Chủ Nhật, 22 tháng 9, 2013

Ban Tai Can.html

Đạo Oshin…………………………………………………………………………………………………………….1
Hắc Miêu (Tân Liêu Trai)……………………………………………………………………………………..11
Lập trình sư…………………………………………………………………………………………………………15
Internet Cafe (Tân Liêu Trai)…………………………………………………………………………………19
Tửu sư………………………………………………………………………………………………………………..26
Trương Đàn…………………………………………………………………………………………………………29
Trinh Tùng Truyện………………………! ……………………………………………………………………….34
Tiểu Linh Trùng…………………………………………………………………………………………………..68
Linh Vật (Tân Liêu Trai)………………………………………………………………………………………80

Bàn Tải Cân

Đạo Oshin

Thân mến tặng Phí A Hoàn,
bạn thân của tôi – oshin chuyên nghiệp.

Mùa xuân các đôi uyên ương vào cuộc hôn phối, mùa thu các đôi uyên ương sinh nở, thành ra mùa thu là mùa Hà Nội khan hiếm oshin. Tại các trung tâm tư vấn việc làm người đến đăng ký nhiều không kể xiết, xếp hàng ra tận đầu ngõ. Khách có nhu cầu đủ loại đủ nghề, nào là vợ chồng tìm oshin trông nom con cái. Con cái tìm oshin phụng dưỡng cha mẹ già. Cha mẹ bị con cái tách ra ở riêng, tuổi già vất quá đành mướn oshin nấu cơm giặt giũ. Đôi uyên ương mới cưới chưa quen mùi cộng sinh, trải vài cuộc đá thúng đụng nia mặt nặng mày nhẹ đành mượn oshin làm biện pháp hoà giải. Mấy vị quan chức cần tìm oshin lo việc nhà cho việc nước đỡ phần bề bộn. Các hộ độc thân muốn có oshin lo khăn áo cho cuộc sống đỡ bề lẻ loi. Lại có ông bác sĩ QA thuê oshin theo giờ, anh tiến sĩ Kh. mướn oshin theo việc, cô ca sĩ L. chọn nam oshin theo lần… Nhân khi chờ lượt khách cũng buôn dưa lê với nhau, chủ đề quanh quẩn nào là oshin nhà này hỗn hào, oshin nhà kia tắt mắt, oshin nhà nọ mê giai, oshin nhà ấy biếng nhác. Khi đó ai nấy miệng thì than vãn kêu ca xem đây như mối hoạ nhãn tiền, mà trong lòng thảy đều hiểu là không thể thiếu. Đại để là phạm trù oshin trăm ngàn khuôn dạng thật phong phú vô cùng. Thầy tôi là tiên sinh họ Quách từng nói: "Đạo oshin là đạo lớn trong trời đất, bao trùm vạn vật, lan toả thiên hà. Là thứ đạo uyển chuyển mà sâu sắc, nặng như lông chim hồng chim hộc mà nhẹ như núi Thái sơn. Cứ xem trong thiên hạ nếu đa phần giữ trọn đạo oshin thì chính là đang thời Nghiêu Thuấn vậy".
Nhân bàn về oshin tôi xin kể lại một câu chuyện tình cờ hồi nhỏ đọc được ! trên một trang giấy hồng điều viết bằng mực tím nằm kẹp trong cuốn đường thi trên giá sách cổ của ông nội tôi. Trải bao thăng trầm thời cuộc mà đến nay không còn dấu tích gì của giá sách đó cùng cuốn đường thi, tôi đành ghi lại theo trí nhớ, âu cũng là để bản thân sống lại với những kỷ niệm ngọt ngào thuở ấu thơ vậy. Câu chuyện có tiêu đề là "Đạo Oshin". *****
Vài ngàn năm trước tại ngõ Mai Hoà thuộc phường Mai Động nội thành Hà Nội có gia đình đại trí thức, ông bố họ Vương tên Lâm học vấn rất cao, đã tốt nghiệp đại học, bà mẹ là thủ thư của thư viện khoa học tổng hợp. Nhà có cô con gái nhỏ chừng 5 tuổi tên là Vương Mai Liên tươi xinh như hoa, lại thuê thêm thằng bé oshin quê ở Sơn Tây đỡ đần việc nhà. Thằng bé này tên thật là Phí A Hoàn, tuổi khoảng mười tám, mặt mũi khôi ngô sáng sủa, tính nết hiền hậu đảm đang. Thường nhật ngày đông cũng như ngày rét A Hoàn luôn trở dậy từ canh ba, giặt chậu quần áo, tưới nước hoa viên. Đến giờ mão thì đi patanh ra thẳng chợ Hôm mua đồ ăn sáng, khi mấy đĩa bánh cuốn nóng, lúc vài bát phở tái thơm. Về nhà lại vội pha chén sữa to, nấu xoong bột lớn, ẵm Mai Liên dậy cưng nựng mà cho ăn cho uống, lại bày nhiều trò hay khiến Mai Liên khoái trí cười keckec. Đầu giờ thìn thì đánh chiếc Mazda 6 màu hồng lá mạ đưa Mai Liên đến trường mẫu giáo Hoa Lan là một trường có tiếng ở tiểu khu, rồi trên đường về mới tranh thủ chợ búa thịt cá rau cà, mặc cả rất khéo, cũng không quên chút dưa chua muối dổi là thứ ông chủ thích, vài trái ớt chỉ thiên là vị bà chủ thèm, đại thể công việc tuy không ! nặng nh! ọc gì nhưng từ sáng đến tối chẳng lúc nào ngơi tay. Được cái ông bà chủ là người nặng tình nặng nghĩa, dần dần coi A Hoàn như người thân trong nhà, thương yêu lắm.
Mùa thu năm ấy có vị khách ghé chơi nhà Vương Lâm, đôi mắt rất ướt, mũi nhăn tai nhọn, dáng vẻ kỳ vĩ. Khách xưng tên Trần Bười, quê ở Sơn Tây, tự nhận là bác họ người yêu cô em ruột con bà chị dâu với láng giềng họ Vương. Vương Lâm vốn trọng tình họ hàng nghĩa làng xóm, thấy thế bèn mời khách vào nhà mà hàn huyên cho thoả. Trần Bười ngỏ lời xin ở nhờ nhà họ Vương ít bữa để lo chạy mấy dự án lớn ở Bộ Tài chính. Vương vui vẻ nhận lời ngay, thu xếp nơi ăn chốn ngủ cho Bười rất đàng hoàng, lại dặn dò A Hoàn phải phục vụ thật chu đáo. A Hoàn tuy không nói nhưng ban đầu đã có cảm giác bất an về vị khách không mời. Dần dần cảm giác đó được minh chứng thêm bằng nhiều hành vi không được quang minh lỗi lạc, tỷ như việc Bười đi vệ sinh luôn khoá chặt toilet khiến ai vào cũng khó, lại như việc khách lên giường cứ để nguyên cả bộ quần áo lót mà ngủ. Chính vì vậy mà A Hoàn phục vụ Bười cũng có phần miễn cưỡng trễ nải. Suốt năm năm liên tục Trần Bười tá túc ở nhà họ Vương, ai hỏi Bười đều nhanh nhẩu nói dự án rất triển vọng, các cửa đều đã lo lót đủ, chỉ còn chờ anh Nguyễn bác Hoàng với chú Phan phê duyệt tổng mức đầu tư là xong, hẹn đến khi thành tựu sẽ hậu tạ gia đình. Ông Vương tỏ ý không cần đền đáp, miễn sao việc lớn của Bười thuận lợi là mừng. Bười nhân đó cằn nhằn với Vương Lâm về việc A Hoàn phục vụ không được chu đáo, trên bảo dưới! không n! ghe. A Hoàn bị Vương Lâm gọi ra căn dặn, đồng thời cũng có ý trách nhẹ nhàng rằng A Hoàn chưa trọn đạo oshin. A Hoàn cảm thấy oan ức buồn phiền quá, chiều tối hôm ấy nhân lúc rảnh việc bèn ra công viên dưới gốc cây liễu ven hồ ngồi khóc cho vui. Một lát thấy có bà già bán vé số, dung mạo mười phần tươi đẹp, mặc áo hai dây ba lỗ, bờ vai trắng muốt, cổ dài cằm thon, hai tai băng bó. Bà già bước đến gần A Hoàn nhẹ nhàng hỏi rằng: "Tại sao con khóc?". A Hoàn thấy có người ân cần hỏi han mình thì cảm động lắm, bèn vừa tức tưởi khóc to hơn, vừa trả lời rằng: "Con là oshin của nhà họ Vương, nay phần thì oan ức, phần thì giận thay cho chủ bị quái khách phiền nhiễu suốt mấy năm nên mới buồn mà bỏ ra đây ngồi". Bà già ngắm A Hoàn rất kỹ, đoạn đưa tay nhẹ nhàng cào cào vào tay chàng, lại rúc vào lòng A Hoàn một hồi như thể nũng nịu. Hồi lâu nét mặt trở nên xuất thần dung dị, khẽ nói: "Con chó Trần Bười thật là độc ác, vì hắn mà nhà họ Vương sẽ còn nhiều chuyện oan ức, tan đàn xẻ nghé, vướng vòng tù tội. Âu cũng là ý trời cả. Riêng con có căn phật, phúc phận rất lớn, tuy rằng sẽ gặp đại nạn mà về sau mọi việc đồng loạt hanh thông". Nói xong bà già lại rút từ yếm đào trước ngực ra chiếc kính râm Vertulano chính hiệu để trong bao da cực đẹp, bảo: "Đây là kính chiếu yêu, đeo vào thì xấu tốt thực hư đều sẽ rõ ràng. Nay tặng con để tri ân nuôi dưỡng bấy lâu". A Hoàn thoạt nghe cũng cảm thấy lạ bởi mình chưa từng nuôi nấng bà ngày nào, tuy vậy vẫn cảm tạ mà đưa tay đón nhận. Đưa bao kính lên mũi ngửi thấy hương thơm hoa lan toả n! gát, cơ! thể trở nên phấn trấn khoẻ khoắn lạ thường. Chàng mải thưởng thức hương sắc một hồi, đến lúc nhìn lại đã thấy bà già bán vé số biến mất từ khi nào rồi.
*****
Lại thêm vài năm nữa trôi qua, Trần Bười liên tục lì lợm bám trụ ở nhà họ Vương, hỏi đến thì nói vẫn đang phải đợi duyệt kinh phí, triển vọng to lớn vô cùng. Vương Lâm cùng vợ đã bắt đầu có ý chán chường về ông bác họ người yêu cô em ruột con bà chị dâu với láng giềng họ Vương này, nhưng vốn bản chất hiền hoà lại ngại cãi cọ va chạm nên thường nín nhịn cho qua. Điều đáng nói là trong nhà họ Vương ngày càng xảy ra nhiều hiện tượng quái lạ. Mấy năm trước chú mèo mướp cái tên là Hoa Gấm, bạn thân của cô chủ Mai Liên bỗng nhiên biệt vô âm tín, chỉ để lại đôi tai, mẩu đuôi cùng túm lông dưới gậm giường. Tiền nong trang sức cũng tự nhiên không cánh mà bay, gia sản dần dần khánh kiệt. Việc lạ nhất là thỉnh thoảng lại xuất hiện những bãi phân ngay trên nền nhà, hoặc nhiều bãi tiểu tiện cạnh các góc tường. A Hoàn phải lau dọn giải quyết hậu quả hết sức vất vả. Chàng thường khẳng định với Vương Lâm rằng tất cả những việc đó đều là tác phẩm của Trần Bười, rằng có bằng chứng tối hôm trước Bười chén nguyên cả con gà ri thì sáng nay trong bãi phân vẫn còn dấu hiệu của lông và xương gà… Nhưng ông Vương nhất định gạt đi không tin, lại dặn A Hoàn nên tĩnh tâm kiên trì mà dọn dẹp. A Hoàn càng giận Bười lắm, quyết tâm làm rõ trắng đen.
Một đêm chàng bèn thu mình ngồi dưới gầm cầu thang rình bắt quả tang việc xấu của khách. Đúng nửa đêm thấy ! Trần B�! �ời mò về, qua chân cầu thang chỗ A Hoàn nấp, nhìn quanh thấy không có ai hắn bèn dừng lại chống hai tay xuống đất, giơ chân phải lên cao, vạch quần tiểu tiện. A Hoàn để ý thấy dương vật Bười có màu đỏ kỳ lạ, phía đầu nhọn hoắt lại có ngạnh như xương cá, mới giật mình vội rút kính râm bà già tặng ra đeo để xem thực hư thế nào. Kinh hãi thay, Bười hiện nguyên hình là một con chó xám đang ghếch chân đứng đái, to như con bê con. Lúc này A Hoàn mới hiểu nguyên nhân Bười luôn phải chốt cửa khi đi vệ sinh cũng như mặc nguyên quần áo lót lúc ngủ.
Từ sau bữa đó A Hoàn càng lấy làm lo lắng cho khổ chủ lắm, chưa kịp nghĩ ra kế sách nào vẹn toàn để có thể bẩm báo lại cho Vương Lâm tin mà hiểu. Thời kỳ này cô bé Mai Liên cũng đã đến tuần cập kê, ra dáng là một tiểu thư con nhà khuê các, dung mạo càng lớn càng xinh đẹp, môi đỏ như hoa, da trơn như lụa, mắt đen thăm thẳm quyến rũ vô cùng. A Hoàn phát hiện thấy ánh mắt Trần Bười nhìn Mai Liên đã có chiều khang khác, thành ra luôn phải để mắt đề phòng. Một tối Mai Liên học thêm về, khi ngang qua cửa phòng Bười nàng lịch sự cúi đầu mỉm cười chào khách. Nào ngờ Bười khởi dục tính lao ra bịt miệng lôi tuột nàng vào phòng định giở trò tà dâm. May thay A Hoàn đã cảnh giác đối phương từ lâu, vội đấm tung cửa buồng Bười rồi nhảy vào vung chân đá mạnh trúng hạ bộ của hắn. Hai hạt vỡ nát. Bười gầm lên như con thú bị thương, hiện nguyên hình là một con chó dái to màu xám như con bê con lao bổ vào đè nghiến A Hoàn ra giữa sàn nhà định cắn đứt cổ. Giữa lúc tính mạng mong manh như tơ nhện, A Hoàn chợt nghe ! một ti�! ��ng nổ chát chúa vang trời, Trần Bười đổ vật ra đất giẫy giẫy một chốc rồi chết hẳn. Đứng ở cửa phòng, ông Vương đang run rẩy cầm trong tay khẩu súng săn Roller Cabinét vẫn thường treo trên bức tường phía nam phòng khách, nòng bốc hơi bỏng rẫy. Gần căn nhà gia đình Vương Lâm sinh sống có tay du thủ du thực họ Dư, công tác ở vị trí giao tế viên công cộng cho một công ty phần mềm, quan hệ với báo giới rất rộng. Hắn vốn là bạn nhậu với Trần Bười, hai tên thường hay bệ rạc say xỉn với nhau, lại hay đồng tâm làm nhiều điều tục tĩu khó ai mường tượng nổi. Lúc tối thấy bên nhà Vương Lâm có tiếng con gái kêu cứu, Dư vội chạy đến lén ngó qua cửa sổ, nắm được hầu hết diễn biến nội tình. Sẵn điện thoại di động Dư liền gọi ngay cho cảnh sát cơ động đến giải quyết vụ án mạng. Tình ngay lý gian, hai vợ chồng Vương Lâm lập tức bị tống giam chờ ngày xét xử. Sự vụ trở nên càng trầm trọng hơn khi Dư vì thương tiếc bạn nhậu đã gửi đăng một loạt bài trên nhiều tờ báo có uy tín với những tiêu đề như "Trí thức bắn chết người vô tội" hay "Sự thật về tay sát nhân văn hoá Vương Lâm". Tại phiên toà Dư đứng ra làm nhân chứng kể tội nhà họ Vương, rằng Trần Bười nhân thân rất tốt, trả tiền ăn ở rất hậu, lại thường xuyên kèm thêm môn toán cho Mai Liên, rằng vợ chồng Vương Lâm cùng oshin A Hoàn do muốn tống cổ Trần Bười đi để độc chiếm căn phòng nên mới bày mưu giết người. Toà án dựa trên lời khai của nhân chứng cùng vật chứng là xác chết Trần Bười với khẩu súng săn Roller Cabinét, xử hai vợ chồng Vương Lâm án chung thân. Riêng A ! Hoàn vì! cũng tham gia ẩu đả đá vỡ hạ bộ nạn nhân nên bị hai năm biệt giam lao tù quản thúc. Vương Lâm làm đơn kháng cáo nhưng bị bác. A Hoàn cũng làm đơn xin được tăng án của mình lên chung thân, để được ở cùng biệt lao cho dễ bề chăm sóc ông bà khốn chủ, nhưng không được hội đồng xét xử thông qua.
*****
Hai năm sau ngày xảy ra vụ trọng án, đúng khi tiết trời đương xuân, hoa cỏ tốt tươi, mưa bụi đầy giời, có một chàng trai mảnh mai cao độ mét tám nặng chín chục cân đang hờ hững lang thang vô định trên con đường nhỏ trước cổng trại giam. Đó chính là A Hoàn vừa được phóng thích. Hai năm gian khổ trong lao tù làm cơ thể chàng tiều tuỵ đi nhiều lắm, đặc biệt chiều cao giảm hẳn, cân nặng cũng không còn được như xưa, tuy vậy ánh mắt của chàng vẫn toát lên nét thanh cao, nụ cười vẫn âm thầm ngạo nghễ. A Hoàn về lại căn nhà xưa nơi gia đình Vương Lâm từng sinh sống hạnh phúc, thấy cửa long khoá trễ mạng nhện chằng chịt, sàn đá hoa chàng thường lau bóng lộn ngày nào nay bụi thời gian đã phủ dầy một lớp, khiến lòng thương cảm vô cùng. Chàng lần tìm quanh đó hỏi han tung tích cô con gái Vương Mai Liên qua mấy nhà hàng xóm, nhưng vật đổi sao dời, láng giềng thân quen ngày xưa đã bị qui hoạch đền bù giải toả đất mà phải di dời đến các khu tái định cư mới ở những phương trời nào rồi.
A Hoàn tâm hồn trĩu nặng lặng lẽ quay gót trở về quê cũ là xã Cổ Đông, tỉnh Sơn Tây, cách Hà Nội chừng ba mươi dặm tính theo đường cao tốc Láng – Hoà Lạc. Nơi đây chàng huy động được chút vốn mọn của bà con nông dân cùng xã, rặt những người nghèo khổ m�! � vô cù! ng tốt bụng. Chàng bèn quyết định đầu tư kinh doanh bất động sản. Cũng may thời gian ấy tại Hoà Lạc có một loạt các dự án quốc gia liên hoàn công nghệ cao, giáo dục và du lịch văn hoá nên giá đất nơi này cứ tăng vùn vụt, A Hoàn gặp dịp đó mà làm ăn rất khấm khá. Ngày ngày chàng lái ôtô đi khắp các làng xung quanh, gạ nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp với giá rẻ, rồi thông đồng cùng uỷ ban nhân dân và địa chính các xã cấp phép thổ cư, bán lại cho đám thị dân ở Hà Nội với giá cắt cổ làm trang trại với nhà nghỉ cuối tuần. Chỉ ít lâu sau A Hoàn đã trở thành đại gia giàu có nhất tỉnh, sở hữu ba khách sạn loại sang, sáu nhà chứa cao cấp, chưa kể khu chung cư cao tầng rộng gần chục hecta.
Có lưng vốn kha khá rồi A Hoàn mới bắt đầu dùi mài kinh sử, suốt ngày miệt mài đọc sách tại các thư viện điện tử. Sau khi lấy được chứng chỉ TOELF với điểm số 695, chàng liền bay sang đại học viện Oxford lăn lộn suốt sáu tháng trời đêm quên ăn ngày quên ngủ, bảo vệ đồng thời hai luận án tiến sĩ, một về văn chương, một về quản trị kinh tế vĩ mô. Khi về nước, đám thuộc hạ của A Hoàn rất lấy làm lạ, thường hỏi chàng: "Đại ca tuổi tác đã không còn thiếu nhi, tài sản lại nhiều không kể xiết, sao còn phải học hành uyên thâm đến vậy?". A Hoàn đáp: "Ta vốn là oshin, kiếm tiền cũng chỉ để trọn đạo làm oshin, đi học cũng chỉ để trọn đạo làm oshin". Lại nói: "Ta làm tiến sĩ văn chương là mong hoàn thiện được ngôn từ với chủ nhân cho phải đạo, làm tiến sĩ quản trị kinh tế vĩ mô là mong tổ chức được việc quản gia cho chu toàn". Thu�! �c hạ n! ghe vậy đều đồng thanh gật gù tâm đắc, nhưng thảy đều không hiểu.
Thời gian làm ăn ở quê A Hoàn vẫn liên tục cho người dò tìm tung tích Mai Liên, lại cũng nhiều lần gửi đơn từ khiếu nại đến các cấp có thẩm quyền kêu oan cho ông bà chủ, nhưng vì vụ trọng án đó nhân chứng vật chứng đã rành rành nên cũng không thu được thành tựu gì.
*****
Lại nói về chuyện Vương Mai Liên sau khi bị Trần Bười hãm hiếp hụt, lại phải chứng kiến cảnh tan cửa nát nhà mẹ cha tù tội, chú A Hoàn là chỗ dựa cuối cùng cũng không thoát khỏi cảnh biệt lao nên tâm trí trở nên buồn bã hoảng loạn. Không còn nơi nương tựa mà cuộc sống ngày càng đắt đỏ, tiền nong cha mẹ để lại chẳng còn bao nhiêu thành ra chỉ ít lâu sau nàng đã lâm vào cảnh túng quẫn. Mai Liên đành bỏ học, mở quán nước vỉa hè ngay trước cửa nhà để kiếm sống qua ngày. Thời gian sau nàng may mắn gặp được bà dì họ xa ở tận Sài Gòn ra Hà Nội bỏ mối đồ lót nam giới. Bà vốn là đầu nậu cung cấp hàng cho nhiều hãng thời trang lớn lắm, nay thấy hoàn cảnh Mai Liên đáng thương quá mới quyết định ở lại Hà Nội thêm vài ngày giúp đỡ cô cháu gái, hùn vốn cùng nàng mở một công ty nho nhỏ chuyên buôn bán đồ mỹ phẩm cao cấp. Nguồn hàng bà dì đứng ra lo nhập toàn bộ từ Lào qua cửa khẩu Lao Bảo. Mai Liên phụ trách mảng phân phối và thực hiện các chiến dịch quảng cáo. Công ty dần làm ăn phát đạt, trở nên nổi tiếng và có thương hiệu tốt. Mai Liên được bình bầu là doanh nghiệp trẻ tiêu biểu, đoạt đồng thời ba giải Sao Hôm, Sao Chổi và Sao Hoả.
Trong thời gian này tên giao tế viên họ Dư vốn say mê ! nhan sắ! c của Mai Liên nên vẫn thường mượn cớ qua lại thăm hỏi, nhưng lần nào cũng bị cự tuyệt đuổi về. Có lần Dư hỏi thẳng: "Sao nàng căm giận ta đến vậy?". Mai Liên lạnh lùng đáp: "Nhà ta tan tác chia đàn xẻ nghé cũng do một tay ngươi gây nên, sao không căm giận cho được". Dư cười phân minh: "Cha mẹ nàng giết người, ta với trách nhiệm công dân phải đứng ra trình báo. Bạn thân ta bị giết, ta với trách nhiệm bằng hữu phải viết bài đăng tin. Nàng nên thông cảm mà hiểu cho mối thâm tình của ta dành cho nàng mới phải". Mai Liên nghe lời nói đểu cáng quá phẫn uất không kìm được bèn dang tay vả mạnh vào miệng Dư, khiến hắn bị văng mất hai răng cửa, vỡ một răng sữa và nứt nửa răng hàm số 6. Dư căm hận nghiến lợi bỏ về, thề sẽ trả thù.
Độ tuần sau có vị khách tóc ngoại quốc mặt Việt nam tìm đến công ty Mai Liên bàn việc làm ăn. Hắn giới thiệu cho nàng một số sản phẩm kem dưỡng da đặc biệt nhãn hiệu Corealine Dream, do chính viện Meduza Paris cấp bản quyền, với một số thành phần hoá học được chiết xuất từ bào thai cừu. Loại kem này rất hiệu quả trong việc loại bỏ các nếp nhăn trên làn da lão hoá, tẩy mụn trứng cá và tàn nhang trên làn da dậy thì. Mai Liên cho nhân viên dùng thử vài ngày, quả nhiên công hiệu rất tốt, liền dồn vốn nhập toàn bộ lô hàng của khách. Hàng bán rất chạy, vốn một lãi ba, Mai Liên mừng lắm bèn mở tiệc khao thưởng nhân viên. Đương khi cả đám nâng cốc chúc tụng hoạt náo vô cùng bỗng nghe xôn xao ngoài cửa, ngó ra thấy một đám đông đàn bà con gái đang đứng biểu tình đòi hành quyết Mai Liên, người nào người ấy nét mặt ! tả tơi! , má sứt mũi lẹm cằm nứt mí sưng. Cho thư ký ra hỏi thì toàn là khách hàng dùng kem dưỡng da nhãn hiệu Corealine Dream mua từ công ty Mai Liên ra cả.
Đám đông như hổ dữ ùa vào đập phá toàn bộ tài sản công ty, hành hung nhân viên bán hàng, lại có kẻ uất quá đã chuẩn bị sẵn cả can sữa chua có nồng độ axit lactic rất cao, chỉ đợi gặp nữ giám đốc Mai Liên là tạt mặt trả thù. Cũng may Mai Liên nhanh chân theo cửa phụ trốn thoát được, nhưng công ty nàng phá sản hoàn toàn, thậm chí còn bị nhiều đơn từ tố giác, vướng vòng hình sự. Mai Liên sợ hãi lắm, giấu biệt tung tích, lại không dám quẩn quanh ở Hà Nội nên cứ một mạch chạy thẳng theo đường Hoà Lạc về phía Nam. Trong ví không còn tiền mặt, nàng lấy thẻ tín dụng ra máy ATM định rút tiền thì tài khoản cũng bị phong toả mất rồi.
*****
Lại nói về A Hoàn thì ngoài việc điều hành kinh doanh khách sạn, nhà chứa, đầu tư khu du lịch và tham gia vào các dự án xây dựng trọng điểm của quốc gia, chàng còn cho mở một trường dân lập lớn tại quê, gọi là A Hoàn Đại Học Đường. Trường được xây dựng rất khang trang hiện đại, phòng học nào cũng có kết nối Internet băng thông rộng. Ngay tại tiền sảnh có treo bức hoành phi cực lớn trên đề tám chữ đại tự "Nhất nhật vi nô, bán nhật vi nô", nét viết nghiêm trang như có thần, ý nói dẫu làm việc một ngày cho chủ cũng là oshin, làm việc nửa ngày cũng là oshin. Về chương trình thì đại để cứ sau năm năm chuyên cần học hành, trả hết các tín chỉ cả về lý thuyết lẫn thực hành là sinh viên được cấp tấm bằng Oshin chuyên nghiệp, là tấm giấy thông hành tốt nhất ! để xin! được việc làm oshin tại các đại gia. Vì thế mà hàng năm đến kỳ tuyển sinh là A Hoàn Đại Học Đường của hiệu trưởng A Hoàn lại được nhiều thí sinh đăng ký dự thi lắm.
Một lần A Hoàn đi qua kiểm tra sổ sách kế toán tại thanh lâu Thảo Viên là một trong sáu nhà chứa thuộc quyền chàng sở hữu, chợt thấy mụ chủ khúm núm ra thưa: "Có con bé vô cùng kháu khỉnh mới lưu lạc vào đây, kính mời đại nhân tiên dụng". A Hoàn truyền cho gặp mặt. Lát chủ chứa đưa giai nhân vào, người vận áo dài lụa đỏ, váy ngắn hồng nhạt, dáng vẻ kiều diễm mỹ lệ vô cùng. A Hoàn nhìn kỹ khuôn mặt khả ái của giai nhân, bỗng nhiên giật mình hoảng hốt, vội quì sụp xuống vừa lạy vừa tức tưởi: "Thuộc hạ bấy lâu lần mò tung tích tiểu thư mà đến nay mới thành công quả vậy". Đoạn đứng dậy ôm chặt lấy Mai Liên mà khóc lóc sụt sùi. Mai Liên gặp lại A Hoàn cũng cảm động không thốt nên lời, ngất đi ngất lại mấy lần.
A Hoàn quát mắng chủ chứa một chập, cắt thưởng quí ba của toàn bộ nhân viên thuộc Thảo Viên lâu. Xong vội đưa Mai Liên lên ôtô về chính thất, cung phụng chu đáo, tự mình làm mọi việc cho nàng mà giữ đạo chủ tớ rất nghiêm. Những buổi sáng rảnh rỗi, uống cà phê tại thư hiên, hai người lại nước mắt vắn dài, vừa ôm nhau vừa ôn lại chuyện xưa. A Hoàn kể cho Mai Liên nghe toàn bộ cuộc đời chàng kể từ khi bước chân vào chốn ngục tù, đến khi được phóng thích lần tìm dấu tích Mai Liên, sau phải tạm về quê làm ăn chờ thời, bảo vệ hai bằng tiến sĩ và hiện đang kinh doanh rất phát đạt. Mai Liên nghe vậy mừng lắm. A Hoàn lại kể: "Ngày xưa có l�! ��n thu�! �c hạ buồn ra công viên khóc, gặp được bà lão bán vé số. Bà an ủi, tặng cho kính râm chiếu yêu khiến nhìn ra chân tướng Trần Bười là con chó xám to như con bê, lại còn nói mọi việc rồi sẽ hanh thông cả. Vậy xin tiểu thư cứ an nhiên tự tại, đừng lo lắng quá". Mai Liên vốn thông minh sắc sảo, nghe chuyện chó xám với bà lão xong thì ngẩn người một lát mà bảo: "Bà lão bán vé số phải chăng là con mèo mướp Hoa Gấm ngày xưa của ta, bị chó xám Trần Bười lừa bắt ăn thịt, chỉ còn chừa lại đôi tai, mẩu đuôi và túm lông dưới gầm giường". A Hoàn nghe thấy rất hợp lý, gật gù khen phải.
Mai Liên lại kể A Hoàn nghe chuyện mình mở công ty mỹ phẩm, bị họ Dư lừa đảo hãm hại, sau lưu lạc đói rách khổ sở, làm đủ mọi nghề để sinh sống, từ trồng rau cắt cỏ đến dọn rác ủ phân, từ gánh thuê vú mướn đến bồi bàn cave, chưa nghề nào chưa từng làm từng trải. A Hoàn nghe kể càng lấy làm thương cảm, cứ vò đầu bứt tai vả vào mặt tự trách mình không gặp được Mai Liên sớm hơn để giảm bớt nỗi cơ khổ cho nàng. Lại bàn đến chuyện làm sao đưa ông bà Vương Lâm thoát vòng tù tội, Mai Liên nói: "Chỉ cần họ Dư chịu phản cung, khai đúng sự thật thì án cũng sẽ được giảm nhẹ lắm". *****
Độ hai tháng sau đám thuộc hạ A Hoàn bẩm báo đã tóm được Dư khi hắn đang lang thang kiếm gái trên đường Giải Phóng thuộc địa bàn Hà Nội. A Hoàn và Mai Liên cả mừng bèn truyền dẫn giải vào, thấy khuôn mặt Dư vẫn thư sinh trắng trẻo nhưng phong thái độ này đã có chiều nhếch nhác đi nhiều. A Hoàn hỏi: "Huynh giúp đứng trước toà công bố về sự thật của vụ án ! nhà họ! Vương được không?". Dư sợ hãi nói: "Sự thật tại hạ đã nói hết tại phiên phúc thẩm rồi, còn gì mà khai nữa". A Hoàn nghe vậy cười nhạt, truyền thuộc hạ đem Dư đi tra tấn. Đám thuộc hạ lao vào lột hết quần áo Dư ra, lau rửa sạch sẽ, đoạn vứt hắn lên chiếc giường Hồng kông mà trói chặt bốn chân tay vào bốn cột giường. Xong đâu đó A Hoàn truyền cho hai mươi kỹ nữ đẹp nhất Thuỷ Tiên lâu vào vây quanh giường Dư, đồng tâm thoát bỏ xiêm y, cùng nhau múa khúc Điêu Ly tưng bừng. Dư thấy vậy cả mừng thầm nghĩ: "Tưởng tra tấn thế nào, chứ thế này khác gì thiên đường, có mơ cũng chẳng được". Hai kỹ nữ trẻ nhất lại đồng loạt lên giường liên sàng với Dư, giở đủ mọi ngón nghề, khiến hắn càng tràn đầy đê mê hứng khởi. Đám kỹ nữ cứ thế thay phiên nhau tra tấn Dư suốt 24/24. Đến ngày thứ ba thì mặt Dư xám ngoét như đít nhái, hơi thở gần đứt, huyết áp tụt mạnh, tinh xuất ra trong vắt như nước cất. Thấy Dư gần chết A Hoàn mới tới gần giường nhẹ nhàng hỏi lại: "Huynh giúp đứng trước toà công bố về sự thật của vụ án nhà họ Vương được không?". Dư gục đầu thều thào xin nhận lời. A Hoàn và Mai Liên ra Hà Nội, gặp gỡ các nhân vật quan trọng nhằm tác động mở phiên toà xét lại vụ nghi án họ Vương giết Trần Bười, chi tiền rất nhiều. Trong phiên toà Dư đã đứng ra xác nhận những lời khai trước đây của mình có phần giả dối, rằng Trần Bười định tâm hãm hiếp Vương Mai Liên, lại định cắn đứt cổ A Hoàn nên mới bị Vương Lâm bắn chết. Chủ toạ phiên toà thấy có nhiều tình tiết giảm nhẹ, bèn tuyên án: "Vợ chồng Vương L! âm vì l! ý do tự vệ chính đáng, lỡ tay giết người, giảm nhẹ hình phạt từ chung thân xuống 20 năm tù, cho lao động khổ sai". A Hoàn nghe vậy thì thất vọng quá, đứng dậy hỏi lớn: "Nếu lỡ tay giết chó thì bao nhiêu năm tù?". Lại điên lên mà quát rằng: "Trần Bười chỉ là con chó xám to như con bê con, bằng chứng còn nguyên dưới mộ ấy". Toà bèn truyền pháp y khai quật mộ Trần Bười, quả nhiên trong quan tài chỉ thấy có bộ xương chó rất to. Khi ấy vội ký quyết định phóng thích vợ chồng Vương Lâm, lại bồi hoàn danh dự và hơn 10 năm oan ức bằng một biệt thự sang trọng ngay giữa thủ đô Hà Nội. Dư vì trước đây khai láo, bị toà phạt đòn hai mươi trượng, sau về già mỗi khi thay đổi thời thiết mông trái Dư lại đau buốt như để giúp hắn nhớ lại những lỗi lầm ngày xưa. Bộ xương chó khai quật lên được chuyển cho Viện Pháp y để làm rõ thành phần hoá học, sau lại chuyển cho Dr. Vũ là giáo sư có tiếng về công nghệ gene, nhằm xác định lại cấu trúc ADN xem khác gì với người, khác gì với chó. Đến nay đã mấy ngàn năm trôi qua mà vẫn chưa có kết luận gì.
****
Về phần ông bà Vương Lâm được phóng thích lại về sống với cô con gái cưng, tinh thần hoàn toàn ung dung tự tại, không hề có thái độ hằn học về những năm tháng lao tù oan khổ vừa qua. A Hoàn bán toàn bộ quyền sở hữu các khách sạn, nhà chứa và chuyển nhượng lại A Hoàn Đại Học Đường cho một giáo sư đáng tin cậy, còn bản thân lại về làm oshin cho nhà họ Vương. Thường nhật ngày đông cũng như ngày rét A Hoàn luôn trở dậy từ canh ba, giặt chậu quần áo, tưới nước hoa viên. Đến giờ mão thì đi patanh r! a thẳng! chợ Hôm mua đồ ăn sáng, khi mấy đĩa bánh cuốn nóng, lúc vài bát phở tái thơm… Có điều Mai Liên giờ đã lớn nên không cần pha sữa nữa.
Một ngày Vương Lâm gọi A Hoàn đến bảo: "Con có ơn với nhà ta nhiều quá mà chưa có gì đền đáp, hay để ta gả Mai Liên cho con?". A Hoàn nghe vậy cả mừng, vái lạy mà thưa: "Chỉ sợ tiểu thư không có tình ý với kẻ nô bộc này". Lúc đó Mai Liên đứng gần đấy, vội chạy ra ôm chặt lấy A Hoàn mà bảo: "Còn thiếp chỉ sợ chàng không có tình ý gì với kẻ chủ nhân này. Thú thật thiếp đã yêu chàng từ ngày chàng pha chén sữa to, nấu xoong bột lớn, ẵm thiếp dậy cưng nựng mà cho ăn cho uống, lại bày nhiều trò hay khiến thiếp khoái trí cười keckec". Hôn lễ được tổ chức lớn lắm, ai ai cũng đến chia vui.
Một tối Mai Liên bảo: "Gã oshin kia, ra đây gãi lưng cho tiểu thiếp", A Hoàn đang đọc sách gần đó vội chạy ra thưa: "Thuộc hạ xin tuân lệnh". Đoạn cởi áo vợ mà vuốt ve mơn trớn, không chỉ lưng mà còn nhiều bộ phận nhạy cảm thú vị khác, cứ thế hai vợ chồng lục đục cả đêm. Thật là khí độ của một đại gia vậy./.
Hết

Bàn Tải Cân

Hắc Miêu (Tân Liêu Trai)

Phùng Tất Đắc là học trò, thường trú ở quận Hoàn Kiếm, bình sinh chuộng hư danh, hám gái đẹp, nhưng đến năm 12 tuổi vẫn chưa được gần gũi với nữ nhân. Năm 17 tuổi thi đại học ngẫu nhiên đạt điểm cao, được tuyển đi du học ở nước Ba La Tư thuộc Đông Âu, từ đó thoả chí tang bồng, quanh năm tửu sắc.
Sau 15 năm lưu lạc, chán cảnh tha phương cầu thực, Phùng về nước vào Sài gòn lập nghiệp, mở tại quận Gò Vấp một tờ báo mang tên "Chó Chết Chẹt", thường đưa tin chó mất mèo lạc, lấy tiền quảng cáo là chính. Thời gian đầu được công chúng ưa chuộng, báo bán rất chạy, quảng cáo đắt như tôm tươi, doanh số nhiều vô kể. Có cao nhân trong làng báo là Bùi Thị, vốn là bạn đồng tuế dị sàng, cùng học thời phổ thông gọi điện khuyên Phùng rằng: "Nghề báo vốn bạc, hay dở không phụ thuộc vào chủ kiến bồi bút, ế chạy chẳng liên quan tới thị hiếu độc giả. Khéo mà làm ân mắc oán. Nên dừng ở lúc đỉnh cao". Phùng đang thị dục huyễn ngã, tự mãn thành công nên bỏ ngoài tai.
Một đêm Phùng ngồi biên tập cho số báo hôm sau phát hành, chợt nghe có tiếng nói cười lả lướt sau lưng. Ngảnh lại thấy một thiếu nữ tuổi chừng mười sáu, mắt như mắt thỏ, lông như lông mèo, dung mạo vô cùng tươi đẹp. Phùng vốn tính hào hoa, bèn kéo nàng vào lòng mà ngỏ lời giao hợp. Thiếu nữ thoạt đầu từ chối dăm ba câu lấy lệ, sau rồi cũng để mặc Phùng chủ ý mây mưa. Thật là loan phượng tương phùng, thoả nguyện không bút nào tả xiết. Trong khi chăn gối Phùng tinh ý đếm thấy nàng có tới bốn nhũ hoa, nhưng vì mới quen nên chỉ dám nâng niu mà chưa tiện hỏi rõ, còn ! lấy làm khoái trí coi như báu vật của đời .
Thoắt được nửa tháng, đêm đêm thiếu nữ lại tới mây mưa cùng Phùng, nhưng Phùng giữ thế nào nàng cũng không ở lại trọn đêm, cứ canh ba lại vọt qua cửa sổ đi mất. Vợ Phùng thấy chồng thần sắc kém dần, mắt lờ đờ vô hồn, đêm nào cũng lấy cớ bận việc báo mà ngủ lại toà soạn thì sinh nghi, bèn thuê Trần Hào vốn là tay ăn cắp vặt ở chợ Tân Định theo dõi. Sau ba ngày Trần trở về, người ngợm hôi hám bẩn thỉu, mặt nhằng nhịt hàng chục vết xước. Phùng thị nóng ruột hỏi tình hình, Trần bộc lộ vẻ kinh hoàng, lát sau lấy lại bình tĩnh, bẩm báo: "Tối nào cũng thấy ông chủ cũng ngồi biên tập bài vở. Nhưng cứ nửa đêm thì có một con mèo đen vọt qua cửa sổ nhảy vào lòng ổng. Ổng bèn cởi…". Trần nói tới đó bỗng nhiên im bặt, mắt trợn ngược, lưỡi thè ra. Phùng thị hoảng sợ giật mình đưa tay vào người y thăm dò thì hơi thở đã tắt từ lúc nào. Phùng thị thấy Trần bất đắc kỳ tử, tự nhiên không cười mà chết thì kinh hồn táng đởm, sức lực bỗng nhiên tăng tiến khôn lường, bèn một tay ôm Trần ra gốc cây lan đầu nhà, một tay dùng xẻng vùi nông chôn tạm.
Nguyên Trần Hào có người bạn thân tên là Trương Ngật cũng thuộc loại vô công rồi nghề, hai tên thường hay qua lại lén lút cờ bạc cà phê rượu chè tình ý gái gú với nhau. Trương thấy Trần lâu không đến uống rượu, sinh nghi, lại từng nghe nói vợ Phùng nhờ Trần điều tra tình nhân phu quân bèn qua nhà Phùng đánh tiếng hỏi dò tung tích. Phùng thị luống cuống sợ hãi, gian ý lộ hết trên nét mặt, ú ớ giải thích không ra lời. Trương vốn ran! h mãnh, ! thấy nội tình thiếu logic biết bên trong có ẩn ý, đêm lén đến phục ở sân nhà Phùng. Tầm canh ba Trương bỗng nghe có tiếng thở dài dưới gốc cây lan, chạy lại thấy Trần đang ngồi xổm như đi đồng, hai tay khư khư ôm lấy mặt. Khẽ gọi thì Trần ngẩng lên, khuôn mặt nhằng nhịt đầy vết mèo cào, cả thân mình bốc mùi hôi thối khủng khiếp. Trương bị mùi thối xông thẳng vào mũi, mê man ngất đi.
Lát sau Trương tỉnh dậy, thấy vầng trăng toả sáng vằng vặc mà bản thân đang nằm ôm chặt gốc lan, mùi thối vẫn ngào ngạt. Trương cả sợ bèn lủi về nhà nôn oẹ tắm rửa, sớm hôm sau vội lên công đường báo quan. Quan huyện tên Lương họ Trọng đệm là Tồn, tốt nghiệp K21 đại học Luật, tính vốn liêm khiết, bình sinh ghét cay ghét đắng bọn buôn bán kinh doanh. Thấy Trương bẩm báo quan cả mừng, lập tức sai người tới đào gốc lan nhà Phùng, quả nhiên tìm thấy thi thể Trần Hào đang kỳ mục nát, bèn cho pháp y khám nghiệm, kết luận Trần chết do bị Phùng thị hắt hủi. Kế đó ra lệnh bắt giam vợ Phùng, tịch biên toàn bộ gia sản, bắt đóng cửa tờ "Chó Chết Chẹt". Riêng Phùng vì có chứng cớ ngoại phạm là ngủ tại toà báo do Trần Hào làm chứng, nên chỉ bị quan xét hỏi qua loa rồi thả về.
Phùng trở về phẫn uất quá, nghĩ quẩn thế nào chạy ra hiệu thuốc mua một vỉ Paracetamol hàm lượng 150mg định bụng đêm đến uống hết quyên sinh. Nào ngờ lúc vừa rót nước đưa thuốc lên miệng chợt bị hai bàn tay mềm như tay mèo bịt chặt lấy mắt, biết ngay là thiếu nữ lại đến nô đùa. Phùng gạt lệ than thở: "Vẫn biết đời vốn thăng trầm, nhưng nào ngờ ngày vui chóng tàn th�! �, Phùng! mỗ nay nhà tan cửa nát sự nghiệp lỡ làng quả là không còn thiết tha giao hợp nữa". Thiếu nữ dí tay vào trán Phùng mà mắng rằng: "Làm thân đàn ông mà định tự tử, thật là đớn hèn như chó. Chỉ lo nhà cửa sự nghiệp của bản thân, thật là ích kỷ như lợn. Vợ oan khuất biệt tù mà không tìm cách lo lót chạy chọt, thật là bạc tình như giun…". Phùng bị mắng một hồi tối tăm mặt mũi, chợt tỉnh ngộ, vội ném vỉ Paracetamol đi mà hỏi: "Nàng có cách nào giúp Phùng mỗ chăng?". Thiếu nữ buồn đáp: "Việc này âu cũng khép lại món nợ trần ai". Phùng gặng hỏi, thiếu nữ bèn cởi quần áo, xoã tóc ra mà kể: "Thiếp vốn là con mèo đen con gái của mẹ mèo mướp, hai mẹ con bị hàng thịt mèo trên đường Thái Văn Lung bắt cóc, may nhờ có tờ báo "Chó Chết Chẹt" của chàng đăng tin mà mẹ thiếp được cứu thoát, riêng thiếp chạy không kịp bị Trần Hào là tay bắt mèo bán cho các hàng tiểu hổ bóp chết. Hồn phách thiếp phẫn nộ không tan được, phần vì ơn chàng cứu mẫu thân chưa đền đáp, phần vì oán Trần Hào bóp cổ chưa báo trả". Phùng trước đây vẫn nghi ngờ tung tích thiếu nữ, nhưng bản tính vốn galant nên không tiện hỏi thẳng, nay thấy nàng là ma mèo đen cũng không lấy làm ngạc nhiên, chỉ cười buồn: "Nếu ta nghe lời Bùi Thị từ đầu, sớm bỏ nghiệp báo thì đâu đến nỗi kết cục như ngày nay". Thiếu nữ nói: "Trần Hào bị thiếp bóp cổ chết, đã phải đền tội rồi, còn việc của chàng nhất định thiếp sẽ phải lo chu đáo. Có điều cũng đành từ đây âm dương vĩnh quyết", nói đoạn quấn chặt lấy Phùng hôn hít rồi bỗng rùng mình, cả cơ thể kiều diễm ! thoắt c! hỉ còn lại túm lông đen phất phơ theo gió mà bay đi mất.
Lại nói Phùng thị bị bắt giam, oan khuất không biết đằng nào mà nói, thường giậm chân ngửa mặt lên trần nhà lao mà than rằng: "đớn đau thay phận đàn bà, trót sinh ra có nhũ hoa làm gì!", than xong lại vật mình khóc lóc thảm thiết. Một tối nàng đang tẩy trang trong biệt lao, bỗng thấy một con mèo đen nhảy vọt qua cửa sổ, thả vào lòng nàng một bưu phẩm nhỏ rồi thoắt cái lại chạy mất. Phùng thị thoạt đầu sinh nghi không dám mở, sợ là bom thư, lại sợ có vi khuẩn bệnh than, sau nghĩ đến tình cảnh mình sống mà như chết nên liều mình xé lớp giấy bọc, thấy bên trong chỉ là một cuốn video cỡ nhỏ. Trọng tri phủ là người nhân đức, các phòng trong biệt lao đều có trang bị đầu video cho ngục nhân giải trí. Phùng thị bật lên xem thì là chính cuốn video lắp trong camera ngừa trộm treo ở cổng nhà mình, ngẫu nhiên ghi lại được cảnh đêm Trần Hào về báo cáo tình hình. Phùng thị và Trần đang trao đổi, đột nhiên có cảnh một con mèo đen từ đâu chạy tới nhẩy vọt lên bóp cổ Trần, lại có cảnh Phùng thị hoảng hốt khi thấy Trần tắt thở, nhưng có vẻ dưới mắt Phùng thị và Trần đều không có hắc miêu. May mà có chiếc camera vô cảm lạnh lùng ghi nhận lại mọi cảnh vật sự kiện.
Hôm sau lên đối chất ở công đường, Phùng thị trình cuốn video. Trọng tri phủ xem đi xem lại, lại nhờ chuyên gia ánh sáng khảo nghiệm kỹ càng, đánh giá không phải kỹ xảo điện ảnh. Trọng bèn ghi vào biên bản Trần Hào chết do bị mèo đen bóp cổ, không liên quan gì đến Phùng thị. Bao nhiêu oan khiên của nhà họ Phùng đều được giải, p! hẩm gi�! � được phục hồi, gia sản được trả lại, giấy phép ra tờ "Chó Chết Chẹt" được tái cấp. Phùng Tất Đắc mừng rỡ, từ đó lại lao vào việc biên tập báo, tập trung đăng tin chó mất mèo lạc, công việc không hề dám trễ nải. Đêm đêm Phùng vẫn thường báo vợ bận việc phải ngủ lại toà soạn, mà Phùng thị qua biến cố vừa rồi cũng sợ hãi, chẳng bao giờ dám hỏi han hay thuê người theo dõi chồng nữa. Thật là khí độ của một đại gia vậy.

Bàn Tải Cân

Lập trình sư

Vài thế kỷ trước tại Hà thành có chàng trai trẻ tên gọi Tích Gia Văn, là sinh viên năm cuối khoa Công nghệ thông tin Đại học Bách khoa Hà Nội. Văn bình sinh thích viết phần mềm máy tính, rất có kỹ năng lập trình. Không những bạn bè đồng khoá đều khâm phục chàng mà ngay cả các giáo sư uyên bác cũng phải nể vì, coi Văn như một tài năng thuật toán đầy triển vọng. Các đoạn mã Văn viết ra bao giờ cũng sáng sủa, lề chuẩn, đầy đủ comment nhưng lại rất súc tích và tối ưu về giải thuật.
Tốt nghiệp loại xuất sắc nhưng Tích Gia Văn không vội vàng tiếp nhận những lời đề nghị làm việc ở những vị trí then chốt trong các công ty phần mềm lớn. Cái mà chàng cần lúc này là một sự nghiệp lẫy lừng, một danh tiếng vọng toả trong giới lập trình viên toàn thế giới. Văn quyết định tiếp tục con đường học vấn. Chàng tìm sang Ấn Độ làm thạc sĩ khoa học dưới sự hướng dẫn của một vị giáo sư uyên bác người Việt gốc Mỹ, giảng viên một trường đại học lớn ở Bangalore. Sau buổi sát hạch, vị giáo sư bảo Văn: "Cậu có kỹ năng tốt, chỉ còn thiếu kỷ luật". Văn buồn lắm, nhưng ý chí cầu tiến khiến chàng trong suốt ba năm ròng rã quyết tâm theo thầy mà tự khép mình vào thứ kỷ luật nghiệt ngã của đủ mọi loại qui trình sản xuất và qui trình quản lý chất lượng phần mềm. Sau ba năm Tích Gia Văn đã trở nên một trưởng dự án siêu hạng, có thể phụ trách những project cực lớn với sự tham gia đồng thời của hàng chục ngàn lập trình viên thuộc đủ mọi sắc tộc. Xong luận án thạc sĩ ở Ấn độ, Văn xin được học bổng sang Hoa Kỳ làm tiến sĩ ở Silicon Valley, ti�! ��p tục con đường phát triển sự nghiệp của mình. Ông thầy tiếp theo của Văn là một học giả lớn gốc Campuchia, người chuyên viết các khảo cứu về chất lượng mã nguồn cho các công ty phần mềm đạt tiêu chuẩn CMM5 trở lên. Sau khi tiếp xúc, ông bảo Văn: "Cậu có kỹ năng và kỷ luật tốt, chỉ còn thiếu sáng tạo". Cảm thấy hổ thẹn về lời nhận xét quá chính xác, Văn cật lực theo ông thầy lăn vào những cuộc luyện tập sáng tạo vô bờ. Kết quả của công cuộc đó là những phần mềm tuy nhỏ, nhưng kỳ diệu đến mức có sản phẩm đã được đề cử Probel – một giải thưởng dành cho những phần mềm sáng tạo xuất chúng, tương đương với giải Nobel trong khoa học. Ba năm sau, vào năm Giáp Dậu, trong buổi lễ nhận văn bằng tiến sĩ, ông thầy gọi Văn đến mà bảo rằng: “Trình độ của ta nay cũng không bén gót cậu được nữa, giờ là lúc cậu tung hoành rồi”. Nói đoạn cho Văn xuất môn.
Cũng vào mùa thu năm đó, Việt nam đứng ra đăng cai tổ chức cuộc thi Lập trình Quốc tế lần thứ nhất tại núi Trúc, ngọn núi cao nhất trong dãy núi Bò ở thủ đô Hà Nội. Đây là cuộc thi thu hút các tài năng lẫy lừng nhất trên khắp thế giới về tham dự. Tất nhiên Tích Gia Văn không thể bỏ lỡ cơ hội mỗi năm có một này, bởi đó là dịp để chàng thể hiện tài năng xuất chúng cùng những tuyệt chiêu cái thế sau bao năm tu luyện ở hải ngoại. Văn tự tin rằng với trình độ hiện có, chàng sẽ nắm chắc giải nhất, nếu không nói là giải đặc biệt. Quả thật lúc đó danh tiếng của Tích Gia Văn đã lớn đến mức khi chàng đáp máy bay trở về Việt nam dự thi, hơn hai ngàn thiếu nữ m�! ��t vàng! môi tím quần lót áo yếm – là mốt thời thượng khi đó đã chầu chực sẵn ở sân bay Nội Bài để được chiêm ngưỡng dung nhan và xin chữ ký của chàng. Bộ trưởng Bộ Phần mềm cũng đích thân ra tận chân cầu thang máy bay đón nhân tài đất Việt hồi hương.
Vòng sơ khảo diễn ra khẩn trương, các đối thủ bọt bèo nhanh chóng bị loại. Nhiều thí sinh đến từ Mỹ, Ailen, Israel, Trung Quốc, Ấn Độ… hết sức buồn rầu, thất vọng và tức giận vì không được lọt vào vòng trong. Nhưng biết làm sao khi họ không đủ tài năng và đức độ. Tích Gia Văn dẫn đầu vòng sơ khảo và lọt vào vòng chung kết cùng hai thí sinh khác, đều là người Việt, tên là Tồn Toàn Lương và Mặc Kim Chân. Cuộc thi chung kết được tổ chức đúng vào một buổi tối mùa thu heo may nhè nhẹ, khán giả tập trung về núi Trúc đông đến nghẹt thở. Một hàng rào cảnh sát được giăng kín dưới chân núi để đảm bảo an toàn cho cuộc thi. Trên đỉnh núi đèn hoa chăng rực rỡ. Sau lời khai mạc trọng thể và cảm động, Ban giám khảo dõng dạc đọc đề thi chung cho cả ba thí sinh: "Lập phần mềm diễn giải các giấc mơ theo vô thức tập thể của Jung". Thời gian làm bài là 30 phút, không kể thời gian cúi chào. Trên khán đài, ba nàng thiếu nữ sắc đẹp mê hồn cơ thể tuyệt mỹ ăn vận hở hang đang nằm tênh hênh thiu thiu ngủ trên ba chiếc xô-pha. Những bộ cảm biến vô cùng tinh tế được gắn vào vầng trán thanh khiết của các mỹ nhân, thu lại những cơn mơ êm ái và truyền vào hệ thống máy tính như đầu nhập dữ liệu. Một màn hình không gian cực lớn độ nét siêu đẳng được trang trọng đặt giữa khán đài, khiến cho trong v! òng tră! m dặm đều có thể thấy rõ những gì đang diễn biến.
Tích Gia Văn thở phảo nhẹ nhõm. Đề thi lần này chàng thông hiểu như lòng bàn tay vì đã lập không ít hơn 300 phần mềm tương tự. Là người trình diễn đầu tiên, Văn tự tin bước lên khán đài. Chàng cúi chào khán giả trong tiếng vỗ tay hoan nghênh nồng nhiệt của các ái mộ viên, rồi khoan thai bước đến bên chiếc máy tính để sẵn. Văn nhắm mắt hít một hơi thật sâu và đặt nhẹ hai tay lên bàn phím. Toàn bộ design cùng hàng ngàn diagram của bài toán đã được chàng thiết kế hết sức cặn kẽ – bên trong não bộ. Đột nhiên từng dòng từng dòng mã lệnh tuôn trào từ đôi bàn tay thanh tú. Các khối lệnh cùng các mảng nhị phân do Văn trực tiếp gõ bằng mã máy cứ dồn lên dồn xuống nhịp nhàng, hào hoa và vô cùng chuẩn xác. Không một lần phải nhấn nút Delete, không một lần cần bấm BackSpace. Ban giám khảo chỉ biết nín thở lắc đầu thán phục. Tích Gia Văn hoàn tất bài thi trước thời gian qui định 5 phút. Toàn bộ chương trình của chàng không hề có lấy một lỗi nhỏ trong cú pháp hay thuật toán, hơn nữa còn được tối ưu bởi phép biến mã Korpio-Kaluza-Klein. Nắm chắc giải vô địch trong tay, Văn kiêu hãnh cúi chào khán giả, khẽ hôn gió cảm tạ ba thiếu nữ vẫn đang mơ màng giấc điệp rồi khoanh tay lùi qua một bên.
Sau Tích Gia Văn là phần trình diễn của Tồn Toàn Lương, thí sinh thứ hai. Lương người nhỏ gầy, da trắng, vốn là tiến sĩ nhạc viện Hà nội nhưng vì trót thích vi tính nên đã học thêm bằng hai về kỹ nghệ phần mềm. Tồn Toàn Lương quay sang nhìn Văn đầy vẻ thông cảm, đoạn yêu cầu Ban giám khảo cho đặt một chiế! c micro n! hạy cạnh bàn phím nơi chàng trình diễn. Không gian đột nhiên tĩnh lặng. Đám đông hàng trăm ngàn người mà im phăng phắc, chỉ còn lác đác những tiếng tim đập rộn ràng vì hồi hộp của các thiếu nữ mới lớn. Bỗng những âm hưởng lạ lùng bất chợt vang lên, khi sâu lắng da diết, khi hào hùng cuồn cuộn. Đó là những âm thanh của sự tiếp xúc những ngón tay Lương với các con chữ trên bàn phím. Chúng làm nên cả một dàn nhạc giao hưởng với hàng trăm loại nhạc cụ khác nhau, hoà quyện trong giai điệu tuyệt vời của bản giao hưởng Hành khất, số 9 op 16 cung fa giáng trưởng của nhạc sĩ thiên tài Phsytomum. Song song với đó là những dòng lệnh bất tận tuôn trào trên màn hình cực lớn. Mọi người cùng choáng lặng đi trong những âm thanh trầm hùng, trong khung cảnh của một buổi đại hoà nhạc lạ lùng nhất thế kỷ. Bàn giao hưởng kéo dài đúng 29 phút 35 giây, và phần mềm được hoàn tất với đầy đủ các tính năng cần có, không lỗi và trọn vẹn.
Phần thi thứ ba do thí sinh Mặc Kim Chân trình diễn. Chân người cao lớn, mặt rất đen, vận bộ đồ ký giả, trông đăm chiêu ngơ ngác như đang suy tính điều gì mông lung lắm. Chương trình của Chân làm ra cũng được đánh giá là không kém phần hoàn thiện so với hai chương trình trước, nhưng cách gõ lệnh của Chân không có được nhạc tính hào hùng như của Lương, thời gian làm bài lại lâu hơn của Văn chừng 2 phút. Tuy nhiên khi ban giám khảo review lại những đoạn code Chân viết thì cả biển người bỗng sững sờ kinh ngạc. Văn cũng lặng đi vì hãi hùng khi đọc thấy trên màn hình không chỉ là những trang mã lệnh khô khan mà là cả một trường thi đại tá! c. Cách ! sử dụng cú pháp liên hoàn của 32 liên ngữ lập trình, cách đặt tên biến và tên hàm, cách khai báo các lớp và khởi tạo đối tượng của Mặc Kim Chân khéo léo đến độ đã biến toàn bộ những dòng lệnh và chú giải xen kẽ trong chương trình thành một bài thơ lục bát liên hoàn, lời lời tựa mây vần gió vũ uyển chuyển bất tận, đọc xuôi cũng không được mà đọc ngược cũng không xong. Không những thế phần mềm của Chân còn sinh thêm những yếu tố ngẫu nhiên trong cách luận giải giấc mơ, khiến kết quả trở nên vô cùng chính xác.
Tất nhiên năm đó Tích Gia Văn đành ngậm ngùi ôm giải ba. Tài năng của Tồn Toàn Lương và Mặc Kim Chân khiến chàng cảm thấy bất lực trên con đường chinh phục đỉnh cao của trình nghiệp. Có kẻ cho Văn hay rằng cả hai đối thủ trong cuộc thi hôm đó đều là đệ tử chân truyền của một đại cao thủ hiện đang ẩn thân trên hang Gió thuộc đỉnh Phanxi-păng quanh năm mây phủ. Không chần chừ, chàng lại khăn gói quả mướp đem lễ vật leo núi tầm sư học đạo. Tới nơi, Văn gặp một cụ già lông trắng tóc xanh, gần như khoả thân đang múa hát giữa gió núi lồng lộng. Xung quanh hoa cỏ tưng bừng, chim thú tụ tập rất đông. Biết là kỳ nhân Văn vội đến quì lạy, hai tay nâng chiếc laptop cấu hình cực mạnh lên làm lễ vật, đoạn xin khấu kiến. Chỉ thấy ông già mỉm cười âu yếm, bước lại gần Văn hỏi: "Cậu xin học gì". Văn đáp: "Xin học lập trình". Ông già lại nhẹ nhàng hỏi: "Không có máy tính cậu có lập trình được không?". Văn nghe vậy thì giật mình, run tay đánh rơi cả lễ vật. Chiếc laptop tuột khỏi tay lao thẳng xuống vực sâu muôn trượng vỡ! tan như! cát bụi. Ông già ngắm Văn một chặp rồi cười nói: "Cậu có kỹ năng, kỷ luật và sáng tạo tốt, chỉ còn thiếu duyên dáng". Văn nghe vậy thì hoang mang quá, không dám ngẩng đầu lên. Ông già lại tiếp: "Con người vốn đã quen lập trình từ rất lâu trước khi có computer. Bác thợ săn lập trình cho đường tên mũi đạn, anh nông dân lập trình cho mùa vụ bội thu, đám thương gia lập trình cho đầu tư sinh lãi, các tình nhân lập trình để chăn gối giao hoan, bà nội trợ lập trình cho gạo cơm bếp núc, ông văn sĩ lập trình cho con chữ câu thơ. Thoảng hoặc có nhà tư tưởng vĩ đại lập trình cho phát triển của toàn xã hội, có vị hoàng đế hùng mạnh lập trình cho số phận của cả quốc gia… Chung qui lại cũng không thoát khỏi cái Chương trình lớn đã được lập trình sẵn bởi Tạo Hoá". Văn bắt đầu ngộ ra, thưa: “Vậy lập trình không máy tính là thế nào?”. Ông già cười ha hả, đáp: “Người là máy, máy là người, khi không có máy thì mọi vật đều là máy, khi có máy thì máy cũng không còn là máy nữa. Làm sao tự lập trình được cho bản ngã mới là công quả vậy”. Cứ thế hai thày trò một người giảng giải, một người lắng nghe. Khát thì uống sương trời ngưng đọng. Đói thì ăn chim thú rán giòn. Chốc đà mấy thu đã trôi qua.
Ba năm sau Tích Gia Văn từ biệt sư phụ hạ sơn về miền trung lập nghiệp, thành lập công ty du lịch lữ hành và khách sạn lớn nhất ở bãi biển Thiên Cầm thuộc huyện Cẩm Xuyên tỉnh Hà Tĩnh. Hàng ngày nghe tiếng sóng gió lao xao, nhìn bờ cát trắng thoải dài, ngắm hai bờ đá núi xanh ngắt. Sáng lên non chạy đua chim bướm, chiều xuống biển lặn thi cá ! rồng. L! ấy vợ đẻ con. Ngâm thơ uống rượu. Vào mùa khách khứa thì tất bật lo toan, những lúc rảnh rang thì chơi golf tennis. Có điều lạ là Tích Gia Văn tuyệt nhiên không động đến máy tính, thiết bị, nối mạng, bảo mật, lại càng không bao giờ lập trình nữa. Thế mà thiên hạ ai cũng gọi Văn là Lập trình sư.
Đại từ điển Bách khoa thư tiếng Việt, xuất bản năm 2056, trang 4581, dòng 21 có định nghĩa về Lập trình sư: “Là lập trình viên đẳng cấp cao, tự lập trình được cho bản ngã, chương trình chạy ít lỗi, tiết kiệm tài chính, bảo mật, an toàn trước tai hoạ và môi sinh, ổn định trước nổi trôi của thế cuộc, khiến cuộc sống bản thể thêm kỳ diệu lo âu mà huyền ảo, khiến xã hội thêm đa dạng rối ren mà phong phú”.
Theo định nghĩa này thì Tích Gia Văn cũng đáng được gọi là Lập trình sư vậy.

Bàn Tải Cân

Internet Cafe (Tân Liêu Trai)

Internet là một phương tiện truyền thông thời cổ, phát triển rất mạnh vào khoảng đầu thế kỷ hai mươi mốt. Ông Vương Yến Ngọc, ban tôi, nhà sử học tình dục thường nói: "Những gì tốt lành từ Internet đều là mạo nhận vậy". Ông Phùng Tất Đắc, chủ bút tờ "Chó Chết Chẹt" cũng có cùng chủ kiến: "Internet chỉ giỏi phục vụ công nghiệp tình dục, lừa đảo và cờ bạc mà thôi". Riêng bản thân tôi nhận thấy rằng ngày xưa đã từng có thời kỳ mà Internet quán – tục gọi là Internet Cafe, được mở tràn lan ở các nước thứ ba. Chúng không những gây tác hại lớn đối với bản sắc văn hoá dân tộc, làm ảnh hưởng trầm trọng đến thuần phong mỹ tục mà còn chính là môi trường vô cùng thuận lợi để ma quỉ hoành hành và tác oai tác quái. Câu chuyện dưới đây do tôi tình cờ lượm được trong một xó xỉnh của mạng Internet cổ, âu cũng có thể coi là một trong những ví dụ điển hình về tác hại của nó vậy.
Xưa ở Hà thành có bần sĩ họ Phạm tên Thiềm, nhưng sinh nhằm năm Kỷ Tuất nên còn có tên gọi là Phạm Tuất Sinh, làm nghề tự do, quê ở Hào Nam, thân mình nở nang cao lớn, da trắng mặt đẹp, chỗ kín có nhiều nốt ruồi đỏ. Sinh vốn khiếu văn thơ ca hát, bản tính lại hào hoa phong nhã, hết sức nịnh đầm nên rất được phụ nữ thương yêu quí cảm. Đặc biệt mông Sinh thường ngày vẫn tiết ra một thứ hương lạ, vô cùng kỳ dị, đàn ông dính phải thì nóng bụng sốt ruột, đau óc váng đầu, đàn bà ngửi lâu thì sảng khoái đê mê, tâm thần dễ chịu. Có điều thứ hương này hoàn toàn không mùi không vị, nên nữ giới cứ gần Sinh là lúng liếng lả lơi mà chẳng hiểu! nguyên nhân nguồn gốc, còn các bậc chính nhân quân tử thấy Sinh sát gái như nam châm hút nước thì ghen tức mà kháo nhau rằng Sinh lạm dụng bùa ngải để quyến rũ nữ nhân vậy.
Nhân tết Đoan ngọ năm Canh Hợi Sinh đi chơi đền chùa, khi qua chân cầu Cương Châu chợt thấy một ông già khăn xếp áo dài, đầu tóc gọn gàng mà lông miệng rậm rạp, ngồi bên cạnh một chiếc máy in cổ kính nối mạng, thiên hạ xúm quanh xem rất đông. Sinh tò mò vươn cổ chen chân, thấy ông già đang coi bói cho khách, chính xác đến độ những chuyện trăm năm sau vẫn có thể kể ra vanh vách, không sai một chi tiết. Tất thẩy đều xì xào sợ hãi khâm phục. Sinh thấy thú vị quá bèn xếp hàng bỏ tiền xin một quẻ cầu may, nào ngờ lúc máy in ra lá số, chỉ thấy ông già cau mắt nhíu mày, hai tai giật giật, miệng lẩm bẩm: "Số này nghèo hèn mà phú quí, tình này dâm dục mà đoan trang, mệnh này đoản thọ mà trường sinh, thật là phá cách không sao hiểu được!". Sinh sốt ruột gặng hỏi, ông già bèn nói: "Nếu chỉ coi bằng lá số thôi thì chưa đủ, xin thí chủ cho xem toàn bộ nhân diện cùng thân dạng" – Nói đoạn kêu Sinh cởi bỏ hoàn toàn y phục, Sinh bất đắc dĩ phải nghe theo. Thiên hạ thấy sự kỳ lạ hiếm có, kháo nhau kéo đến xem đông như kiến. Ông già vừa ngắm vừa ngửi Sinh rất kỹ càng, chốc lại ngửa mặt lên trời lấy ngón tay bấm bấm, chừng độ một giờ ba khắc sau mới lắc đầu mà phán rằng: "Năm nay bản mệnh rất mờ mà tinh hoa lại phát tiết hết ra hai quả mông rồi, xác suất tử nạn trong 6 tháng đầu năm đạt 47%, trong sáu tháng cuối năm đạt 54%, tổng là 101% nên chắc chắn không thoát khỏi nạn k! iếp, v�! ��y xin thí chủ liệu đường mà lo trước hậu sự". Nói xong ông già tắt máy rút điện rũ tay phủi áo đứng dậy ra về, ai hỏi cũng không nói thêm câu nào nữa. Nên nhớ thời đó chuyện tướng số tử vi kinh dịch tử bình phong thuỷ bấm độn vẫn bị coi là mê tín dị đoan, không có cơ sở khoa học. Sinh là người cứng bóng vía, lại có chút học vấn sơ khai nên coi những lời ông già nói chỉ là đồng cốt mê sảng không đáng tin mà quên bẵng đi.
Tháng ba năm đó kinh tế toàn cầu suy thoái, Phạm Tuất Sinh lâm vào cảnh túng thiếu, thường phải ăn chịu ở quán cơm bụi gần nhà. Mụ chủ quán cơm tên là Tồn Như Liên, ước chừng hai mươi bốn tuổi sáu tháng rưỡi, tuy không còn trẻ trung gì nhưng cũng thuộc loại lả lơi nhan sắc. Như Liên vốn cảm cái hương lạ của Sinh mỗi khi Sinh đến ăn chịu nên chẳng buồn để ý đến chuyện đòi tiền cơm nước, lại còn nhân lúc vắng khách buông lời ong bướm gạ gẫm: "Cậu mà chịu đồng sàng thì bao nhiêu nợ nần cơm bụi tôi hứa sẽ một tay xoá một tay tẩy mà bỏ hết, lại còn ngày ngày cơm rượu ba bữa, đồng thời sẽ kiếm cho cậu một việc làm an nhàn mà ổn định". Sinh cả mừng, từ đấy sống cùng Như Liên già nhân ngãi non vợ chồng, nghĩa cơm bụi tình gối chăn xem ra rất đằm thắm. Thứ hương lạ phát ra từ mông Sinh chính là sợi dây vô hình nối kết tình cảm giữa hai người vậy.
Như Liên có cậu em vợ làm nghề vi tính, mở một quán Internet Cafe rất khang trang ở ngay đầu Giảng Võ, bèn giới thiệu để Sinh vào làm phục vụ. Công việc của Sinh là đếm giờ thu tiền, pha cà phê nước chanh chè Dilmah, mời chào học sinh choai choai tây ba lô khách ! vãng lai! . Lúc rảnh ít khách Sinh cũng tranh thủ ngồi tập toẹ sử dụng Internet, nào ngờ bản tính vốn thông minh nên tiếp thu rất nhanh. Sinh lại tự đọc sách thiết kế được web site riêng cho quán, có khả năng thoả mãn các yêu cầu kín đáo riêng tư của khách hàng nên được chủ quán rất tín nhiệm. Có điều Sinh trở nên mê Internet như điếu đổ, ngày nào không trực tuyến độ dăm ba tiếng đồng hồ là cơ thể bứt rứt không sao chịu được. Đến giữa tháng năm Sinh đã trở thành cao thủ có tiếng về tìm kiếm thông tin thiết kế lập trình viết thư hội thoại tán gẫu, trình độ giả tên đổi giống cũng đã đến độ xuất quỉ nhập thần. Đêm đêm Sinh thường hay lang thang khắp Internet trêu chọc tán tỉnh hẹn hò lăng nhăng, tự cảm thấy vô cùng thi vị.
Một đêm gió mưa tầm tã, Internet quán chẳng có mống khách nào, Sinh mắc màn ngủ sớm. Nửa đêm tỉnh dậy đi tiểu, Sinh tranh thủ bật máy định tán gẫu một lát cho vui, nhưng lạ thay kết nối vào đâu cũng thấy vắng ngắt như chùa Bà Đanh, chờ đến đầu canh ba mới thấy có nick hoamai, hành tung lạ lùng, thoắt ẩn thoắt hiện như là ma vậy. Sinh cả mừng bắn tin chào hỏi, gõ phím tanh tách. Nói chuyện hồi lâu thấy hoamai tâm đầu ý hợp lắm, cảm thấy nàng đáng yêu vô cùng, cách hành văn lại thỏ thẻ yểu điệu nhẹ nhàng như thục nữ còn trinh. Sinh cao hứng quá không còn kìm giữ được nữa, bao nhiêu tài lẻ đều phun ra hết, lăn chuột thành ảnh đẹp, xuất phím thành thơ hay. Hoamai cũng hưởng ứng nhiệt tình, ngợi khen nức nở, nhận được thơ Sinh gửi bao giờ cũng hồi âm phúc đáp, mà lời lẽ ý tứ của nàng thường thâm thuý sâu sắc hơn hẳn, nhưn! g vẫn t! ỏ vẻ khiêm cung nhún nhường để Sinh khỏi hổ thẹn. Cứ thế hàng đêm Sinh cùng mỹ nhân làm thơ xướng hoạ, thật là mãn nguyện lắm lắm. Cũng từ đó lúc nào Sinh cũng ngơ ngác như người mất hồn, chẳng buồn làm việc gì, cả ngày chỉ rạo rực chờ đến đầu canh ba để được tâm tình cùng hoamai, thật là chưa thấy dung nhan mà đã cảm nhau đến tận chân tơ kẽ tóc vậy. Thời gian thấm thoắt, chốc đà chớm thu, Hà thành đã vào tiết mưa ngâu rồi. Nhân một đêm mưa dầm, hội thoại cùng hoamai trên mạng, Sinh thu hết can đảm mà gạn hỏi nàng về thân thế: "Nàng tên là Phí Hoa Mai, tuổi tròn mười bẩy chân dài ngực săn thì ta biết rồi. Chỉ buồn vì nàng dứt khoát không cho thấy ngọc diện, cương quyết chẳng cho nghe ngọc âm. Chắc chỉ coi ta như vật giải sầu trong thế giới ảo thôi chăng?". Hoa Mai bị Sinh hỏi dồn, biết giấu cũng không được đành gạt lệ nói: "Việc đã đến nước này là do chàng ép thiếp đấy. Thiếp ra ở riêng ba tháng nay rồi, nhà cuối khu Văn Điển, sau Đài hoá thân…". Sinh là người nhạy cảm, nghe nói đã có ý ngờ rằng nàng là ma, nhưng để chắc chắn Sinh vẫn nhấc phone gọi đến số điện thoại nàng cho để thẩm định lại. Quả nhiên người nhà thông báo Phí Hoa Mai bị cảm phong trúng gió trong khi mở cửa sổ chatting, trong vòng mười phút quên mất không thở nên đã tạ thế đúng vào đầu canh ba, cách đây tròn ba tháng rồi.
Tuất Sinh nghe vậy thì bi luỵ lắm, hôm sau bèn xin nghỉ phép đến thắp hương bên mộ chí của nàng ở Văn Điển mà lầm rầm khấn rằng: "Hôm nay trời nhẹ mây trôi, Tuất Sinh cảm khái đến ngồi thắp hương, buồn thay môi đỏ má hường! , hồng ! nhan bạc mệnh xót thương vô cùng…". Đang lúc nước mắt lã chã bỗng đâu có trận gió cuốn cờ xảy đến, cát bụi mịt mờ, Sinh thoảng ngửi thấy có mùi son phấn Hàn quốc cùng trầm hương hoà quện ngào ngạt, lại thấy chập chờn có bóng thiếu nữ áo trắng từ trong mộ chí lãng đãng lại gần ôm lấy đầu Sinh mà thơm vào trán. Trong chốc lát cảnh vật trở lại yên ắng như không có chuyện gì xẩy ra. Sinh bần thần chạy ra cổng nghĩa trang trả tiền gửi vé lấy xe phóng về, đến nhà soi gương đã thấy trên đầu có một chiếc mụn lớn, kích thước bằng hạt lạc, mọc ngay giữa trán.
Tồn Như Liên bình sinh vốn thích nặn mụn với trứng cá, ngặt vì bấy lâu nay Sinh được ăn uống no đủ, chăn gối thoả thuê, kem dưỡng da và sữa rửa mặt lại dùng toàn của hãng có tên tuổi nên nước da nhẵn bóng mịn màng tựa như làn da của trẻ nhỏ vậy, dù là cố tình bới lông tìm vết cũng không bói nổi một chiếc mụn con nào. Nay Như Liên thấy trán Sinh mọc mụn to tướng thì cả mừng, âu yếm đè ngửa Sinh ra salon định nặn bóp cho đã đời, cho phọt ra hết cả nhân lẫn mủ. Nào ngờ lúc vừa chạm nhẹ vào chiếc mụn thì người Sinh bỗng như bị điện giật, các cơ vòng co duỗi liên hồi, mắt đờ đẫn vô hồn trợn ngược, mép sùi bọt trắng xoá. Như Liên kinh hãi vội dìu Sinh lên giường ủ chăn đắp mền, tận tình chăm sóc đến tận đầu canh ba Sinh mới dần hồi tỉnh. Từ đó Sinh trở nên sợ hãi không dám cho ai sờ vào mụn nhọt của mình, mà Như Liên cũng cạch chẳng bao giờ dám nặn trứng cá cho người khác phái nữa.
Chiếc mụn mọc trên trán Sinh ngày nhỏ mà mềm mại, đêm to mà cứng ngắc, ! đặc bi! ệt cứ sau nửa đêm khoảng đầu canh ba thì to đúng bằng hột vịt lộn lòng đào, cương lên khiến đầu Sinh đau buốt không thể tả. Một đêm đau quá không chịu được, Sinh liều mình một tay chuẩn bị bông gạc tẩm xianua thuỷ ngân để sát trùng, một tay dùng dao cạo khứa mạnh. Tưởng rằng sẽ tung ra một đống máu mủ trắng đỏ lẫn lộn, nào ngờ chỉ cảm thấy cơ thể nhẹ nhàng lâng lâng bay bổng, mà từ vết thương có một con bướm nhỏ bay ra, đôi cánh một chiếc xanh một chiếc đỏ trông vô cùng ngoạn mục. Sinh ngạc nhiên nhìn kỹ thì thấy thân bướm là một thiếu nữ tí hon đang khoả thân, cơ thể có đầy đủ các bộ phận như người lớn mà lại cân đối tuyệt đẹp. Con bướm như có vẻ e thẹn ngượng ngùng mà khép cánh che các chỗ kín lại, rồi thoắt cái bỗng to lên như thiếu nữ trưởng thành, khuôn mặt cực kỳ khả ái, cao chừng thước bẩy nặng sáu mươi cân. Cánh trái cuốn dưới đùi biến thành chiếc quần bò ngố màu xanh nước biển, cánh phải che trên ngực biến ra chiếc coóc-xê lụa đỏ màu cam rất đẹp. Sinh biết ngay là Hoa Mai hiển linh, bèn cầm tay âu yếm cười cười nói nói, trước cũng thăm hỏi dăm câu cho lịch sự, sau là đưa nhau lên giường mà đồng sàng giao hoan. Thật là thoả thuê mãn nguyện, bẩy mươi hai thế phượng rồng chẳng thế nào mà chưa từng thử qua vài ba lượt.
Sinh cùng Hoa Mai làm xong việc lớn, nghỉ ngơi uống nước cho đến khi có tiếng gà con gáy lảnh lót, chợt thấy Hoa Mai rùng mình, cơ thể biến đổi lạ lùng, chiếc cooc-xê lụa đỏ màu cam tung ra biến thành chiếc cánh màu đỏ bên phải, quần bò ngố mùa xanh nước biển tụt xuống thành chiếc cánh màu x! anh bên ! trái, trong chốc lát Hoa Mai lại trở thành con bướm tuyệt đẹp chấp chới đôi cánh xanh đỏ mà bay dính vào trán Sinh tạo thành chiếc mụn lớn. Từ đó mỗi khi vắng vẻ Hoa Mai lại bay ra cùng Sinh tình tự, đôi lứa rất là tâm đắc. Có điều sau mỗi lần cùng nàng Sinh thường cảm thấy vô cùng mệt mỏi, tựa như nguyên khí bị suy kiệt tổn hao rất nhiều vậy.
Một lần nhân việc đi mua linh kiện nâng cấp máy cho Internet Cafe, Sinh rủ Tồn Như Liên qua lại cầu Cương Châu, thấy ông già xem bói đầu tóc gọn gàng mà lông miệng rậm rạp vẫn đang ngồi đó. Nhớ lại hồi đầu năm Tết Đoan ngọ mất tiền oan, lại phải làm trò đùa khoả thân giữa trời cho thiên hạ cười cợt, Sinh căm tức lắm, bèn rẽ đám đông bước vào chào hỏi: "Cụ ạ, nhờ trước được cụ bói cho một quẻ mà bây giờ những gì cụ không nói đều linh nghiệm cả, thật là ơn này không biết lấy gì mà đền đáp". Nói xong Sinh đặt lễ một tập đô-la tiền âm phủ, vái hai vái rồi lui ra, trong dạ rất lấy làm đắc chí. Nào ngờ chỉ thấy ông già nhẹ nhàng chỉ tay vào mặt Sinh rồi chậm rãi nói: "Tiếc thay, chết đến nơi rồi mà không chịu hối", lại quay sang Như Liên bảo: "Nàng phải sống với hạng người này âu cũng là duyên nợ tiền kiếp mà thôi, liệu mà về sắm sửa hậu sự cho hắn thật chu đáo". Nói đoạn cầm tập đô-la âm phủ Sinh đưa xé tan làm ngàn mảnh, tung lên trời hoá ra một đàn nhặng xanh vo ve hồi lâu rồi bay đi mất.
Đến đầu tháng chín năm đó Sinh bắt đầu ngã bệnh, thoạt đầu chỉ thấy hoa mắt nhức đầu, mỏi xương đau khớp. Sau bệnh tình ngày càng nặng, sức lực cạn kiệt, hàng ngày chăn gố! i cùng N! hư Liên không quá nổi ba lần, hơn nữa mỗi khi đồng sàng, chiếc mụn trên trán lại sưng tấy đỏ ửng, đau nhức như trăm ngàn mũi kim chọc thẳng vào não bộ khiến cho cuộc truy hoan cũng không được trọn vẹn hoàn mỹ. Đến độ trung tuần tháng mười thì căn bệnh phát ra nhiều biểu hiện kỳ dị với các triệu chứng lâm sàng đặc biệt lạ lùng, thí dụ cứ đêm ngủ là đồng tử con ngươi lại giãn rộng, hoặc sáng sớm ngủ dậy là lại cảm thấy buồn đi tiểu. Những triệu chứng như vậy khiến các bác sĩ giỏi ở các bệnh viện lớn cũng không thể nắm bắt được nguyên nhân nguồn cơn của gốc bệnh chứ chưa nói gì đến việc chữa chạy. Như Liên vô cùng lo lắng, nhưng lần nào đưa Sinh vào viện cũng đều bị trả về gia đình nên nàng chẳng biết phải giải quyết thế nào.
Một đêm đầu canh ba, con bướm Phí Hoa Mai lại bay ra đòi giao hợp. Sinh rền rĩ cáo ốm. Hoa Mai không chịu, cứ thế khoả thân lên giường mà nằm. Sinh sợ nguy đến sức khoẻ, lấy tay ẩn nàng ra. Hoa Mai vừa thẹn vừa tức, bèn dùng móng tay mổ toang bụng dưới của Sinh, dễ dàng như ta dùng dao mổ trâu giết gà vậy, bao nhiêu lòng dạ tung ra hết. Hoa Mai chỉ vào đôi quả nhỏ màu trắng, dính vào nhánh dưới bên phải của hành tá tràng mà nói rằng: "Thứ hương lạ trên người chàng là do quả cật trắng này tiết ra, có gì là quí báu lãng mạn đâu mà phải tinh vi thế", nói đoạn dứt đứt ném mạnh ra sân cho gà. Sinh đau quá hét toáng lên, choàng tỉnh giấc mộng, thấy phía dưới chăn đệm đã ướt sũng rồi. Từ đấy bệnh tình càng ngày càng nguy kịch.
Tồn Như Liên vốn có tình cảm sâu đậm với Tuất Sinh nên không đành l! òng th�! �y cảnh người yêu hấp hối đau đớn. Nhân nhớ về ông già coi bói chân cầu Cương Châu, một bữa cuối tháng chạp nàng bèn gọi xe ôm, đem lễ vật đến quì xuống mà cầu khẩn xin cứu giúp. Ông già cười nói lơi lả: "Nàng vẫn còn trẻ đẹp, lại đường đường là chủ một quán cơm bụi, việc gì phải hết lòng với một kẻ phàm phu tục tử, bạc tình bạc nghĩa như hắn?". Như Liên cứ kiên nhẫn quì mà không chịu đứng lên. Một lát ông già lại hỏi: "Người đẹp có dám hôn ta chăng?". Như Liên nhìn ông già tuy còn tráng khí minh mẫn nhưng nước da đã đến hồi nhăn nheo, mà lông miệng lại rậm rạp quá nên cũng có ý ngại, chỉ hiềm nghĩ đến Sinh nên cố nén kinh tởm mà vươn cổ há miệng thơm ông già một cái. Lúc chạm vào môi ông già những tưởng toàn mùi thuốc lào bia rượu, nào ngờ chỉ thấy hương thơm LipIce toả ra ngào ngạt, lại thấy hai chiếc răng cửa của ông già bỗng nhiên mắc dính vào cổ họng mình, không làm sao nhổ ra được. Ông già được Như Liên thơm xong chẳng nói câu nào, phủi áo đứng dậy, cười ha hả để lộ khuôn miệng trống hai răng cửa rồi bỏ đi mất.
Như Liên cảm thấy vô cùng uất hận nhục nhã, chỉ mong sao chết đi cho rồi. Bèn chạy về nhà định tự tử thì thấy Sinh cũng đang cơn hấp hối, tay đã bắt đầu bắt bươm bướm, mà con bươm bướm này lại rất đẹp, một cánh xanh một cánh đỏ cứ chập chờn bay trong giường, đuổi thế nào cũng không đi, đánh thế nào cũng không chết. Như Liên giận quá bèn quát lớn, bỗng nhiên cảm thấy hai chiếc răng của ông già trong cổ họng được văng ra, bèn đưa tay ra đỡ thì ra là một chiếc vợt bướm tuyệt đẹp, trê! n cán c�! � đề "Made in Hell". Như Liên tiện tay vợt một cái, đã thấy con bướm xanh đỏ mắc ngay vào trong vợt. Con bướm giãy giụa cắn xé điên cuồng nhưng chiếc vợt như có ma lực nên nó không sao thoát được. Như Liên đang định lấy búa tạ đập chết bướm, bỗng thấy ông già xem bói xuất hiện ngay trên bệ cửa sổ. Ông già liếc mắt đưa tình, béo má Như Liên một cái rồi nói: "Con bướm này ngày xưa vốn ở trên trời, một bữa dám lẻn vào vườn cấm mà hút nhuỵ hoa mai nên bị đầy xuống trần làm kiếp người trong mười bẩy năm. Lẽ ra khi chết phải về trời để được đầu thai chuyển kiếp, nhưng do trong thời gian sống dưới trần trót ham thích Internet, bản tính vốn lại là loài bướm ong ưa chuyện dâm dục nên linh hồn vẫn cố nấn ná chui lủi trong mạng mà tròng ghẹo nam nhân. Thôi để ta thu phục đưa nó về trời". Nói đoạn rút trong túi ra một bao nhỏ trong suốt làm bằng cao su mỏng, quát to lên một tiếng, thấy có làn khói trắng từ chiếc vợt bay thẳng vào bao. Ông già buộc thắt miệng bao lại, hôn gió Như Liên rồi quay người nhảy qua cửa sổ mà bỏ đi mất. Lát sau Phạm Tuất Sinh chợt tỉnh lại, tựa hồ như vừa trải qua một cơn ác mộng, tâm thần ngơ ngác chẳng nhớ những chuyện đã xảy ra. Được mấy hôm thì sức khoẻ phục hồi như cũ, chỉ hiềm thứ hương lạ không mùi từ mông Sinh không còn toả ra như trước được nữa. Dầu vậy Như Liên vẫn còn yêu Sinh lắm, lại còn lấy làm yên tâm rằng từ nay Sinh không còn cuốn hút nữ nhân được, bèn làm lễ cưới linh đình. Sau rồi chồng ra mở riêng quán Internet Cafe, vợ làm chủ quán cơm bụi, con cháu đầy nhà. Thật là khí độ của một �! �ại gia! vậy.
Sau khi ông già đi, bên trong chiếc vợt vẫn còn thân xác của con bướm kỳ lạ, một cánh xanh một cánh đỏ mà thân bướm trông giống hệt cơ thể thiếu nữ đương thì với đầy đủ các bộ phận. Như Liên bèn đem ngâm fooc-môn làm tiêu bản rồi tặng lại cho ông Thái Kim Châm là một nhà côn trùng học có tiếng thời bấy giờ. Đến nay tiêu bản đặc biệt này vẫn còn được trưng bày ở tầng 3, viện bảo tàng sinh học Paris.

Bàn Tải Cân

Tửu sư

Phan Hùng là bác sĩ sản ngoại bậc một tại viện C, nổi tiếng trong ngành có tay nghề cao. Vết mổ sản phụ được Phan phẫu thuật chỉ sau ba ngày trông đã đẹp như nét sổ hoành tráng của bậc thầy thư pháp, sau năm ngày trở nên hồng và trong suốt như thứ lụa mỏng mà Tây Thi thường xé , sau một tuần chỉ mảnh như sợi tơ nhện, đàn ông tinh mắt lắm nhìn mới thấy. Mỗi ngày Phan thực hiện chừng hai chục ca, mỗi ca được nhà nước bỗi dưỡng hai ngàn đồng, lại được người nhà sản phụ phong bao thêm khoảng vài trăm ngàn nên cuộc sống so với đa phần thị dân ở Hà thành cũng có phần dư dật. Có điều Phan không thích gì ngoài rượu, tiền làm được phần lớn cũng là dành mua rượu. Vợ Phan thoạt đầu thấy chồng mê mẩn rượu chè tỏ ra khó chịu, nhưng sau lại nghĩ chẳng thà mê rượu còn hơn mê gái nên mới đổi buồn làm vui.
Nhà Phan ở phố Hàm Long có thiết kế riêng một chiếc tủ to, choán hết bức tường phía tây, khung chế tác bằng gỗ linh hương thơm ngát, cánh thửa pha-lê trong suốt. Ngăn dưới Phan kê các bình rượu ngâm, nào là bìm bịp trăm tuổi, linh chi ngàn năm hay kể đến tay gấu, ong non, rắn độc… đều không thiếu loại quí nào. Các ngăn phía trên có máy lạnh duy trì nhiệt độ ổn định 16oC bảo tồn hơn trăm loại vang và champagne nổi tiếng. Những ngăn cao hơn chứa rượu quí đủ loại, từ Mouton Rothschild Pauillac đến Haut Brion Pessac-Léognan, hay cao cấp như Petrus Pomerol hoặc Romanée Conti cũng đồng tâm hiện diện.
Phan thường thích mời bạn bè đến nhà thưởng rượu, lại đặc biệt trọng đãi những khách hiểu rượu. Nghe nói có vị đến nhà Phan, khi uống phán đúng tu�! ��i và quê quán một loại vang đỏ vùng Florence mà lúc ra về được chủ nhân tặng riêng một chai Château Lafite niên đại vua Louis 14 để tỏ lòng tri kỷ. Lúc rảnh Phan cũng thường hay lân la khắp các tửu quán Hà thành, phần vì muốn thưởng ngoạn và sưu tầm mỹ tửu khắp thiên hạ, phần cũng muốn giao du với tửu hữu để kết mối tuý tình.
Một chiều sau khi mổ cấp cứu đồng thời tám ca đẻ khó với chất lượng tuyệt hảo, Phan về nhà cao hứng bèn độc ẩm. Thấy uống nhiều lắm mà mãi không say, bèn nhân khi gió mát trăng thanh liền khoác áo dạo một vòng phố vắng. Lúc ấy chân nam đá chân chiêu mà bàn toạ rất vững vàng, tâm trí linh mẫn nhạy cảm. Chợt thấy ven hồ có một gã chạc tuổi mình ôm cây guitare gỗ, vừa gõ vào hộp đàn vừa nghêu ngao hát rằng:
"Hề! Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi
Hề! Bình khang quân tử khứ vô hồi
Hề! Vấn ngã tại hà liên giao hợp
Hề! Lồ phồn tửu. Hề! Mỹ nhân bôi"
Phan lấy làm lạ vội đến gần, thấy người này hình dung cổ quái, miệng mỏng tai to, người ngả nghiêng lơi lả như say mà hởi thở không có mùi rượu. Biết là cao nhân Phan vội vòng tay cung kính hỏi: "Tại hạ cũng là đệ tử Lưu Linh, sớm tối say sưa, trong nhà có hơn ngàn chai rượu. Đã từng nghe nhiều về chén dạ quang, chén hổ phách, bản thân hiện cũng sở hữu cả chén vàng lẫn chén ngọc mà sao tuyệt nhiên chưa từng được nghe về mỹ nhân bôi". Khách cười thông cảm, đoạn ôn tồn giải thích: "Trên đời mỗi thứ rượu đều có cách uống riêng, mỗi cách phải sử dụng loại chén riêng, chén lại phải được giữ ủ ở nhiệt độ thích hợp. Như vang nho de Memreihm ph�! ��i để! lạnh đúng 53,6 độ Fahrenheit, khi uống đưa miệng chén phalê Bohemien ngang qua mũi để thưởng hết hương thơm. Thứ Sán lùng đặc sản Hạnh Hoa thôn nhất định phải được hâm đến chín chục độ trong chén gỗ Bách hợp. Riêng ở đất Thổ Lồ Phồn có thứ rượu cực lạ, vị mặn hơi chua, hương nồng ngai ngái, quả là một loại rượu vô cùng trân quí, không thể uống ở nhiệt độ nào khác ngoài 37 độ Celcius. Xưa các bậc hiền nhân uống loại rượu này thường chọn mỹ nữ eo thon rốn sâu, cho khoả thân nằm ngửa, dùng rốn người đẹp làm chén ngọc 37 độ mà cùng nhau ngồi quanh vừa thưởng thức rượu ngon vừa luận bàn thiên hạ, gọi là mỹ nhân bôi vậy". Phan nghe như nuốt từng lời, lại hỏi thêm về nhiều tuyệt kỹ uống rượu khác đã thất truyền, đều được khách chỉ điểm chu đáo, thấy kiến ngưỡng về rượu rộng lớn vô cùng. Lát rồi tâm đầu ý hợp quá Phan bèn nài khách vào một quán rượu ven đường làm vài ly tri kỷ.
Phan vào cuộc uống hết sức hào sảng, gọi nguyên một bình to mà cạn chén liên miên. Thấy nài ép mãi mà khách cũng chỉ nhấp môi, Phan hơi bực mình hỏi: "Huynh không nâng chén là có ý chê rượu lạt hay xem thường ta chăng?". Khách đáp: "Không dám. Có điều đã tự nhận là tửu nhân thì phải biết dùng mắt hiểu được vị ngon của rượu, dùng tai nghe được hương thơm của rượu, dùng mũi ngửi được sắc thái của rượu. Còn như đã phải dùng đến miệng để uống rượu thì đều chỉ là hạng tục tửu vậy". Lại hỏi Phan: "Thử xem lại thứ huynh vừa uống là thứ gì?". Phan vội ôm bình rượu lên kiểm tra chỉ thấy toàn nước lã, giật mình buông tay khiến! nước ! trong bình nước chảy ra ướt lạnh cả đùi non, kinh hãi tỉnh dậy nhìn quanh đã chẳng thấy kỳ khách với tửu quán đâu cả, lại thấy mình đang nằm tơ hơ trên bãi cỏ trên đường Cổ ngư ven hồ Dâm Đàm, đũng quần ướt sũng. Đêm đó Phan trở về nhà tắt điện diện bích suy tư, đến sáng nét mặt trở nên cực kỳ thanh nhã thoát tục. Con bé Oshin quen lệ rót một cốc vang Margaux đóng chai năm 1833 cho chủ nhân súc miệng, vô cùng ngạc nhiên khi thấy Phan khoát tay từ chối rồi đứng dậy lẳng lặng đến bên tủ linh hương từ từ lôi từng chai rượu quí xuống đập vỡ, rượu thơm chảy tràn như suối. Vợ Phan lao đến can ngăn thì Phan nhẹ nhàng thơm mà bảo vợ: "Toàn là nước lã cả, nâng niu gìn giữ làm gì", đoạn đập cho kỳ hết tủ rượu. Về sau cũng có những lúc rượu bia cùng bạn bè Phan thường chỉ gọi cho mình một chai nước khoáng lạnh hoặc sinh tố hoa quả, ép mấy cũng không uống rượu, hỏi chỉ cười nói: "Quân tử đàm giao đạm nhược thuỷ" . Cũng từ đó Phan càng nổi tiếng là bác sĩ sản ngoại giỏi nhất viện C. Vết mổ sản phụ được Phan phẫu thuật chỉ sau ba ngày trông đã hồng và trong suốt như thứ lụa mỏng mà Tây Thi thường xé, sau năm ngày mảnh như sợi tơ nhện mắt đàn ông tinh lắm nhìn mới thấy, sau một tuần thì không còn dấu vết gì, nhẵn đẹp như da bụng của thục nữ còn trinh, thật là khí độ của một đại gia sản ngoại vậy

Bàn Tải Cân

Trương Đàn

"Thân mến tặng ông Vương, người đã vắt cạn
tinh lực trên sàn diễn vũ Ba-Lê"

Ngày xưa có anh họ Trương tên Đàn, làm nghề xe ôm dọc phố Võ Thị Sáu, quận Nhất, Sài Gòn. Trương nghèo khổ lắm, gia tài chỉ có độc con xe @ cùng bộ đồ lót mưa nắng che thân, nhưng bù lại khuôn mặt chàng cực kỳ nhu mì xinh đẹp. Ngày ngày Trương lái xe đưa khách qua phố, nghề tuy vất vả nhưng thanh nhã. Những khi vắng khách Trương thường neo xe nơi gốc sấu gần vũ trường Mê Ly cất cao giọng hát. Giọng Trương hơi chua mà ngang tai, nhưng cách ngắt câu nhả chữ rất độc. Tiếng ca bảng lảng bay giữa chiều Sài Gòn…
Có cô Ngọc Yến là cave của vũ trường nhân chiều nhàn ra phố mua me dầm, nghe giọng hát Trương vút cao chợt thấy con tim mình se lại mà da đùi sởn lên. Trương thấy người đẹp mải mê nghe hát, càng dụng tâm nháy câu luyến giọng rung ngân vô bờ. Ngọc Yến cầm lòng không đặng lệ rớt nhạt nhoà phấn son lem luốc. Lát tiếng hát dứt nàng bèn tiến đến dúi vào tay Trương một vật nhỏ, mở ra xem thì là chiếc bao cao su.
Từ bữa ấy Trương tuy tay lái xe mà hồn cứ lãng đãng quẩn quanh tà váy người đẹp. Rảnh khách chàng lại neo xe nơi gốc sấu mà hát, tiếng ca bảng lảng bay giữa chiều Sài Gòn… Qua nửa tháng mới lại thấy mỹ nhân ra, Trương mừng đến thót bụng. Hai người gặp gỡ như tri âm. Ngọc Yến nhân lúc phố vắng mới bảo Trương lấy vật hôm trước ra dùng. Trương thò tay vào túi quần lấy ra chiếc bao, định xé. Tần ngần một hồi lại đút vào túi, ngậm ngùi nói: "Kỷ vật nàng tặng, những khi trống trải ta thường lấy ra ngắm, thấy vật như được thấy ngư�! ��i. Nay không nỡ lòng nào xé cho đặng". Ngọc Yến nghe vậy thì cảm động mà rằng: "Đàn ông nặng tình như chàng thật hiếm. Thiếp muốn cùng chàng cắt tóc se duyên, đợi khi mãn hạn vũ trường sẽ xin má mì hoàn lương, về cùng lái xe ôm, không biết được chăng?". Trương mừng lắm, hỏi bao giờ mãn hạn. Người đẹp đáp: "Sang năm đúng ngày này giờ này, xin hãy đợi thiếp ở đây". Đoạn vít cổ Trương mà hôn, nước mắt lã chã. Lại đưa tay lần xuống háng mà sờ nắn thăm dò, một lát khuôn mặt nàng rạng rỡ hẳn lên: "B.. to không lo chết đói, của chàng cỡ thế kia thì đôi ta sau này chắc hạnh phúc lắm". Nói rồi gạt lệ giã biệt.
* * * * *
Trương sung sướng ngất ngây, ngày ngày cứ dõi vào cổng vũ trường Mê Ly mà cất tiếng hát. Hát rằng:
Gió xuân hây hây
Má xuân hao gầy
Mưa xuân chứa chan
Tay xuân buông màn
Chim xuân rối bời
Bướm xuân chơi vơi…

Giọng hát của chàng bay xa, làm kinh động đến một gã trung niên đương uống cafe ở quán gần đó. Gã họ Quách, vốn có thiên bẩm đặc biệt về thẩm âm, lại là bầu sô có hạng ở Sài thành, giới văn nghệ sĩ vẫn quen gọi là Quách tiên sinh. Nghe giọng hát, tiên sinh bụng bảo dạ: "Giọng dở thế mà vẫn tự tin luyến láy, thật trơ trẽn không biết xấu hổ, người này có thể làm việc lớn được". Đoạn chạy ngay ra phố, tìm đến gần Trương rồi ngắm nghía kỹ càng, thấy chàng mặt đẹp chân to càng lấy làm khoái. Đợi khi Trương hát xong gã mới lại gần mà nói: "Này con, ta vừa nghe con hát biết không phải hạng thường ca. Con hãy bỏ nghề xe ôm mà theo ta, ba tháng nhất định thành người, sáu! tháng t! hành ngợm, một năm thì thành siêu sao" . Trương vốn mê ca hát nên nghe lấy làm hợp ý, lại cũng muốn đổi đời để cưới Ngọc Yến, bèn nhận Quách tiên sinh làm sư phụ. * * * * *
Lại nói Ngọc Yến từ khi ước hẹn với Trương trở nên chí thú làm ăn, thái độ dịu dàng, tâm cơ linh mẫn. Khách vừa lòng thường bo cho rất hậu. Thấm thoắt một năm trôi qua. Chiều hôm ấy Yến đến ôm má mì khóc tức tưởi: "Thưa, bấy lâu được má đùm bọc, lại dạy cho bao kỹ năng chăn gối, đến nay phải từ biệt lòng con nhung nhớ vô hạn". Nàng rút ra một tấm séc trên có ghi một số tiền lớn, điểm chỉ vào phía dưới, đoạn dâng lên mà nói: "Số này đã tính cả vốn lẫn lãi, nay con xin hoàn lại má". Giờ phút chia ly thật cảm động, má mì cũng nghẹn ngào lấy ra một chiếc nhẫn kim cương đẹp lắm đeo vào tay cho Ngọc Yến: "Ngoài đời nhân tâm vô cùng hiểm ác" – Má dặn – "Không được tử tế lành mạnh như môi trường của ta, con phải gắng bảo trọng". Ngọc Yến lạy tạ mà lui. * * * * *
Đúng giờ hẹn Ngọc Yến ra gốc sấu nơi lần đầu được nghe Trương hát, đã thấy chàng chờ ở đó tự bao giờ. Hai người ôm nhau mừng mừng tủi tủi. Lúc hôn người yêu, Ngọc Yến thoạt lấy làm lạ bởi lưỡi chàng có vị như sấu dầm me muối, nhưng bản tính vốn thích của chua nên nàng vẫn khoái cảm, nếm mút nhiệt tình. Một lát Trương lại rút tặng vật năm trước xé ra dùng. Cả hai cùng tựa lưng vào thân sấu, ngoắc chân vào gốc sấu, quàng tay vào cành sấu, mê man không bút nào tả nổi… Xong việc, nghỉ ngơi bên nhau, Ngọc Yến mới xin được nghe hát. Trương bèn cất giọng mà hát rằng:!
G! ió hiu hiu thổi hề
Lá sấu xào xạc ghê
Này ve kêu, này chim hót
Này phút đoàn viên
Này mỹ nhân trở về…

Giọng chàng trầm mà ngọt ngào, lắng nghe như có tiếng ve kêu chim hót, tiếng lá cây xào xạc rất thật, có điều không giống giọng người. Ngọc Yến nghe gịọng ca cảm hứng quá bèn đứng dậy ôm gốc sấu mà múa theo tiếng hát, tư thế mềm mại quyến rũ, thể hiện đất trời xoay chuyển, vũ trụ vần vũ.
Ngọc Yến nói với Trương: "Chàng hát hay thế, em múa đẹp thế, hay đôi ta chạy sô các sàn diễn trong khu vực, thế nào chả dư dả". Trương gạt đi: "Anh đã bán con @ tậu con đò nhỏ bên bờ kênh Nhiêu Lộc, ngày ta chở khách qua kênh, tối về ca vũ bên nhau, trần gian chắc không còn gì thú hơn". Ngọc Yến vỗ tay khen phải.
* * * * *
Lại nói về Trương Đàn. Từ khi bái Quách tiên sinh làm sư phụ, thời gian đầu chàng thường được thầy dẫn đến các salon, phòng trà có tiếng ở Sài gòn. Tiên sinh giao du rộng lắm, ai ai cũng trọng vọng. Tại những tụ điểm này hai thầy trò người hát kẻ đệm saxophone. Giọng Trương phô mà ngang tai, nhưng tiên sinh thổi kèn rất khéo nên khoả lấp được các khiếm khuyết. Hai sư đồ cứ đêm hát sô, ngày luyện giọng, chỉ ít lâu giọng Trương đã tốt hẳn. Chàng đã đủ tự tin bước lên các sàn diễn tầm trung và có được tên tuổi nhất định trong nền ca nhạc đương đại quận Phú Nhuận.
Chừng nửa năm sau Quách tiên sinh bảo Trương: "Con có muốn đạt tới đỉnh cao trong nghiệp hát không?". Trương thưa: "Đó là tâm nguyện cả đời con". Tiên sinh bèn đưa Trương lên núi Liên Thành, cách Sài gòn chừng hai ngàn dặm về! phía Na! m. Ở đây phong cảnh hữu tình, cỏ hoa tươi tốt. Từ sáng sớm đến tối khuya Trương phải kiên nhẫn toạ thiền trên phiến đá lớn cạnh bờ suối nơi lưng núi, không làm gì ngoài hát. Tiên sinh cầm chiếc roi điện đứng cạnh, hễ Trương nhãng ra là vụt. Lúc đầu chàng phải luyện giọng với tất cả các thể loại âm nhạc từ xanh, đỏ, vàng, tình ca, ballads, rocks, rap, sẩm, quan họ, ca trù, tuồng, chèo, cải lương, jazz, opera…, với tất cả các cung bậc từ Mi thăng trưởng đến Đô giáng thứ, với tất cả các sắc điệu từ Contre-Alto đến Mezzo-Soprano. Đến lúc không còn bài nào tiên sinh bèn bắt chàng hát theo tiếng của thiên nhiên và muôn loài, tiếng gió núi vi vút, tiếng suối reo rì rào, tiếng mấy bà bán hàng chợ Cầu Đông… Thời gian cứ thế miên man trôi đi. Một ngày, khi đang phải căng người luyện hát theo tiếng mây trôi lãng đãng giữa trời xanh trong vắt, chàng chợt cảm nhận mình bỗng xuất thần như mây, suy nghĩ như mây và hát bằng giọng của mây. Có điều khi hát xong chàng thấy mệt mỏi rã rời, mà sờ xuống thì đũng quần đã ướt sũng tự khi nào. Trương ngượng nghịu thưa với thầy: "Bẩm sư phụ, con vừa lỡ xuất tinh…". Quách tiên sinh mặt mày rạng rỡ, bế thốc học trò lên cười hô hố mà rằng: "Xin chúc mừng con đã thành tựu! Giờ là lúc ta hạ sơn được rồi".
Từ dạo ấy, với giọng hát tuyệt đỉnh của mình cộng với khả năng tổ chức và PR cực chuyên nghiệp của Quách tiên sinh, Trương Đàn đã nhanh chóng trở thành một siêu sao trong nền công nghiệp biểu diễn. Các sô lớn tranh rước đua mời, cát xê rất hậu. Có điều mỗi lần biểu diễn thì phía trong chiếc ! quần d�! �i được nhà mẫu La Corté thiết kế hết sức sang trọng, Trương đều phải đeo bỉm, và khi kết thúc chàng đều cảm thấy mệt mỏi do bao tinh lực đã bị vắt kiệt trên sân khấu. Tuy vậy Trương vẫn luôn cố giữ hàm lượng nghệ thuật đỉnh cao trong mỗi đêm diễn, và quan niệm rằng việc không xuất tinh khi hát cũng đáng xấu hổ như là hát nhép (lip-sync) vậy. Sau mỗi lần công diễn, các fan ái mộ lại khóc nức lên, đồng loạt xông lên sân khấu, phá tan hàng rào cảnh sát, cốt sao để xin được chữ ký hoặc chạm vào cơ thể thần tượng. Nhiều fan nữ xinh đẹp cũng công khai bày tỏ tâm nguyện hiến xác, chỉ hiềm Trương đã dồn toàn bộ nguyên khí cho tiếng ca nên khoản ấy không còn đáp ứng được.
Sự thành công rực rỡ của Trương Đàn trên sân khấu ca nhạc nhẹ đã gây nên một trào lưu mới cho việc thể hiện và sáng tạo nghệ thuật nói chung ở Việt Nam. Bấy giờ hiếm có nhà xuất bản nào chịu in các tác phẩm mà không được nhà văn xuất tinh trong quá trình sáng tác, và các gallery nổi tiếng chỉ bày bán những hoạ phẩm có dấu vết rõ ràng của tinh lực mà người hoạ sĩ đã phải vắt ra khi cầm cây cọ.
* * * * *
Ngoài thì danh tiếng như cồn, nhưng trong sâu thẳm tâm hồn chàng Trương vẫn đăm đắm hướng về cái hẹn cũ với cave Ngọc Yến. Thời gian thoi đưa, thoắt đã đến ngày hẹn. Hôm ấy Trương từ chối tất cả các sô diễn, cả ngày chỉ thấp thỏm cắt tóc cạo râu, rửa mặt xịt nách, chờ phút tái ngộ với người đẹp. Đến giờ chàng lao ra con xe thể thao ba chỗ đời mới phi thẳng tới vũ trường Mê Ly. Buồn thay, Sài gòn giữa giờ cao điểm. Giao thông tắc nghẽn. Trương v! ứt xe g! iữa biển người mà xuống chạy bộ. Khi chàng tới nơi thì trời đã khuya lắm, phố xá vắng lặng không một bóng người. Trương nhìn đồng hồ, đã quá nửa đêm. Chàng thẫn thờ tìm kiếm hồi lâu quanh gốc sấu. Chẳng có ai. Bất chợt, dưới ánh đèn cao áp vàng vọt, chàng tìm thấy ngay dưới chân mình một chiếc bao cao su dùng rồi, cầm lên thấy vẫn còn hơi ấm, mà xem kỹ lại có cùng nhãn hiệu với chiếc nàng tặng năm nào. Trương trân người chết lặng.
Trương không còn thiết sống nữa. Mọi thứ trên đời đối với chàng, kể cả ánh đèn sân khấu chói loà lẫn hàng triệu fan hâm mộ cuồng nhiệt thoát nhiên vô nghĩa. Trong nhiều năm liền Trương bỏ ăn, bỏ hút thuốc lá, thậm chí bỏ cả bia hơi đậu rán, từ chối mọi hợp đồng biểu diễn béo bở mà nằm bẹp ở nhà. Quần áo chàng cũng không buồn thay, trở nên rách rưới và bẩn thỉu như một gã lái đò.
Một lần nằm chán, Trương ngồi dậy, rồi cứ chân đất mà lang thang trong thành phố. Đến chiều đã thấy tới bên bờ kênh Nhiêu Lộc. Chàng cúi mình soi bóng xuống mặt nước. Dòng kênh trong xanh thơm mát phản chiếu một khuôn mặt cực kỳ nhu mì xinh đẹp, có điều tóc đã điểm bạc mà râu ria xồm xoàm hết rồi. Chàng nhủ thầm: "Ta sẽ nhảy xuống dòng kênh này tự vẫn, giống ngày xưa Trương Chi vì thất tình với Mị Nương mà cắm sào trẫm mình nơi sông Đuống". Đoạn chàng xắn quần chuẩn bị nhảy. Lại nghĩ bụng: "Trương Chi trước khi chết còn ca khúc tuyệt mệnh, nay ta cũng phải trình diễn một bài". Chàng cất cao giọng hát. Hát rằng:
Mây bay chừ mây bay
Nước chảy chừ nước chảy
Thế gian chừ về đâu
Tình ! nghĩa ch! ừ bạc mầu
Cắm sào chừ kênh sâu…

Trương còn câu cuối chưa kịp hát đã nghe một tiếng quát rất trong trẻo mà quen thuộc: "Lão Trương kia, việc ca hát để đến đêm nhé, có khách qua kênh kìa". Trương nhìn ra thì thấy Ngọc Yến, vận áo tơi nón lá, tay bế một bé trai bụ bẫm đang bươn bả đón khách xuống con đò nhỏ gần đó. Đôi mắt đẹp mê hồn của nàng lườm nguýt chàng ra chiều âu yếm trách móc. Trương nghe tiếng vợ quát thì cả sợ vội nhảy phắt xuống đò, tay rút neo, tay kéo thừng, thoăn thoắt chèo đò đưa khách qua kênh.
Chèo như thể chàng đã từng chèo đò qua lại nơi bến kênh này cả chục năm rồi… Trên bờ, Quách tiên sinh mắt dõi theo con đò nhỏ, tay nắm tay má mì khẽ bóp nhẹ, đoạn vuốt râu mỉm cười .

Bàn Tải Cân

Trinh Tùng Truyện

Lời tựa
Đầu năm Giáp Sửu bản ngã nhân chuyến công du thượng nguồn sông Canh La có tranh thủ dạo gót vào rừng lấy chút khí xuân. Tiết trời mát mẻ, gió hây hây, lác đác khắp một vùng đồi núi sơn cước là những tiếng thú tìm đàn, tiếng chim gọi bầy. Những thảm cỏ xanh rờn nằm dài trong nắng, thân ngọn đẫm sương run run căng tràn nhựa sống. Những cây liễu tha thướt như những ngón tay gầy xoè ra mà mơn trớn và ve vuốt bầu trời [1]. Phong cảnh thật chẳng khác gì chốn thần tiên, vừa hữu tình vừa vô ý.

Mải đắm mình vào thiên nhiên mà không biết trời tối lúc nào, đến khi chợt tỉnh thì vầng trăng đã lấp ló đầu non, trải những ánh vàng lên khắp thảm rừng trước mặt. Chợt mang mang một cảm giác Liêu trai, một nỗi sợ mơ hồ, run rẩy mà đê mê thích thú. Quả nhiên một nàng con gái vô cùng nhan sắc, tóc vấn trâm cài, mình vận độc chiếc pun trắng ngắn tay màu cam tha thướt bước ra từ khoảnh rừng trước mặt. Nàng ngạc nhiên vì có kẻ giữa đêm khuya dám lang thang nơi thâm sơn cùng cốc, đoạn nắm lấy tay cười khanh khách mà kéo về nhà, kẻo con ma rừng làm hại.

Nhà nàng là một căn nhà sàn trên một ngọn đồi, không tiện nghi nhưng ấm cúng, gia tài chỉ có bộ dàn Karaoke bọc da báo là có đôi chút giá trị. Trong lúc nàng pha cà phê đãi khách bản ngã buồn tay giở mấy cuốn sách đầu giường, thấy toàn là Hendreas Bollean, Jean Meadaux với Trương Nhũ Hoa, cảm thấy khâm phục vô cùng. Lát sau có ông già râu tóc bạc phơ ghé về, nàng giới thiệu là ông chú đẻ. Ông già tỏ ra rất hiểu biết tuy rằng hơi vô duyên, rằng ông bỏ ra 12 cây để mua quả đồi gần 2 hecta và dựng căn nhà sàn để nghỉ cuối tuần, cũng là để sau này về hưu làm chốn điền viên, chăm vài gốc vải, nuôi mấy con gà.

Uống tách cà phê, nghe ông già kể chuyện thời hoàng kim. Nàng xem chừng buồn ngủ, chốc lại dụi mắt, miệng ngáp liên tục. Câu chuyện về thời hoàng kim của ông đã kéo dài từ quá khứ lên hiện tại rồi hướng thẳng tới tương lai. Cảm giác không thời gian trở nên lẫn lộn. Nàng gục đầu trên đi văng ngủ, mắt chớp chớp duyên dáng. Ông già kể về thời trai trẻ chinh chiến, một đêm ngủ với ba bốn người, mà người nào cũng ngủ say, bản thân ông cũng ngủ say. Bản ngã cũng chuẩn bị ngủ say, lấy tay che miệng ngáp. Ông già chừng biết ý, nói: "Chủ nhà đãi khách là muốn khách thưởng văn. Nay văn xuôi đã không vào thì xin thắp nhang mà đọc văn vần vậy". Nói đoạn bèn với tay trong đống sách báo dưới sàn nhà, lấy lên một cuốn vở nham nhở bìa ép plastic,
cất giọng đọc. Nàng con gái cũng đã bừng tỉnh, thấy ông chú đẻ đọc thơ thì đột nhiên lao tới ôm ghì lấy bản ngã mà hôn.

Bản ngã vốn thích thơ, nay lại vừa được nghe giọng ấm ngâm nga, vừa được má ấp miệng kề với giai nhân tuyệt thế thì lấy làm thoả thích vô cùng, lưỡi như nếm được từng câu, tay như sờ được từng ý, còn tâm quả nhiên thuộc lòng từng chữ. Ông già đọc hết bài thơ cũng là lúc có tiếng gà eo óc gáy, bản ngã bỗng rùng mình dụi mắt, thấy đang nằm tênh hênh dưới một căn nhà sàn bỏ hoang, đầu gối lên một mảnh da báo rách bươm, xung quanh cỏ lác mọc cao quá rốn, nên lấy làm kinh sợ vô cùng. Duy có bài thơ là vẫn nhớ như in từng câu từng chữ, bèn về nhà lấy giấy hồng điều chép lại. Thấy thật là tuyệt tác, hiếm có xưa nay.

Bài thơ dài hơn ngàn câu nhan đề là "Tán tương ti tuyệt tác truyện". Sau này khi bản ngã biên soạn lại lấy tên nhân vật chính mà đổi thành "Trinh Tùng Truyện" cho ngắn gọn và dễ hiểu. Lời lẽ cổ văn đơn sơ, thể loại dân dã lục bát, nội dung ca ngợi nghệ thuật dục tình.

Về sau nhân lúc cao hứng có lấy bản thảo đưa cho nhà thơ H, nhà văn B, lập trình viên L, hoạ sĩ M, tiến sĩ hoá sinh G, nhạc sĩ V… xem qua một lượt. Tất cả bọn họ đều lắc đầu ngảnh mặt bĩu môi nhíu mày, nhẹ thì phê là cợt nhả tầm thường, là không vần không ý, nặng thì mắng là bậy, là bẩn, là vô văn hoá, là phi đạo đức… Bản ngã lúc đó cũng hoang mang không hiểu vàng thau thế nào, nhưng nhớ lại giọng đọc của ông chú đẻ và nụ hôn giai nhân hồi nào thấy kỳ lạ không thể bỏ qua mà quyết tâm khảo cứu. Quả nhiên ghi lại được nhiều điển cố làm chú thích, làm cho mạch truyện trở nên minh bạch cuốn hút. Càng về sau càng thấy hứng thú vô cùng.

Mất hơn 152 năm khảo nghiệm nghiêm túc, lại nhờ có tiên sinh họ Quách một mực động viên khích lệ nên cuối cùng bản ngã mới dám soạn thảo toàn văn trên máy vi tính, in laser vài bản tặng bằng hữu thân thuộc đọc chơi. Nếu chẳng may câu chuyện lọt tới tay những người có đạo đức đoan chính, thích rạch ròi trắng đen, lại hay câu nệ phải trái hoặc chưa từng tơ tưởng đến chuyện trai gái thì xin vứt sách rửa tay, bỏ qua như chưa hề trông thấy, được như thế thì bản ngã cảm tạ lắm lắm.

Tiết Kim miêu, chiều Hạ vũ, Thiên niên kỷ thứ 2.
TRINH TÙNG TRUYỆN
*****

Ngày xuân vạn vật truy hoan
Nhẩn nha tới trấn Bình Khang [2] vui vầy Chốn xưa ngọc đống hoa đầy
Đàn Tinh [3] trùng phím, cung dây hững hờ Thơ hay ở chỗ bất ngờ
Người hay ở chỗ đêm mơ xuất tình

Rằng xưa ở chốn đế kinh
Có nhà hiền triết họ Trinh tên Tùng Đức thì ngôn hạnh công dung
Thi kỳ nhạc hoạ kiếm cung đều tài Hình long ẩn, dáng hoa đài
Râu ba tấc rậm, lông dài tám phân Dương hoàn viên đại kỳ lân
Cặp tay như hổ cặp chân như mèo [4]

Trinh Tùng thuở nhỏ còn nghèo
Sống cùng cha mẹ bên đèo Mai Hoa [5] Một lòng thờ mẹ kính cha
Sáng vào kiếm củi, tối ra đánh giầy Thong dong bạn với gió mây
Hươu nai giúp thịt, cáo cầy mua vui Gia tài một chiếc thuyền mui
Một cây đàn mộc, một gùi sách thơ Khi buồn mộng tưởng vẩn vơ
Gẩy đàn vài khúc, đọc thơ mấy bài Khi nhàn nghiên bút miệt mài
Những khi cao hứng múa vài đường côn

*****

Có người con gái cùng thôn
Cảm thương chàng có trí khôn hơn đời Một đêm đầy ắp sao trời
Tình riêng nàng mới thốt lời cùng Trinh "Chàng ơi thiếp sống một mình
"Ngoài hai mươi tuổi còn trinh nguyên này "Chữ yêu trằn trọc bao ngày
"Hôm nay dâng trọn hai tay cho chàng" Trinh nghe rất đỗi hoang mang
Rằng: "ơn vân vũ [6] có nàng đoái trông "Chỉ hiềm có cũng như không
"Trước sau đành phải phụ lòng Tố nga [7] "Bến Hà châu [8] có bao xa
"Mà không thoát cảnh kinh thoa bố quần [9]" Nàng rằng: "Chàng chớ ngại ngần
"Thiếp đây mong được một lần mà thôi "Quyết sau không hận không đòi"
Trinh nghe thầm nghĩ: "Hẹp hòi làm chi "Đường đường một đấng nam nhi
"Há đâu bỏ lỡ xuân thì gái tơ"
Nghĩ rồi quấn chặt người thơ
Thoát tan y phục, sẫm sờ mắt môi
Đài dao sóng dậy từng hồi
Hoa thơm thoả hái, núi đồi thoả trông Khác nào đâu cảnh tiên bồng
Khác nào ả Chức động phòng Ngưu Lang [10]

Có người khách sớm sang ngang
Qua đường bắt gặp chàng nàng yêu nhau Vốn nghề dịch số thâm sâu
Đêm qua lại thấy sao Câu [11] sáng bừng Ngắm Trinh kỹ, khách cả mừng:
Tinh hoa phát tiết từ lưng đến đầu Nhẹ nhàng khách tới mé sau
Đưa tay nắm lấy hạt cau phũ phàng
Nàng cười: "Nếu định liên sàng [12]
"Thì đây cũng chẳng bẽ bàng làm chi "Cho dù hai bậc tu mi [13]
"Một thân con gái xá gì gian truân!"
Khách rằng: "Ta chẳng tiếc thân
"Chỉ lo có kẻ sẩy chân vô tình
"Vui chốc lát, hận ba sinh…"
Trinh nghe biến sắc thất kinh dập đầu "Tiên sinh dạy bảo đôi câu
"Mà hồn giác ngộ ngõ hầu trăm năm" Khách rằng: "Trăng khuyết lại rằm
"Không vui không hận, không nằm không yêu "Đời người xem tựa cánh diều
"Không người thả, mặc gió chiều đẩy đưa "Khối tình dầu cũ hay chưa
"Mà càng yêu lắm càng mưa bão nhiều "Sắc tài tránh nhất tự kiêu
"Phan An, Tống Ngọc [14] mỹ miều mà chi "Nên chăng đương lúc xuân thì
"Miệt mài đèn sách mà thi Tú tài!"
Tỉnh ra vội mặc quần dài
Khấu đầu lệ nhỏ ra hai ba hàng…

*****

Thoi đưa chốc đã thu sang
Lên kinh trọ học nhà hàng Thuỷ Tiên Đêm đêm cần mẫn bút nghiên
Ngày buôn hoa quả kiếm tiền nuôi thân Tài lương đống [15], đức chuyên cần Kinh nam sử bắc mười phần đã thông Uyên sâu kim cổ tây đông
Tứ Thư vanh vách, Thất Công [16] lầu lầu. Làm thơ một bước hai câu [17]
Ngôn như lưu thuỷ, ý hầu cao sơn.

Một chiều thi hứng đương cơn
Rượu ngon một hũ, mẫu đơn một bình Chợt nghe vẳng tiếng cười tình Nhìn ra tha thướt bóng hình giai nhân Tóc mây buông xoã đôi chân
Đỏ hồng gót ngọc, trắng ngần bờ vai Hương thơm nức toả dặm ngoài Tuyết lê nhu nhú, hình hài thanh tân Trinh rằng: "Trước lạ sau thân
"Xin đừng e lệ tần ngần mà chi "Cung thương [18] dẫu chẳng ra gì "Cũng xin đề tặng đường thi một bài" Rồng bay phượng múa miệt mài Thoắt đề trên quạt những hai bài liền Giai nhân cảm kích vô biên
Nguồn thơ lại được tay tiên hoạ vần…

Lòng thơm ngát mộng mỹ nhân Hồn cuồng si ủ những gần những xa Chán thơ uống rượu xem hoa
Say sưa men rượu ngân nga men tình Nàng như nóng bức trong mình Bao nhiêu xiêm áo thình lình cởi ra Trinh bèn hôn thịt thơm da
Tay đưa lên ngực tay sà xuống mông Tưởng rằng nhẵn tựa mỡ đông
Nào ngờ tóm phải chùm lông, giật mình! Cầm đuôi đoán chắc hồ tinh [19] Nàng cười: "Cái giống đa tình đừng lo "Miễn là bên nhận bên cho
"Đã yêu bất kể nhỏ to, giống loài" Trinh nghe hợp lý thở dài
Khẽ đưa bảo bối từ ngoài vào trong…

Canh ba hành sự vừa xong
Gà vừa gáy sáng đã không thấy nàng Mùi hương còn thoảng bên màn Thơ còn tươi mực trên bàn cổ thư Một ngày đầy ắp tâm tư
Một đêm tri kỷ thành như vợ chồng

*****

Khoa thi năm ấy mùa đông
Đề thi vớ vẩn Trinh không thèm làm
Đường công danh vốn chẳng ham
Xé giấy vứt bút bỏ sang quán ngồi
Quán chủ hai gái sinh đôi
Cô chị đi lấy chồng nơi đất người
Cô em xinh đẹp tuyệt vời
Hàm răng như ngọc nụ cười như hoa Thoạt trông thấy khách phương xa
Dáng đào tha thướt bước ra đón mời
Rằng: "Trông dung mạo đoán người
"Đường hoan lộ [20] hẳn rạng ngời tương lai" Trinh buồn: "Ngán nỗi trần ai
"Công danh bất quá Tú tài, Trạng nguyên "Bảng vàng chắc hẳn đứng tên
"Vì chê đề dở cho nên không làm" Nàng nghe thương cảm vô vàn
Đầm đìa bỗng chốc đôi hàng lệ trong "Thương chàng phận bạc long đong "Học ba năm rưỡi mà không tiếc gì "Khinh đề bỏ bút không thi
"Quả là khí phách nam nhi ngút trời" Nói xong rót rượu ra mời
Hai tay nâng cốc tận nơi miệng chàng Phía trong vạt áo ngực nàng
Tuột ra vài cúc trông càng lả lơi
Trinh liều hôn nhẹ làn môi
Rồi luồn tay xuống tận nơi trong cùng Nàng hơi thoáng chút hãi hùng
Nhưng không cự tuyệt vẫy vùng, lạ chưa! Nhịp nhàng loan phượng mây mưa Vượt qua hai ải rồi đưa vào nàng
Hỡi ôi đào huyết tuôn tràn
Ba năm một phút rách tan mất rồi…

Lát sau trí phục lực hồi
Trinh nâng nàng dậy gạn lời hỏi han Hỏi tên, đáp: "Ngọc Linh San"
Hỏi gia cảnh, đáp: "Cháu quan Tư Đồ" Hỏi quê, "Sinh tại kinh đô
"Tuổi vừa mười sáu, cam lồ [21] vừa ra "Chưa từng ân ái gần xa
"Chưa từng khoe liễu hiến hoa bao giờ "Duyên châu đỏ thắm đường tơ [22] "Những mong quân tử chọn giờ vu qui [23] "Nguyện về cử án tề mi [24]
"Nâng khăn sửa túi tiếc gì tri âm [25]" Trinh rằng: "Lỡ gãy ngọc trâm
"Phù dung lỡ nát, sầu câm lỡ lời
"Chí trai ngang dọc đất trời
"Dễ đâu chôn chặt một đời vào hoa "Thôi nàng thứ lỗi cho ta
"Thú vừa cùng hưởng, hận đà chung đôi" Linh San tím mặt bầm môi
Nghẹn ngào uất hận một hồi mới tan Rằng: "Từ đây dứt tơ đàn
"Có nợ có trả, có oan có đòi"
Trinh nghe nàng doạ bật cười
Mặc quần không nói một lời bỏ đi

*****

Chiều mưa lạnh ướt làn mi
Đìu hiu liễu rủ, tường vi héo gầy Rượu tràn uống đã ba ngày
Càng uống càng tủi, càng say càng buồn Càng sầu thi hứng càng tuôn
Trinh bèn cầm bút viết luôn lên tường…

Chợt nghe huyên náo bên đường Một tay kỵ mã dừng cương trước lều: "Trinh Tùng phạm tội hai điều
"Thứ nhất vô lễ tự kiêu xé đề
"Bỏ thi, không chịu về quê
"Làm thơ uống rượu chửi thề quan nha "Thứ hai con gái người ta
"Đang tâm vặn lá bẻ hoa tan tành
"Này đây chứng cớ rành rành
"Huyết đào đương sự đọng thành vệt to" Nói rồi hét lính trói gô
Ngang lưng buộc lại, ngựa Hồ [26] kéo lê Da tan thịt nát thảm ghê
Khắp thân cát bụi bốn bề máu loang
Tống Trinh vào ngục tạm giam
Hôm sau trình diện trước quan Tư Đồ Trinh rằng: "Thuốc mật roi bồ [27]
"Dám xin khấu kiến Kim ô [28] một lần "Ngọc Linh San tự hiến thân
"Thực tình không dám lần khân ép bày" Quan rằng: "Mật lớn gan tầy
"Định lời cao ngạo dối rày cửa quan
"Lại còn lớn tiếng kêu oan
"Nhục hình không dụng chắc càng lẻo môi…" Khoảng trong một khắc ba hồi
Cho Trinh nếm thử vài đôi ngón nghề Cùi xiết trửu, móng kim kê
Chì sôi đổ miệng, mỡ dê luộc đùi [29] Đớn đau biết mấy ngậm ngùi
Tỉnh mê ngàn bận, thác vùi trăm cơn…

*****

Mùa xuân gió nhẹ hoa thơm
Vụ mùa đương bội, gạo cơm trắng ngần Đầy đường đám rước hội lân
Trẻ con tí tửng, gia nhân nô đùa Nữ thanh trang điểm thêu thùa Đo chùng yếm lụa, ướm vừa váy hoa Nam thanh khăn áo lượt là
Cổ mang cà vạt, giày da bóng lộn

Cảnh quang thư thả tâm hồn
Vẳng nghe nhạc ngựa lỏng dồn nhịp cương Trên yên toạ một cô nương
Mắt xanh biêng biếc, má hường hây hây Mày thu liễu, tóc phong mây
Bờ môi mòng mọng, cổ tay tròn tròn Chân dài, ức nở, bụng thon
Rõ là mới lớn, rõ con nhà lành
Rõ dòng thế phiệt trâm anh
Thiên kim tiểu nữ quan thanh Tư Đồ Mẹ cha tên đặt Ngọc Hồ
Linh San là chị con cô con bà

Chiều nay dừng bước kiệu hoa
Công đường nàng ghé thăm cha vô tình Gặp Trinh đang thọ nhục hình
Xót thương mới hỏi sự tình đầu đuôi: "Trông chàng khí phách tuyệt vời "Sao ô qui [30] nỡ, ngọc bôi [31] tan tành "Hơi oan thấu tận trời xanh
"Xem ra hải án hà thanh [32] có nào!" Trinh đang huyết lệ tuôn trào
Thấy giai nhân hỏi dựa vào mà rên Người đâu xinh đẹp như tiên
Bao nhiêu đau đớn chốc liền nhẹ không Đưa tay ve vuốt má hồng
Thưa rằng: "Đâu dám nhọc lòng tiểu thư "Oan này cũng chỉ riêng tư
"Ngay gian biết mặt, thực hư rõ ràng
"Khấu đầu một việc nhờ nàng
"Tiểu sinh vốn chẳng quen mang gông xiềng…" Ngọc Hồ ngẫm nghĩ triền miên
Đắn đo phải trái chung riêng một hồi
Phân vân hết đứng lại ngồi
Bên tình bên hiếu biết thôi bên nào
Lát rồi lệ ngọc tuôn trào
Liều mình nàng trộm khoá vào cứu Trinh

Đêm khuya ngục thất lạnh thinh
Trai tài gái sắc rùng mình xốn xang
Trinh rằng: "Đêm đã muộn màng
"Muốn xin kết bạn đồng sàng [33] được chăng?" Nhẹ nhàng nắm lấy tay măng
Ghé môi thơm miệng, thơm răng, thơm hàm Thơm tai, thơm cổ, thơm cam…
Tiệc đào Lưu Nguyễn [34] tham lam bốn lần Ngọc Hồ mụ mị tâm thần
Ngó ra Trinh đã mặc quần từ lâu
Rằng: "Nàng tình nặng ân sâu
"Giao hoan chửa thoả lệ châu la đà
"Gối chăn đâu cũng là nhà
"Mây mưa chốc lát cũng là phu thê
"Chuyến này biền biệt sơn khê
"Xin đừng mong ngóng ngày về làm chi" Nói rồi thơm nhẹ làn mi
Phủi quần xách áo ra đi vội vàng…
*****

Đêm về trên trấn Bình Khang
Đèn hoa rực rỡ, rộn ràng phách sên
Phấn hương thơm toả đôi bên
Này đây hẳn chốn Đào Nguyên [35] tiên bồng Bao nhiêu con gái má hồng
Quần trong khoe lụa, áo trong khoe mầu Môi xanh, môi đỏ, môi nâu [36]
Tóc đen, tóc trắng, tóc sâu… đủ người Bao nhiêu giọng nói câu cười
Tha hồ cho khách làng chơi chọn vàng

Lẻ loi giữa đám cao sang
Có người thiếu nữ lơ làng bước chân Hình dong đượm nét phong trần Tóc tai dơ bẩn, áo quần rách bươm Mặt mày tiều tuỵ thảm thương
Phong ba lộ nét, bụi đường vấy ngang Dừng chân trước một nhà hàng
Đắn đo chốc lát rồi nàng bước lên Nhẹ nhàng ngồi góc bàn bên
Khẽ truyền tửu nhị mang lên ba vò Thái hai cân [37] rưỡi thịt bò
Nửa rán áp chảo, nửa kho xì dầu Lai rai nhậu suốt đêm thâu
Vừa ăn vừa nhỏ lệ châu dầm dề
Canh tư gà giục bốn bề
Gục đầu nàng mới ngủ mê trên bàn Sáng ra quán chủ hỏi han
Men say nàng vẫn miên man rượu nồng Ngực căng, cổ ngấn, vai hồng Xem ra gió nội hương đồng là đây Tham lam quán chủ sắp bày
Thanh lâu nàng bị đưa ngay vào màn

Hỏi ra chính Ngọc Linh San
Cùng Trinh Tùng mới dâm gian ngày nào Khi xưa cơn giận tuôn trào
Ra oai nàng lỡ vội vào báo quan
Nào ngờ da nát thịt tan
Tình nhân thọ nạn hàm oan thấu trời
Khi xưa định doạ mà thôi
Nào ngờ máu chảy lệ rơi hãi hùng
Linh San ân hận vô cùng
Khi không đập miếng đỉnh chung [38] tan tành Máu đào dẫu chảy cũng đành
Màng hoa rách nát còn lành được chăng! Tơ hồng Nguyệt lão khéo dăng
Yêu nhau mỗi ngả mỗi đằng bơ vơ
Lệ tương tư nhỏ hững hờ
Vì tình lạc bước giang hồ tìm Trinh
Khoá son nàng khép cửa mình
Bơ vơ lều quán, mặc tình phấn hương Buồn thay môi đỏ má hường
Đớn đau phận liễu gặp phường lưu manh Đêm qua lạc chốn lầu xanh
Tiền ăn không đủ, nàng đành bán thân

Khách đầu họ Mặc tên Cân
Quê vùng Hà Bắc, vốn dân đào vàng Nàng rằng: "Số kiếp phụ phàng "Tấm thân đành để khách làng chơi hoa "Thiếp không dám lấy tiền boa
"Chỉ mong quân tử mát xoa [39] nhẹ nhàng" Khách rằng: "Khi tối chọn hàng
"Bao người ta chỉ thấy nàng là ưng
"Giờ đây người lạ tình dưng
"Trải vài ba cuộc tưng bừng ái ân
"Chốc mà khăng khít tình thân"
Nói xong khách tự cởi quần thoát y
Đứng lên múa khúc Điêu Ly [40]
Dáng quay nhịp bước tinh vi vô cùng Linh San thoạt cũng hãi hùng
Sau cao hứng – đứng dậy cùng múa đôi Mặc cho nước chảy bèo trôi
Thân trần lấm bụi tắm rồi lại trong
Khi dìu dặt, lúc thong dong
Khi ngoáy mông hạc, lúc cong lưng ngà Giương vòi ong hút nhuỵ hoa
Cả đêm mật ngọt trào ra ba lần

*****

Trinh Tùng từ bữa thoát thân
Giang hồ lưu lạc bước chân điêu tàn Bao ngày cỏ đệm sương màn
Bao ngày không được truy hoan lần nào Bao ngày đói khát cồn cào
Tủi thân ngẫm nghĩ lệ trào bờ mi Đường dài lầm lũi chân đi
Một chiều lạc bước dừng chi bên đàng Non tây chợt thấy cửa hang
Bên trong thấp thoáng một nàng áo xanh Trinh mừng, hỏi chuyện loanh quanh Ngâm thơ gạ gẫm yến oanh giải sầu Rằng: "Đời bãi bể nương dâu
"Bất công giả dối biết đâu mà lường "Chỉ còn chăn gối yêu thương
"Xin nàng qua hết đêm trường cùng ta" Nàng cười: "Rõ thật đào hoa
"Đang tâm ân ái bà già này chăng "Sức trai dù khoẻ dù hăng
"So ra kinh nghiệm chẳng bằng ta đâu" Nói xong e lệ ngẩng đầu
Trời ơi, nhăn nhúm tóc câu da mồi! Trinh run rẩy bước giật lùi
Trượt chân ngã ngửa dưới đùi lão nhân Kêu rằng: "Cao thấp chưa phân
"Nhưng xem tuổi tác có phần so le "Dẫu là giao bái [41] phu thê
"Vẫn cần hợp tuổi, hợp quê, hợp tình "Tiểu nhân vốn kẻ hậu sinh
"Dám xin tiền bối rộng tình xót thương" Cười rằng: "Anh rõ vô lương
"Hỏi xem ai gạ lên giường trước ai "Đã yêu đừng kể gái trai
"Đừng so tuổi tác, đừng nài non tơ" Trinh nghe chợt tỉnh cơn mơ
Dục tình đạo lý bấy giờ mới thông Hai người ân ái thong dong
Tình dù đầu bạc răng long vẫn tình…

Bâng khuâng cơn mộng ba sinh Sáng ra Trinh bỗng giật mình nhìn quanh Tênh hênh giữa bãi cỏ xanh
Nào đâu động ngọc, lão tình nào đâu Một dòng suối chảy khe cầu
Một làn sương tựa khói sầu nhẹ vương Cảnh như ly khúc Tiêu Tương [42]
Tình như chinh phụ đêm trường ngóng ai… Chợt nghe cộm dưới quần dài
Móc ra pho sách cùng hai túi vàng
Một tờ thư gấp gọn gàng
Nét thần tiên thảo mấy hàng buông lơi Viết rằng: "Chót lưỡi đầu môi
"Yêu như nước chảy sông trôi mới là "Dục tình tràn khắp thiên hà
"Âm dương tụ lại, tuyết hoa dồn vào "Yêu nhau trinh bạch thanh cao
"Yêu nhau như thể khát khao sinh tồn "Yêu nhau bằng cả tâm hồn
"Yêu nhau bằng mắt, bằng lưng, bằng tay "Yêu cho mặn ngọt chua cay
"Yêu cho sóng cuộn, trời đầy bão giông "Yêu dài xuân hạ thu đông
"Người hơn cầm thú, yêu không có mùa [43] "Yêu nhau lăn lóc mây mưa
"Yêu nhau, to mấy cũng vừa cũng xinh… "Khá khen trẻ đã có kinh
"nghiệm yêu đương với làm tình giỏi ghê "Đêm qua tỏ mấy ngón nghề
"Quả là sức đỉa máu dê hơn người
"Bạc vàng, bí kíp tặng rồi
"Công danh sự nghiệp một buổi mà nên" Trinh mừng, lạy địa vái thiên
Rằng xin ráng sức cơ duyên đạo tình Sách kia nhìn lại nguyên hình
Tiêu đề ghi rõ: "Dục tình cẩm nang" Càng xem càng thấy xốn xang
Càng xem càng hiểu, đạo càng tinh thông Bẩy mươi hai thế phượng rồng
Suy tư từng chữ thuộc lòng từng chương Đoạn bày bôi phấn thoa hương
Đoạn bàn thảo dược cường dương bổ tỳ Đoạn lưu ý cách đứng đi
Cách xoa, cách vuốt, cách di, cách sờ Cách đàn há! t, cách ngâm thơ
Cách làm nũng nịu, cách vờ vấn vương Hiểu thêm bao cách phấn hương
Biết thêm bao kiểu âm dương giao hoà Ngày ngày ngẫm nghĩ gần xa
Đêm đêm rèn luyện tay hoa cho rành Ba năm thấm thoắt trôi nhanh
Dục công cái thế chàng đành hạ sơn Từ khi chép vượt Vũ môn [44]
Tiếng lành truyền rộng, tin đồn lan xa

*****

Xuân về đào lại nở hoa
Con gái môi thắm nước da mịn màng Tình yêu căng nhựa tuôn tràn
Hồn si run rẩy cung đàn chơi vơi Chiều xuân mưa bụi rơi rơi
Ngọc Hồ bất chợt thấy đời buồn tênh Từ ngày thất tiết cứu Trinh
Giao hoan chưa thoả nhân tình đã xa Nhớ người lệ nhỏ, châu sa.
Vì tình mắc tội, mẹ cha mắng rày Ngẫm đời toàn những đắng cay
Liều thân cũng định ra tay đôi lần Ngặt vì còn đủ song thân
Ngặt vì chữ hiếu ngàn cân chưa tròn Ngặt vì tuổi hãy còn son
Lòng còn hừng hực, tình còn muốn yêu Những khi gió sớm mưa chiều
Một lần thoả ước nguyện nhiều lần thêm Những khi chăn ấm đệm êm
Nõn nà trằn trọc canh đêm trải dài Những khi xem ảnh nghe đài
Khoả thân nàng lại vật nài nhớ Trinh Đời vui sướng nhất chữ tình
Buồn đau nhất cũng chỉ mình chữ yêu

Một hôm thả gót phiêu diêu
Trên bờ đê ngắm cánh diều chơi vơi Ngọc Hồ bỗng thấy một người
Mắt đưa lúng liếng, miệng cười làm thân Tự xưng họ Mặc tên Cân
Muốn cùng giao hợp một lần cho quen Rằng: "Đừng câu nệ nhỏ nhen
"Xin nàng mở khoá rút then cho rồi "Chân đê chiều tối không người
"Cỏ xanh làm gối gió trời làm chăn "Chung Lăng chén tiễn [45] mấy lần "Gối chăn phút chốc thành thân vô cùng" Ngọc Hồ nổi giận đùng đùng
Định dang tay tát vỡ tung mặt dầy
Nào ngờ khách quá nhanh tay
Luồn mình cúi xuống tóm ngay tuyết đào Một tay khách giữ đôi phao
Tay kia luồn dưới yếm đào thoả thuê
Nàng như hoa đẹp chân quê
Gặp phường ong bướm đê mê rụng rời Nhìn Cân ngọc diện sáng ngời
Thôi đành lòng thử buông lơi cầm chừng Hơi thở gấp, mặt đỏ bừng
Mắt huyền nhắm chặt lệ rưng đôi hàng Môi hơi hé mở dịu dàng
Rung rung bồng đảo mang mang hạ đài Cân chưa kịp cởi quần dài
Chợt nghe tiếng quát bên tai ầm ầm:
"Khéo sao chọn chỗ gian dâm
"Ngang nhiên trai gái trao thân giữa đường!" Ngọc Hồ tái xám má hường
Chuyện đà lộ tẩy còn chường mặt ai
Vết nhơ trước một nay hai
Liều thân thác xuống Tuyền Đài [46] cho xong Nghĩ rồi nhảy vọt xuống sông
Nước đen [47] lờ lững một dòng buồn tênh Cân còn nằm ngửa tênh hênh
Đã nghe tiếng sóng dập dềnh xa xa
Xót thương lệ tự chảy ra
Mối ân tình ấy thôi đà kiếp sau
Quan Tư Đồ quá đớn đau
Chưa lời sinh biệt đã câu tử lìa
Vừa thương con gái tái tê
Vừa sai lùng bắt Cân về tống giam…

Trên đời lắm chuyện trái ngang
Ngọc Hồ trôi đến Bình Khang thì dừng Một bà lão sống ven rừng
Thấy nàng còn sống vui mừng khôn nguôi Thân già một bóng đơn côi
Từ nay có đứa con nuôi, đỡ buồn.

*****

Trường giang sóng vỗ dập dồn
Dân chài tay kéo lưới dồn cá xa
Chợ chiều họp bến Hoàng Hoa [48] Bán mua tấp nập kẻ ra người vào
Một thanh niên rõ to cao
Thịt săn cuộn chắc, lông mao rậm dày Phùng môi, trợn mắt, dang tay
ầm ầm thét lác giữa ngay chợ chiều Một nàng con gái mỹ miều
Yếm đào xộc xệch váy điều so le
Khuôn mai đầy vẻ tái tê
Thân ngà run rẩy, mặt nghê bơ phờ Trinh đang dạo bước thẩn thơ
Giữa đường gặp chuyện ngẩn ngơ bật cười Rằng: "Trông cơ bắp tuyệt vời
Mà sao bụng dạ hẹp hòi tiểu nhân" Thanh niên tức giận vô ngần
Sẵn đao giắt ở cặp quần, rút ra
Trinh cười: "Sống chết chẳng qua
"Sống là mộng ảo, chết là gió bay
"Đời người ngắn một gang tay
"Sống sao cho khỏi dứt day tâm hồn "Việc gì cả giận mất khôn
"Nam nhi ai lại đánh lộn nữ nhi…" Thanh niên biến sắc tức thì
Vội co đôi cật [49], vội quì đôi chân Dập đầu: "Khẩu khí cao nhân
"Đem so giọng lưỡi phàm trần khác xa "Đệ con nhà đại phú gia
"Tuổi là hăm bốn, hiệu là Thẩm Du "Say sưa phim ảnh dâm thư
"Thanh lâu, kỹ viện thân như người nhà "Trời sinh vốn khiếu giăng hoa
"Lại cho của ấy gấp ba người thường "Đêm ngày thưởng nguyệt đùa sương "ăn chơi có tiếng nhất phường Đồng Xuân "Bữa nay tương kiến cao nhân
"Mới hay danh tiếng xa gần gió mây "Đệ xin bái lạy làm thầy
"Xin theo học đạo, tối ngày có nhau" Trinh rằng: "Dầu trước dầu sau
"Cũng từ mang nặng đẻ đau mà thành "Cũng rồi một nắm cỏ xanh
"Đệ đừng câu nệ chức danh làm gì" Du rằng: "D�! � đã tạc ghi
"Bấy lâu hư hỏng cũng vì vô duyên "Tơ thừa xin chút chân truyền
"Gối chăn sành điệu, thần tiên khác nào" Trinh rằng: "Dục học thâm cao,
"Cho ra tình nặng, nhận vào ân sâu "Kim đâm vào thịt thì đau
"Thịt đâm vào thịt nhớ nhau suốt đời "Anh hùng dũng mãnh tuyệt vời
"Cũng là nhỏ bé trong môi nhân tình "Thiên tài trác tuyệt thông minh
"Cũng là ngờ nghệch bên mình mỹ nhân…" Thầy trò ý hợp tình thân
Say sưa đàm đạo đến gần nửa đêm

*****

Heo may nhuộm lá vàng thêm
Lìa cành gió thổi xuống thềm thanh lâu Bình Khang quen lối vó câu
Dập dìu công tử giải sầu ca nhi
Bao năm chôn gói xuân thì
Một đêm biết mấy người đi kẻ về Ngỡ ngàng gió nội hương quê
Tao nhân đâu dám ngẫm về tà dâm Chị em kỹ nữ đồng tâm
Ngón nghề thi hoạ sắt cầm đều hay

Chiều thu gió mát hây hây
Linh San tiếp khách gốc cây Đinh hoàng Khách rằng: "Trước lúc đồng sàng
"Xin cho nghe một bản đàn Nam Quân [50]" Linh San chậm rãi khoả thân
Ôm đàn gẩy khúc Vũ Tần Phong Hoa [51] Tiếng vui rạo rực gần xa
Tiếng buồn li biệt Bá Nha, Tử Kỳ [52] Tiếng nghẹn ngào buổi phân ly
Tiếng hoan lạc phút vu qui kéo dài
Tiếng cao réo rắt tai ngoài
Tiếng trầm u uẩn ngân dài tai trong Ngực căng ép hộp đàn cong
Nhũ hoa nén lại núm hồng rung rung Tay măng khéo léo lạ lùng
Ngón dài khoan nhặt từng cung phím hờ Khách nghe lòng những ngẩn ngơ
Ngẫm rằng: "Bốn khúc bao giờ gẩy xong?" Tình càng chờ đợi càng mong
Càng khêu gợi những đường cong mỹ miều Mặc lòng, nhạc vẫn phiêu diêu
Mà trăng dần sáng, bóng chiều dần tan Tay thon vẫn mải mê đàn
Nàng như quên cuộc truy hoan sắp rồi Khách bèn vừa đứng vừa ngồi
Vừa nghe, vừa ngắm, vừa cười, vừa rên Bao nhiêu đau đớn ưu phiền
Theo dòng nhạc khúc chảy liền ra sân Trên làn da mịn trắng ngần
Có hơi lưu thuỷ phù vân đôi dòng…

Canh ba nàng gẩy đàn xong
Vườn khuya bóng lẻ tiếng thông rì rào Tìm quanh khách thấy đâu nào Tiền boa đã kẹp sẵn vào sách thơ

*****

Một ngày quán chủ bước vô
Rằng: "Đây tân nữ Ngọc Hồ mới qua "Nhờ chị em giúp gần xa
"Ngón nghề truyền hết mới là tri âm…" Một nàng áo vải quần thâm
Sắc xuân mơn mởn ngang tầm Linh San Mắt nai hoen lệ chứa chan
Hình dong thây lẩy, dung nhan bơ phờ Linh San nhác thấy Ngọc Hồ
Chị em run rẩy ôm vồ lấy nhau
Nửa mừng rỡ, nửa tủi đau
Trớ trêu Hợp Phố tụ châu [53] chốn này Ngọc Hồ rơi lệ giãi bày
Căn nguyên câu chuyện từ ngày cứu Trinh: "Liều thân tự tử một mình
"Rồi bà lão vớt nên tình mẹ con
"Thương yêu bền nghĩa keo sơn
"Ruột già thân thiết còn hơn người nhà "Bốn mùa thấm thoắt trôi qua
"Lên cơn hen cấp lão bà ra đi
"Vay tiền trả nghĩa tử ly
"Lo tròn đạo hiếu nàng đi bán mình…" Linh San thổn thức tâm tình
Chọn lời an ủi linh tinh một hồi
Rằng: "Em tới chốn đây rồi
"Bẽ bàng cứ gạt lệ cười là xong"

Thời gian cách mặt xa lòng
Ngọc Hồ quen chuyện bướm ong đi về Dục tình nàng vốn đam mê
Dẫu là tủi hận chẳng hề oán than Khách chơi thù tiếp nhẹ nhàng
Nghề chơi tỏ được muôn vàn lối hay Cuộc chơi giữ trọn đắm say
Khách về lưu luyến vơi đầy phòng loan Sông dài trôi nổi thuyền lan
Buồn vui gửi lại tiếng đàn câu thơ

*****

Từ khi trốn lệnh Tư Đồ
Mặc Cân chìm nổi giang hồ lênh đênh Chông gai dặm bước gập ghềnh
Nhiều hôm trăn trở buồn tênh khóc thầm Thân trai cường tráng đa dâm
Mộng tình bí bách sầu câm nghẹn lời Tay trơn bụng đói rã rời
Đói tình còn khổ bằng mười đói ăn

Một đêm đương lúc sáng trăng
ánh vàng nhuộm cỏ sương giăng mịt mùng Cân đang não dạ não lòng
Sầu thơ muốn phát từ trong ra ngoài Lều tranh cửa đóng then cài
Đột nhiên thơm nức hương nhài lâng lâng Một nàng thiếu nữ khoả thân
Nõn nà như ngọc trắng ngần như hoa Mịn màng tươi mát thịt da
Đùi thon mỹ lệ nhũ hoa điểm hồng Chỉ hiềm thấp thoáng sau mông
Hình như có một chùm lông rất dài Quả nhiên đuôi mọc ra ngoài
Thoạt trông đã biết là loài hiếu dâm Mặc Cân chưa kịp định tâm
Đã nghe hồ nữ thì thầm bên tai
"Đêm nay một gái một trai
"Xin chàng hãy thử ra oai xem nào" Cân nghe xúc động dạt dào
Hồ ly thì có khác nào gái tơ
Ngẫm rồi hắng giọng đọc thơ
Vừa tuôn ý ngọc, vừa sờ thoả thuê
Hồ ly thích chí đê mê
Miệng cười lơi lả, thạch kê [54] ngoáy tròn Điêu Ly vũ điệu mê hồn
Cân cùng hồ nữ lưng dồn tay đưa
Sải chân theo nhịp mây mưa
Vừa xoay vừa cởi áo thừa quần trong Ngoài vườn mưa nhỏ long tong
Trong nhà tình thuỷ đôi dòng chảy ngang…

Canh tư gà bỗng gáy vang
Hồ ly thỏ thẻ oanh vàng bên tai:
"Tuy rằng vừa lớn vừa dài
"Vừa to cơ bắp, vừa tài Điêu Ly
"Nhưng xem ra chốn Bạch mi
"Một mình thoả nguyện còn gì gối chăn "Chàng nên học đạo vài năm
"Bữa mai là đúng ngày rằm tháng ba "Đợi khi nắng khuất bóng tà
"Trinh Tùng chàng nhớ chạy ra nhận thầy…" Dứt lời nàng vội biến ngay
Lông đuôi vừa rụng bám đầy chăn hoa

***** Trinh Tùng nhân tiết tháng Ba
Cùng Thẩm Du dạo bước qua ngõ Đào Xảy đâu thấy một anh hào
Mặt mày tuấn tú chân cao lưng dài Thấy Trinh bước đến vái dài
Rồi rung đùi nhẩy múa bài Điêu Ly Miệng cao giọng khúc Xuân Qui [55] Tiếng ca xuất quỉ, dáng đi nhập thần Trinh Tùng không chút ngại ngần
Quần đùi áo lót dần dần cởi ra
Nhún chân theo nhịp năm ba
Quay cuồng vũ điệu Tố Nga đồng sàng Chàng kia đứng lặng bàng hoàng
Thẹn thùng nước mắt đôi hàng long lanh Rằng: "Bấy lâu chỉ nghe danh
"Đâu ngờ tài lực tinh anh vô ngần "Tiểu nhân họ Mặc tên Cân
"Lòng thành năm tấc xin dâng theo hầu "Dặm trường tiếp nối vó câu
"Quyết không quản ngại rừng sâu núi dài" Trinh cười: "Đệ nói chẳng sai
"Mỗi người chỉ thạo một vài tuyệt chiêu "Sức mòn tài lẻ phiêu diêu
"Một thân lập nghiệp xem chiều hơi khoai "Sao bằng sát cánh kề vai
"Thầy trò dồn sức chí trai tung hoành "Hữu duyên tương ngộ đã đành
"Vô duyên thiên lý cũng thành tri âm" Thẩm Du nắm chặt tay Cân
Rằng: "Gặp nhau mới một lần đã yêu "Đồng môn, đồng giới, đồng liêu
"Từ đây huynh đệ sắt tiêu [56] đồng lòng" Mặc Cân xúc động vô cùng
Đầm đìa nước mắt đôi dòng chảy xuôi Thề rằng: "Ghi nhớ khôn nguôi
"Thân này xin gắng một buổi báo ân"

Từ khi có được Mặc Cân
Trinh Tùng như hổ thêm chân thêm đầu Như rồng thêm cánh thêm râu
Oai phong giữa chốn thanh lâu nhà hàng Sáng ôn lý thuyết đàng hoàng
Chiều chiều lại tới Bình Khang thực hành.

*****

Một lần gió mát trăng thanh
Thầy trò ba kẻ xuất hành chơi đêm Tiếng ve rên rỉ buồn thêm
Sương sa đọng những hạt mềm trong veo Người đi bóng đổ trăng theo
Cây buồn xao lá suối reo rì rào
Hoa đêm hương toả ngạt ngào
Ngỡ như hương phấn má đào tiên nga

Bỗng nghe tiếng hát từ xa
Nửa như tiếng thở, nửa là tiếng rên Từng cơn ai oán ưu phiền
Ai nghe cũng phải bật lên khóc thầm Thầy trò kinh ngạc dừng chân:
Dưới trăng trắng nõn khoả thân hai nàng Cân, Du định tới liên sàng
Trinh cười ngăn lại: "Vội vàng mà chi "Rõ là uẩn khúc điều gì
"Xem ra oan khuất xuân thì cả đôi" Nói rồi hắng giọng liếm môi
"Hai nàng cho hỏi đôi lời được chăng?" Giật mình ôm kín ngực măng
Hai nàng kinh hãi bàng hoàng ngoái trông Thẹn thùng khép nép đôi mông
Đột nhiên chết lặng. Thật không ai ngờ! Ba thầy trò cũng sững sờ…
Dưới trăng tỉ muội Ngọc Hồ, Linh San!

Trinh Tùng lệ nhỏ chứa chan
Lại gần ghì xiết hai nàng vào tay
Nụ hôn kèm cả đắng cay
Cả thương xót lẫn vơi đầy nhớ nhung Phút đoàn viên thật lạ lùng
Hai nàng cảm động rưng rưng nghẹn ngào Nước đâu từng đợt tuôn trào
Hương tình ngát toả dạt dào từng cơn Trinh rằng: "Ta vẫn nghe đồn
"Hai nàng bày bán thịt lợn đâu đây "Nhớ tình chăn gối mưa mây
"Vào Bình Khang hỏi mấy ngày chẳng ra "Tưởng rằng bướm đã bay xa
"Trách mình phận bạc, ngẫm mà vô duyên "Nay Lưu Nguyễn lại gặp tiên
"Thật là thoả những ước nguyền bấy lâu" Hai nàng thổn thức lệ châu
Nhắc từng chuyện cũ buồn đau thế nào: "Kiếp hồng nhan, phận má đào
"Lỡ chân cùng lạc bước vào Bình Khang "Ngỡ đường hoan lộ thênh thang
"Đâu hay sỏi ngọc, thau vàng mông lung "Phường khinh bạc lắm như sung "Chính nhân quân tử muốn lùng chẳng ra "Bàn đi tính lại đêm qua
"Chị em quyết bỏ trốn xa vũng lầy "Thoát rồi thoả chí gió mây
"Xé tan y phục mừng ngày thái lai "Ông trời có mắt chẳng sai
"Nay duyên kỳ ngộ, đây bài hoàn lương "Từ rày đắm đuối yêu thương
"Thuỷ chung dù có phong sương dãi dầu"

Mặc Cân bước tới cúi đầu
Cố nhân tình cũ nhận nhau một hồi Rằng: "truân chuyên đã qua rồi
"Từ nay loan phượng kề môi ấp lòng "Từ nay chắp mối tơ hồng
"Nối tình dang dở bến sông hôm nào…"

Thẩm Du e thẹn định chào
Nhưng vì thương cảm nghẹn ngào lệ rơi Hồi lâu không thốt nên lời
Miệng hoa nở một nụ cười ngô nghê Tay cầm vạt áo vân vê
Lát rồi cất giọng tái tê ôn tồn
"Vẫn nghe danh nổi như cồn
"Bữa nay mới được thấy mặt giai nhân "Quả là quyến rũ vô ngần
"Mịn hơn hoa hậu, tiểu nhân xin thề…" Lời yêu trao đổi chán chê
Lệ thương nhỏ ướt dầm dề cỏ xanh Trinh rằng: "Tình cũ chân thành
"Hãy cùng ca khúc đồng thanh liên sàng" Năm người phấn khởi hân hoan
Yêu nhau dưới ánh trăng vàng lung linh Năm thân chung một thể hình
Năm hồn hoà một khối tình bao la Tay chân lẫn lộn thịt da
Này là lá thắm, này là cỏ non
Này là ngõ hẻm cuối thôn
Này là đại thụ dập dồn phong ba
Này là nhũ ngọc tuyết hoa
Này là suối ngọt chảy ra từng dòng…

Cuộc yêu kéo đến rạng đông
Yến oanh rũ cánh tỉa lông một hồi Tình còn vương vấn đầu môi
Dục còn khắc khoải đầy vơi trong lòng Năm người xuống tắm suối trong Rồi lên nằm giữa cánh đồng nghỉ ngơi Trên cây chim hót vang trời
Cỏ hoa rực nắng, mây trôi lững lờ Mấy nhành liễu rủ lơ thơ
Bướm vàng xao lượn như mơ, dập dồn…

Thay lời kết

Thật ra tác phẩm chưa dừng ở đây – cảnh đoàn viên của năm nhân vật chính, mà còn có đoạn kết với chừng hai, ba trăm câu thơ, lời lẽ uyển chuyển sâu sắc, ý tứ khiêm nhã diệu ảo. Hiềm nỗi lúc ông chú đẻ ngâm đoạn này cũng là lúc bản ngã cùng giai nhân cao hứng giật mình, nên đột nhiên thi mạch trở nên hỗn độn mơ hồ không thể nắm bắt được.

Sau này trong nhiều đêm đông giá lạnh, mưa phùn rả rích, bản ngã ân hận nghẹn ngào vì sự giật mình không đúng lúc, thắp bạch lạp ngồi vắt óc gắng nhớ lại từng lời vàng ý ngọc. Than ôi thẩy đều là vô ích. Vài lần bản ngã chèo thuyền ngược dòng Canh La về thượng nguồn, mong tìm lại được dấu tích cố nhân. Hỡi ôi bóng người xưa như hạc nội mây ngàn, phiêu diêu biết nơi nao mà tìm.

Cũng đôi lần bản ngã liều thân bắt chước lối hành văn, vận dụng tính logic của mạch truyện mà cố bịa ra một đoạn kết cho hoàn chỉnh, kiểu như thế này:

"Để cho nhân loại trường tồn
Ông xanh kia ghép thịt hồn với nhau Thế rồi mãi mãi về sau
Gái trai liên tục sướng – đau vì tình…"

Hoặc như:

"Yêu nhau muôn sự ở hồn
Yêu nhau chẳng kể là khôn hay dài (dại) Yêu nhau chẳng kể ngày mai
Trời sinh hồn – xác miệt mài yêu nhau…"

Nhưng đều cảm thấy chúng dớ dẩn, quê mùa, kệch cỡm và trống rỗng, nếu ghép vào hẳn sẽ xúc phạm đến giá trị của nguyên tác lắm lắm. Thật giống như khi ca sĩ nửa mùa HK định viết thêm chương cuối cho bản "Giao hưởng hành khất" của Phrystomum, điêu khắc gia nghiệp dư TS muốn tái tạo lại bắp chân cho tượng thần Ethasiar ở Lantica, hay đơn giản hơn, giống như ông QS đòi bỏ hành đập trứng vào bát phở chay – món đặc sản gia truyền của nhà họ Bàn này vậy.
Vì thế mà bản ngã trước xin độc giả lượng thứ cho sự thiếu sót, sau đành nhớ đến đâu ghi lại đến đó, chỉ dám chú giải thêm dăm ba câu ngờ nghệch, chứ tuyệt nhiên không dám sửa vào nguyên tác dù là một chữ. Còn đoạn kết quyết để ngỏ đó, ngõ hầu dành cho độc giả, mỗi người đều có một nhãn quan về chuyện phòng the, tự suy ngẫm mà phán đoán cho riêng mình một kết cục.

Ngoài ra, nếu ai đó may mắn tình cờ bắt gặp một căn nhà sàn giữa chốn thâm sơn cùng cốc nơi thượng nguồn sông Canh La, bên trong có ông chú đẻ đang cao giọng ngâm thơ cùng một nàng con gái xinh đẹp mình vận độc chiếc áo pun trắng ngắn tay màu cam, thì xin làm ơn chuyển hộ bản ngã lời chào trân trọng tới ông chú đẻ và nụ hôn cho giai nhân, và đặc biệt đừng quên photocopy hay chép lại giùm đoạn kết để bổ khuyết cho tác phẩm vốn dĩ đã rất hoàn thiện này.

Bàn Tải Cân

Tiểu Linh Trùng

Xứ Mường có loài trùng lạ, dài độ ba thốn, sắc đen pha tím, lưỡi hồng rất độc, gọi là Tiểu Linh Trùng. Thường ai đã bị loài trùng này cắn thì về nhà ôm cây mà cười sặc sụa, nhẹ thì thân tàn ma dại, dở dở ương ương, nặng thì cứ cười cho đến chết.

Một lần Thiên Hương – cô con gái một của trưởng bản vào rừng hái hoa về đun nước tắm bị dính trùng, về nhà cứ lấy hai tay tự cù vào nách mà cười rinh rích. Trưởng bản A Lủi lo lắm, cho mời chân tay đến thảo bàn, có kẻ hiến kế rằng: "Bản Mù Sẹo có lão lang Hai Vé chữa được loại trùng này. Y thuật của lão này đã đến độ xuất quỷ nhập thần, nhưng tối thiểu phải trả đủ hai vé". A Lủi đáp: "Mười vé còn không tiếc, tiếc chi hai vé". Hôm sau tức tốc cho tay chân thân tín là Phì Lù cưỡi ngựa ôm Thiên Hương sang bản Mù Sẹo.

Phì Lù từ bé mồ côi cha mẹ, sống trong một hốc cây Chằn ba người ôm. Tính tình thích lang thang mà lười đồng áng nên quanh năm đói rét, sau nhờ bày mưu cho A Lủi đoạt được chức Trưởng bản mà được tin dùng. Phì Lù yêu con gái A Lủi, thường hay lân la nịnh bợ để được lòng Thiên Hương, có điều Thiên Hương đã có dạ yêu thương Bàn Tải Chân nên không để ý đến hắn.
Bàn Tải Chân là chú họ con bà chị dâu của Bàn Tải Cân, nhân sĩ đương thời. Tính tình bặt thiệp lại không cố chấp, giao du rộng. Mỗi khi tụ họp bạn bè thường dùng sọ dừa uống rượu. Sai gia nhân kiểm soát, mỗi người uống chưa hết 3 sọ dừa thì chưa cho đi toilet, chưa hết 7 sọ dừa thì chưa cho về nhà ngủ. Vì vậy mà quần hùng càng hứng thú mà kính trọng Chân lắm lắm. Chân thường ngồi phản giữa, một tay ôm sọ dừa, một tay ôm Thiên Hương, một tay gẩy đàn Pươu, miệng nghêu ngao hát khúc Ly Hương. Bè đảng ngồi xung quanh hưởng ứng, kẻ đánh nhịp gõ phách, kẻ bi bô hát theo thật là náo nhiệt. Có điều Chân không trọng A Lủi, thường nói với thuộc hạ rằng: “A Lủi là người quân tử, trọng nghĩa khinh tài, không đáng phục”. Có kẻ tâu lại với A Lủi nên A Lủi không ưa Chân lắm.

Hôm ấy Chân nghe tin Thiên Hương trúng độc vội chạy đến thì Phì Lù đã đem Thiên Hương đi rồi. Chân giận quá vội nhảy lên ngựa đuổi theo. Phì Lù nghe tiếng vó ngựa ba chẵn một lẻ biết là con ngựa thọt của Chân bèn vội ãm Thiên Hương tạt vào một hang động gần đó để trốn. Lát sau nảy tà ý rình lúc Thiên Hương đưa tay lên nách cù bèn ghé môi hôn khắp nơi. Thiên Hương tuy mắc bạo bệnh nhưng tinh thần vẫn tỉnh táo, giận quá định chống cự lại thì than ôi hai tay đều đang mắc bận, đành mặc cho Phì Lù giở trò mây mưa. Phì Lù hành sự xong lấy làm ân hận, lại sợ Thiên Hương về mách A Lủi nên cực chẳng đã phải rút dao đâm chết nàng để phi tang, định sau sẽ đổ cho Chân để phủi tội. Có điều khi rút dao ra chẳng thấy máu đâu, chỉ thấy một đống trùng nhung nhúc bò ra đầy cả hang, trong chốc lát đã lẩn hết vào trong khe đất kẽ lá. Phì Lù hoang mang tột độ, lẩn ra khỏi hang động. Hồi lâu trấn tĩnh lại, bèn dùng tay sửa mặt mũi cho thật bi thương rồi lên ngựa phóng về nhà A Lủi.

*****

Chân lần theo dấu chân con ngựa Phì Lù, thấy có vết chạy thẳng vào hang động. Khi vào thì phát hiện Thiên Hương nằm sấp trên đá, sờ thấy mạch không còn nhưng hơi thở vẫn điều hoà sung mãn, huyết áp bình thường. Chân nâng nàng dậy thấy nhẹ như bông xốp, bèn vội bế lên ngựa nhằm thẳng hướng bản Mù Sẹo mà tiến, tới nơi thì trời đã tối, kịp ghé vào nhà Hai Vé.

Hai Vé người dong dỏng cao, cởi trần đóng khố Co-Tu. Vải Co-Tu là đặc sản xứ Mường, làm từ tơ của một loài nhện độc trên núi, rất quí. Mùa đông mặc thì mát mẻ, mùa hè mặc lại ấm áp. Chân và Hai Vé ngày xưa cũng là chỗ tâm giao, nay thấy Chân tới Hai Vé một mặt vội quát gia nhân bày rượu khoản đãi, mặt khác sai đưa Thiên Hương vào bệnh thất khám nghiệm kỹ càng. Vé nói: "Thiên Hương trúng Tiểu Linh Trùng, không chữa không khỏi, chữa cũng không khỏi. Nhưng vì là ái nương nên sẽ xin cố sức. Có điều nếu không thành công thì xin lệnh huynh gắng tự bảo trọng".

Chân cảm động, hứa sẽ hậu tạ. Hai Vé sai người lấy lóng tre đực, hơ lửa cho đỏ, lại sai lật ngửa Thiên Hương bôi lên người một ít thuốc mỡ màu lam, dùng lóng tre đâm nhẹ vào các huyệt Đan điền, Mê thương, Cẩn vũ, Kinh trạch, rồi đâm mạnh vào Truỷ khốc là huyệt rất hiểm, cách rốn hai thốn. Thấy Thiên Hương giẫy giẫy một hồi, lát sau mỉm cười nham hiểm rồi nằm im bất động. Hai Vé biến sắc mặt, nói nhỏ vừa đủ cho Chân nghe: "Tiểu Linh Trùng trong người ái nương đã thành tinh rồi". Chân vốn đa nghi, chạy lại chỗ Thiên Hương nằm thì thấy nàng hơi thở điều hoà, thần sắc tươi tốt, lay gọi thì mở một mắt ngồi dậy xem ra có vẻ tỉnh táo lắm. Hai Vé hết sức can ngăn, nhưng Chân không tin vào chuyện yêu tinh ma quỉ, một mực đòi đưa Thiên Hương lên ngựa về nhà. Hai Vé đành lắc đầu thở dài mà chấp thuận.

Con ngựa của Chân là giống rất hiếm, bờm đỏ như máu, bốn vó như tơ, ngày đi trên chục dặm không nghỉ. Hồi xưa có lần Chân ẩu đả tranh gái, bị thanh niên bản bên đuổi rất kíp, may nhờ có con ngựa chạy nhanh nên thoát được. Về sau lội qua suối, con ngựa của Chân vô ý dẫm phải đuôi cá sấu nên bị đớp què một chân. Chân thương lắm ra công chữa chạy chăm sóc nên chân gẫy cũng dần dần bình phục, chỉ có điều hơi thọt. Có người khuyên Chân nên đổi con ngựa khác, Chân đáp: “Người ta hai chân còn chạy được, nay ngựa có ba chân rưỡi thì còn lo gì”. Đại khái tình cảm của Chân đối với súc vật là như vậy.

Chân ôm Thiên Hương phi một mạch dưới ánh trăng. Trời đêm lạnh, sương dâng đầy. Được một đoạn thì con ngựa của Chân bỗng nhiên đứng khựng lại, toàn thân run rẩy. Chân lấy làm lạ vì những lần đi săn hổ chưa bao giờ con vật tỏ ra sợ hãi. Đúng lúc đó lại thấy Thiên Hương oằn mình, dang hai tay ôm thít lấy người Chân. Chân bị ôm chặt quá không thở được, định giằng ra nhưng không đủ sức, cầm cự được một lát thì lịm dần…

*****

Lại nói Phì Lù ra tay hạ độc xong lên ngựa chạy về nhà A Lủi. A Lủi hỏi han đầu đuôi, Lù chỉ lăn lộn dưới đất khóc lóc thảm thiết. Lát sau gạn hỏi mãi mới thều thào đáp: "Chân vì ghen tức nên đâm chết Thiên Hương rồi".

A Lủi nghe xong thương xót quá, vội chạy ra vườn rau sau nhà ngửa mặt lên trời khóc một chập. Độ chừng tàn nén hương thì nguôi ngoai phần nào, hét Phì Lù dẫn binh mã tìm bắt Chân. Trong đám quân A Lủi có kẻ từng chịu ơn sâu của Chân, một mực không tin Chân làm chuyện đồi bại, nhưng đã có nhân chứng rành rành không cãi hộ được. Người này tên Lừ A Tang, trước cùng du học với Chân ở Paris. Bản tính hào hiệp nhưng không ưa đèn sách, lại sợ tuyết. Cứ nhìn thấy tuyết rơi là nước miếng chảy ròng ròng. Vì thế mà suốt mùa đông Paris chỉ nằm nhà đắp chăn chứ không bao giờ chịu lên giảng đường nghe bài. A Tang lên lớp đều là do Chân đến kỳ thi lại làm bài hộ cả.

Đám nhân mã theo hướng bản Mù Sẹo mà tiến, lúc đó chừng canh ba, trời vẫn mờ sương khói. Đi được một lát có kẻ phát hiện thấy vết chân con ngựa thọt, cả bọn bèn tìm quanh thì thấy Chân nằm đang bất tỉnh bên bờ suối. Phì Lù định hạ lệnh giết Chân ngay nhưng A Tang một mực can ngăn, nói là phải đưa về để A Lủi phân xử. Lù uất ức nhưng cố nhịn.

A Lủi là trưởng bản nên việc gì cũng phải xử theo luật định. Lúc tỉnh lại hỏi tung tích Thiên Hương thì Chân không trả lời được, nhưng một mực không nhận giết Thiên Hương. A Lủi giận Chân lắm, sai lính đánh đập nhưng không ăn thua. Lủi bèn dùng đòn độc, bắt lột hết quần áo Chân, rồi sai mỹ nữ dùng lông đuôi con công rừng đực cù mơn man vào các bộ phận nhạy cảm. Chân cười sặc sụa, khổ sở vô cùng nhưng vẫn cương quyết không nhận tội sát gái. Có kẻ tâm phúc hiến kế: “Chân vốn sành nhạc, nay bắt nhạc công tồi gẩy đàn bên tai chắc là không chịu nổi”. A Lủi nghe theo, bắt ngay Phì Lù chơi đàn Pươu khúc Ly Hương là khúc Chân mê nhất. Lù chơi đàn được khổ đầu thì Chân mồ hôi vã như tắm, gào lên đòi chỉnh lại dây. Lù cười khẩy cứ tiếp tục chơi. Chơi được ba khổ thì Chân bắt đầu lên cơn co giật, năm khổ mặt mũi nhăn nhúm biến dạng, bảy khổ mắt Chân đã chảy máu, uất hận quên cả thở. Lù chơi đến khổ thứ mười thì người Chân khô quắt lại trông chỉ như đứa trẻ mười tám, mười chín. A Lủi sợ Chân chết nên bảo Phì Lù ngừng chơi. Chân nghe Phì Lù chơi đàn dở quá bỗng hoá ngây ngô, ngơ ngẩn cười cười, hỏi gì cũng nhận. Lù thở phào nhẹ nhõm. A Lủi thấy Chân đã thuận cung bèn tuyên án tử hình.

A Tang không đành lòng nhìn thấy cảnh oan ức, lại thương bạn nên đêm trước ngày hành hình liều mình lén đến ngục thất, dùng võ thuật hạ gục sáu cai ngục, giải thoát cho Chân. Lại thương Chân điên dại, sợ không tự xoay sở được nên cùng bỏ trốn theo. A Tang đưa Chân đến bên bờ suối gần bản Hua Đùi dựng lều ở tạm, ngày ngày câu cá, bắt chim, hái trái rừng ăn cho đỡ đói lòng. Tay chân A Lủi rất đông, lùng sục khắp xứ Mường nhưng không tìm thấy hai người. Duy có bệnh tình Chân ngày một nặng, khi đi thì chân trái quặp vào chân phải, đầu nghẹo sang hai bên, tay vắt lên cổ. Cũng may có A Tang hết lòng chăm sóc, lại cho ăn đều nên không việc gì.

Một bữa A Tang dìu Chân vào chợ phiên mua thuốc đánh răng. Có ông già ăn mày khập khễnh đến níu áo A Tang xin rượu. Nên nhớ ở xứ Mường ăn mày thường chỉ xin rượu, không xin cơm. Chân lúc đó nước dãi chảy lòng thòng, quay người lại nhìn tay khất ẩm ngơ ngẩn cười, lại đưa tay vuốt má, vuốt râu ông già ra chiều thân thiết lắm. A Tang thấy ông già thè lưỡi liếm vào tay Chân bèn vội vàng xin lỗi, rút túi đưa tặng một vé rồi nhân thể tâm sự, kể rõ bệnh tình của Chân cho ông già nghe. Ông già cảm tạ, nhận tiền rồi đột nhiên nhìn Chân đăm đăm, lát sau nói nhỏ: "Người này đang gặp nạn lớn. Nạn người thì ít, nạn trùng thì nhiều. Có điều Cự môn cư ngọ mà diện tướng lại thuộc về quí cách Thạch trung ngọc ẩn, sau tất có quí nhân giúp đỡ không phải lo lắng điều gì". Nói đoạn cắp giày cà nhắc bỏ đi.
A Tang nghe ông già khất ẩm nói bèn vội vã đuổi theo, móc túi đưa thêm ba vé, phủ phục xuống đất cầu khẩn hỏi thêm lộ tình. Ông già động lòng đáp: "Núi Phin Mua có thần y, chữa bệnh này khỏi bệnh khác". Nói xong giật tay ra mà đi thoăn thoắt, nhanh như ngựa phi, chốc lát đã biến mất. A Tang cúi lạy cho đến khi khuất bóng hẳn.

*****

Lại nói từ khi A Tang mang Chân bỏ trốn Phì Lù thường bị A Lủi trách cứ không đâu, nên cũng có ý chán chường, thường hay về hốc cây Chằn ba người ôm uống rượu một mình. Đêm đó uống say quá, nổi hứng phụng loan, bèn chạy qua bìa rừng hái vài búp đa già rồi tạt vào kỹ viện của bản. Búp đa dùng để phòng ngừa truyền nhiễm, chọn loại già, nhưng không được già quá kẻo giòn, xé mẩu đầu rồi thổi căng lên, thấy không hụt hơi là dùng được.

Hôm đó kỹ viện đang có đợt khuyến mại, chủ kỹ viện ngoài bốn mươi, đeo yếm thắm, đùi trái có săm hình hai con mèo chạy ra đón chào. Phì Lù lúc đó say quá nên cứ chọn bừa một ả rồi đưa lên ngựa ra bờ suối. Hành sự một hồi thấy thoảng như nét mặt người con gái có phần biến đổi, lúc trắng lúc vàng, mũi nhô cao hơn miệng, hai tai bất động. Định thần nhìn kỹ thấy từ khoé mắt, lỗ tai, mũi và miệng đều có trùng bò ra. Con bé chừng thốn rưỡi, con to ba bốn thốn. Nhìn kỹ nữa thì quả là cửu khiếu đồng xuất trùng. Lù kinh hãi vùng ra, lại thấy như bình thường, có điều khuôn mặt trở nên giống Thiên Hương như đúc. Thiên Hương bật khóc, níu tay Lù kéo đi. Lúc đó Lù mụ mị không còn hay biết gì nữa.

Hôm sau có người tiều phu vào rừng đốn củi sớm, bặt gặp Lù nằm tênh hênh bên bờ suối, tay ôm một bọc trông tựa như áo, tựa như khăn. Lại gần thì là tấm da người. Người tiều phu sờ mũi thấy vẫn còn hơi thở nên đem Lù và tấm da về trình A Lủi. A Lủi nhìn thấy mấy nốt ruồi đỏ trên tấm da, biết là của Thiên Hương, lấy làm đau xót lắm. Sai thợ thuộc da nhồi cỏ, mặc cho quần áo đẹp, lại nhờ hoạ sĩ giỏi tô son vẽ phấn, kéo căng lại các nếp da chùng nên trông giống hệt như Thiên Hương lúc sống.
A Lủi đợi khi Lù tỉnh lại tra hỏi nguyên do, Lù thật thà khai hết. Lủi sai người qua kỹ viện điều tra mới biết đêm qua Lù chưa hề ghé qua nên lấy làm lạ lắm. Nhiều người khuyên nên đốt tấm da để trừ trùng hoạ nhưng Lủi thương con nên vẫn để trong nhà. Thiên Hương bình thường thì bất động, ngồi im trong góc, nhưng cứ đêm đến lại nghe thấy tiếng cười rinh rích, hệt như hồi mới dính trùng. A Lủi mấy hôm đầu cũng hãi, sau quen dần, lại lấy làm mừng, coi như con gái còn sống. Có điều không dám tiết lộ ra ngoài.

*****

Núi Phin Mua là ngọn núi hiểm, cao nhất bản Hua Đùi, độ cao lại thay đổi tuỳ theo múi giờ nên việc leo trèo rất khó khăn. A Tang dìu Chân, mất hai tuần trăng, gian khổ vô cùng mới lên được đỉnh núi. Những chuyện xảy ra khi leo núi tỉ như chuyện gặp con thú lạ, đầu như đầu cáo mà đuôi lại giống hệt đuôi cáo, hay như chuyện Chân bị đi ngoài do uống nước quả mứa thiết tưởng là những chuyện vặt không nên kể ra ở đây. Độc giả nào có yêu cầu sẽ xin kể lại chi tiết trong một phụ trương của Tiểu Linh Trùng.

A Tang dìu Chân lên đến đỉnh núi rồi, nhìn quanh chỉ thấy cây xanh ngăn ngắt, mây trôi lờ mờ. Tìm quanh hồi lâu thấy có ngôi nhà cỏ, một ông già tuổi chừng ba chục đang nằm ngủ, dáng người tầm thước, cốt cách hạc nội mây ngàn. A Tang nhìn thấy trên bức vách phía tây có treo túi chữ thập đỏ, đoán chắc là thần y nên không dám kinh động, chỉ đứng ngoài xì sụp lạy. Lát sau ông già cựa mình, lẩm bẩm: “Y Đạo huyền bí biết truyền cho ai”. A Tang mừng rỡ đứng từ ngoài sụt sùi kể lể đầu đuôi, lại xin hết sức cứu giúp cho. Ông già nhỏm dậy, thò một chân xuống đất, ngó Chân một hồi rồi rút túi lấy ra cuộn tơ hồng, buộc một đầu vào cổ Chân, đầu kia buộc vào tai mình để nghe mạch, hồi lâu da mặt tái lại, mắt lờ đờ, xem chừng mông lung lắm. Độ tàn nén hương tỉnh táo trở lại, nói là đã có cách chữa. A Tang mừng quá, gạn hỏi. Thần y đáp: "Hoa Đà ngày xưa gặp bệnh nhân mắc chứng nan y này, chữa mãi không khỏi, bèn liên kết cùng Sư Khoái chế ra bài thơ “Cuồng Nhĩ”, dài một ngàn bốn trăm ba mươi hai câu lục bát. Người bình thường đọc thì phát điên, còn kẻ điên do bị tra tấn bằng nhạc công tồi nghe xong lại khỏi". Nói xong sai A Tang trói chặt Chân vào cột, lấy cật tre già căng tai ra, rồi dùng tăm quấn bông gòn nhúng oxy già ngoáy sạch để Chân nghe cho rõ. Xin không đăng toàn bộ bài thơ, vì sợ rằng trong số độc giả có ai đó chẳng may đầu óc bình thường, đọc xong lại hoá điên. Chỉ xin trích dẫn vài câu đầu:

Độc tam bán túc sơn cương
Túy tràn thiên mã lộ trường song phi Chờ nhau phấn đượm xuân thì Lả lơi công tử, sá gì mỹ nhân!

Chân nghe toàn bộ bài thơ xong, mắt lồi ra, mặt tím lại tựa hồ không thở được. Chừng ba khắc sau khạc ra được cục đờm to bằng cái đấu. Thần y nhanh tay hứng được, hoà thêm chút bột mầu nâu rất nặng mùi lấy ra từ túi chữ thập đỏ rồi thoa lên khắp người Chân. Chân thấy đờm dãi bẩn thỉu hôi thối nhầy nhụa khắp người nên tự nhiên rùng mình mà tỉnh táo trở lại. A Tang cả mừng, chẳng kể dơ dáy chạy đến ôm hôn bạn, rồi cuống quít quì xuống xì sụp lạy thần y, nhưng khi ngẩng đầu lên thì chẳng thấy ông già đâu nữa, mà túi chữ thập đỏ treo ở bức vách phía tây cũng đã không cánh mà bay từ lúc nào.

Chân hỏi chuyện về Thiên Hương, A Tang kể hết sự tình, lại hỏi về con ngựa thọt, mới hay tuấn mã cũng đã biệt tích từ đêm hôm ấy. Chân thẫn thờ hồi lâu rồi ngửa mặt lên trời mà than rằng: "Nay muốn điên trở lại thì cũng chẳng được nữa rồi". A Tang lúc đó ân hận quá, khóc than vật vã rồi quì sụp xuống xin tha thứ về việc đã tìm thần y chữa bệnh cho Chân. Chân gạt lệ an ủi: "Nay đã tỉnh lại rồi, biết đâu lại là may". Hai người cùng dìu nhau xuống núi.

*****

Lại nói về tấm da Thiên Hương bị nhồi rơm ngồi ở góc nhà, khuôn dạng rất đỗi dịu dàng, thỉnh thoảng cũng góp chuyện cùng mọi người rất có duyên, chỉ tội không thành tiếng. Duy những lúc Phì Lù qua chơi thì tấm da lại rung lên bần bật, cơ hồ muốn tung cả cỏ rơm trong người ra. Phì Lù kinh sợ lắm, vì vậy càng muốn lập mưu dèm pha để A Lủi đốt hủy tấm da, chỉ hiềm chưa nghĩ ra được kế sách vẹn toàn.

Một bữa gia nhân vào bẩm báo A Lủi rằng có đạo sĩ xin tiếp kiến, A Lủi đích thân chạy ra cửa mời vào, thấy đạo sĩ mũi to, dài, hai má rất phính, má phải lại có một nốt ruồi đen với ba sợi lông. Đạo sĩ nhã nhặn nói: "Bần đạo gót hạc phiêu du qua vùng này, thấy có khói bếp bay lên đúng lúc chiều tà biết là trùng khí rất nặng, không hiểu trong nhà bấy lâu có sự lạ gì chăng?". A Lủi giật mình kể lại đầu đuôi câu chuyện Thiên Hương dính trùng. Đạo sĩ gật gù đáp: "Giống trùng này vốn dĩ đã rất độc, di không cháy, đốt không quằn, sống ký sinh trong não Linh cầm, gọi là Linh trùng. Trường hợp nạn nhân bất đắc kỳ tử thì bao nhiêu Linh trùng trong cơ thể sẽ hoá thành tinh, gọi là Tinh trùng. Lúc này độc tính của chúng tăng gấp vạn lần, tính nết lại rất ranh mãnh quỉ quái. Tinh trùng thường bám vào tấm da dưới lớp biểu bì, tới khi tròn một năm thì hoá thành trăm ngàn mỹ nữ ăn mặc tồi tàn, nhảy múa thác loạn, rất nguy hại cho thuần phong mỹ tục của cả một vùng…"

A Lủi nghe xong kinh hãi quá, bấm đốt ngón tay thấy ngày mai đã là giỗ đầu Thiên Hương nên lo tái mặt, quì sụp xuống xin đạo sĩ cứu giúp. Đạo sĩ mỉm cười độ lượng, đưa A Lủi một cái bao chế bằng cao su mỏng có mùi cam, trong suốt, bên trong đựng một thứ bột màu xanh: "Đốt đống lửa to mà thiêu tấm da, vừa thiêu vừa rắc thuốc trong bao ra, tự khắc Tinh trùng chết hết". Nói xong đạo sĩ phẩy áo đi thẳng về phía nam, chui vào hốc cây Chằn ba người ôm, gỡ râu rửa mặt.

Đàn ông trong bản truyền nhau câu chuyện của đạo sĩ, thấy thú vị quá, ai cũng mong ngóng đến ngày Tinh Trùng tác oai tác quái hành hạ mình rồi sau có chết cũng hả. Duy có A Lủi tuy rất thương con nhưng vì tin lời đạo sĩ, thấy không cương quyết thì nguy hại cho hạnh phúc của hết thẩy các gia đình trong bản nên đành gạt nước mắt, bỏ tình riêng mà lo việc chung. Hôm sau gọi Phì Lù đến giao cho việc chỉ huy đám gia nhân đốt lửa thiêu sống tấm da. Tấm da Thiên Hương biết sắp sửa bị đốt thành tro bụi, đớn đau thổn thức.

Đúng lúc tay đao phủ chuẩn bị quẳng tấm da lên thiêu trên lửa, chợt có một hảo hán to lớn tóc rậm râu đen, mặt dài như ngựa, đóng khố Co-Tu, cao chừng thước ba từ ngoài cổng gạt đám đông xông thẳng vào, chỉ vào mặt Phì Lù quát lớn: "Yêu quái thấy lão nhân đến sao không hiện nguyên hình?". Phì Lù tái mặt giật mình, tuy vậy khuôn mặt hình dáng vẫn hầu như không biến đổi. Hảo hán lại mắng: "Thiên Hương chết vì ngươi, Tải Chân điên vì ngươi, Tinh trùng cũng từ ngươi mà ra cả, sao không sớm quì xuống chịu tội!". Phì Lù hoang mang tột độ, mồ hôi vã ra như tắm, nhưng vẫn cố cãi: "Bàn Tải Chân cưỡng bức rồi giết Thiên Hương, tội đáng chết, tiểu nhân đâu dám can dự vào việc tày trời…". Hảo hán cười nhạt, bước thẳng đến tay đao phủ, giật lấy tấm da rồi rũ cho phẳng, đoạn chỉ cho mọi người thấy một lỗ thủng phía dưới bụng, cách rốn hơn một gang tay. Sau lại bước tới nắm cổ Phì Lù, rút ra từ cặp quần y con dao găm lưỡi bằng sáp ong được mài sắc ngọt, đem chọc vào lỗ thủng trên tấm da thì thấy vừa như in. Hảo hán mắng: "Nhân chứng vật chứng rành rành, ngươi còn dám cãi chăng?".

Phì Lù biết chuyện bức hại Thiên Hương đã bại lộ bèn quay ngoắt người vùng bỏ chạy. A Lủi trước vẫn có một đàn chuột bạch đã được huấn luyện kỹ càng, lại không bao giờ cho ăn nên chúng đói khát và độc ác vô cùng. Con đầu đàn lông đen, mắt xanh, răng chìa ra như cặp ngà voi, rất giỏi võ, tên là Linh Miêu. Thấy Phì Lù bỏ chạy A Lủi ra lệnh thả đàn chuột ra đuổi theo. Đàn chuột chẳng mấy chốc bắt kịp Lù, Linh Miêu nhảy phắt lên đầu y kéo tóc vật ngửa ra. Bọn còn lại nhảy vào xâu xé, chỉ trong chốc lát cơ thể Lù lộ hẳn ra, toàn thân không còn mảnh vải nào che đậy.

Trong lúc Lù khoả thân, A Lủi nhận thấy mông trái của Lù có nốt ruồi đen với ba sợi lông giống hệt nốt ruồi trên má phải của đạo sĩ, nên hiểu ngay Lù và tay đạo sĩ hôm qua chỉ là một. A Lủi giận lắm, lệnh cho đao phủ dùng chày đập chết ăn thịt, trả thù cho con gái. May có tay hảo hán một mực khuyên ngăn, ý rằng nên đợi đến khi tìm được Chân về giải hết oan ức rồi mới luận tội Lù một thể. A Lủi thấy có lý bèn sai giam Lù vào cũi chờ ngày xét xử. Tấm da Thiên Hương suýt nữa bị thiêu huỷ, nay được đặt trang trọng trên một khay nhựa trong ngăn đá tủ lạnh. Lát sau mọi việc bình ổn, A Lủi định mời hảo hán vào dùng trà, nhưng tìm khắp trong vòng trăm dặm quanh nhà chẳng thấy bóng dáng đâu nữa.
*****

A Tang cùng Chân xuống núi Phin Mua, không dám quay về bản cũ vì ngại lệnh truy nã vẫn còn hiệu lực. Chân bèn rủ A Tang sang Paris, trước là thăm lại thầy bạn cũ, sau là ẩn thân một thời gian. A Tang vốn dị ứng tuyết nhưng vì nể bạn, lại ham vui nên đồng ý. ở Paris sáng sáng Chân đi chợ mua đầy thức ăn bỏ vào tủ lạnh, xong vội vã lên ngay thư viện lục tìm khảo cứu. A Tang ở nhà giặt giũ nấu nướng xem ti-vi. Một lần A Tang đang nấu dở nồi súp cừu thì Chân lao vào, nghẹn ngào nói: "Thuốc giải cho Thiên Hương đây rồi", đoạn đưa cho A Tang xem một cuốn vở nhàu nát, bìa có đóng dấu thư viện Paris và dán mã vạch, giở ra thấy toàn chữ viết tay bằng tiếng Phạn cổ. Hôm sau Chân và A Tang tức tốc ra siêu thị mua vài tút thuốc với mươi đôi tất da chân làm quà, rồi đặt vé AirFrance bay về Mường.

Chân tới thẳng nhà A Lủi, thấy Phì Lù bị giam trong cũi ở ngoài sân lấy làm ngạc nhiên lắm, rút thuốc lá ngoại ra mời. Lù thèm quá nhưng hổ thẹn ngảnh mặt không dám nhận, nói thác rằng đã cai thuốc cho đỡ ngượng. Chân lại đưa cho một phong sôcôla, Lù thấy không còn cách nào thoái thác đành nhận mà cất tạm dưới gối. A Lủi nghe báo Chân đến vội lật đật chạy ra, vừa khóc vừa xin lỗi, đoạn kể lại câu chuyện Phì Lù bị tay hảo hán lật mặt. Chân lấy làm lo lắng, than rằng: "Ở đời nhân quả mấy khi báo ứng". Bàn đến chuyện chữa chạy cho Thiên Hương, A Lủi vật mình than khóc: "Em nó đâu còn thịt xương nữa, chỉ còn tấm da thôi". Chân cười: "Con người nên lấy da làm trọng. Da còn người còn, da mất người mất. Thế nhân thử hỏi mấy ai không có da mà làm nên nghiệp lớn được đâu". Tính A Lủi vốn công thức, ưa logic, nay thấy Chân lý luận chặt chẽ thì tin phục lắm, đồng ý để Chân toàn quyền xử trí tấm da.

A Lủi truyền gia nhân mang khay nhựa đựng tấm da Thiên Hương đến cho Chân. Chân dùng syrine trích lấy vài tế bào rồi sai đem đốt toàn bộ phần còn lại, phần là vì tấm da thuộc kém để lâu đã hơi có mùi, phần nữa là để diệt hết Tinh Trùng ký sinh trên tấm da. Về nhà Chân áp dụng thủ thuật được chỉ dẫn trong tấm vở chữ Phạn lấy trộm ở thư viện Paris, kết hợp với công nghệ nhân bản vô tính tái tạo lại Thiên Hương. Thí nghiệm thành công, chỉ trong vòng hai tuần trăng Thiên Hương đã hồi sinh trở lại trẻ đẹp như cũ. A Lủi thấy con gái sống lại, hình dáng phong thái không khác gì trước lúc dính trùng, mừng quá đứng ra tổ chức đám cưới linh đình. Dân trong vòng mười hai bản lân cận đều được mời dự cơm thân mật, phong bì chất cao như núi. Hai Vé từ bản Mù Sẹo cũng cưỡi ngựa thồ sang chia vui, mừng một phong bì hai vé.

Hai vợ chồng Chân và Thiên Hương sống với nhau rất hạnh phúc, nhưng xem chừng cũng có vẻ gì khang khác. Một bữa không nén nổi Chân bèn gạn hỏi vợ: "Ngày xưa khi ta ôm nàng uống rượu sọ dừa chơi đàn Pươu hát khúc Ly Hương, đùi trái nàng bao giờ cũng rung lên theo điệu hát. Sao nay hát khản cổ mà chẳng thấy nàng rung đùi?". Thiên Hương thản nhiên đáp: "Thiếp và Thiên Hương ngày xưa chỉ giống nhau ở cấu trúc ADN, chứ đâu có giống ở cách rung đùi mà chàng phải băn khoăn". Chân nghe vợ nói thế mới yên tâm.

A Lủi bàn với hai vợ chồng cách xử trí Phì Lù, hỏi nên cắt gân róc thịt hay lột da xát muối. Chân nói là đã có cao kế, đoạn đề nghị thả Phì Lù, cấp vốn cho mở một gian hàng dịch vụ tin học ở hốc cây Chằn ba người ôm, lại gả cho hầu gái của Thiên Hương làm vợ lẽ. Từ đó Lù chí thú làm ăn, doanh số rất lớn, ít lâu đã trở thành đại gia, con đàn cháu đống. Duy có đám con của Lù lớn lên tất thẩy cũng đều nối nghiệp cha, không thoát ra được, nhưng đó là chuyện sau này.

*****

Một ngày giáp Tết, A Tang tới nhà Chân uống rượu sọ dừa. A Tang hỏi: "Vẫn không hiểu ông già khất ẩm, thần y núi Phin Mua và tay hảo hán là ai. Trong câu chuyện này nếu không có ba nhân vật đó thì đâu có được đoạn kết như ngày nay". Chân suy nghĩ mông lung một lát rồi khẽ nói: "Cả ba đều là con ngựa thọt của ta cả!". Nói xong Chân chợt thấy cay cay nơi sống mũi, mắt chàng ươn ướt nhìn qua cửa sổ hướng về xa xăm: "Vì muốn cứu chủ mà tuấn mã phải chịu hy sinh, từ kiếp ngựa xuống làm kiếp người. Nay xong việc muốn về lại kiếp ngựa cũng chẳng thể được nữa rồi. Chẳng hiểu Tết này tuấn mã đón xuân nơi nao?".
Đoạn kết 1:
Tiếng vó ngựa ba chẵn một lẻ vang vọng mãi trong lòng người chủ cũ…

Đoạn kết 2:
Bỗng nhiên có tiếng gót giầy ba chẵn một lẻ bước lên cầu thang, Chân và A Tang cùng giật mình ngoái lại…

Đoạn kết 3:
Chợt gia nhân vào báo Thiên Hương chuyển dạ sinh một bé trai rất bụ bẫm kháu khỉnh, có điều chân trái hơi thọt. Chân cả mừng, truyền đặt tên con là Mã Nhi.

Ngoài vườn hoa xuân đã chớm nụ, Tiểu Linh Trùng vừa nở khỏi kén, nằm cuộn tròn trong nhuỵ một đoá tầm xuân ngủ ngon lành.
Ngày mưa tầm tã, xuân Tân Tỵ Bàn Tải Cân

Linh Vật (Tân Liêu Trai)

Mến tặng Lâm Đại Phì, bạn tôi, người đã cung cấp những chi tiết rất thật trong câu chuyện đầy huyễn hoặc này.
1. Cúc Thu

Khoảng giữa thế kỷ hai mươi mốt ở phố Kim Mã ngoại thành Hà Nội có nàng con gái họ Cấn tên gọi Cúc Thu. Nàng có khuôn mặt cực kỳ khả ái, mắt trong sáng long lanh, đôi lông mày cong cao vút như phượng hoàng tung cánh và cặp môi mọng đỏ thơm ngon hảo hạng.
Cấn Cúc Thu sinh trong một gia đình trung lưu quyền quí. Có điều lạ là ngay từ khi mới lọt lòng mẹ nàng đã không nói được câu nào, cả ngày chỉ biết nằm khóc o e đòi ăn đòi bú. Thân mẫu thấy thế rất lấy làm lo lắng, đem nàng đi hỏi han thuốc men chẩn trị khắp nơi, nhưng tuyệt nhiên không một thầy thuốc nào biết được căn nguyên bệnh chứng vô ngôn của nàng. Có lương y họ Lã đoán rằng: "Trung khu ngôn ngữ vốn nằm ở mép dưới thuỳ trái, nay xử lý phẫu thuật hay phóng xạ điện châm e đều ảnh hưởng đến nhũ não của cháu". Năm lên tám, nhân một tối vô tình chạy chơi dọc hồ Ha Le, Cúc Thu chợt thấy dưới gốc liễu rủ loà xoà buông lá mặt hồ có con vật gì loang loáng đen đen trắng trắng chuyển động nhịp nhàng lên lên xuống xuống. Nàng đánh bạo lại gần nhìn kỹ, thấy con vật kia biến ra một đôi trai gái đang quấn quít cuồng loạn giữa cơn yêu đương say đắm dưới gốc liễu ven hồ. Quá kinh hãi và chấn động trước quang cảnh khủng khiếp, Cúc Thu chỉ kịp kêu thét một tiếng vang trời rồi ngã lăn ra bất tỉnh nhân sự. May mà đôi nam nữ, phần vì lòng tốt sẵn có, phần vì cũng biết lỗi do mình gây ra nên tuy đang dở việc vẫn vui vẻ mặc quần áo mà chạy lại đưa Cúc Thu đi bệnh viện. Lạ lùng thay, đến khi tỉnh lại thì nàng bắt đầu nói được. Như để bù đắp cho tám năm câm nín lặng thinh, nay Cúc Thu s! uốt ngày bi bô lảnh lót, hết tập nói tiếng Việt lại học hát tiếng Nga. Rồi dần dần nhiều ngôn ngữ khác cũng được nàng nắm bắt và sử dụng trôi chảy một cách dễ dàng khiến các giáo sư sinh học phải lắc đầu thán phục.
Cúc Thu càng lớn càng nở nang xinh đẹp, đến năm mười lăm tuổi đã trở thành một trang tuyệt sắc. Đàn ông thấy dáng nàng qua, mắt nhìn rạo rực miệng đà khô cong, đàn bà lườm nguýt chòng chòng, kháo nhau: "Ngữ ấy chắc không ra gì". Kiểu cách ăn mặc của nàng cũng hết sức hiện đại và duyên dáng. Thời nay hiếm khi ta bắt gặp một thiếu nữ bỏ váy trong quần, nhưng hồi đó nếu chị em nào bỏ váy ngoài quần hẳn sẽ bị coi là quê mùa kệch cỡm lắm. Mốt đó cũng là bắt nguồn từ cách ăn mặc đầy thẩm mỹ của Cúc Thu vậy. Tốt nhiệp đại học, Cúc Thu vào làm việc cho một công ty đa quốc gia với các chi nhánh thành viên tại 512 nước trên thế giới. Rất lâu sau này vẫn còn truyền tụng câu chuyện về việc nàng được bố trí tiếp một lúc ba tay trong hội doanh nghiệp trẻ Quốc tế, tuổi cỡ lục tuần, một Mỹ, một Ả rập và một Lào. Nàng vừa thương lượng công cuộc kinh doanh tay tư, vừa làm phiên dịch qua lại cho cả ba đối tác phàm phu tục tử, vừa cười nói tiếng Lào, tiếng Mỹ và tiếng Ả rập theo ascent của dân bản địa, và vừa sóng sánh ánh thu ba như nước hồ dâng lặng đáy sóng trào.
Làm việc trong một môi trường siêu cấp, lại từng trải qua cơn sốc tâm lý thời thơi ấu nên bản thân Cúc Thu thấm đẫm một thứ văn hoá đạo đức đa châu lục, rất thoáng đãng và kiến lược trong vấn đề gối chăn tình ái. Những tao nhân mặc khách may m�! ��n đư�! ��c nàng lưu tâm đều lẳng lặng tự ý rơi vào một bể luyến ái mang mang, để đến khi đuối lực ngắc ngoải chìm dần xuống đáy sâu tội lỗi mới nhận thấy xác đồng loại đồng giống đã la liệt hệt như sau một trận đại thuỷ chiến đẫm máu thời trung cổ.
Một lần nhân chuyến công tác sang Ê-cua-đo, Cúc Thu có tranh thủ tạt qua chơi một sexshop có tiếng thời đó, nằm dưới chân một ngọn đồi nhỏ mà ánh chiêu dương xoải chiếu lên mái kính lục lăng tạo nên ngũ sắc lung linh trong một không gian kỳ ảo. Qua quầy hàng giới thiệu đồ thủ công, nàng bỗng bị thu hút bởi một chiếc linh vật cổ, làm bằng gỗ mun màu đồng đen bóng, trông dáng vẻ hùng vĩ và cực kỳ ngoạn mục. So với những chiếc vibrator hiện đại, chiếc linh vật này nổi bật hơn hẳn bởi những hoạ tiết hoa văn được trạm trổ vô cùng tinh tế trên từng milimet vuông bề mặt. Chủ cửa hàng, một gã trung niên với bộ râu xồm cạo nhẵn thấy có người chú ý đến món hàng hiếm, bèn chạy tới đon đả chào mời. Nhưng khi hắn nói giá, Cúc Thu chỉ biết gạt lệ than thở: "Dẫu là quí tộc Hà thành, lương nhiều bổng lắm cũng đành ngắm thôi". Quán chủ mỉm cười xã giao và nhún vai đầy vẻ thông cảm. Sau khi ngậm ngùi trở gót ngọc về khách sạn dự chiêu đãi theo định trình, nàng về phòng ngủ. Sự ham muốn có được vật lạ khiến Cúc Thu cả đêm trằn trọc, hình ảnh linh vật cứ chập chờn ảo ảnh trước mắt nàng trong những cơn mộng mị nửa thực nửa mê khêu gọi vẫy mời.
Chiều tối hôm sau Cúc Thu bỗng nhận được một bưu phẩm được gói rất đẹp từ một địa chỉ nặc danh. Không nói hẳn bạn đọc cũng �! �oán bi�! ��t, bên trong gói bưu phẩm chính là chiếc linh vật mà nàng hằng ao ước. Mãi đến tận sau này Cúc Thu vẫn không thể hiểu nổi kẻ đại hào phóng điên rồ nào đã gửi tặng cho nàng món quà vô giá. Một chủ tịch tập đoàn thành viên vốn ngưỡng vọng sắc thiên phú tài ngữ ngôn, hay một tỷ phú dầu mỏ tình cờ quan sát được hứng khởi của nàng đối với linh vật, hay chính khí cụ đã tự chủ động tìm đến, như thiên lý mã leo đèo vượt dốc tìm đến chủ tốt. Dầu sao, điều quan trọng là nàng đã sở hữu được vật quí.
Linh vật được Cúc Thu nâng niu lắm. Thường ngày nàng đặt linh vật lên táp-đờ-nuy màu cẩm thạch kê sát đầu giường, dưới ngọn đèn bàn sang trọng, với hình dáng vươn lên kiêu hãnh trong ánh đèn mờ ảo hắt lên làm nổi bật các nét điêu khắc trạm trổ khiến khí cụ trông thật như một kiệt tác bất hủ thời phục hưng. Mỗi khi sử dụng xong nàng lại nhẹ nhàng lau rửa sạch sẽ và đặt linh vật lại chỗ cũ. Đó quả là một báu vật của đời – như cách gọi của Mạc Ngôn, bởi nó vừa có công năng quan trọng để sử dụng trong nhu cầu sống thường nhật, vừa có giá trị thẩm mỹ và trưng bày tuyệt đích, lại vừa có ý nghĩa lịch sử và văn hoá cao.
2. Đại Đồn

Tạm dừng câu chuyện về Cấn Cúc Thu với linh vật mà nói tới huyện Cơ Lương tỉnh Sơn Tây cách Hà Nội chừng ba mươi dặm về phía tây nam, nơi đây có anh học trò nhà nghèo họ Lâm. Hồi mẹ Lâm mang bầu sinh nở, làng xóm cứ kháo nhau mà đồn đại rằng Lâm không phải con bố Lâm, mà lại là con bố Lâm, khiến bố Lâm cả giận mà đặt tên con là Đại Đồn, mong lấy đó như một lời nhắc nhở bà con lối xóm đừng có đồn đại quá đà, và như một lời cảnh báo xã hội về tật xấu ngồi lê đôi mách vô văn hoá đã có nguy cơ trở thành quốc nạn. Lâm Đại Đồn là anh em dị bào khác cha khác mẹ với Lâm Đại Phì, một danh sĩ đương thời hiện vẫn đang ngọa hổ tàng long trong một Trung tâm đào tạo tin học nhỏ bé, và nghe đâu còn là hậu duệ nhánh thứ hai mươi tám của chị dâu em bà cô họ nàng Lâm Đại Ngọc trong Hồng Lâu Mộng ở tận bên Trung Quốc.
Lâm thủa bé thông minh sáng dạ, học một biết mười, nhưng phải cái tính nết vô cùng nhút nhát. Từ xa nhác thấy đám đông là Lâm như con thỏ rừng lao ngay vào bụi rậm gần đó mà trốn tránh, mặc cho gai nhọn cắm khắp người . Có người hỏi: "Đông thì vui, cớ sao phải sợ hãi thế?". Lâm không ngần ngại đáp: "Đám đông như hổ dữ, ác tựa giặc bên Ngô, thà rằng chịu gai cắm, còn hơn bị hổ vồ". Đại để bản tính của Lâm là như vậy. Thói đời vốn ghét của nào trời trao của ấy. Năm mười ba tuổi, phát hiện thấy Lâm có tham vọng tìm cách chứng minh định lý Fi-bô-zit lớn, thầy chủ nhiệm bèn cử chàng ra Hà Nội dự thi học sinh giỏi toán cấp quận. Khi một mình cắp sách ngang qua phố Hàng Bún, Lâm đột nhiên bị một đám lâu n! hâu trẻ con quân khu gần đó chạy ra tấn công nhằm trấn lột. Sự sợ hãi mãn tính đã khiến chàng tè ướt sũng cả chiếc quần mẹ mới may. Thấy Lâm khiếp đảm quá, thằng thủ lĩnh đám trẻ mới nảy ra trò đùa ác, hét với đám lâu la: “Đ' hiểu trai hay gái, chưa gì đã vãi đái, bay lột quần nó ra, ta kiểm tra hòn dái!". Bon trẻ ùa vào Lâm, thằng tóm đũng, thằng nắm cạp, thằng giật ống. Lâm nước mắt vòng quanh kinh hãi túm chặt quần, nhưng sức lực một chọi mười mấy quả nhiên không đặng. Đến khi đám trẻ lột được quần Lâm ra thì cũng là lúc chàng miệng sùi bọt mép, mắt mũi tai đều trào máu, nấc khan mấy cái rồi ngã lăn ra ngất lịm trên bãi nước.
Tất nhiên năm đó Lâm không có tên trong danh sách giải nhất giải nhì quận, bởi khi bác xích lô tốt bụng phát hiện ra Lâm đang lâm nạn và đưa chàng đi cấp cứu thì cũng là lúc trống thu bài đã điểm. Lâm lặng lẽ về quê. Cơn sốc tụt quần đã trở thành một vết thương không thể kín miệng ẩn sâu trong tiềm thức, khiến chàng luôn luôn phải cảnh giác đề phòng. Lâm thậm chí không dám cởi quần dài kể cả khi đi ngủ, và cứ mỗi lần ai đó định tụt quần Lâm xuống là chàng lại chống cự quyết liệt, nước mắt chảy ròng ròng. Lâm Đại Đồn có người chú họ ở Ý đại lợi. Một lần về thăm quê, ông chú bảo Lâm: "Mày có cốt cách tốt, học ở nhà phí đi". Lâm cười: "Nếu con có cơ hội hẳn không làm hổ danh chú". Tốt nghiệp trung học chàng bèn theo ông chú sang Ý học nghề tư pháp. Vốn bản tính thông minh sáng dạ, tư chất lại mẫn tiệp nhạy bén nên Lâm học hành rất tấn tới. Đám bạn đồng học vẫn thư�! �ng phả! i qua lại mượn bài vở hoặc hỏi han thêm Lâm về kiến thức chuyên ngành. Ngoài thời gian học văn hoá Lâm còn tham gia đều đặn câu lạc bộ Karate của trường, trình độ đã đến thất đẳng huyền đai.
Trong số bạn học của Lâm có nàng Isabelle, con gái một tay trùm mafia trên đảo Tuscany. Isabelle có thân hình bốc lửa với các số đo lý tưởng của một siêu mẫu châu Âu. Cảm Lâm ở trí tuệ uyên bác và tâm hồn nhạy cảm kỳ bí, một lần Isabelle khoả thân đến ký túc xá thăm bạn, những tưởng bạn sẽ cuống quít dìu mình lên giường cùng nhau ân ái. Nào ngờ chỉ thấy Lâm khóc thút thít, hai tay bưng lấy quần mà cương quyết từ chối thưởng thức thân hình thơm ngát đang bốc lửa dục của mỹ nhân. Quả cấm bao giờ cũng ngọt, đối với Isabelle lại càng ngọt hơn bởi nàng chưa từng được đối diện với một nghịch cảnh dục tình nào dớ dẩn đến như vậy. Cũng là một cao thủ trong làng quyền anh, Isabelle một tay đè nghiến lấy cổ Lâm, một tay luồn xuống đũng quần của chàng nắn bóp thăm dò. Buồn thay, trong tay người đẹp là một vật mềm nhũn, đã vậy lại bé xíu cỡ chỉ như con cá chuối trưởng thành.
Biết môi trường Tây Âu không phải nơi mình có thể cư ngụ lâu dài, sau mười lăm năm đèn sách, đoạt ba bằng tiến sĩ và một học vị viện sĩ danh dự, Lâm đến xin phép ông chú và từ giã bạn bè trở về quê hương.
Về nhà Lâm ra Hà Nội sinh sống theo nguyện vọng của gia đình, xin việc làm tại bộ phận tư vấn luật của chính công ty đa quốc gia nơi Cúc Thu đang công tác. Hôm thi tuyển, Cúc Thu cùng sếp ngồi phỏng vấn chàng. Không có tài liệu nào ghi lại chi tiết nội dung cuộc ph�! ��ng vấ! n, chỉ thấy các nhân viên trong công ty kháo nhau đó là một cuộc toạ đàm vô tiền khoáng hậu về kiến thức chuyên môn uyên thâm của thí sinh cùng khả năng áp dụng uyển chuyển vào thực tế môi trường kinh doanh ở Việt nam. Dĩ nhiên Lâm trúng tuyển đệ nhất đẳng với mức lương cao chưa từng có trong tiền lệ công ty. Nhưng điều đáng nói hơn là sau buổi phỏng vấn hôm đó cả Lâm và Cúc Thu đều bị tiếng sét ái tình đánh gục. Lâm trước vốn chỉ quen với những nàng con gái tóc vàng da trắng dạn dĩ mạnh bạo, nay chàng hết sức khoái cảm trước một hương sắc quê nhà vừa bí ẩn quyến rũ, vừa gần gũi xa lạ. Còn Cúc Thu cũng rung động nghẹn ngào bởi sự uyên bác đáng ngạc nhiên của chàng trai hiền lành mới du học trở về. Tình cảm hai người ngày càng khăng khít với đầy ắp những trao đổi tâm tình, nhưng tuyệt nhiên không dính đến chuyện gối chăn giao hợp. Đối với Cúc Thu đó chẳng phải là bi kịch, bởi quanh nàng còn cả đống tình nhân giàu có khỏe mạnh đang xếp hàng đợi lượt, còn với Lâm tuy nhiều khi cũng cấn cái lắm, nhưng vốn lực bất tòng tâm nên chàng coi như số trời bắt chịu mà yên phận thủ thường. Cúc Thu thường nói đùa: "Khi yêu thuần khiết mới thấy liệt dương là đáng quí vậy". Thật ra Lâm cũng đâu có ngờ chính điều này đã giúp chàng tránh được đại hoạ về sau. 3. Tội ác và trừng phạt

Trong số các tình nhân của Cúc Thu có một thanh niên thuộc lớp đại gia quí tộc cận đại họ Trương tên Thìn. Trương Thìn vừa học vấn tri thức vừa giàu có khôn ngoan, lại có cơ thể cân đối và khuôn mặt cực kỳ xinh đẹp. Chính vì vậy mà bạn bè thân thiết còn gọi Trương bằng cái tên trìu mến là Thìn đẹp. Rơi vào vòng tay mỹ nhân chưa đầy hai tuần nhưng Trương đã được nàng đích thân đánh giá xếp hạng, cho ngoại lệ một tuần gặp gỡ hai buổi tư sáu.
Một buổi chiều khi ánh tà dương vừa tắt, Trương ngồi tại nhà riêng chuẩn bị cho cuộc yêu sắp tới với Cúc Thu theo như lịch định. Nên nhớ để mời được Cúc Thu tới nhà giao hoan không phải chuyện đơn giản. Chủ nhân phải thực hiện hàng loạt những nghi lễ phức tạp trong khói trầm hương và âm thanh văng vẳng của tiếng nhạc đồng quê. Đặc biệt nước trong bồn tắm phải được đun sẵn với nhiệt độ ổn định là 140C, cùng 128 thứ lá thuốc hảo hạng do chính tay nàng liệt kê biên soạn. Đang loay hoay chuẩn bị thì xảy đâu có trận gió cuốn cờ kéo đến, Trương chợt thấy một phong thư theo gió bay qua cửa sổ rơi xuống bàn như có tay người đặt, trên bì thư có đóng dấu triện lạ đề đích danh chàng. Trương lấy làm ngạc nhiên, mở thư ra thì thấy có độc một dòng chữ thảo bằng tiếng Hy lạp cổ, nét viết rất phóng, lời lẽ thô tục với nguyên văn như sau:
“Σβθλ Παγδη Λοπω Ωοψαμτ"
Trương bình thản nhếch miệng cười khinh bỉ. Những lá thư nặc danh với lời lẽ đe doạ bậy bạ kiểu này đâu có thể khiến một trang nam hán tử như chàng phải rún động mảy may. Tuy vậy chàng vẫn cẩn trọng th! ủ thêm con dao găm chuôi nạm ngọc gia bảo lưỡi mỏng như lá lúa vào đũng quần trong rồi mới tiến tục các công đoạn chuẩn bị cho việc tiếp đón người đẹp.
Chừng độ hai khắc sau thì Cúc Thu đến. Khác hẳn mọi lần, căn nhà Trương vắng tanh lạnh ngắt như vô chủ, một bầu không khí âm u chết chóc lan toả khắp các phòng. Linh cảm thấy chuyện chẳng lành Cúc Thu vội chạy vào toilette, thì hỡi ôi, người yêu của nàng đang trần truồng nửa nằm nửa ngồi trên bệ xí, thân xác đã nguội lạnh và hơi thở đã tắt từ lâu, duy đôi mắt vẫn mở trợn ngược chứng tỏ nạn nhân vừa trải qua một cơn khiếp đảm. Cúc Thu cả kinh vùng chạy ra phố nhấc mobile gọi cảnh sát trong tiếng nức nở. Bác sĩ pháp y tới hiện trường khám xét cơ thể Trương rất kỹ càng, thấy bàn tay trái của nạn nhân đang nắm chặt bức thư kỳ quái, còn trên cơ thể không có vết thương nào trầm trọng, chỉ có những vết thâm tím nhỏ cỡ đồng 5 xu, tổng cộng có khoảng 200 đồng 50 xu. Lá thư được cảnh sát gắp bỏ vào túi nylon làm tang chứng.
Điều đáng nói là trong hai tuần sau đó trong thành phố xảy ra liên tiếp bốn mươi sáu vụ giết người tương tự, với đặc điểm chung là nạn nhân đều bị hành hung trong toilette tại nhà riêng, bàn tay trái đều nắm những bức thư với cùng nội dung như bức được gửi cho Trương. Điểm chung nữa là tất cả các nạn nhân đều có quan hệ luyến ái gối chăn mật thiết với Cấn Cúc Thu, dù rằng mức độ và tần suất có ít nhiều khác biệt. Một hội đồng chuyên trách được cấp tốc thành lập để điều tra và xét xử vụ trọng án kỳ quái, tiến sĩ Dương Chất Minh được đ�! � cử l�! �m chủ tịch hội đồng. Dương người thấp lùn, mắt lé, nách rất hôi dù đã dùng nhiều loại nước hoa hảo hạng nhằm che mũi thiên hạ. Nguyên trước đây Dương say mê Cúc Thu như điếu đổ, nhưng lẽ đời tất nhiên linh cẩu không thể sánh đôi với phượng hoàng, kỳ lân không thể sống chung cùng cóc cáy, Dương bị mỹ nhân kiên quyết cự tuyệt. Có lần Dương thức cả đêm sáng tác một bài sonet dài mấy ngàn chữ đem tới tặng người đẹp, trong đó có câu: "Yêu anh em chớ nhổ lông (nách). Chớ tô môi hồng, chớ vẽ mắt xanh", nhưng Cúc Thu không những không xao lòng mà còn bịt mũi phẩy tay ra chiều khen ngợi: "Thơ anh vừa hay vừa thơm". Từ bữa đó Dương hận Cúc Thu đến tận xương tuỷ. Những tưởng phải mang theo mối hận lớn xuống Tuyền Đài, nào ngờ lần này số trời run rủi cho Dương được phụ trách điều tra vụ án, và đương nhiên Cúc Thu phải trở thành nghi phạm số một.
Trong các cuộc đối chất tại công đường, Cúc Thu cứ một mực kêu oan không khai nhận tội giết người. Làn tóc rối bù trên khuôn mặt trắng nõn lấm lem nước mắt làm nét thu ba càng thêm rực rỡ, cộng với áo trên xộc xệch quần dưới tiêu điều khiến những tay thẩm vấn dầu gan đồng tim sắt cũng phải động lòng trắc ẩn. Thấy chưa thuyết phục được hội đồng khép nàng vào tử tội, Dương bèn dùng độc kế, mời nàng ăn kẹo. Nguyên Cúc Thu sáng nào cũng dậy từ sớm tinh mơ, trước là ra phố chạy vài ba dặm cho đùi chân thon gọn, sau là về nhà tập thể dục nhịp điệu để eo bụng săn chắc. Trong ngày Cúc Thu còn tranh thủ tập thêm tán thủ yoga khí công dưỡng sinh nhằm gìn giữ toà thiên nhiên thiên phú, v! à đặc! biệt nàng áp dụng một thực đơn ăn kiêng cực kỳ nghiêm ngặt, mỗi bữa không dùng quá một lườn rưỡi gà rán với hai lạng pho-mát tươi, vì vậy tuy đã hai mươi mà trông nàng vẫn còn trẻ trung tươi đẹp lắm. Biết vậy nên Dương sai thuộc hạ cứ đều đặn hai tiếng một lần đem sô-cô-la Thuỵ sĩ loại thượng hảo hạng tới mời nàng thưởng thức khiến Cúc Thu khốn khổ vô cùng, chết không được mà sống cũng không xong. Không chịu nổi độc kế tàn bạo của kẻ thù, nàng đành thuận cung khai nhận đã một tay giết chết bốn mươi bảy kẻ nhân tình chỉ đơn thuần nhằm mục đích giải trí, còn những bức thư nàng nhét vào tay họ cốt chỉ để đánh lạc hướng điều tra.
Sau khi toà tuyên án, Cúc Thu bị khép tử tội với khung hình phạt nặng nhất thời bấy giờ là "tục tiếu hình". Phạm nhân chịu hình phạt này sẽ bị trói vào cột và bị đao phủ kể cho nghe những câu chuyện tiếu lâm rất bậy, khiến kẻ thọ án phải buồn cười quá lăn ra mà chết. Hình phạt này tàn khốc ở chỗ không phải tay đao phủ nào cũng có khiếu kể chuyện cười, nhiều tay kể rất vô duyên làm cho cuộc hành hình kéo dài rất lâu, và nhiều tử tù không may mắn đã chết đói trước khi chết vì tức cười.
Khoảng vào thượng tuần tháng tám năm đó Cấn Cúc Thu bị hành quyết tại một bãi đất rộng tại trung tâm thành phố. Dân phố kéo đến xem đông nghìn nghịt, nhiều người còn dậy sớm ra chiếm chỗ trước, đặng có được vị trí tốt mà chiêm ngưỡng đệ nhất mỹ nhân của Hà thành, đồng thời cũng là kẻ tàn ác nhất trong lịch sử hình sự Quốc tế. Cúc Thu thong dong bước lên đoạn đầu đài trong tiếng! la ó c�! �� vũ của đám đông dân chúng. Nàng ngước mắt nhìn trời cao rồi mỉm cười độ lượng tung một chiếc hôn gió về phía đám đông. Cuộc đời ngẫm lại như giấc mộng hoàng khang, các kỷ niệm từ tấm bé bỗng chốc dồn dập ùa về đầy ắp tâm hồn người đẹp. Những gì chơi được nàng đều đã chơi thoả, những gì vui được cũng đã vui đủ. Cơn đau nhân sinh nàng đã trải nhiều, bí mật đàn ông không gì không biết. Cúc Thu không còn cảm thấy phải ân hận điều gì khi từ giã cõi đời tươi đẹp để trở về với tổ tiên, với bốn mươi bảy người tình yểu mệnh đang đợi nàng nơi chín suối.
Lần này được giao xử tử Cúc Thu là tay đao phủ họ Sinh, mắt lồi tai vểnh răng đen, vốn rất được kính trọng vì đã có nhiều năm kinh nghiệm trong nghề. Sinh bước đến gần Cúc Thu, phủ phục xuống vái ba vái, miệng lầm rầm: "Ta thực thi thủ tục, tiểu thư tử thanh thản". Cúc Thu bình thản đáp: "Nhờ đao phủ làm gọn cho thì ta cảm tạ lắm", nói đoạn hiên ngang vươn tai chờ chết. Trống điểm một hồi, thấy Sinh đứng phắt dậy ghé miệng khẽ thơm mơn man vào tai nữ phạm rồi bắt đầu lầm rầm kể chuyện. Chẳng hiểu vì nụ hôn của Sinh làm cho nhột hay vì câu chuyện buồn cười, mà khuôn mặt lộng lẫy trang nghiêm của Cúc Thu đã có phần khởi sắc. Cứ mỗi lần trống điểm là Sinh lại kể hết một câu chuyện, lời kể rì rầm lúc khoan lúc nhặt đều tăm tắp như vắt chanh. Tất nhiên nội dung các câu chuyện không được công bố, vì ngại rằng nhiều người trong chúng ta tuy không phạm trọng tội nhưng cũng sẽ chết vì cười. Đếm đến hồi trống thứ sáu thì Cúc Thu khẽ nở nụ cườ! i đầu ! tiên, cả đám đông ồ lên thương xót, lác đác đã có kẻ lén lau nước mắt. Tới hồi thứ hai mươi bảy nàng chợt cười phá lên khiến hàng chục phụ nữ yếu tim ngã lăn ra bất tỉnh. Hồi trống thứ sáu chín vừa điểm thì nàng đã cười rũ rượi, tới hồi thứ bảy trăm ba mươi thì nàng cười sặc sụa nghiêng ngả, lăn lộn tưởng chừng như sắp đứt. Khá khen tay đao phủ tinh nghề, kể chuyện cười mà mặt như đưa đám, khiến nữ phạm không thể không cười nôn ruột.
4. Đoạn kết

Giữa lúc tính mạng Cúc Thu đang ngàn cân treo nụ cười thì bỗng nhiên có một bóng đen bịt mặt nhảy vọt từ dưới đài lên, thân thủ rất phi phàm. Kể thì lâu chứ thật ra lúc đó mọi việc diễn ra nhanh như chớp giật, mọi người đang lặng đi vì kinh ngạc đã thấy bóng đen tung cước đá giữa hạ bộ tên đao phủ khiến hắn bay lộn ba vòng về phía nam, đoạn ngửa mặt lên trời lớn tiếng quát: "Vụ này oan ức thấu trời". Dương Chất Minh đang là trưởng ban nghiệm thu thi hành án, nay thấy tình hình nguy cấp quá vội chạy lại mắng rằng: "Nữ tặc giết hại bốn mươi bảy nhân mạng, nay vật chứng rành rành mà bản thân y thị cũng đã ký tên khai nhận. Ngươi là ai mà dám đánh phá công đường, lớn tiếng kêu oan?". Lúc đó kẻ lạ mặt mới nhẹ gỡ chiếc mạng xuống, thản nhiên đáp: “Ta là Lâm Đại Đồn, nhân tình liệt dương của nữ phạm nhân tử tội”.
Ban chuyên trách mời Lâm trình bày đầu đuôi. Thấy chàng rút từ trong ngực ra một vật đen bóng dài chừng bốn mươi centimet, giơ cao lên cho mọi người cùng thấy rõ rồi chậm rãi giải thích: "Đây là chiếc Linh vật cổ, vốn là vật bất ly thân của Cúc Thu. Linh vật được nàng sử dụng thường xuyên và rất âu yếm chiều chuộng, lâu ngày nhờ tiếp thu đều âm khí mỹ nhân mà trở nên có thần cảm. Hắn cảm thấy ghen ghét những kẻ tình nhân khác của nàng, do vậy đã hạ độc thủ đập chết bốn mươi bảy người. Riêng ta do liệt dương nên may mắn mà thoát chết". Dương Chất Minh bên trong thì kinh hồn táng đởm, nghĩ thầm: “May thay mối tình của ta không được Cúc Thu đáp trả”, nhưng bề ngoài vẫn tỏ vẻ nghi ngờ,! hỏi xẵng: "Ngươi có bằng cớ gì chăng?". Lâm cười khẩy, đoạn chỉ cho mọi người xem một đoạn chữ được khắc chìm ở gốc linh vật, phía trên hai hạt. Đó là một dòng chữ thảo bằng tiếng Hy lạp cổ, nét viết rất phóng, lời lẽ thô tục với nguyên văn như sau:
“Σβθλ Παγδη Λοπω Ωοψαμτ”
Đem so thì nét chữ trên linh vật với nét chữ trên các bức thư trong tay nạn nhân không khác mảy may. Chiếc Linh vật thấy bao nhiêu tội lỗi của mình đã bị vạch trần trước bàn dân thiên hạ nên sợ hãi bứt mạnh khỏi tay Lâm rồi đâm bổ vào bụng chàng, thoắt cái đã biến mất. Lâm choáng váng ngất lịm, chừng độ ba khắc sau tỉnh lại đã thấy người khang khác rất khó tả.
Về phần Cúc Thu được tha bổng và bồi hoàn danh dự, bèn làm lễ cưới linh đình với tình nhân duy nhất còn sót lại là Lâm Đại Đồn. Đêm hợp cẩn Cúc Thu nói với Lâm: "Lấy chàng là coi như là thiếp tự trừng phạt mình vì cuộc sống quá phóng túng trước đây vậy". Lâm nói: "Có dễ đâu thế", đoạn cười ha hả tụt quần cho vợ thấy, giữa hai ngón chân cái của Lâm là của quí màu đen bóng với kích thước to lớn lạ lùng đang vươn thẳng đầu kiêu hãnh, chú ý nhìn kỹ mới thấy ở gốc có xăm dòng chữ lạ bằng tiếng Hy lạp cổ. Cúc Thu hạnh phúc đến nghẹn thở, nước mắt ràn rụa ôm lấy chồng mà cùng nhau mây mưa vần vũ. Lâm như dao sắc mới được đem dùng lần đầu, ra sức cắt cắt thái thái, thoả mãn không biết đến thế nào mà kể. Về sau hai vợ chồng đẻ ra một đống con cả trai lẫn gái, đứa nào cũng tấn tới nên người. Cúc Thu sống rất đoan trang chung thuỷ, còn Lâm được! cất nh! ắc lên làm tổng giám đốc khu vực Châu Á Thái Bình Dương. Thật là khí độ của một đại gia vậy.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét