000 đồng vàng thì tiêu đến bao giờ mới hết đây?”
Varia kiên nhẫn nghe tôi nói, cuối cùng nàng đứng dậy, nắm lấy tay tôi và nói:
– Cám ơn chàng – giọng nàng run run làm tôi thấy ớn lạnh. Tôi nhìn vào đôi mắt ngấn lệ của nàng. Hai má nàng cũng đã ướt nhòa nước mắt.
– Cám ơn chàng vì sự chân thật của chàng. Chàng đã thật cao thượng khi nói th�! �t nhữn! g điều đó với em. Đúng là em rất yếu đuối… Em sẽ không thể chịu nổi những khó khăn như thế… Chàng nói đúng. Em với anh không không thể nên vợ nên chồng được….
Rồi nàng khóc rưng rức. Tóc tôi dựng ngược cả lên. Tôi luôn cảm thấy khó ở mỗi khi nhìn thấy đàn bà khóc. Trong khi tôi đang loay hoay không biết phải xử trí thế nào thì nàng lấy khăn tay thấm khô nước mắt và nói:
– Chàng nói đúng. Nếu em nhận lời lấy chàng tức là em lừa dối chàng. Em là con gái cành vàng, lá ngọc, yếu đuối lắm. Em không thể làm vợ của một người như chàng. Cả đời em đã quen ăn sung, mặc sướng, ra đường một bước là có xe đưa, xe rước , bữa nào cũng ăn sơn hào, hải vị. Chưa bao giờ biết đến món súp suông… Rồi váy áo thời trang nữa chứ. Mà chàng thì lấy đâu ra tiền… Xin vĩnh biệt? Em thật không xứng với chàng. Vĩnh biệt!
Nói xong những lời ấy nàng quay gót vào nhà. Còn tôi cứ đứng trân trân nhìn theo bóng nàng. Đầu óc tôi trống rỗng, tôi bỗng thấy mặt đất dưới chân mình chao đảo. Khi bình tâm trở lại và biết được là mình đang ở đâu và vừa tuôn ra những lời ngớ ngẩn gì thì không còn thấy bóng nàng đâu nữa. Tôi muộn hét lên thật to: “Xin em hãy quay trở lại?”, nhưng đã quá muộn.
Ba ngày sau tôi trở lại nhà nàng. Mọi người nói cho tôi biết rằng nàng không được khoẻ và dự định đến Sang Peterburg thăm bà nội cùng cha nàng.
Giờ đây nằm trên giường, tôi tự đấm ngực mình thùm thụp. Trái tim tôi như bị ai đó cào xây xước. Bạn đọc ơi, làm thế nào để thay đổi tình thế được bây giờ? Làm thế nào để lấy lại nh! ững đi! ều đã trót nói ra? Tôi sẽ phải thanh minh với nàng ra sao đây? Thực sự là tôi không biết mình phải làm gì bây giờ. Chỉ vì khoe mẽ vớ vẩn mà tôi đã làm hỏng việc lớn. Rõ là ngớ ngẩn!
Khóm Phúc Bồn Tử
Từ sáng sớm, những đám mây đen mọng nước đã phủ kín bầu trời; không gian im ắng, dìu dịu mát mẻ và buồn tẻ như vẫn thường thấy trong những ngày u ám, khi trên khắp cánh đồng mây đen đã giăng đầy, trời sẽ mưa và chưa mưa. Bác sĩ thú y Ivan Ivanưts và ông giáo trường làng Burkin đã mỏi rời cả chân, và cánh đồng trước mặt đối với họ tưởng như đang kéo dài vô tận. Phía đằng xa tít tắp, trông không rõ hình chiếc cối xay gió làng Mirônôxitxki, phía bên phải những ngọn đồi cao thấp nối tiếp theo nhau chạy dài rồi khuất mất sau xóm. Cả hai người đều biết rằng đó là mạn bờ sông, phía ấy có những bãi cỏ mênh mông, những hàng cây liễu rũ, những trang ấp, và nếu đứng trên đỉnh ngọn đồi thì từ đó có thể nhìn thấy cả cánh đồng rộng lớn, nhìn thấy nhà dây thép và đoàn tàu như một con sâu đang chậm rãi bò đi; vào những ngày tiết trời trong sáng, từ ngọn đồi có thể nhìn thấy cả thành phố. Bây giờ, vào lúc trời im lặng, khi mọi cảnh vật xung quanh đang hiện ra với vẻ tư lự đáng yêu, Ivan Ivanưts và Burkin đều cảm thấy cả cánh đồng trải rộng mênh mông này thân thiết quá, hai người đều nghĩ rằng, đất nước hùng vĩ và xinh đẹp biết bao.
– Lần trước, khi chúng ta đứng trước nhà kho của ông lý trưởng Prôkôfi Burkin nói- anh có định kể cho tôi nghe một chuyện cơ mà.
– Đúng rồi, lần ấy tôi muốn kể về người em trai của tôi.
Ivan Ivanưts hít vào thật sâu, rồi thở ra, lấy tẩu thuốc và hút, sắp vào câu chuyện, thì vừa lúc trời bắt đầu mưa. Chừng năm phút sau, cơn mưa chuyển thành nặng hạt, xối xả, dày đặc, và khó có thể ! biết bao giờ thì ngớt. Ivan Ivanưts và Burkin dừng lại phân vân; hai con chó đi theo, lông ướt sũng, đuôi cụp xuống, đứng yên nhìn chủ với vẻ trung thành tận tụy.
– Chúng ta phải trú tạm vào một chỗ nào thôi Burkin nói- Ta đến nhà Aliôkhin đi, cũng gần đây thôi.
– Ừ, phải đấy.
Hai người rẽ sang bên, đi băng qua cánh đồng mới gặt, lúc đi thẳng, lúc vòng sang bên phải mãi mới ra được đường cái. Một lát sau, đã hiện ra những cây dương, khu vườn, rồi những mái nhà kho ngói đỏ; dòng sông lấp loáng sáng, một đầm nước rộng gần bên chiếc cối xay gió và một nhà tắm quét vôi trắng. Đó là một làng Xôphinô, nơi ở của Aliôkhin.
Cối xay gió quay nhanh át đi cả tiếng mưa rào rào, con đập chắn nước như đang rung lên. Bên cạnh những cỗ xe, có những con ngựa đang đứng cúi đầu, nhiều người đang đi đi lại lại áo tơi khoác trên mình. Trời ẩm ướt mặt đất lầy lội nhớp nháp, khu đầm nước trông lạnh lẽo và giận dữ. Ivan Ivanưts và Burkin cảm thấy toàn thân mình ướt át, lấm láp, khó chịu, đôi chân nặng chình chịch vì bết đất; và khi qua bờ đập, bước chân lên dãy nhà kho của chủ nhân, họ im lặng như đang có chuyện gì cáu giận nhau vậy.
Trong một căn nhà kho, có tiếng máy quạt lúa quay vù vù, cánh cửa mở rộng, bụi từ trong nhà bay ra tơi tấp. Trên ngưỡng cửa chính là Aliôkhin, một người đàn ông trạc bốn mươi tuổi, to cao, để tóc dài, trông giống một vị giáo sư hay một họa sĩ hơn là một vị điền chủ. Ông ta mặc một chiếc áo sơ mi đã lâu không giặt, ngang mình thắt dây lưng, mặc một chiếc quần đi ngựa, đôi ủng bám đầy đất qu�! �n rơm. ! Mắt và mũi dính đầy bụi bặm. Ông ta nhận ra ngay Ivan Ivanưts và Burkin, và trông rõ là ông ta mừng rỡ.
– Mời hai vị vào nhà tôi chơi. ông ta vừa nói vừa cười- Tôi về ngay bây giờ đây.
Nhà Aliôkhin khá to, gồm hai tầng. Aliôkhin ở tầng dưới trong hai căn phòng trần cuốn vòm và cửa sổ nhỏ -đấy là chỗ ở ngày xưa của người quản gia; nơi ăn chốn ở của Aliôkhin có một vẻ giản dị đơn sơ, thoang thoảng mùi bánh mì đen, mùi rượu vốt-ca rẻ tiền và mùi yên cương.
Ông ta ít khi lên gác, nơi có phòng lớn sang trọng hơn, ông chỉ lên đó khi có khách thôi. Bước vào nhà, Ivan Ivanưts và Burkin gặp người hẫu gái, một phụ nữ còn trẻ, xinh đẹp đến mức mà cả hai người bất giác cùng đứng sững lại và nhìn sang nhau.
– Các vị không thể hình dung nổi, tôi mừng thế nào khi gặp được các vị đâu, -Aliôkhin nói trong khi bước theo họ vào tiền sảnh- Tôi cũng không ngờ! Này cô Pêlagâya, -ông ta nói với người hầu gái- cô lấy cho mấy vị khách này quần áo khô để thay nhé. Tôi cũng phải thay quần áo. Nhưng mà trước tiên là phải đi tắm một cái đã chứ không lâu quá rồi, có dễ từ dạo xuân tới giờ tôi chưa tắm. Hai vị cùng đi tắm với tôi đi, tắm xong thì cô cũng sẽ sửa soạn xong quần áo thay.
Cô Pêlagâya xinh đẹp, điệu bộ lịch sự, dáng vẻ dịu dàng, mang đến cho họ khăn tắm và xà phòng, Aliôkhin và hai vị khách đi ra nhà tắm ngoài đầm.
– Phải rồi, lâu lắm rồi tôi chưa tắm, -Aliôkhin vừa cởi quần áo ngoài vừa nói-. Nhà tắm của tôi, các vị thấy đấy, cũng đẹp lắm chứ, làm từ thời còn cha tôi kia, nhưng mà cũng chẳng lúc nào rỗi rãi m�! � tắm. !
Ông ta ngồi xuống bậc, dội lên mái tóc dài, lên cổ, nước bên cạnh ông ngả sang màu nâu sẫm.
– Lâu lắm tôi không tắm rồi Aliôkhin ngượng ngùng nhắc lại, ông ta lại xát xà phòng dội nước lần nữa, nước bên cạnh chỗ ông ta ngồi lại hóa ra màu đen sẫm như màu mực.
Ivan Ivanưts bước ra ngoài cầu, nhảy ùm xuống nước, sải tay bơi dưới trời mưa, sóng tỏa chung quanh, những bông hoa súng trắng dập dình trên mặt sóng. Ivan Ivanưts bơi đến giữa đầm thì lặn xuống, một lát sau nổi lên ở chỗ khác, bơi một quãng rồi lại hụp xuống cố lặn tới đáy. "Chà, mát quá
-Anh thích thú nhắc lại- Chà, mát quá
". Bơi đến bên cối xay gió, anh dừng lại nói chuyện với những người nông dân, rồi bơi ngược trở về, đến khoảng giữa đầm, anh bơi ngửa, để cho mưa rơi xuống mặt mình. Burkin và Aliôkhin đã mặc quần áo và sắp sửa vào nhà, mà Ivan Ivanưts thì vẫn còn bơi và ngụp lặn.
– Chà, mát ghê
-anh nói- Cầu trời phù hộ
– Anh sẽ gặp may đấy! Burkin nói to xuống đầm cho Ivan Ivanưts nghe thấy.
Mọi người trở vào nhà. Và chỉ đến khi đèn đã châm sáng trong căn buồng trên gác, Burkin và Ivan Ivanưts đã mặc bộ quần áo thoáng rộng, bằng lụa toàn tơ, đi giày ấm và ngồi trong ghế bành, còn Aliôkhin thì sạch sẽ, chải chuốt trong bộ cánh đen đi đi lại lại trên gác như để thưởng thức tất cả vẻ ấm áp, sạch sẽ, quần áo thơm tho, đôi giày mềm nhẹ, khi cô Pêlagâya xinh đẹp bước êm êm trên tấm thảm dài và dịu dàng cười bưng khay trà và bánh qui lên, chỉ đến khi đó, Ivan Ivanưts mới bắt đầu vào câu chuyện; và anh có cảm tưởng rằng, không phả! i chỉ B! urkin và Aliôkhin nghe anh kể thôi đâu mà những bà mệnh phụ cả trẻ lẫn già, những ngài mặc quân phục đang lặng lẽ, nghiêm nghị đứng trong những khung ảnh mạ vàng nhìn xuống cũng chăm chú lắng nghe.
– Chúng tôi là hai anh em -Ivan Ivanưts bắt đầu kể-. Tôi và em tôi là Nhicôlai ivanưts, kém tôi hai tuổi. Tôi theo đuổi việc học và trở thành bác sĩ thú y, còn Nhicôlai thì từ năm mười chín tuổi đã đi làm viên chức ở sở thuế vụ. Ông thân sinh chúng tôi là Trimsa Ghimalaixki, vốn là con nhà lính. Nhưng sau khi được phong hàm sĩ quan thì đã để lại cho chúng tôi danh hiệu quí tộc truyền đời và một trang ấp nhỏ. Sau khi ông thân sinh mất đi, tôi phải bán trang ấp để trả nợ, nhưng dù thế chăng nữa, tuổi thơ ấu của chúng tôi cũng đã trôi qua dưới quãng trời khoáng đãng ở chốn thôn quê. Như tất cả lũ trẻ thôn quê khác, suốt ngày, suốt tối chúng tôi ở ngoài đồng, trong rừng, đi chăn ngựa, bóc vỏ cây, câu cá, bày đủ thứ trò chơi
Các vị có biết không, ai trong đời mình dù chỉ một lần câu được con cá rô, hoặc là đã nhìn thấy về mùa thu đàn chim sáo bay về phương Nam, vào nhưng ngày tiết trời mát mẻ, quầng mây giăng hàng bay qua làng, thì người ấy không còn là dân thành phố nữa và cho đến khi chết, người ấy vẫn ước ao được sống giữa chốn thôn quê thoáng đãng. Làm ở sở thuế, em tôi cũng cảm thấy buồn tẻ lắm. Năm tháng cứ trôi qua, mà nó vẫn phải ngồi mãi một chỗ, ngày này qua ngày khác viết đi viết lại một thứ giấy tờ, lúc nào cũng mơ ước được về sống nơi thôn dã. Dần dần, nỗi buồn nhớ của chú ấy biến thành một nguyện vọng cụ thể, ao ước làm sao! tậu đ! ược một trang ấp nhỏ ở một nơi nào đó ven sông, hay ven hồ.
Em tôi là một người tốt bụng, dễ mến, tôi rất yêu cậu ta nhưng mà cái ao ước tự khóa chặt cả đời mình vào trong một trang ấp thì tôi không bao giờ thông cảm được. Người ta thường quen nói rằng con người chỉ cần ba thước đất. Nhưng chẳng phải là chỉ có xác chết mới cần ba thước đất, chứ con người đâu chỉ cần có thế! Bây giờ người ta cũng hay nói rằng nếu giới trí thức chúng ta để tâm nhiều hơn đến ruộng đất và ai nấy đều muồn về trang ấp thì đó là một điều đáng mừng. Nhưng rời bỏ thành phố, lánh xa những cuộc đấu tranh, lảng tránh cuộc sống sôi nổi, lẩn trốn về trang ấp của mình nơi thôn dã, đó không phải là sự sống, mà là sự ích kỷ, lười nhác, một kiểu đi tu, nhưng đi tu mà không lập nên kỳ tích gì. Con người không phải chỉ cần ba thước đất, không phải chỉ cần một trang ấp nhỏ, mà là tất cả trái đất, tất cả thiên nhiên; trên cả miền đất bao la ấy, con người mới có thể bộc lộ được hết phẩm chất và đặc điểm của tinh thần tự do của mình.
Những lúc ngồi bên bàn giấy, em tôi đã mơ tưởng đến ngày sẽ được ăn đĩa súp bắp cải hái từ vườn nhà mình tỏa mùi thơm phức, ngon lành khắp sân, mơ tưởng những bữa ăn dọn ngay trên thảm cỏ xanh, được ngủ trong khu vườn râm mát dưới anh mặt trời, được ngồi hàng giờ liền trên chiếc ghế băng dài đặt ở lối cổng mà nhìn ra phía đồng và cánh rừng xa. Những cuốn sách nhỏ về nghề nông, những lời khuyên trong các cuốn lịch đã đem đến cho chú ấy niềm vui và là món ăn tinh thần chủ yếu; chú ấy ! ham đọ! c các báo, nhưng chỉ đọc trong đó những lời rao bán bao nhiêu mẫu đất, bãi cỏ cùng với những trang ấp có vườn, có cối xay gió, có sông lạch, ao đầm
Và trong đầu chú hiện ra hình ảnh những con đường nhỏ chạy quanh co trong khu vườn bên những khóm hoa, cây quả, chuồng chim sáo sậu trên cây cao và những đàn cá chép dưới ao, các vị biết đấy tưởng tượng theo lối đó thì vô cùng. Khi đọc những lời rao trên báo, chú ấy hình dung ra đủ những bức tranh khác nhau, nhưng không hiểu vì lẽ gì trong những bức tranh thể nào cũng phải có khóm phúc bồn tử. Chúng ta không thể nào hình dung ra một trang ấp, một chốn đầy thơ mộng, mà lại thiếu khóm phúc bồn tử được.
– Cuộc sống nơi thôn quê có những thú vị riêng -nhiều lần chú ấy nói- Ngồi trên ban công uống trà, dưới ao, đàn vịt của anh đang bơi lội, hương cây ngào ngạt, và
và khóm cây phúc bồn tử mỗi ngày một lớn
Chú ấy vạch ra viễn cảnh của trang ấp tương lai, và lần nào cũng vậy, viễn cảnh ấy hiện ra theo trình tự như sau: a) nhà trang chủ, b) nhà cho người làm, c) vườn rau, d) khóm phúc bồn tử. Chú ấy chi tiêu rất dè sẻn, ăn không no, uống không đủ, mặc xoàng xỉnh thế nào xong thôi, trông như kẻ hành khất, dành dụm được đồng nào chú ấy đều gửi vào nhà băng tất, tính tình chú ấy trở nên tham lam. Trông thấy chú ấy, tôi động lòng thương, thỉnh thoảng vào các dịp lễ tết, tôi cũng gửi giúp ít tiền, nhưng chú ấy đều để dành, không tiêu đến. Nếu người ta đã mải mê theo đuổi một ý định gì, thì chẳng biết khuyên can thế nào được nữa.
Năm thánh qua đi, chú ấy chuyển sang làm ở một tỉnh! khác, t! uổi đã ngoài bốn mươi, thế mà chú ấy vẫn theo dõi đọc những lời rao vặt trên báo và dành dụm tiền. Sau đó tôi nghe là chú ấy lấy vợ. Cũng vẫn với mục đích làm sao mua được một trang ấp nhỏ có khóm cây phúc bồn tử chú ấy đi lấy một bà góa già, xấu xí mà lòng không chút yêu đương nào, chỉ bởi một lẽ rằng bà ta có một món tiền kha khá. Chú sống với vợ vẫn theo lối dè sẻn, hà tiện, cho bà ta ăn uống kham khổ, bao nhiêu tiền của bà ấy chú đều gửi tất cả vào nhà băng theo tên mình. Ngày trước bà ta lấy một ông chủ sự bưu điện; sống với ông ấy, bà ta quen được ăn các thứ bánh ngọt ngon lành, uống rượu mùi hảo hạng, còn bây giờ sống với chồng mới, bà dần dần héo mòn, ốm yếu trong cảnh sống như thế, chỉ khoảng ba năm sau là đã về chầu thượng đế. Và tất nhiên người em trai không bao giờ nghĩ rằng chú ấy có lỗi trong cái chết của bà ta. Tiền bạc, như rượu trắng, biến tâm tính con người thành kỳ quặc. Ở ngoài thành phố tôi ở, có một gã lái buôn hấp hối, trước khi chết y bảo người nhà mang đến một đĩa mật rồi chấm mật ăn hết số tiền và vé số trúng của mình, để số tiền đó không rơi vào tay ai khác. Có lần tôi đang khám cho một đám súc vật trên ga thì có một tay buôn ngựa bị ngã vào trước đày tàu đang chạy, anh ta bị cụt mất một chân. Chúng tôi khiêng anh ta vào phòng trong ga, máu chảy lênh láng, thật là khủng khiếp, thế mà anh ta chỉ một mực đòi mọi người tìm lại cho anh ta đoạn chân đã bị cụt, anh ta lo lắng một điều rằng trong đôi ủng nơi cẳng chân cụt của anh ta có nhét vào hai mươi rúp, chỉ sợ số tiền ấy bị mất. ̵! 1; Anh kể lạc đề rồi đấy Burkin nói.
– Sau khi vợ chết -Ivan Ivanưts nghĩ ngợi một lát rồi kể tiếp- người em trai tôi bắt đầu đi tìm một trang ấp. Tất nhiên là dù rằng có tìm chọn suốt dăm năm chăng nữa, cuối cùng vẫn có thể phạm sai lầm, mua phải nơi khác xa mơ ước của mình. Qua một tay môi giới, chú ấy đã mua một khu đất rộng một trăm hai mươi đêxiachin(1), có nhà lớn dành cho trang chủ, nhà cho người làm, có vườn hoa, nhưng không có vườn cây ăn quả, không hề có khóm phúc bồn tử nào, không có ao đầm vịt lội; kề bên một dòng sông nhưng nước đen sẫm như nước cà phê vì một bên sông là nhà máy gạch ngói, một bên nữa là nhà máy nung xương. Nhưng anh chàng Nhicôlai của tôi không lấy làm buồn; chú ấy đặt mua liền hai mươi khóm phúc bồn tử đem về trồng và bắt đầu sống cuộc đời một nhà điền chủ.
Năm ngoái tôi có đến thăm chú ấy. Tôi định đến xem người em ăn ở ra sao. Trong những bức thư gửi cho tôi, anh ta tự gọi trang ấp của mình là "bãi hoang Tsumbarốclốp", "Ghimalaixkôêtôs". Quá trưa hôm đó, tôi đến "Ghimalaixkôêtôs". Trời nóng bức. Chỗ nào cũng thấy mương rãnh ngang dọc, nhiều hàng thông non mới được trồng, không thể biết được lối nào là lối đi vào sân, chỗ nào là chỗ buộc ngựa. Tôi bước lại gần ngôi nhà; đi ngược về phía tôi là một con chó lông màu vàng sẫm, béo phục phịch như lợn
Chắc nó muốn sủa lắm, nhưng lười nhác nên lại thôi. Một mụ đầu bếp bước ra, chân đi đất, cũng béo ục ịch như lợn, bà ta nói rằng ông chủ đang nằm ngủ sau bữa ăn trưa. Tôi vào trong phòng người em trai, anh ta ngồi trên giường, chăn ph! ủ kín ! chân; trông chú ấy già đi, người béo bện trắng nhợt, má, mũi và đôi môi cứ chảy ra.
Chúng tôi ôm nhau, sụt sịt khóc một chút, phần vì mừng quá, phần thì buồn rầu nghĩ rằng mới ngày nào còn trẻ trung mà bây giờ cả hai tóc đều đã lốm đốm bạc, chẳng mấy chốc là đến lúc chết rồi. Anh ta mặc quần áo vào rồi dẫn tôi đi xem trang ấp của mình.
– Thế nào, chú sống ra sao? Tôi hỏi.
– Nhờ trời, không đến nỗi nào, cũng thoải mái anh ạ.
Đây không còn là chàng viên chức nghèo rụt rè ngày xưa, mà đã là một điền chủ thực sự, một ông bá hộ. Anh ta đã sống quen ở đây, quen với nếp sống nhàn nhã mới, ăn rất nhiều, tắm trong nhà tắm, người dần phát phì ra, đã có chuyện kiện cáo với những kẻ giàu sang trong vùng và với hai nhà máy bên sông; mỗi lần nông dân không thưa gởi với chú ấy bằng chữ "bẩm ngài" thì chú ấy nổi giận thật sự. Chú ấy cũng biết lo đến nơi đến chốn cho phần hồn của mình, theo lời người giàu; và chú ấy làm những việc từ thiện không phải là một cách giản đơn mà đầy vẻ hệ trọng. Những việc từ thiện là việc gì? Là chữa các thứ bệnh cho nông dân bằng nước xô-đa, bằng dầu thầu dầu, vào những ngày thánh trùng tên với mình thì làm lễ tạ ơn ở giữa làng, rồi sau đó cho đem đến nửa thùng rượu và nghĩ rằng cần thiết phải làm thế. Chao ôi, những thùng rượu nửa vời như thế thật là khủng khiếp! Hôm nay ngài địa chủ béo bự lôi đến nhà hội đồng hương chính bắt vạ những người nông dân vô ý để ngựa ăn lúa, thế mà hôm sau, vào ngày lễ, ngài ấy đã đem đặt giữa sân một thùng rượu lưng lưng, ! và nhữ! ng người nông dân xúm vào uống, miệng kêu gào tung hô ông chủ, say mềm phủ phục dưới chân người làm phúc! Cuộc sống thay đổi theo chiều hướng đầy đủ hơn, sự no nê, nhàn rỗi -những cái đó đã làm tăng lên trong con người Nga cái tính hợm hĩnh tự phụ, điều đáng ghê tởm nhất. Anh chàng Nhicôlai xưa kia, hồi còn làm ở bàn giấy sở thuế, nhút nhát đến mức không dám có ý kiến riêng, bây giờ thì lại chỉ nói rặt những điều chân lý, với cái giọng hệt như ngài bộ trưởng, đại loại: "Học thức là cần thiết, nhưng đối với dân chúng thì hơi sớm". "Nhục hình nói chung là có hại, nhưng trong một vài trường hợp thì nó cũng giúp ích và không thể thay thế được.
– Tôi hiểu đám dân chúng và biết cách đối xử với họ -anh ta nói-. Dân chúng kính nể tôi. Tôi chỉ cần giơ ngón tay trỏ lên là bọn họ sẽ làm tất cả những gì tôi muốn.
Các vị nên để ý rằng, chú ấy nói những lời ấy với nụ cười ra vẻ thông minh và phúc hậu. Có đến hai chục lần tôi nghe thấy chú ấy nói: "những nhà quí tộc"; chắc hẳn là chú ấy đã quên mất rằng ông nội chúng tôi là nông dân, còn ông thân sinh vốn là lính. Thậm chí cả cái họ Trimsa-Ghimalaixki thực ra nghe cũng chẳng lấy làm gì thuận tai cho lắm, đối với anh ta bỗng trở nên thú vị, êm tai, nghe rất kêu và đầy vẻ quý phái.
Nhưng điều đáng nói là không phải về phần chú ấy, mà là về phần tôi.Tôi muốn kể cho các vị nghe những gì đã đổi thay trong tôi vào thời gian ngắn ngũi tôi đến thăm trang ấp. Buổi tối, khi chúng tôi ngồi uống trà, mụ đầu bếp bưng lên bàn cả một đĩa đầy quả phúc bồn tử. Đó không phải! là củ! a đi mua về, mà là của nhà hái lần đầu tiên kể từ khi những khóm phúc bồn tử được trồng sau vườn nhà. Nhicôlai ivanưts cười thích chí, rồi im lặng nhìn đĩa phúc bồn tử một lúc, ứa nước mắt anh ta không thể nói được câu gì vì xúc động, lát sau anh ta đưa lên miệng một quả, nhìn tôi với vẻ đắc thắng của đứa trẻ cuối cùng đã có được thứ đồ chơi nó mơ ước và nói:
– Chà, ngon quá!
Anh ta ăn nghiến ngấu, luôn mồm nhắc lại:
Chà, ngon thật! Anh ăn thử mà xem!
Thứ quả ấy vừa cứng vừa chua, nhưng như Puskin đã nói: "bóng tối của chân lý còn đáng quý hơn là sự giả dối tâng bốc chúng ta". Tôi đã nhìn thấy một người hạnh phúc, ước mơ ấp ủ bấy lâu đã biến thành sự thực, anh ta đã đạt được mục tiêu trong cuộc sống, đã có được cái mà anh ta muốn, đang thỏa mãn với số phận của mình, thỏa mãn với chính bản thân con người mình. Không hiểu vì đâu những ý nghĩ riêng của tôi về hạnh phúc con người bao giờ cũng pha lẫn buồn rầu; và đến lúc này, khi nhìn thấy trước mặt một con người thỏa mãn hạnh phúc, một cảm giác nặng nề gần như tuyệt vọng đã choán cả lòng tôi. Nhất là về đêm khuya. Người hầu soạn dọn chỗ ngủ cho tôi trong văn phòng bên cạnh giường ngủ của em tôi, và tôi nghe rõ anh ta trằn trọc không ngủ được, chốc chốc lại trở dậy, bước ra chỗ bàn đặt dĩa phúc bồn tử và nhặt từng quả đưa lên miệng. Tôi nghĩ rằng, quả thật đã có quá nhiều người thỏa mãn, hạnh phúc! Đó là cả một sức đè nặng ghê gớm! Các vị hãy thử nhìn kỹ vào cuộc đời này: sự đê tiện, nhàn hạ của những kẻ có quyền th�! �� và s�! �� u mê, lam lũ như súc vật của những người bị trị, chung quanh là cảnh nghèo khổ đến cùng cực, chật chội, tha hóa, rượu chè, nghiện ngập, đạo đức giả, dối trá
Thế mà trong tất cả các ngôi nhà, trên tất cả mọi đường phố vẫn im lặng, yên tĩnh; trong cả số năm mươi vạn người sống trong thành phố, không có lấy một người thét to lên, giận dữ. Chúng ta nhìn thấy những người đi chợ mua rau, mua thịt, ban ngày thì ăn, ban đêm thì ngủ, những người nói với nhau những lời vô vị vô nghĩa, lấy vợ, lấy chồng sinh con để rồi già đi, những người lặng lẽ và vô tư đưa người thân ra chốn nghĩa trang, nhưng chúng ta không nghe thấy, không nhìn thấy những người đang đau khổ, và dường như những điều kinh khủng trong cuộc sống chỉ diễn ra ở một nơi nào khuất kín. Mọi sự đều yên tĩnh, êm thắm, và chỉ có những con số thống kê câm lặng là biết phản đối: bao nhiêu người đã phát điên, đã uống hết bao nhiêu thùng rượu, bao nhiêu trẻ con bị chết yểu vì thiếu ăn
Và cái thứ trật tự ấy chắc là cần thiết; rõ ràng là kẻ hạnh phúc cảm thấy mình sung sướng chỉ vì rằng những người bất hạnh đã im lặng chịu đựng gánh nặng đè lên đầu, lên cổ mình; không có sự im lặng ấy thì không thể có hạnh phúc cho những người kia. Đó là một trạng thái mơ ngủ khắp nơi. Cần phải làm sao để cứ ở ngoài cửa buồng mỗi kẻ an nhàn, sung sướng có một người đứng cầm búa và luôn tay gõ vào cửa nhắc nhở rằng hiện đang có những người bất hạnh, rằng dù anh sung sướng đến đâu sớm hay muộn rồi cuộc sống cũng sẽ cho anh biết thế nào là móng vuốt của nó. Tai họa sẽ giáng ! xuống �! �ầu anh, đó là nghèo đói, bệnh tật, thua lỗ, và sẽ không ai nghe thấy, nhìn thấy anh ta cũng giống như bây giờ anh ta không nhìn thấy, nghe thấy một ai khác. Nhưng không có ai cầm búa gõ, kẻ thỏa mãn vẫn sống bình yên, và những lo toan nhỏ nhặt ngoài đời chỉ làm tâm trí anh ta khẽ xao động như cành dương trước làn gió nhẹ -và vạn sự đều êm thấm cả.
– Vào đêm hôm ấy, tôi hiều rõ rằng, chính tôi cũng là một kẻ thỏa mãn, sung sướng -Ivan Ivanưts đứng dậy nói tiếp- Tôi cũng thuyết lý về cách sống, cách cai trị dân chúng, về đức tin trong bữa ăn và trong lúc đi săn. Tôi cũng nói rằng học thức là ánh sáng, rằng học thức là cần thiết, nhưng đối với quảng đại dân chúng thì bây giờ chỉ cần biết chữ thôi cũng được rồi. Tôi nói, tự do là một quyền lợi lớn, cần thiết như khí trời không thể không có được, nhưng cần phải chờ đợi mới có. Phải rồi, tôi đã nói như thế, và bây giờ tôi xin hỏi: vì lẽ gì mà phải chờ đợi như vậy? -Ivan Ivanưts hỏi, cáu kỉnh nhìn vào Burkin- Vì lẽ gì mà phải chờ đợi, tôi xin hỏi các vị. Vì những lý sự gì? Người ta nói với tôi rằng tất cả không phải là có ngay trong một lúc, mọi ý định trong cuộc sống đều được thực hiện dần dần, đúng lúc, đúng thì của chúng. Nhưng điều đó ai nói? Có gì chứng minh rằng điều đó là đúng? Họ viện vào cái gọi là trật tự tự nhiên của sự vật, vào tính quy luật của mọi hiện tượng, nhưng liệu có chút quy luật nào trong trường hợp nếu tôi, một người đang sống, biết suy nghĩ, đứng bên cạnh một cái hào và chờ cho nó tự lấp, hay là bùn lắp láp cho nó, trong khi tôi có thể t�! �� nhảy! qua hoặc là đặt qua nó một cái cầu? Và vấn đề là vì lẽ gì mà phải chờ đợi? Chờ đợi khi không còn sức để sống, trong khi cần phải sống và muốn sống!
Sáng sớm hôm sau tôi rời khỏi trang trại người em và từ đó tôi không thể nào chịu được mỗi khi phải ở trong thành phố. Sự im lặng, yên tĩnh, êm thấm chung quanh làm lòng tôi nặng trĩu, tôi sợ hãi không dám nhìn lên những khung cửa sổ, bởi vì đối với tôi bây giờ không có cảnh nào kinh khủng hơn là cảnh một gia đình yên ấm ngồi quây quần quanh bàn và uống nước chè. Tôi đã già, không còn sức tranh đấu, thậm chí tôi không còn sức để căm giận nữa. Tôi chỉ còn biết buồn bã trong lòng, bức bối, khó chịu, đêm đêm đầu tôi quay cuồng với những ý nghĩ theo nhau dồn dập đến, và tôi không thể nào ngủ được. Ôi, nếu tôi còn trẻ trung!
Ivan Ivanưts xúc động đi đi lại lại trong phòng và nhắc lại:
– Ôi, nếu tôi còn trẻ trung!
Bất ngờ, ông bước lại gần Aliôkhin, lần lượt nắm cả hai tay Aliôkhin và nói với giọng gần như cầu khẩn:
_ Paven Kônxtanchinưts! Đừng an phận, đừng để cho còn người mình mê ngủ! Bây giờ anh còn trẻ, khỏe, đầy nghị lực, hay hãy làm nhiều việc thiện, đừng mệt mỏi! Hạnh phúc không có, và không thể có, nhưng nếu trong cuộc sống có ý nghĩa và mục đích, thì ý nghĩa, mục đích đó chắc chắn hoàn toàn không phải ở trong hạnh phúc của riêng ta mà là ở một cái gì cao cả hơn, hợp lý hơn. Anh hãy cố làm nhiều điều thiện!
Tất cả những lời đó, Ivan Ivanưts nói với nụ cười đáng thương, đầy vẻ khẩn cầu, dường như anh nói những lời đó để khẩn cầu cho! riêng m! ình.
Sau đó, cả ba người đều ngồi trong những chiếc ghế bành đặt ở góc khác nhau trong phòng khách, và cùng im lặng. Câu chuyện của Ivan Ivanưts không làm cho Burkin, không làm cho Aliôkhin cảm thấy thỏa mãn chút nào. Khi mà những vị tướng, những bà mệnh phụ vào buổi chiều tà trông như người sống thực đang từ trên khung ảnh mạ vàng nhìn xuống gian phòng thì thật là buồn tẻ khi phải nghe câu chuyện về anh viên chức nghèo ăn phúc bồn tử. Không hiểu vì sao, trong khung cảnh ấy người ta muốn được nghe về những người đẹp đẽ, về những phụ nữ. Và cái mà tất cả- từ những chùm đèn treo đang phủ vải, đến ghế bàn, đến thảm trải dưới chân- đều nhắc nhở rằng nơi đây ngày xưa các bà, các ông đang nhìn từ trong khung cảnh dát vàng kia đã từng đi lại, ngồi uống trà, và cả cái điều rằng trước mắt ba người giờ đây, cô Pêlagâya xinh đẹp đang nhẹ nhàng bước đi, những điều ấy còn thú vị hơn cả mọi câu chuyện.
Aliôkhin cảm thấy buồn ngủ ghê ghớm; để lo việc đồng áng, ông ta đã dậy rất sớm, từ lúc 3 giờ sáng, và bây giờ mắt ông ta díu lại; nhưng sợ rằng, khi vắng mặt mình, nhỡ khách lại kể chuyện gì lý thú, nên ông vẫn ngồi nguyên, không bỏ đi. Những điều Ivan Ivanưts vừa nói có thông minh không, có đúng không, Aliôkhin cũng chẳng cất công nghĩ ngợi làm gì; các vị khách không nói về lúa má, rơm mạ, về nhựa thông, mà họ nói về một chuyện gì chẳng có quan hệ trực tiếp đến cuộc sống của ông, và ông thấy vui vui, muốn họ tiếp tục câu chuyện.
– Nhưng mà cũng đến giờ đi ngủ rồi đấy Burkin, vừa đứng dậy vừa nói- Cho phép tôi chúc ! ông đê! m nay ngủ ngon.
Aliôkhin chào khách rồi trở xuống buồng ngủ của mình dưới nhà, khách thì ở lại trên gác. Chủ dành cho khách cả căn buồng to với hai chiếc giường gỗ rộng đầy đường nét chạm trang trí, trong góc phòng có đặt bức tượng chúa Jêsu bị đóng đinh câu rút bằng ngà voi; khăn gối mát dịu mà cô Pêlagâya xinh đẹp vừa soạn dọn tỏa ra mùi thơm tho, sạch sẽ.
Ivan Ivanưts lặng lẽ cởi quần áo ngoài và nằm xuống giường.
– Xin các đấng bề trên tha tôi cho chúng con! ông lâm râm nói và lấy chăn che kín đầu.
Từ cái tẩu cháy dở của ông đặt trên bàn tỏa ra một mùi thuốc lá khen khét; rất lâu Burkin không ngủ được, không biết cái mùi khen khét khó chịu đó ở đâu ra.
Ngoài song cửa sổ, mưa vẫn đều đều rơi suốt đêm.
Lão Quản Bi
- Quản Bi, ngày mùng ba tháng chín anh phạm vào tội phỉ báng bằng lời nói và việc làm đối với trương tuần Di, với thẩm phán trong quận, bá hộ E, các chức sắc Va và Ga, và sáu nông dân. Anh phỉ báng ba người trên trong khi họ thi hành nhiệm vụ. Anh có nhận là anh phạm tội không?
Bi-chi-bép, người quản lọm khọm nhăn nheo, râu cạo lởm chởm, một cách rất nhà binh, úp bàn tay vào đường can ống quần, trả lời bằng một giọng khàn và nén xuống, dằn vào từng tiếng như là y vẫn thường chỉ huy:
– Kính bẩm cụ lớn chánh án, chiếu theo các điều khoản trong luật pháp, thì có một lối để chứng thực mọi tình huống bằng cách cho đối chất. Kẻ phạm pháp không phải là tôi, mà chính là những người khác. Cả cái chuyện này gây ra là do một cái xác chết – xin Trời hãy thương lấy linh hồn kẻ đó. Bữa mồng ba tháng này, tôi đang đi với bà An nhà tôi một cách thong dong và đường hoàng, thế rồi tôi thấy ở bờ sông cả một đám đông gồm đủ hạng người. Tôi hỏi họ xem căn cứ vào cái quyền gì mà bọn họ túm tụm lại đó? Tại làm sao lại như thế? Trong luật pháp có chỗ nào nêu lên là người ta phải đi hàng đàn không? Tôi la lên: "Các anh tản ra đi!" Tôi bèn xô dồn mọi người để cho ai nấy đều về nhà, tôi ra lệnh cho ông bá phải tống cổ họ đi…
– Khoan đã, anh không phải là trương tuần, cũng không phải là ông cựu; việc của anh có phải là việc bắt mọi người phải giải tán đi không?
– Không phải việc của anh ta! Không phải việc! từ các góc phòng, nhiều tiếng nhao nhao lên. Bẩm quan lớn, anh ta không để yên cho chúng con làm ăn!… Chúng con chị! u đựng anh ta đã mười lăm năm nay… Từ khi anh ta giải ngũ về làng, có thể nói là chúng con đều muốn bỏ làng mà đi! Anh ta dồn mọi người đến chỗ cùng đồ!
Ông Cựu, được đòi ra tòa dẫn chứng, nói:
– Có như thế đó, bẩm Quan lớn. Quả là dân làng đều có kêu ca. Cũng không còn cung cách gì mà sống được cùng anh ta nữa! Hoặc là chúng tôi rước tranh thờ, hoặc là có đám cưới xin, hoặc là nói tóm lại, trong mọi việc, là đều thấy anh ấy quát tháo, hò hét, đòi dẹp cái này dẹp cái khác… Anh ta béo tai con trẻ, nom dòm đàn bà để đừng xảy ra việc nọ việc kia, in tuồng anh là bố chồng người ta ấy… Một bữa nọ, anh đi tua quanh khắp các nhà và ra lệnh không ai được ca hát và tối không được thắp đèn; anh ta giải thích là không thấy có luật lệ nào cho phép hát hỏng…
Quan tòa ngắt:
– Hãy khoan, sẽ tới lúc các anh dẫn chứng ra sau. Hãy để cho Bi-chi-bép tiếp tục trình bày những gì cần nói ra. Bi-chi-bép, cứ tiếp tục đi!
Giọng viên hạ sĩ khàn khàn:
– Xin tuân lệnh ngài! Bẩm Cụ Lớn, ngài có hạ cố mà phân xuống rằng ra lệnh cho mọi người giải tán là không phải cái việc của con. Bẩm ngài, cũng cho là như vậy đi! Và giả thử có xảy ra một vài tình trạng hỗn loạn? Thử hỏi rằng có thể để cho mọi người làm loạn không? Xin cho biết xem luật pháp có cho mọi người ai muốn làm gì thì làm không? Thưa ngài, tôi không thể dung tha những cái như thế! Nếu không là tôi bắt họ giải tán đi đi và đe nẹt họ, thì là ai đây? Không một ai am tường những quy chế xác thực và trong làng, bẩm Cụ Lớn, có thể nói rằng chỉ có một mình con! là hi�! �u được cái cách đối xử với cái bọn ti tiện; và bẩm Cụ Lớn, con có thể hiểu tất cả. Con không phải là bần cố nông, mà là hạ sĩ quan ở bộ phận cung cấp nay về hưu trí, đã từng phục vụ ở Vác-xô-vi, tại bộ tham mưu; thêm nữa, xin ngài biết cho là sau khi được chuyển ngành, con có vào lính chữa cháy; rồi vì lý do thiếu sức khỏe và bệnh tật, con không ở đội cứu hỏa, và xin vào làm gác cổng trường trung học sơ cấp chính cống của thanh niên được hai năm… Thưa ngài, các thứ nội quy, tôi đều biết hết thảy. Mà cái đám dân quê đều là những người ngờ nghệch, họ chả nghe thủng cái gì cả; mà họ phải tuân theo tôi bởi vì tôi xử sự như thế là chính vì lợi ích của họ. Xin đưa ra việc này làm ví dụ… Tôi bảo mọi người phải giải tán đi, và trên bãi cát bờ sông lại có cái xác một người chết trôi nằm ềnh ra đó. Tôi xin hỏi rằng kẻ chết kia vin vào cái lý lẽ gì mà nằm ra đó? Cái đó có là trật tự không? Thế trương tuần để làm gì? Tôi mới hỏi trương tuần rằng, tại sao bác không đi trình các quan? Có thể là kẻ quá cố chết trôi kia trẫm mình, hoặc cũng có thể là một vụ xổng tù có dính đến bọn phạm nhân phát vãng đi Xi-bê-ri đó chăng? Có thể lại là một vụ án mạng… Và bác trương tuần Di cũng chả chú ý gì đến; bác ta cứ kéo tiếp mồi thuốc mà nói: "Chuyện chi mà anh cứ làm như là một người ra mệnh lệnh ấy? Cái người truyền lệnh đó, mọc ra từ đâu vậy? Không có anh ta đó thì chúng tôi đây há lại không biết công việc chúng tôi phải làm hay sao?" Vì thế cho nên con mới bảo anh ta là đồ ngu, anh chả biết gì cả, chứng cớ là anh ng! ồi lì ! ra đấy mà chả chú ý đến gì hết. Anh ta bảo: "Ngay từ hôm qua, tôi có trình với xã tuần". Tôi hỏi lại là tại sao lại trình cái việc như thế với xã tuần? Dựa vào điều nào của mặt luật? Xã tuần có thể giải quyết được tới mức nào những vụ chết trôi hoặc bóp cổ, hoặc những vụ na ná như rứa? Tôi bảo hẳn anh ta rằng đây là một vụ án về mặt hình, mặt hộ… Tôi có bảo việc này anh phải cấp tốc cho chạy công văn lên quan dự thẩm và các vị chánh án, tôi nhờ anh cứ làm đúng như thế cho! Và trước hết, xin anh hãy làm một cái biên bản, và gửi lên quan chánh án. Thế là anh ta, một anh trương tuần, cứ nghệt ra mà nghe và nhăn răng cười! Lại cả cái đám bần nông nữa… Bẩm Cụ Lớn, tất cả chúng nó đều cười. Về điểm này, tôi xin thề mà khai như vậy. Người này cười, người nọ cũng cười, và lão Di cười. Tôi vặn họ lại tại sao họ nhe cả răng ra? Thế rồi trương tuần mới đủng đỉnh nói: "Những việc như thế này, không thuộc phạm vi giải quyết của ông chánh án". Những chữ đó đã làm cho tôi nóng máu lên… Này, – Bi-chi-bép quay hỏi trương tuần Di, này, trương tuần, anh có nói đúng như thế chứ?
– Phải, tôi có nói thế.
– Mọi người đã nghe rõ anh nói như vậy trước tất cả nhân dân: "Những việc thế này không thuộc phạm vi giải quyết của ông chánh án". Mọi người đều có nghe thấy! Việc này làm tôi nổi nóng lên, bẩm Cụ Lớn, và tôi lại còn lo sợ nữa. Tôi bảo: "Này người kia, hãy nhắc lại, thử nhắc lại cái câu mày vừa nói!" Và hắn ta đã nhắc lại câu đó… Tôi, tôi liền xông tới phía hắn. Tôi hỏi: "Đối v�! �i quan c! hánh án, tại sao mi dám ăn nói như vậy? Mi là trương tuần, mà mi lại chống lại chính quyền? Hả? Mi có biết rằng, chỉ riêng những lời lẽ như thế, quan chánh án có thể, nếu ngài muốn, tống giam mi ở cục Hiến binh vì tình nghi về thái độ? Phải đó, vì những câu nói có tính chất chính trị như vậy, mi có biết rằng quan chánh án còn cho mi đi tới những đâu nữa không?" Và ông thẩm phán cũng chen vào "Quan chánh án cũng không thể làm quá được ngoài quyền hạn của mình. Chỉ những việc nhỏ là thuộc phạm vi giải quyết của ngài". Ngay ông ta cũng nói như vậy; mọi người đều nghe cả đó! Tôi bảo: "Sao anh dám hạ uy tín của chính quyền? Mà này, khá chớ có cớt nhả với ta; bằng không, chú kia, sẽ có chuyện chẳng hay xảy ra giờ!" Trước kia, ở Vác-xô-vi, hoặc khi tôi còn gác cổng trường trung học sơ cấp chính cống của thanh niên, mỗi lần tôi nghe thấy những danh từ lệch lạc, là tôi ngó ra ngoài phố xem xem có người lính sen-đầm nào để bảo họ: "Anh kỵ mã, hãy lại đây" và tôi sẽ phản ánh lại hết với anh ta. Nhưng mà, ở làng thì sẽ nói với ai đây?… Tôi liền nổi giận. Sự xao lãng bổn phận trong những cái ngông nghênh và những việc bất phục tùng của mọi người ngày nay đã làm cho tôi phải chướng tai gai mắt; và tôi đã giơ cánh tay lên… dĩ nhiên là không có gì là mạnh quá, nhưng mà nó như thế này này, một cách bình thường, nhẹ nhàng, để cho họ hết ăn nói như thế đối với Cụ Lớn đây… Trương tuần bênh thẩm phán. Và cho nên, tôi đã đánh trương tuần… Và cứ thế đó… Bẩm Cụ Lớn, tôi đã phát khùng lên, nhưng có thể nào mà lại không dùng đến võ l! ực đư! ợc không? Người ta thật là có điều không phải với lương tâm khi mà người ta không đánh những đứa ngu ngốc; nhất là khi mà một cái điều… và nếu lại có sự hỗn loạn…
– Hãy khoan! Để phòng ngừa những việc rối trật tự, đã sẵn có người hẳn hoi. Về những việc ấy, đã có trương tuần, lý cựu, bá hộ…
– Trương tuần không thể trông nom hết được, và anh ta không hiểu hết được những cái mà tôi hiểu thấu…
– Nhưng mà anh phải biết rằng đây không phải là cái việc của anh!
– Sao, thưa ngài? Không phải phận sự tôi? Thưa ngài, thế này thì dị kỳ thật!… Có những kẻ đứng ra làm loạn, mà lại không dính dáng đến phận sự của tôi! Ý chừng tôi phải khen thưởng họ chắc! Họ kêu ca rằng tôi ngăn cấm họ hát… Mà có gì hay hớm trong các điệu hát? Đáng lý ra phải chuyên tâm vào việc làm ăn, thì họ hát… Rồi họ lại còn vẽ trò ra mà tối tối thắp đèn. Phải đi nằm đi rồi ngủ, thì họ gẫu chuyện và cười cợt! Thưa ngài, tôi có ghi cả đấy!
– Anh đã ghi những gì?
– Những người nào mà nhà có giong đèn.
Bi-chi-bép rút ở túi ra một mảnh giấy nhờn mỡ, chính là mắt kính và đọc:
– Những nông dân buổi tối có thắp đèn: I-van, Sa-va, Pi-ốt, mụ Chút là vợ góa một thầy quyền nay ăn nằm bừa bãi với Sê-mi…, I-nhát làm trò tà thuật và vợ y là một con mẹ phù thủy đêm đêm lên đi vắt sữa ở bò mọi nhà.
– Thôi được! – Quan tòa truyền.
Và ngài bắt đầu hỏi các nhân chứng.
Lão quản Bi-chi-bép đẩy cặp mắt kính lên quá trán, ngạc nhiên mà nhìn ông chánh án đã hi�! ��n nhiê! n không đứng về phía lão. Cặp mắt lồi của lão nhấp nhánh; cái mũi lão trở nên đỏ gắt. Lão nhìn quan tòa, nhìn các người làm chứng; lão không thể hiểu được tại sao quan chánh án lại xúc động đến thế, và tại sao từ góc này góc nọ phòng họp lại thấy nổi lên lúc thì những tiếng xì xào lúc thì những tiếng cười cố nén lại. Đối với lão, bản án cũng thật là khó hiểu: một tháng tù ngồi. Lấy làm không hiểu nổi, lão giang cả hai cánh tay:
– Sao lại thế được? Luật nào vậy?
Cũng đã khá rõ ràng để lão thấy rằng cuộc đời đã chuyển biến và khó mà sống được giữa cuộc đời này. Người lão tràn ngập những ý nghĩ u ám, bi ai. Nhưng ra khỏi phòng và nhác thấy đám nông dân quần tam tụ ngũ bàn tán cái này cái khác, và cũng do tật cũ không sao bỏ được, lão lập chính mà quát, giọng khàn và khùng:
– Bọn các người, giải tán ngay!… Không được tụ tập lại! Ai về nhà nấy!
Nguyễn Tuân dịch
Một câu đùa
Buổi trưa một ngày đông khô sáng…
Trời giá cóng đến xé đá ra; Na đưa tay cho tôi khoác, và Na có những món tóc quăn xòa xuống mang tai và hơi sương làm ánh lên những tơ lông măng nơi môi trên nàng. Hai đưa tôi ở trên một ngọn đồi tuyết cao. Từ chân chúng tôi xuống tới mặt đất, trên một cái mặt bằng thoai thoải xuống, ánh dương hắt lại như từ trong một tấm gương. Kề chỗ chúng tôi, là những xe trượt bằng xinh xắn phủ dạ đỏ ngòm. Tôi liền nằn nì:
– Chúng ta lao dốc đi, Na ơi. Một lần thôi! Anh quả quyết rằng chúng ta không việc gì đâu!
Nhưng Na sợ. Từ chỗ đôi giày xinh đẹp của nàng tới chân ngọn đồi tuyết, đối với nàng, cả cái khoảng rộng đã trở thành một cái vực ghê gớm, thăm thẳm khôn lường. Nàng thất thần, hơi thở ngừng lại mà nhìn xuống phía dưới, khi tôi mới gạn thử nàng là ngồi vào xe trượt băng, và có chỉ là đáng phải ngại ngùng nếu nàng dám mạnh dạn mà lao xuống vực. Nàng sẽ chết mất, nàng phát cuồng mất! Tôi nói:
– Anh van em đi! Không nên sợ sệt! Em phải biết rằng như thế là bạc nhược, là nhút nhát.
Sau cùng nàng cũng chiều theo và trông diện sắc nàng, tôi biết nàng đã làm theo với nỗi e ngại cho tính mệnh. Tôi đặt nàng ngồi vào xe trượt băng, nàng tái mét, run lẩy bẩy, tôi ôm nàng ngang lưng và cùng nhau đổ xuống vực thẳm.
Chiếc xe trượt băng vèo bay như một phát đạn. Khoảng không khí mà chúng tôi xẻ đôi ra đã quất mạnh vào mặt, tru tréo lên, kêu vo vo bên tai, làm nóng da mặt lên, véo mạnh, như muốn ngứt đầu văng ra khỏi đôi vai. áp lực của gió chặn thở. Người ta tưởng như ma quỷ hiện hình t! óm lấy hai đứa tôi và gào thé lôi chúng tôi xuống địa ngục. Mọi vật chung quanh tan nhòa thành một vệt dài tẩu thoát cực kỳ nhanh… Thêm một chút nữa thôi, tôi cho rằng hai đứa tôi sẽ hết sống. Tôi cất tiếng khẽ khàng:
– Na ơi, anh yêu em!
Xe trượt băng bắt đầu chậm lại, tiếng rú của gió và tiếng nghiến của đế xe trượt đã đỡ rợn, hơi thở đã đỡ nghẹt, và rốt cục, chúng tôi đã xuống tới nơi. Na sợ khiếp vía tưởng chết được. Nàng tái đi, hơi thở thoi thóp… Tôi đỡ nàng dậy.
– Không đời nào, tôi làm lại nữa, nàng vừa nói vừa nhìn tôi với đôi mắt to đầy kinh hãi. Không khi nào! Tôi hút chết!
Chừng một lúc, nàng hồi lại và trở lại nhìn thẳng vào mắt tôi với cái vẻ dò xét: có phải đích là tôi đã nói lên năm cái tiếng kia hay chỉ là nàng ngờ ngợ bắt nghe được trong cơn cuồng lốc nó rú lên? Tôi, tôi thẳng mình, đứng cạnh nàng, tôi hút thuốc lá và ngắm nghía chiếc bít tất tay một cách chăm chú.
Nàng khoác tay tôi và chúng tôi nhẩn nha hồi lâu quanh đồi tuyết. Thật là hiển nhiên, điều bí ẩn đã làm nàng mất sự yên ổn. Những tiếng phát thanh ra đó là có hay là không có? Có, hay là không? Có, hay không? Đây là một vấn đề của tự ái, của danh dự, của đời sống, của hạnh phúc, một vấn đề rất nghiêm trọng, nghiêm trọng nhất đời. Nàng tia sang tôi những cái liếc mắt bồn chồn, rỉ rầu, những cái nhìn xoi mói, nàng tránh câu hỏi, trông chờ tôi nói lên. Chà! Thật là đầy ý vị, cái khuôn mặt xinh xắn duyên dáng ấy thật là ý nhị! Tôi biết mà, nàng đấu tranh với nàng, nàng thấy cần phải nói, nàng có một câu hỏi ! muốn đ! ặt ra nhưng mà nàng không tìm được ra chữ, nàng lúng túng, nàng sợ, nỗi vui làm nàng mất tự nhiên…
Nàng nói, không nhìn tôi:
– Anh biết đấy chứ?
– Gì vậy? – tôi hỏi.
– Này… ta lại lao dốc nữa đi.
Chúng tôi leo cấp thang lên tới đỉnh đồi. Lần nữa, tôi đặt Na tái mét lẩy bẩy lên xe trượt băng, lần nữa, chúng tôi lao xuống cái vực hãi hùng, lần nữa gió lại rống lên và đế xe trượt lại nghiến lên và, giữa lúc chúng tôi đổ xuống loang loáng trong tiếng sấm sét, lần nữa, tôi lại bỏ nhỏ:
– Na ơi, anh yêu em!
Lúc xe trượt băng ngừng lại, tầm mắt nàng ôm lấy cả khu đồi tuyết chúng tôi vừa băng qua, rồi nàng dò la nét mặt tôi rất lâu, nghe ngóng cái giọng dửng dưng và lạnh lùng của tôi, và tất cả người nàng, tất cả, kể cả cái mũ lông trùm đầu và cái ống bao tay, tất cả người nàng lộ ra một vẻ ngần ngừ đến cao độ. Và người ta như đọc thấy trên mặt nàng:
– Cái gì đã xảy ra thế hở? Ai đã nói lên những tiếng gọi đó? Chàng, hoặc chỉ là ta chiêm bao thôi?
Nỗi bán tín bán nghi ấy hành hạ nàng, làm nàng mất kiên tâm. Hỏi gì cô gái tội nghiệp đều không trả lời, trở nên nhăn nhó, chỉ còn thiếu khóc. Tôi bảo:
– Hay là ta đi về?
– Ô! Tôi… tôi, tôi thích xe trượt băng, nàng đỏ mặt mà nói. Hay là ta lại lao dốc một lần nữa?
Cái xe trượt băng "hợp ý" nàng, nhưng cũng như những lượt trước, mỗi khi nàng ngồi vào xe, nàng vẫn nhợt tái đi, thoi thóp vì sợ hãi, run cầm cập.
Hai đứa tôi lao dốc lần thứ ba, và tôi thấy Na nhìn đau đáu vào mặt tôi và theo dõi đôi m�! �i tôi. ! Nhưng tôi lấy mùi-xoa để lên môi tôi, đằng hắng, và lúc chúng tôi tới lưng chừng dốc, tôi cố nói lên được:
– Na ơi, anh yêu em!
Và sự bí ẩn vẫn là bí ẩn! Na lặng lẽ, nghĩ miên man… Tôi đưa nàng từ con đường dốc về nhà nàng, nàng cố ghìm bước đi, kéo lê bước chân và luôn luôn tự hỏi xem tôi có buột miệng mà nói ra không.
Tôi hiểu nàng đau khổ trong tâm khảm, nàng phải cố dằn lòng để khỏi phải thốt ra:
– Cái này không thể do trận gió nói lên được như vậy; và tôi không bằng lòng cho dù chỉ là trận gió!
Hôm sau, tôi nhận được mảnh thư: "Nếu anh chơi xe trượt băng hôm nay, anh đến rủ tôi. N." Và từ đó, tôi hằng ngày cùng nàng chơi xe trượt băng, và giữa lúc lao dốc, mỗi lần tôi đều nhắc lại vẫn bấy nhiêu tiếng:
– Na ơi, anh yêu em!
Chẳng bao lâu nữa, nàng nhiễm phải câu nói ấy, cũng như người ta nại tính đối với tinh thuốc phiện. Nàng không thể sống mà thiếu được cái thói quen ấy. Thực ra, lao dốc bằng xe trượt băng, nàng vẫn run sợ như trước đây, nhưng bây giờ sợ hãi và lộng hiểm làm tăng thêm hứng thú cho những lời yêu thương, những lời mà trước đây, đã cấu thành một điều bí ẩn, và đã làm rầu héo tâm tư nàng. Nhưng mối ngờ vẫn hướng mãi vào hai nhân và vật ấy: trận gió và tôi… Ai đây trong hai thứ nọ sẽ thú thực tình yêu với nàng, nào nàng có hay, nhưng, cứ bề ngoài mà xét, thì với nàng, điều ấy cũng chẳng có gì đáng bận tâm: có thể chỉ cái bình đựng, cốt sao say được mà thôi!
Một hôm, vào quãng trưa, tôi đi trượt băng một mình; lẫn vào đám đông, tôi nom thấy Na đi gần lại ! đồi tu! yết và đưa mắt ra ngóng tìm tôi… Rồi nàng rụt rè bước lên cấp thang. Sợ thật, lao dốc một mình, chà, dễ sợ thật! Nàng trắng toát như tuyết, nàng run, người ta tưởng đâu như nàng bước ra pháp trường, nhưng với biết bao kiên quyết, nàng đi lên không chút quay nhìn lại. Rõ quá, nàng, rốt cục, đã nhất định thể nghiệm để xem xem: cái lúc mà tôi không có ở đấy, rồi nàng có còn nghe thấy nữa không những chữ êm đềm kỳ diệu? Tôi thấy nàng ngồi lên xe trượt băng, người tái đi, miệng phá ra nỗi sợ hãi, mắt nhắm lại, và lao xuống, sau khi vĩnh biệt trái đất… Rít rít rít… để xe trượt nghiến kêu lên. Nàng có nghe thấy những tiếng gọi không? Tôi không rõ… Tôi chỉ thấy nàng đứng vươn lên khỏi xe trượt, mệt lử, kiệt sức. Nhìn mặt nàng, người ta cũng đoán ngay rằng chính nàng cũng không rõ là có nghe thấy hay không nghe thấy một điều gì. Nỗi khiếp sợ trong cơn lao dốc làm cho nàng mất mất cái năng khiếu nghe ngóng, phân biệt âm thanh, và hiểu biết…
Nhưng đây rồi tháng ba, cái tháng của mùa xuân… Mặt trời trở nên vồn vã hơn. Núi tuyết của hai đứa tôi xẫm lại, mất màu chói sáng, và sau cùng, tan chảy. Hết rồi những cuộc chơi xe trượt băng. Không còn đâu nữa những nơi để cô Na tội nghiệp nghe những tiếng gọi, không còn ai nữa để nói lên những lời gọi ấy, bởi cái lẽ rằng làn gió vốn kín tiếng và tôi thì rồi sẽ đi Xanh Pê-téc-bua thật lâu, có thể là bứt hẳn nơi đây.
Một lần, trước lúc tôi lên đường, ấy là trước hai ngày chi đó, tôi ngồi trong chiều tà giữa khu vườn nhà tôi cách nhà Na một hàng giậu cao lởm chởm ngọn rào! … T! rời còn lành lạnh, dưới chân đống phân ủ vẫn còn tuyết, cây cối chết còi, nhưng mà tất cả đã chớm bốc lên cái mùi mùa xuân, và những con quạ tìm ngủ đã kêu lên quang quác. Tôi men gần lại phía hàng rào và nhìn một hồi lâu qua khe rào. Tôi thấy Na ra đứng ở bực thềm và ngẩng đưa lên trời cặp mắt ủ rầu khổ não… Như roi da, gió xuân quất mạnh vào khuôn mặt nàng xám bệch võ vàng. Gió gợi nhắc lại với nàng cái thứ gió gào bên tai trên núi mỗi lần nghe thấy năm tiếng gọi, và mặt nàng đượm một vẻ buồn, buồn thật, một giọt nước mắt sa theo gò má… Cô gái tội nghiệp rướn đôi cánh tay lên như là khẩn cầu trận gió hãy đem những lời gọi tới cho mình một lần nữa. Thế rồi tôi, rình chờ một cơn gió thoảng, tôi nói nhè nhẹ:
– Na ơi, anh yêu em!
Trời ơi, cái gì đã vụt xảy đến cho Na? Nàng rú lên một tiếng, một nụ cười hẩng sáng khuôn mặt hân hoan, hả hê, đắm lòng!
Tôi, tôi vào sửa soạn hành trang…
Chuyện này kể ra cũng đã lâu ngày! Na, bây giờ đã là người lập gia đình: người ta gả chồng cho nàng, hay là nàng đã tự nguyện làm vợ một thầy ký văn thư ở phòng hộ khẩu đám quý tộc, cái đó cũng không hề chi, và nàng đã có được ba con. Nàng không quên được cái thời mà hai đứa tôi cùng nhau chơi xe trượt băng, cái thời mà làn gió đã đưa tới cho nàng năm tiếng gọi: "Na ơi, anh yêu em!"; với Na, giờ đây, đó là cái kỷ niệm vui sướng nhất, thống thiết nhất, đẹp sáng nhất trong đời nàng…
Còn tôi, bây giờ đã đứng tuổi, tôi không hiểu tại sao tôi đã thốt ra những tiếng gọi ấy, tại sao tôi đã cười cợt đư�! �c với ! việc hú tim ấy.
Nguyễn Tuân dịch
Người ăn mày
"Thưa ngài, xin hãy rủ lòng thương một người nghèo khổ. Tôi không có cả năm kopech để tìm chỗ ngủ qua đêm. Xin thề có Chúa! Tôi là một thầy giáo làng trong năm năm và bị mất việc làm vì những âm mưu của hội đồng khu vực. Tôi là nạn nhân của những bằng chứng giả. Tôi bị mất việc làm đã một năm nay".
Ông luật sư Petersburg Skvortsov nhìn chiếc áo khoác màu xanh dương rách tả tơi của người đang nói, đôi mắt say sưa màu bùn đất, những nốt đỏ trên má y và có cảm giác đã nhìn thấy y trước đây.
"Và bây giờ người ta cho tôi một việc làm ở vùng
Skvortsov nhìn đôi giày của y, một chiếc có hình dáng chiếc giày bình thường, trong khi chiếc kia cao đến gần đầu gối như một chiếc ủng và sực nhớ ra.
"Này, ngày hôm kia tôi gặp anh ở đường Sadovoy" ông nói " và lúc đó anh nói với tôi anh là một sinh viên bị đuổi chứ không phải là thầy giáo làng. Anh còn nhớ không?"
"Không, không thể được!" người ăn mày lẩm bẩm. "Tôi là thầy giáo làng, nếu ông muốn tôi có thể đưa giấy tờ cho ông xem."
"Nói dối đủ rồi!" Anh xưng mình là sinh viên và còn kể tôi nghe lý do bị đuổi nữa. Anh nhớ ra chưa?"
Skvortsov đỏ bừng mặt vì giận và quay đi không nhìn người kia.
"Thật đê tiện!" ông giận dữ quát "Đồ lừa đảo! Tôi sẽ giao anh cho cảnh sát, đồ chết tiệt! Anh nghèo đói, nhưng không có nghiã là anh được quyền nói dối trâng tráo như vậy!"
Người kia níu lấy quả đấm cửa và tuyệt vọng nhìn quanh phòng như chim bị sập bẫy.
"Tôi… tôi không nói dối" anh ta lẩm bẩm "tôi có thể chứng minh bằng giấy tờ".
"Ai tin anh được?" Skvortsov vẫn giận dữ nói tiếp "lợi dụng sự thương mến của mọi người với thầy giáo làng và sinh viên- thật thấp hèn, thật bỉ ổi, thật bẩn thỉu! Thật ghê tởm!"
Skvortsov càng lúc càng giận dữ hơn, ông mắng chửi người ăn mày không ! chút xót thương. Sự dối trá láo xược của con người rách rưới này đã làm ông căm ghét và phẫn nộ, là một sự xúc phạm đến những điều ông, Skvortsov, yêu thích và tự hào về chính mình: lòng tốt, một trái tim nhạy cảm, sự thông cảm với những người bất hạnh. Bằng những lời dối trá, bằng sự phản bội lại những điều đó, y đã làm ô uế lòng từ thiện ông thích ban cho người nghèo không chút nghi ngại. Lúc đầu người ăn mày còn thề thốt để tự bảo vệ, rồi y im lặng và xấu hổ cúi đầu.
"Thưa ông" y nói, tay đặt trên ngực," quả thật tôi đã… nói dối! Tôi không phải là sinh viên cũng không là thầy giáo làng. Tôi đã bịa đặt ra tất cả! Trước đây tôi ở trong đội đồng ca Nga và đã bị đuổi việc vì tội uống rượu. Nhưng tôi có thể làm gì được? Vì Chúa, xin hãy tin tôi, tôi không thể sống nếu không nói dối. Khi tôi nói thật sẽ không ai cho tôi chút gì. Nếu nói thật người ta có thể chết vì đói rét khi không có nơi ngủ qua đêm! Ông nói rất đúng, tôi hiểu như vậy, nhưng… tôi phải làm gì?"
"Anh phải làm gì? Anh hỏi anh phải làm gì à?" Skvortsov vừa quát, vừa bước lại gần y. "Làm việc!… đó là điều anh phải làm! Anh phải làm việc!"
"Làm việc… tôi cũng biết như vậy, nhưng tôi biết kiếm việc làm ở đâu?"
"Vô lý. Anh còn trẻ, khỏe, có sức lực, anh có thể kiếm việc làm được ngay nếu muốn. Nhưng anh biết mình lười biếng, quen hưởng thụ, say sưa! Anh sặc mùi rượu Vodka như một quán rượu! Anh đã trở thành dối trá và hư hỏng đến tận xương tủy, chỉ biết xin xỏ ! và nói ! dối! Nếu anh chịu khó làm việc, anh có thể làm ở văn phòng, trong một dàn đồng ca Nga, hoặc người ghi điểm ở tiệm bida, ở đó anh sẽ có lương và không phải làm việc! Nhưng làm gì anh chịu lao động chân tay được? Tôi dám chắc anh sẽ không chịu làm người gác cửa hay thợ trong xí nghiệp. Anh quý phái quá mà!"
"Những điều ông nói, quả thật…"người ăn mày nói với nụ cười cay đắng "làm sao tôi kiếm được công việc lao động chân tay? Đi buôn bán thì đã trễ rồi, muốn buôn bán người ta phải bắt đầu từ khi còn nhỏ; không ai mướn tôi làm người gác cửa vì tôi không thuộc tầng lớp đó… Và tôi không thể làm việc trong xí nghiệp vì phải có tay nghề mà tôi lại không có".
"Vô lý! Anh luôn luôn biện hộ! Anh có muốn chẻ củi không?"
"Tôi không từ chối, nhưng hiện giờ những người chẻ củi chuyên nghiệp cũng đang thất nghiệp."
"Ồ, những người lười biếng lúc nào cũng nói vậy! Người ta đề nghị việc gì là anh từ chối liền. Anh có muốn chẻ củi cho tôi không?"
"Chắc chắn là có… "
"Tốt lắm, để xem… Tuyệt. Để rồi xem!" Skvortsov vội vã nói, hơi bị khích động và không phải không có một niềm vui thích ác ý, xoa tay, gọi bà đầu bếp đang ở trong bếp.
"Này, Olga" ông bảo bà. "Hãy dẫn ông này vào nhà kho và giao cho ông ấy chẻ ít củi."
Người ăn mày nhún vai như đang bối rối miễn cưỡng đi theo bà đầu bếp. Thái độ của y tỏ ra rằng y bằng lòng chẻ củi không phải vì đói và muốn kiếm tiền mà chỉ vì xấu hổ v�! � tự h�! �o vì phải giữ lời. Rõ ràng là y đang say rượu Vodka, y không khỏe và không hề muốn làm việc chút nào.
Skvortsov vội vàng đi vào phòng ăn. Từ cửa sổ nhìn ra sân ông có thể thấy nhà chứa củi và mọi chuyện trong sân. Ông đứng ở cửa sổ, nhìn bà bếp và người ăn mày đi lối sau vào sân, đạp lên lớp tuyết lẫn bùn tới nhà chứa củi. Olga giận dữ nhìn người đi bên bà từ đầu đến chân rồi dùng khuỷu tay đẩy bật chốt cửa kho chứa củi làm cánh cửa mở bung ra kêu đánh rầm.
"Có lẽ mình đã gọi khi bà ấy đang uống cà phê" Skvortsov nghĩ ."Trông bà ấy giận dữ quá!"
Rồi ông thấy người thầy giáo làng và sinh viên giả hiệu ngồi xuồng một khúc củi lớn, tựa hai bên má đỏ ửng vào hai nắm tay, đăm chiêu suy nghĩ . Bà bếp quẳng chiếc rìu xuống kế chân y, giận dữ nhổ xuống đất và, theo cử động của đôi môi, ông đoán bà bắt đầu chửi rủa y. Người ăn mày uể oải kéo một khúc củi lại, đặt nó đứng giữa hai chân và thận trọng đưa lưỡi rìu chẻ dọc nó. Khúc củi tách đôi và ngã xuống. Y kéo nó lại, thổi vào hai bàn tay lạnh cóng và lại thận trọng đưa lưỡi rìu chẻ dọc nó như sợ đụng vào đôi giày hay chặt mất mấy ngón tay. Khúc củi lại ngã xuống.
Cơn giận của Skvortsov đã tan, ông cảm thấy ái ngại và xấu hổ vì đã bắt một người không quen làm việc, say rượu và có lẽ đang bệnh làm việc vất vả trong giá lạnh.
"Mặc kệ, cứ để y làm…" ông nghĩ trong khi đi sang phòng làm việc. "Mình làm như vậy để cho y được tốt!"
Một giờ sau Olga xuất hiện! và báo! là củi đã chẻ xong.
"Đây, đưa cho y nửa rúp" Skvortsov nói. "Nếu y muốn, y có thể đến chẻ củi vào đầu mỗi tháng… sẽ luôn luôn có việc cho y làm."
Vào ngày đầu tháng người ăn mày lại đến và kiếm được nửa rúp mặc dù y đứng không vững. Từ đó y đến thường xuyên và luôn luôn có việc làm: có lúc y gom tuyết thành đống, hay dọn nhà kho, có lúc y đập và giũ những tấm thảm, những tấm nệm. Mỗi lần như vậy y được nhận ba đến bốn kopech và có lần còn được cho một cái quần cũ.
Khi dọn nhà, Skvortsov sai y đóng gói và khiêng đồ đạc, lúc này y tỉnh táo, buồn rầu và im lặng; hầu như không đụng vào đồ đạc, cúi đầu đi sau những chiếc xe chở đồ, không cần làm ra vẻ tất bật; y chỉ rung lên vì lạnh và rất bối rối khi bị người khác cười nhạo sự chậm chạp, yếu ớt và chiếc áo trước kia sang trọng giờ rách tả tơi. Sau khi dọn nhà xong Skvortsov cho gọi y đến. "À, tôi thấy anh có làm theo lời tôi." Ông nói và đưa y một rúp "Đây là tiền công của anh. Tôi thấy anh không còn say sưa và không phải không muốn làm việc. Tên anh là gì?"
"Lushkov"
"Tôi có thể tìm cho anh công việc tốt hơn và không quá vất vả. Anh có biết viết không?"
"Thưa ông, có".
"Vậy anh cầm giấy này, ngày mai đến gặp bạn đồng nghiệp của tôi và ông ấy sẽ cho anh làm việc giấy tờ… hãy làm việc, đừng uống rượu và nhớ những điều tôi dặn anh. Tạm biệt."
Hài lòng vì đã đưa một người vào con đường ngay thẳng, Skvortsov vỗ nhẹ vai! Lushkov ! và còn bắt tay anh ta trước khi chia tay.
Lushkov nhận lá thư ra đi và từ đó không trở lại làm việc nữa.
Hai năm trôi qua. Một ngày kia khi Skvortsov đang đứng mua vé trước quầy bán vé nhà hát, ông thấy một người đàn ông nhỏ bé mặc áo khoác cổ lông cừu và đội mũ da mèo cũ kỹ. Y rụt rè hỏi mua một vé loại rẻ tiền nhất và trả bằng tiền lẻ.
"Lushkov, phải anh đó không?"
Skvortsov hỏi khi nhận ra người chẻ củi trước đây của ông. "Ồ, lúc này anh làm gì? Sống có ổn không?"
"Cũng khá… tôi đang làm ở văn phòng công chứng viên. Tôi kiếm được ba mươi lăm rúp".
"Ồ, nhờ trời, như vậy là ngon lành quá rồi. Tôi mừng cho anh. Tôi thật tình rất vui, Lushkov. Anh biết không, ở một mức độ, anh là con đỡ đầu của tôi. Chính tôi đã đưa anh vào con đường ngay thẳng. Anh còn nhớ tôi đã chửi mắng anh thế nào không? Lúc đó anh gần như ở tận đáy. Ồ,cám ơn anh vì đã nhớ lời tôi, anh bạn thân mến ạ."
"Tôi cũng phải cám ơn ông" Lushkov nói "Nếu tôi không gặp ông ngày hôm đó, có lẽ tôi vẫn còn tự coi mình là thầy giáo làng hay sinh viên. Vâng, trong ngôi nhà của ông tôi đã được cứu và thoát khỏi cái hố đó".
"Tôi rất vui mừng."
"Cám ơn ông về những lời nói và hành đông tử tế của ông. Những lời ông nói ngày đó rất tuyệt vời. Tôi biết ơn ông và bà bếp của ông. Xin Chúa phù hộ cho người phụ nữ có tấm lòng vàng đó. Những lời ông nói ngày đó rất tuyệt vời; dĩ nhiên là ngày nào còn sống là tôi còn chịu ơn ôn! g, nhưng! chính bà bếp của ông, Olga, mới là người cứu vớt tôi thật sự."
"Như vậy nghĩa là sao?"
"Ồ, chuyện là như thế này. Trước đây tôi đến chẻ củi cho ông và bà ấy bắt đầu nói: "Ôi, anh chàng say rượu! Con người bị Chúa ruồng bỏ! Và anh còn chưa bị cái chết bắt đi!" rồi bà ngồi trước mặt tôi, nhìn mặt tôi và than khóc "Con người bất hạnh! Anh không có niềm vui nào trong thế giới này, còn trong kiếp sau anh sẽ bị thiêu trong địa ngục, con người say sưa đáng thương! Sinh vật buồn rầu khốn khổ!" bà cứ tiếp tục than van như vậy, ông biết không. Tôi không thể kể hết bao nhiêu lần bà ấy đau khổ và đã đổ bao nhiêu nước mắt vì tôi. Nhưng điều làm tôi xúc động nhất- bà đã chẻ củi cho tôi! Thưa ông, ông có biết không, tôi chưa bao giờ chẻ một khúc củi nào cho ông- bà đã làm lấy tất cả! Tôi không thể giải thích bà đã cứu tôi bằng cách nào, tại sao tôi thay đổi khi nhìn bà và bỏ rượu. Tôi chỉ biết là những lời bà nói và cách cư xử cao quý của bà đã làm tâm hồn tôi thay đổi và tôi sẽ không bao giờ quên. Nhưng đã đến giờ tôi phải đi, người ta sắp rung chuông báo hiệu mở màn".
Lushkov cúi chào và đi đến khu khán giả hạng vé rẻ tiền.
HẾT

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét