Thứ Bảy, 7 tháng 9, 2013

nhung vu an noi tieng 357252A8.html

Sát thủ "sói" vô hình

Walter Mikac – người có vợ bị “sói” bắn chết trong vụ thảm sát Port Arthur cùng với con gái Alannah.

Sau hơn 10 năm, vụ án khủng khiếp Port Arthur vẫn chưa tìm ra thủ phạm. Người ta chỉ biết hắn có biệt danh Sói (Wolf) – một kẻ có hành tung xuất quỷ nhập thần, hiện là nỗi khiếp sợ của dân vùng Tasmania, Australia.

Kể từ trung tuần tháng 6/2006, cảnh sát Tasmania bí mật theo dõi một gã đàn ông trạc ngoại tứ tuần thường hay lảng vảng xung quanh khu công viên có nuôi hổ Tasmania tại địa phương. Hắn để râu quai nón, đội mũ rộng vành cốt để che giấu khuôn mặt hung dữ với chiếc miệng rộng và đôi mắt của loài cú vọ. Nụ cười đểu giả khiến nét mặt hắn luôn hiện lên vẻ gian trá, lưu manh. Tại khu công viên, gã đó thường bám theo sau các cô gái xinh đẹp, ăn mặc và trang điểm trông thật đài các, sang trọng.

Cảnh sát nghi gã râu quai nón đó là “Sói” – kẻ có liên quan trực tiếp đến vụ thảm sát hơn 10 năm trước đây tại Port Arthur. Vào ngày 28/4/1996, Walter là một luật sư giỏi tại địa phương, theo thông lệ vào cuối mỗi tháng đưa gia đình gồm ông bố, vợ là Nanette, lúc đó 36 tuổi, là một diễn viên điện ảnh khá nổi tiếng của Australia, hai con gái Alannah, 6 tuổi và Madeline, 3 tuổi, đến khu cảng biển nổi tiếng Port Arthur để nghỉ ngơi, thư giãn sau một tháng làm việc vất vả. Walter rất thương yêu vợ con. Họ là một gia đình hạnh phúc.

Trong lúc mọi người đang vui chơi thì bỗng xuất hiện một gã đàn ông đầu trùm khăn đen tay lăm lăm khẩu AK-47. Hắn gọi tên Thượng đế kêu gào rồi trong khi mọi người chưa kịp có phản ứng gì trước tình huống quá bất ngờ này thì đã nghe tiếng súng vang lên. Tay cầm súng của gã lia qua lia lại thật nhanh. Theo phản ứng tự nhiên, mọi người vội nằm rạp xuống. Nhưng đã muộn, những loạt đạn oan khiên đã giết chết nhiều người.

Sau các loạt đạn kinh hoàng, một số nhân viên an ninh tại chỗ đã kịp trấn tĩnh lại, 2 người nhân viên nhảy vào tên sát thủ, cướp lấy súng. Sau một hồi giằng co, tuy đã kịp thoát chạy biến vào bìa rừng nhưng một người cũng đã giật được chiếc khăn trùm đầu của hắn và một số người khác nhận dạng được khuôn mặt hung dữ của tên sát nhân với đôi mắt cú vọ và bộ râu quai nón của kẻ sát nhân. Cảnh sát khám nghiệm hiện trường ghi nhận có 35 người thiệt mạng, trong đó vợ của Walter. Hai đứa con của anh, nhờ anh ôm bé Alannah, còn bé Madeline thì nấp sau lưng ông nội nên thoát chết.

Nhận thấy đây là vụ thảm sát dã man nhất trong lịch sử Tasmania Australia nên ngay sau khi hung thủ chạy thoát, cảnh sát địa phương đã lập những đội đặc biệt trang bị mọi phương tiện tối tân để truy bắt. Sau 3 tiếng đồng hồ truy tìm nhưng vẫn hoài công, Cảnh sát Tasmania thành lập chuyên án " Tasmania" để điều tra tìm hung thủ. Nhưng nỗ lực của họ đến nay vẫn chưa mang lại kết quả. Sát thủ vẫn bóng chim tăm cá.

Ngày 28/4/2006, Walter đã làm lễ tưởng niệm người vợ xấu số. Trước đây bạn thân của Nanette là Kim Sporton – một nhà báo nữ xinh đẹp của Đài Truyền hình Australia. Dạo tháng 12-1997, tại một buổi lễ Giáng sinh gia đình, Kim đã tới dự và sau đó điều gì đến, phải đến: Walter và Kim yêu nhau, tới đầu năm 2000 thì Walter cưới Kim.

 

Vào tháng 7/2001, Kim sinh cho Walter bé gái Isabella. Dịp này, nhờ quen biết với Công chúa Mary của Hoàng gia Anh nên Kim đã gợi ý là gây quỹ giúp hai đứa con của Walter lấy tên con của Walter làm tên Quỹ Alannah & Madeline. Tính đến đầu tháng 6-2006, đã quyên góp được hơn 250.000 USD. Mặc dù đã có Kim nhưng Walter vẫn chưa quên được hình bóng người vợ cũ, do vậy, anh ta rất thù hận sát thủ mà mọi người cho là “Sói”.

Trong cuộc bủa vây, theo dõi gã đàn ông râu quai nón tại công viên ở địa phương, Walter có tham gia, những tưởng sẽ tóm cổ được kẻ đã bắn chết vợ mình nhưng đến cuối ngày thì cảnh sát bỗng mất dấu của hắn.

Không nản chí, Lực lượng Cảnh sát đặc nhiệm Tasmania vẫn đang nỗ lực truy tìm sát thủ vô hình.

Vụ bắt cóc con tin kỳ lạ trong lịch sử

Illich Ramirez Sanhchez, kẻ chỉ huy vụ bắt cóc con tin tại trụ sở OPEC vào tháng 12/1975.

21/12/1975, buổi họp của OPEC bắt đầu. Vào thời gian đó, một xe điện dừng lại, 5 người đàn ông và 1 phụ nữ bước xuống. Họ lặng lẽ bước vào bên trong tòa nhà. Đúng 11h15', phòng họp đã đầy ắp người. Khi Bộ trưởng Dầu mỏ Iraq chuẩn bị phát biểu thì tiếng súng bỗng vang lên.

Ngày chủ nhật cuối cùng trước khi bước vào lễ Giáng sinh năm 1975, thủ đô Vienne của Áo phải chịu một đợt giá lạnh chưa từng có. Trên bãi đất rộng trước Tòa thị chính, các gian hàng bán quà Giáng sinh đã bắt đầu mở cửa đón khách. Cách đó 500m là trụ sở OPEC (Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ) chiếm hai tầng khiêm tốn của một tòa nhà. Sáng sớm ngày 21/12/1975, Nouredine Al Laoussine cùng chạy bộ với cấp trên của mình là Sid Amed Ghozali, đại diện của Algerie tại OPEC. Tối hôm trước, họ phải đi ngủ trễ vì còn phải xem lại mớ tài liệu kỹ thuật dự định sẽ phân phát cho đại diện các thành viên trong buổi họp sáng hôm sau.

Người ta biết nhiều đến OPEC khi vào ngày 16/10/1973 các quốc gia sản xuất dầu mỏ quyết định tăng giá bán dầu làm phát sinh một cuộc khủng hoảng kinh tế trong phạm vi toàn cầu. Ở phương Tây, cú sốc này gây ra một tâm lý hoảng loạn. Các "vương quốc dầu mỏ" như Arập Xêút, Iran chuẩn bị sẵn sàng cho việc đi đêm với Mỹ, bất chấp quyền lợi các nước thuộc thế giới thứ ba. Khắp nơi, khi mức tiêu thụ dầu mỏ hạ xuống thì những căng thẳng đầu tiên bắt đầu xuất hiện trong nội bộ OPEC.

10h ngày 21/12/1975, buổi họp của OPEC bắt đầu. Laoussine phân phát tài liệu cho các phái đoàn ngồi theo thứ tự của mỗi quốc gia thành viên, sau những chiếc bàn được xếp thành hình chữ nhật. Việc bảo vệ an ninh cho buổi họp được giao cho 4 bảo vệ chuyên trách có mặt trong tòa nhà. Cũng vào thời gian đó có một xe điện dừng lại, trên xe, 5 người đàn ông và 1 phụ nữ bước xuống. Họ lặng lẽ bước vào bên trong tòa nhà.

Đúng 11h15', trong phòng họp đã đầy ắp người. Khi Bộ trưởng Dầu mỏ Iraq chuẩn bị phát biểu thì tiếng súng bỗng vang lên. Lúc ấy có nhiều người đàn ông chạy vào phòng họp hướng súng bắn vào khoảng không khiến mọi người phải nằm rạp xuống, tìm đủ thứ để che đậy.

Không ai biết những kẻ lạ mặt đó là ai, từ đâu đến nhưng bọn họ xử sự rất dứt khoát. Một đại biểu của Libye đang ngồi quay lưng ra cửa, theo phản xạ, nhảy chồm lên tên chỉ huy nhóm khủng bố và đã trở thành nạn nhân đầu tiên bị bắn chết. Cuộc tấn công bất thần vào văn phòng của OPEC vào sáng hôm đó có nguy cơ biến thành một vụ thảm sát. Một tên khủng bố bắn hạ ngay một nhân viên bảo vệ người Áo khi anh này chạy về hướng cầu thang máy. Một cận vệ của phái đoàn Iraq định can thiệp đã lãnh trọn mấy phát đạn vào người. Bên ngoài phòng họp, tình trạng mất trật tự diễn ra một cách nghiêm trọng và chỉ được vãn hồi khi cảnh sát can thiệp.

Trong phòng họp, bọn khủng bố buộc các con tin đứng dậy từng người. Tất cả 70 người gồm lãnh đạo và quan chức cao cấp ngành dầu mỏ của các nước, trong đó có 13 bộ trưởng được chia thành ba nhóm. Được cho đứng tựa cửa sổ là nhóm "thân hữu" gồm người các nước Algérie, Libye, Iraq và Kuweit. Đứng đối diện nhau là nhóm "trung lập" gồm người các nước Venezuela, Nigeria, Gabon, Indonesia Ecuador. Cuối cùng là nhóm "kẻ thù" khá đông, đứng giữa phòng họp, gồm người các nước Arập Xêút, Các Tiểu vương quốc Arập thống nhất, Iran và Qatar. Đây quả là mẻ lưới tuyệt hảo của nhóm khủng bố, chỉ trong một thời gian ngắn, bọn họ đã nắm trong tay toàn bộ linh hồn của OPEC.

Bọn khủng bố gồm 5 tên, càng lúc càng tỏ ra nóng nảy và căng thẳng khi biết rằng cảnh sát đang siết chặt vòng vây quanh tòa nhà. Theo lời kể của một nhân chứng, sau khi khống chế xong mọi người, bọn khủng bố quyết định làm nổ tung tòa nhà. Tên chỉ huy ra lệnh cho đàn em đặt chất nổ trong phòng họp khiến cho sự hoảng loạn của các con tin lên đến cùng cực.

Chúng hành động nhân danh "Quyền lực cách mạng Arập", một tổ chức chưa ai nghe nói đến bao giờ. Chúng buộc chính quyền Áo phải cho phổ biến trên hệ thống phát thanh quốc gia một tuyên cáo chính trị dài 6 trang, viết bằng tiếng Pháp và do đại diện Algérie đọc. Bản tuyên cáo khẳng định rằng hành động của bọn khủng bố là sự phản kháng lại "liên minh giữa Mỹ và các thế lực phản động hèn nhát Arập", đồng thời chỉ trích Israel, lên án Iran là "công cụ tích cực của chủ nghĩa đế quốc" và Tổng thống Ai Cập Anouar el-Sadate là "kẻ phản bội".

Trước đó tên cầm đầu nhóm khủng bố đe dọa là nếu bản tuyên cáo của chúng không được đọc trên hệ thống phát thanh quốc gia Áo thì chúng sẽ hành hình từng con tin một, khởi đầu là đại điện của phái đoàn Arập Xêút rồi tiếp theo là Iran…

Chẳng bao lâu sau người ta biết tên chỉ huy nhóm khủng bố tên Illich Ramirez Sanchez còn gọi là Carlos, người Venezuela, vốn là một kẻ khủng bố đang bị truy nã gắt gao trên thế giới. Trong 70 quan chức của OPEC đang bị bắt làm con tin, người duy nhất được nhóm khủng bố cho đối thoại là Bộ trưởng Dầu mỏ Algérie, ông Abdesselam. Sau hai giờ bàn bạc, nhóm khủng bố yêu cầu việc thương lượng với chính quyền Áo chỉ diễn ra với sự trung gian của ông Abdesselem và  một đại diện của Sứ quán Iraq tại Vienne. Chúng đòi 1 chiếc xe hơi vào 7 giờ sáng ngày hôm sau cùng một máy bay DC-9 chờ sẵn ở sân bay. Để bảo vệ sinh mạng cho các con tin, trước tiên Chính phủ Áo thỏa mãn yêu cầu thứ nhất của chúng là cho phát trên hệ thống đài phát thanh quốc gia bản tuyên cáo. Sau đó những yêu cầu khác của nhóm khủng bố cũng được chấp thuận.

7 giờ ngày 22/12/1975, nhóm khủng bố đem theo 40 con tin gồm 13 trưởng phái đoàn và 27 nhân viên tùy tùng. Tất cả phải trải qua một ngày và một đêm nữa ở sân bay, vì chiếc máy bay của Hãng Hàng không Algérie chưa hoàn tất cuộc hành trình.

Qua trung gian của Bộ trưởng Ngoại giao Abdelaziz Bouteflika, chính quyền Algérie hứa không trừng phạt nhóm khủng bố. Tuy nhiên, Carlos chỉ chấp nhận trả tự do cho những con tin không phải là người Arập. Theo yêu sách của nhóm khủng bố, cuộc hành trình khá đơn giản, nhưng do một trục trặc kỹ thuật, máy bay không đến đúng như dự kiến. Sau những giờ phút chờ đợi căng thẳng cho cả con tin lẫn nhóm khủng bố, Carlos mất kiên nhẫn, quyết định sẽ hạ sát dần các con tin nếu vào sáng ngày 23/12/1975, máy bay không có mặt tại sân bay.

3 giờ sáng ngày 23/12/1975, một chiếc DC-9 của Hãng Hàng không Algérie đáp xuống sân bay Vienne. Trước khi lên máy bay, nhóm khủng bố quyết định trả tự do cho 31 con tin. Những con tin cuối cùng cũng được nhóm khủng bố trả tự do khi máy bay đáp xuống sân bay Alger, trong đó có hai bộ trưởng người Arập Xêút và Iran mà nhóm khủng bố quyết định sẽ sát hại.

Sau này, đã xuất hiện những thông tin tiết lộ rằng sinh mạng của hai vị bộ trưởng trên đã được chuộc với giá 10 triệu USD, nhưng ai đã thanh toán khoản tiền này cho nhóm khủng bố vẫn còn là điều bí mật. Người ta cũng không tìm ra nước nào đã đứng đằng sau vụ bắt cóc con tin lịch sử này.

Đây cũng là lần đầu tiên một sự hợp tác quốc tế giữa Áo và Algérie đã thành công trong giải quyết vấn đề con tin của một vụ bắt cóc và ngăn chặn kịp thời thảm họa xảy ra. Tạp chí Historia của Pháp đã xếp vụ bắt cóc con tin tại trụ sở OPEC vào tháng 12/1975 đứng đầu danh sách 10 vụ bắt cóc con tin kỳ lạ nhất lịch sử.

Vụ án Pellicano và mặt trái của Hollywood

Anthony Pellicano.

Hollywood rung động trước vụ án Pellicano, một xìcăngđan hình sự trong thế giới những người nổi tíếng. Bị can chính, Anthony Pellicano, là thám tử tư bị nghi ngờ nghe lén các ngôi sao Hollywood rồi đe dọa tống tiền.

“Vụ án Pellicano” bắt đầu như một tiểu thuyết trinh thám giật gân. Và kết thúc của nó có thể làm vấy bẩn nhiều tên tuổi lớn trong thế giới điện ảnh. Buổi sáng tháng 6/2002,  Anita Busch, phóng viên báo Los Angeles, phát hiện kính chắn gió chiếc xe hơi của mình bị kẻ nào đó đập vỡ và trên mui xe là một con cá chết cùng với bông hồng cắm ở đuôi cá và một chữ: "Stop". Trong mức độ đe dọa và kỹ thuật đe dọa của mafia thì "cá chết cắm bông hồng" là dấu hiệu không thể xem thường! Do đó nhà báo Anita Busch liền báo ngay cho cảnh sát. Cuộc điều tra giẫm chân tại chỗ cho đến ngày Alexander Proctor, người từng có tiền án, khai báo với cảnh sát rằng hắn tổ chức đe dọa phóng viên báo chí theo yêu cầu của Anthony Pellicano.

Có văn phòng thám tử tư trên đại lộ Hoàng hôn ở Los Angeles, Anthony Pellicano chẳng phải kẻ vô danh tiểu tốt. Hắn chuyên trách nghiên cứu moi móc các thông tin nhạy cảm nhằm hủy hoại tiếng tăm đối thủ. Trên tấm danh thiếp của hắn in các phương án để thân chủ lựa chọn: "Điều tra đời tư", “Theo dõi điện tử", hay "Thương lượng"!

Nhân viên FBI lục soát các văn phòng thám tử và phát hiện cả một kho vũ khí, lựu đạn và cả đống chất nổ dẻo C4, tiền mặt… Anthony Pellicano bị tòa án liên bang tuyên án 30 tháng tù giam vì tội sở hữu vũ khí bất hợp pháp. Ngoài ra, Pellicano còn "sở hữu" hàng loạt tội danh: câu kết bọn côn đồ, hối lộ quan chức chính phủ, đánh cắp thông tin nhà nước, cưỡng đoạt, mua chuộc nhân chứng… đủ để ngồi tù đến hết đời.

Những cuộc nghe lén điện thoại lần đầu tiên liên quan đến nhà tỉ phú Kirk Kerkorian, ông chủ các studio MGM, người đang gặp rắc rối trong chuyện ly dị. Trong vụ này, Pellicano được nhà tỉ phú trả cho hàng triệu đôla. Trên danh sách các nạn nhân bị nghe lén của Pellicano có mặt ngôi sao điện ảnh Sylvester Stallone, Keith Carradine, nguyên nhà sản xuất phim Aaron Russo…

Anthony Joseph Pellicano Jr., cháu nội di dân Sicile, chào đời năm 1944, lớn lên trong khu công nhân nghèo Chicago, bang Illinois. Đây là nơi Pellicano khởi nghiệp nghề thám tử . Năm 1977, Pellicano bắt đầu nổi tiếng khi bảo rằng mình tìm thấy xác của Mike Todd, người chồng thứ 3 của siêu sao huyền thoại Elizabeth Taylor, trong một nghĩa trang ở Chicago. Với "thành công" đó, Pellicano được Elizabeth Taylor giới thiệu với bạn bè của bà ở Hollywood! Lúc đó hắn được Luật sư Howard Weitzman tuyển dụng để giúp đỡ trùm tư bản John DeLorean – người bị cảnh sát nghi ngờ liên quan đến đường dây buôn ma túy. Năm 1983, Pellicano lập văn phòng ở Los Angeles.

Anthony Pellicano có trong tay tất cả hồ sơ về các nhân vật nổi tiếng: hắn moi móc thông tin tế nhị về Patricia Bowman, người phụ nữ trẻ buộc tội William Kennedy Smith cưỡng dâm. Hắn còn giúp sức cho Thống đốc Bill Clinton trong mùa chiến dịch tranh cử tổng thống năm 1992 bằng việc đào bới quá khứ của ứng cử viên đối thủ – Gennifer Flowers. Người ta cũng bắt gặp Pellicano làm việc cho siêu sao nhạc rock Michael Jackson trong vụ án lạm dụng tình dục.

Không từ bất cứ thủ đoạn nào, công việc của Pellicano có được hiệu quả không ngờ. Sau khi bắt giữ Anthony Pellicano, cuộc điều tra tiết lộ hắn đã mua chuộc nhân viên công ty viễn thông, như Rayford Earl Turner – hiện đang bị kết tội – đặt đường dây nghe lén điện thoại của nhà báo Anita Busch. Ngoài ra, Anthony Pellicano còn mua chuộc các nhân viên Sở Cảnh sát Los Angeles, như Trung sĩ Mark Aeneson, cung cấp hồ sơ điều tra về các nhân vật có tiếng tăm. Một số các nhân vật tiếng tăm nằm trong danh sách "các nạn nhân" của Anthony Pellicano. Brad Grey, ông chủ các studio Paramount, thừa nhận đã sử dụng dịch vụ thám tử tư trong vụ tranh chấp với diễn viên Garry Shandling.

Cho đến nay, nổi tiếng nhất trong số những người bị buộc tội trong "vụ án Pellicano" là John McTiernan, 55 tuổi, đạo diễn các phim hành động như "Cái bẫy phalê” và “Một ngày địa ngục” (Bruce Wikkis đóng) hay "Last Action Hero" (Arnold Schwarzenegger đóng). Bị tạm giam từ ngày 4/2, đạo diễn John McTiernan bị buộc tội nói dối với FBI về các cuộc nghe lén điện thoại – do chính ông ta thuê mướn và trả tiền – nhắm vào nhà sản xuất phim Charles Roven (người đồng sản xuất phim "Rollerball" với McTiernan năm 2002). Đạo diễn McTiernan sử dụng dịch vụ nghe lén của Pellicano trong khuôn khổ một vụ ly dị. Ngày 7/4, bị can cuối cùng trong vụ án Pellicano là Robert Pfeifer, 51 tuổi, cựu Chủ tịch Hollywood Records (Tập đoàn Disney), đã nhận tội. Ông ta thừa nhận đã tuyển dụng Pellicano năm 2000 với mục đích gián điệp và gây sức ép đối với một bạn gái chống lại ông ta trong một vụ kiện tài chính.

Tuy nhiên, 4 năm sau lúc bắt đầu cuộc điều tra, nhiều tình tiết chính trong "vụ án Pellicano" vẫn chưa giải quyết được. Ví dụ, ai đưa ra "sáng kiến" thuê người đe dọa nhà báo Anita Busch? Trong thời gian xảy ra vụ "con cá chết và bông hồng" năm 2002, nhà báo Anita Busch – nguyên Tổng biên tập tờ Hollywood Reporter – đang tiến hành điều tra sự dính líu với mafia của diễn viên phim hành động Steven Seagal. Ngày càng xuất hiện nhiều đơn kiện dân sự tố cáo hành vi nghe lén, xâm phạm đời tư của Anthony Pellicano. Xem ra vụ án Pellicano rối như mớ bòng bong và rất nhiều nhân vật tiếng tăm ở Hollywood đang nín thở trước sự kiện động trời này.

Chuyến du lịch định mệnh của Marleen Konigs

Marleen Konigs.

Trưa ngày 27/12/2003, một cô gái trẻ người Hà Lan tên Marleen Konigs được phát hiện nằm chết trong phòng số 23 của khách sạn Mossel Bay ở thành phố Cape Town, Nam Phi. Xác của nạn nhân nằm dưới sàn, ở vùng mặt và ngực có nhiều vết dao đâm. Giường nệm trong phòng bị xáo trộn chứng tỏ nạn nhân đã chống cự rất mãnh liệt trước khi bị sát hại.

Khám nghiệm của Cảnh sát TP Cape Town cho thấy trong cơ thể của nạn nhân có thuốc gây mê. Do hộ chiếu, tiền mặt, thẻ tín dụng, điện thoại di động và một số tư trang của nạn nhân đã biến mất nên cảnh sát kết luận đây là một vụ giết người cướp của. Giám định pháp y cho biết nạn nhân đã bị giết trước đó hai ngày, tức là vào ngày 25/12.

Cũng theo điều tra của cảnh sát thì nạn nhân Marleen Konigs, 22 tuổi, là sinh viên ngành truyền thông của Đại học Saxion Hogeschool ở thành phố Enschede, Hà Lan, nhập cảnh vào Nam Phi để đi du lịch vào ngày 22/12/2003 và đến thuê phòng số 23 của khách sạn Mossel Bay ở TP Cape Town từ ngày 24/12/2003.

Bốn ngày sau khi xảy ra vụ án mạng, ông Edwin Konigs, cha của nạn nhân, một cựu thanh tra cảnh sát ở thành phố Enschede, nhận được điện thoại từ Văn phòng Bộ Ngoại giao Hà Lan báo tin cô con gái Marleen Konigs đã bị sát hại tại TP Cape Town của Nam Phi và cho biết cảnh sát sở tại đang điều tra vụ án mạng nghiêm trọng này.

Thế nhưng, hai tuần sau ông Edwin Konigs được thông báo là Cảnh sát TP Cape Town đã tạm đình chỉ điều tra vụ án mạng. Lý lẽ mà họ đưa ra là tại hiện trường gây án không có đầy đủ chứng cứ. Trong khi đó các phương tiện truyền thông ở Hà Lan lại cho rằng lý do mà Cảnh sát TP Cape Town đưa ra kết luận cho rằng hung thủ là khách du lịch nước ngoài nhằm tránh dư luận cho rằng do chính người địa phương gây án, vì sợ làm ảnh hưởng đến ngành du lịch của TP Cape Town. Từ lúc đó, ông Edwin quyết định sẽ đích thân đến Nam Phi để tìm bằng được hung thủ đã giết hại con gái mình.

Tháng 2/2004, ông Edwin từ Hà Lan bay thẳng tới TP Cape Town rồi xin làm việc với Sở Cảnh sát TP Cape Town để biết thêm chi tiết về cái chết của con gái mình. Cho dù viên cảnh sát địa phương phụ trách công việc điều tra vụ án tỏ ra chẳng mấy mặn mà đối với sự hiện diện của ông Edwin nhưng cuối cùng vẫn trao cho ông tập ảnh chụp toàn cảnh hiện trường gây án. Ông Edwin liền mang theo tập ảnh tới căn phòng số 23 của khách sạn Mossel Bay, nơi con gái mình bị sát hại và phát hiện căn phòng đã được tân trang sau vụ án mạng nhưng khi ông lật giở tấm thảm trải sàn vẫn thấy vài vết máu thấm trên mặt sàn.

Dựa vào linh tính của một người cha và kinh nghiệm của một cựu thanh tra cảnh sát hình sự giàu kinh nghiệm ông Edwin khẳng định dứt khoát là có bàn tay nhân viên trong khách sạn Mossel Bay nhúng vào vụ mưu sát. Nếu không chẳng thể có chuyện mãi hai hôm sau khi Marleen bị giết người ta mới phát hiện ra.

Căn cứ vào sổ ghi chép của khách sạn thì Marleen làm thủ tục đăng ký thuê phòng vào chiều ngày 24/12/2003. Khoảng 8 giờ sáng ngày 25/12, Marleen có kêu nhân viên phục vụ phòng đưa cà phê và bánh tới. Phía khách sạn nói rằng trong phòng đóng kín cửa không hề có tiếng động, vì vậy họ không thể đưa bữa điểm tâm sáng tới. Nhưng theo phán đoán của ông Edwin thì nhân viên phục vụ không những đã mang cà-phê, bánh tới mà còn lén pha thuốc mê vào cà phê. Dựa vào chi tiết khám nghiệm tử thi, ông Edwin phân tích và phán đoán là hung thủ đã pha thuốc mê vào tách cà phê với ý định khi Marleen uống xong sẽ mê man và thừa cơ đó hắn sẽ cướp tiền bạc, tư trang. Nhưng Marleen lại có thói quen chỉ nhấm nháp cà phê chứ không uống hết một lần cạn tách. Khi tên tội phạm ước tính Marleen có thể đã ngấm thuốc, lăn ra mê man nên liền mở cửa phòng xông vào hành sự cướp bóc. Nhưng hắn thấy Marleen vẫn tỉnh táo nhận biết mọi sự việc. Vì thế hắn giết chết nạn nhân để bịt đầu mối.

Kiên định với phán đoán của mình, sau khi về lại Hà Lan, ông Edwin đã đệ đơn lên Bộ Nội vụ Hà Lan yêu cầu mở cuộc điều tra tìm ra sự thật vụ án mạng. Nhưng do phía Cảnh sát Nam Phi không muốn tiếp nhận sự giúp đỡ điều tra để phá án của cảnh sát nước ngoài nên yêu cầu của ông Edwin không thành. Không nản chí, ông Edwin chuyển hướng gặp gỡ, thuyết phục để yêu cầu sự giúp đỡ của một số nghị sĩ Quốc hội Hà Lan. Ông còn đến Đại sứ quán Nam Phi ở Hà Lan để trình bày và nhờ giúp đỡ. Lòng kiên trì và nhẫn nại của ông Edwin đã được đền bù xứng đáng. Do bị áp lực của dư luận  Cảnh sát Nam Phi quyết định khôi phục điều tra vụ án.

Từ tháng 6/2004, Cảnh sát TP Cape Town bắt đầu thẩm vấn và đi sâu thẩm tra tất cả các nhân viên phục vụ phòng tại khách sạn Mossel Bay từ ngày  25 đến 27/12/2003 và tạm giữ Ferdinandt Mostert, 41 tuổi, hầu phòng từng mang bữa sáng tới cho Marleen. Bị biệt giam và bị thẩm vấn liên tục, cuối cùng Mostert đành cúi đầu nhận tội và khai báo quá trình gây tội và giết hại Marleen Konigs. Theo lời thú nhận của Mostert thì ban đầu hắn chỉ định làm cho nạn nhân mê man bằng cách cho thuốc mê vào cà phê rồi cướp của, nhưng không ngờ  nạn nhân không uống hết tách cà phê, vẫn còn tỉnh táo nên cố chống cự lại. Biết sự việc bại lộ, hắn liền ra tay sát hại nạn nhân bằng nhiều nhát dao để diệt khẩu.

Cảnh sát điều tra lập tức tiến hành khám xét nơi ở của Mostert đề tìm vật chứng và phát hiện con dao mà thủ phạm dùng để gây án cùng một chiếc áo sơmi loang lổ vết máu mà hắn mặc khi gây án. Các đồ vật cướp được của nạn nhân hắn khai là đã đem bán, còn thẻ tín dụng sau khi sử dụng đã vất tất cả vào thùng rác công cộng.

Vào tháng 11/2004, Cảnh sát TP Cape Town kết thúc điều tra vụ án giết người cướp của đối với nạn nhân Marleen Konigs và chuyển hồ sơ sang tòa án. Vào ngày 27/12/2004, đúng một năm sau ngày Marleen Konigs bị giết hại, Tòa án TP Cape Town đã tuyên phạt tù chung thân về tội giết người cướp của đối với Ferdinandt Mostert.

"Vụ cướp thế kỷ" ở Thuỵ Sĩ

Trụ sở UBS

7h ngày 25/3/1990 tại trụ sở Liên hiệp các ngân hàng Thụy Sĩ (UBS), 5 tên cướp mang súng, đeo găng, bịt mặt tấn công bảo vệ và một số nhân viên khác của ngân hàng. Chỉ trong vòng 1 giờ 45 phút, chúng lấy đi gần 220kg tiền.

Patrick, một nhân viên bảo vệ kể lại: “Bọn cướp vô hiệu hóa hệ thống báo động. Chúng rành rẽ mọi thứ một cách đáng kinh ngạc: chúng biết khóa số để mở két sắt phòng ngoại tệ. Chúng nhồi vào các túi xách thể thao những xấp ngoại tệ”. Sau đó, chúng tẩu thoát qua thành phố còn đang ngái ngủ trong chiếc Renault Espace và một chiếc xe nhỏ mang biển số ở Haute-Savoie.

Hôm ấy là phiên trực của chánh thanh tra Marco Mattille ở Sở Cảnh sát. Mattille nghi ngờ có sự đồng lõa bên trong ngân hàng. Và trực giác của ông đã không lầm.

Buổi tối hôm 25/3/1990 tại Genève, một người đàn ông đang chăm chú xem bản tin trên truyền hình. Michel F. mỉm cười khi nghe phóng viên nhắc đến "vụ cướp thế kỷ". Nếu không có ông ta, một huấn luyện viên thể thao, vụ cướp đó sẽ không thể diễn ra. Michel đã mua từ một nhân viên của UBS bản đồ ngân hàng và bộ khóa số két sắt rồi trao cho nhóm hành động. Ông đã kết hôn với nữ trợ lý của ông trưởng ban ngoại tệ ở UBS. Nhờ vợ, ông thường đi lướt ván với ông chủ ngân hàng. Tuy nhiên, khi hành động bọn cướp đã qua mặt Michel F.

Đêm trước xảy ra vụ cướp, Michel mặc áo len vào rồi ra khỏi nhà để đến gặp nhóm hành động nơi họ đang ẩn náu. Ông đã gặp họ nhiều lần qua một người trung gian nhưng vì lý do an toàn nên ông không biết tên của họ. Khi đến số 47 bến Rhône, ông chỉ thấy nhiều mẩu tàn thuốc lá vương vãi dưới đất. Bọn cướp đã chơi khăm ông. Vị giáo sư thể dục nổi giận, lao vào cuộc truy đuổi.

Trước tiên Michel buộc người trung gian đã giới thiệu họ với ông giải thích sự việc. Vào lúc ấy, theo lời khuyên của một luật sư, họ chỉ muốn tìm một ngân hàng Thụy Sĩ  để gửi tiền. Người trung gian đề nghị ông đến gặp vị luật sư. Nhưng rõ ràng là Michel không gặp may. Số tiền thưởng bằng 10% số tiền bị cướp mà UBS đưa ra bắt đầu khiến người ta thèm thuồng. Ngay sau khi cuộc nói chuyện kết thúc, người trung gian tố cáo Michel với ngân hàng. Chẳng nghi ngại gì, Michel đến Côte d’Azur để gặp vị luật sư. Nhờ thế ông ta có được manh mối hướng ông đến Bastia.

Michel phái người em trai và một người bạn đến Bastia. Trong 3 ngày, từ 9 – 11/5/1990, họ theo dõi 2 gã cướp có máu mặt. Một gã tên là André Benedetti, biệt danh Dédé. Từng là cướp nhưng giờ đây Benedetti đã chuyển sang kinh doanh địa ốc và nhà hàng và rất đam mê hội họa. Mục tiêu thứ nhì là Jacques Patacchini, một cựu thủy thủ.

Trong khi đó, tại Genève, Michel F. tiếp tục thu thập thông tin. Còn thanh tra Marco Mattille vẫn quan sát, đánh giá ông ta. Mattille chưa muốn mất mối dây dẫn ông đến bọn cướp. Cuối cùng, ngày 29/5/1990, Michel bị bắt tại một phòng điện thoại công cộng. Trước cảnh sát, Michel F. nhanh chóng thú nhận vai trò của mình.

Michel F. đã khai gì? Vào tháng 11/1989, trong lúc thế giới đang chứng kiến sự sụp đổ của bức tường Berlin, Michel làm công việc chuyển các vali tiền từ Pháp sang Thụy Sĩ. Người ta yêu cầu ông liên hệ với UBS theo yêu cầu của một người ở đảo Corse tên là Dédé Benedetti, người này muốn gửi 5 triệu frăng bằng đồng lire Italia. Nhưng ngân hàng không chấp thuận vì cảm thấy có gì mờ ám. Phải chăng do chạm tự ái nên Benedetti đã nảy sinh ra ý tưởng cướp?

Vào đầu năm 1990 đã có 5 cuộc họp mặt, lúc tại Genève lúc ở nhà ga Annecy, cùng với những tên cướp gốc ở đảo Corse. Nhưng bất chấp vẻ ngoài "đàng hoàng" của chúng, Michel F. vẫn không an tâm. Thậm chí vào tháng 2/1990, ông còn nhờ một người bạn lén chụp ảnh bọn chúng khi đang họp. Michel muốn giữ lại bằng chứng nếu rủi ro ông bị kết thúc cuộc đời dưới đáy hồ Leman. Trong lời khai trước cảnh sát, Michel cũng cho biết tên 2 nhân viên bảo vệ của UBS, bị xem như đồng lõa.

Với các lời khai đó, cảnh sát nhanh chóng kết thúc cuộc điều tra. Ngày 13/5/1992, Michel F. cùng 2 bảo vệ bị kết án 7 năm rưỡi tù giam về tội "cướp đặc biệt nghiêm trọng". Chỉ có Sebastiano Hoyos là kêu oan. Hoyos người gốc Brazil sinh sống tại Pháp, nhưng không lâu sau, trốn sang Genève cùng với vợ con và được hưởng quy chế tị nạn chính trị. Để kiếm sống, ông xin vào làm bảo vệ cho UBS. Sau khi bị kết án, một ủy ban ủng hộ kêu gọi phục hồi quyền công dân cho ông. Hoyos đệ đơn kháng cáo lên tòa án liên bang. Cuối cùng, đến năm 1996 tòa án tha bổng ông trước sự hò reo của những người ủng hộ. Vụ việc ở Thụy Sĩ  coi như kết thúc.

Nhưng tiến trình điều tra ở Pháp lại có vẻ rắc rối hơn. Một mẻ lưới lớn được tung ra ngày 15/1/1991. Thanh tra Mattille và người trợ lý từ Genève đi đến Bastia. Nhưng Jacques Patacchini đã bỏ trốn, cả André Benedetti cũng thế. Sau một thời gian ngắn, Benedetti trở về nhà và làm một chỗ trú ẩn trong cái tủ chứa máy giặt. Hắn lắp 2 cái chốt khóa mà hắn kéo từ bên trong khi có báo động. Nhưng đến tháng 9/1991, hắn bị bắt trong chỗ trú.

Jacques Patacchini bị bắt ngày 13/1/1992 tại Saint-Laurent-du-Var trong lúc đang mua ống nhòm. Em hắn, Joel, và cả tên đồng bọn Alexandre Chevrière cũng bị bắt. Nhưng Chevrière khai ra một chứng cứ ngoại phạm: vào ngày diễn ra vụ cướp, lúc 9h hắn bị cảnh sát kiểm tra trong một quán bar ở Marseille. Biên bản kiểm tra được giữ tại Sở Cảnh sát Marseille. Tuy nhiên khi cảnh sát xem xét kỹ, phát hiện ra rằng biên bản đó là giả, do một tên đồng lõa trong Sở cảnh sát làm.

Ngày 7/6/2004, 3 người đã được trả tự do, chỉ có Chevrière còn bị giam. Các luật sư bào chữa rằng họ đã lẩn trốn vì bị buộc tội một cách oan ức, cảnh sát không tìm thấy ADN của họ trên những tàn thuốc lá ở nơi ẩn náu (47 bến Rhône) và cuối cùng là lời khai của các nhân chứng không nhất quán.

Nhân chứng là chìa khóa của phiên tòa, nhưng người ta lại không thấy họ mấy. Michel F. không chịu ra làm chứng vì lo sợ. Nhân viên bảo vệ đang bị giam cũng không chịu ra tòa. Người trung gian từng tố cáo Michel F. đã qua đời vì bệnh tật trước đó 2 năm. Còn ông luật sư  ở Côte d’Azur cũng không có mặt. Những nhân chứng chấp thuận ra trước tòa lại không dám nói nhiều. Theo phán quyết cuối cùng của toà án, được tuyên lúc 2h ngày 12/6/2004: 4 bị cáo được tha bổng.

Như thế, người ta đã không tìm lại được một xu nào trong số 124 triệu frăng ngoại tệ của UBS. Và tại Genève, người ta gọi đây là vụ cướp của thế kỷ.

1.320 ngày sống trong địa ngục của hai cô gái Nga

Lena và Katya.

Từ một chuyến xe quá giang, hai cô bé người Nga xinh xắn – Lena, 17 tuổi và Katya, 14 tuổi đã rơi vào tay một kẻ bệnh hoạn. Hắn đã cưỡng bức và nhốt hai cô trong một căn hầm bí mật trong gần 4 năm. Khi được giải thoát, Lena đang chuẩn bị sinh đứa con thứ 3 và suýt mất mạng vì sinh khó.

Lena và Katya hầu như không biết nhau nhiều lắm từ trước, khi họ cùng đi đến quán bar disco vào tối 30/9/2000. Lena là bạn của chị Katya, và cô đã đồng ý hộ tống cô em gái Katya đi chơi vì không còn ai khác để theo họ. Họ xuất phát từ nhà và đi đến thị trấn Ryazan kế cận. Đến cuối buổi tối, hai cô gái đồng ý đi nhờ xe một người đàn ông tên là Mokhov. Mokhov trông có vẻ hiền lành. Hơn nữa, hắn lại đi cùng bạn gái, nên Lena và Katya cảm thấy an toàn và tin tưởng ngay.

Mokhov mời hai cô bé một ly nước. Nhưng sau khi uống xong, hai cô gái cảm thấy choáng váng, xung quanh như phủ mây mù và không còn biết điều gì đang xảy ra nữa. Họ lên xe đi một hành trình khá dài, đến căn hầm đa năng bí mật của hắn. Katya bị lôi ra khỏi xe và bị cưỡng bức ngay tại chỗ một cách tàn bạo. Xong hắn kéo cô vào nhà xe, mở một cánh cửa bí mật và đẩy cô xuống dưới cầu thang. Lena cũng đổ ập lên người cô sau đó.

Mokhov đã gia công tỉ mỉ chuẩn bị căn hầm của hắn ở thị trấn Skopin, cách quán bar disco 110 km, lắp đặt một lò nướng, một lò sưởi để chống lại cái lạnh cắt da dưới OoC khi mùa đông đến, một máy cassette, một radio, bút chì và giấy. Căn hầm không nhận được ánh sáng tự nhiên và đã được cách âm nên những tiếng thét đến khản cổ của các cô gái bị hắn bắt cóc sẽ không thể lọt vào tai những người qua lại. Trong suốt thời gian ở dưới hầm, các cô hoàn toàn bị lệ thuộc vào hắn. Họ cố kháng cự. Nhưng mỗi lần như vậy, Mokhov đã trừng phạt bằng cách cắt điện – dẫn đến hậu quả là họ bị lạnh và đói.

Thoạt đầu, hắn ta ngày nào cũng cưỡng bức hai cô. Về sau, nhu cầu của hắn là 2 lần trong một tuần. Mỗi lần như vậy, hắn lôi riêng một cô ra một căn phòng nhỏ trong hầm. Trên tường căn phòng này dán toàn những tranh ảnh khiêu dâm cắt từ các tạp chí. Một tháng sau khi bị bắt cóc, Lena và Katya đã cùng nhau lên kế hoạch giết Mokhov: siết cổ hắn bằng dây điện của hệ thống lò sưởi. Nhưng hắn quá khỏe nên đã giật phăng sợi dây ra khỏi cổ. Sau đó, họ ra sức năn nỉ Mokhov hãy thả họ ra, và hứa sẽ không tố cáo với cảnh sát. Tuy nhiên, Mokhov đã phán một câu rất lạnh lùng: “Giết các cô còn dễ hơn là thả các cô ra! Và tôi sẽ chỉ thả các cô sau 20 năm nữa, cho đến khi nào mỗi cô sinh cho tôi được 10 đứa con thì mới thôi!“.

Quãng thời gian dài 1.320 ngày trong cảnh làm nô lệ tình dục của họ thật là kinh khủng. Trong 6 tháng đầu, họ chỉ biết ôm chặt nhau, kêu khóc đến cạn cả nước mắt, sống vật vờ buông xuôi, chẳng buồn tắm rửa, ăn uống qua loa cho xong. Sau đó, họ hiểu rằng mình cần phải có một thói quen sống tốt hơn để giữ cho đầu óc tỉnh táo. Ngày nào họ cũng cầu nguyện, dù sợ chết nhưng vẫn không từ bỏ hy vọng được cứu thoát. Họ luôn luôn chuẩn bị sẵn một miếng giấy nhỏ ghi địa chỉ nhà ở của cha mẹ và cho biết tình cảnh của mình. Sau đó, họ bắt đầu thu dọn giường, nấu ăn, bận rộn càng nhiều càng tốt. Với nguồn cung cấp thực phẩm là gạo, kiều mạch, rau, thỉnh thoảng là trái cây và thịt cho Lena khi cô mang thai, Katya đã chịu khó nấu ăn và nhường phần ngon hơn cho Lena. Cuối cùng, họ đã được phát hiện khi Mokhov bắt đầu dễ dãi hơn.

Một ngày nọ, hắn cho phép Katya ra ngoài để thở hít đôi chút không khí, xong mời cô đến nhà hắn chơi. Cô đã thủ sẵn một miếng giấy nhỏ và nhét nó vào băng cassette của một cô gái đang thuê một phòng trong căn nhà của Mokhov. Một tuần sau, ngày 4/5/2005, cô gái này tìm thấy mảnh giấy và nhanh chóng đi báo cảnh sát. Khi cảnh sát ập vào, họ đã bị sốc nặng khi thấy Lena đang lặc lè với chiếc bụng bầu to tướng, tuôn rơi nước mắt cầu xin họ đi tìm hai đứa bé mà cô đã sinh từ trước và bị Mokhov mang đi đâu không rõ. Sốc hơn nữa là việc khi Lena chuyển dạ sinh con trong căn hầm, thì Katya buộc phải trở thành bà đỡ với những công cụ thô sơ mà Mokhov cung cấp.

Sau khi bị bắt và có khả năng nhận bản án tù rất lâu, Mokhov khai nhận rằng, việc làm cho các cô gái mang thai là một phần lớn của động lực muốn có thật nhiều con. Hai đứa trẻ đã bị hắn bỏ bên ngoài cửa hàng và đã được hai gia đình nhận về làm con nuôi. Còn đứa thứ ba thì bị chết ngay khi chào đời vì sinh khó. Các bác sĩ cho biết, nếu Lena không được cứu thoát kịp thời thì có lẽ cô sẽ phải mất mạng trong lúc sinh con do những tai biến khi sinh.

Mokhov đã tiêm một liều độc dược vào niềm hy vọng có được một cuộc sống gia đình bình thường của Lena. Cô đã mất người yêu và mất cả niềm hy vọng vào tương lai. Katya vẫn đang chịu những chấn thương tinh thần, nhưng cô vẫn hy vọng vào ngày mai. Cô vẫn có thể yêu nếu như tìm được một người đàn ông tuyệt vời, nhưng cô nhất định sẽ mãi mãi chôn giấu những ký ức này trong tim.

Âm mưu và tội ác

Thủ lĩnh nhóm bắt cóc Youssef Fofana.

Từ sáng ngày 13/2/2006, tinh thần mọi người tại trụ sở cảnh sát ở số 36 bến Orfèvres đã xuống rất thấp: hôm ấy một người đi đường đã phát hiện ra Ilan Halimi nằm hấp hối gần nhà ga Sainte-Genevière-des-bois. Anh chàng bán điện thoại di động 23 tuổi này đã bị bắt cóc trước đó 3 tuần. Có những vết tích tra tấn và cháy bỏng trên 80% cơ thể của anh, thậm chí anh còn bị tưới xăng.

Theo cảnh sát, Ilan Halimi đã phải trải qua một khổ hình ê chề và đã chết trong khi được đưa đến bệnh viện. Giới cảnh sát hình sự bực tức nói, làm sao lại xảy ra sự man rợ đó trong khi việc thương lượng sắp có kết quả?

Đêm 20/1, Ilan  Halimi đi đến một cuộc hẹn vui chơi ở Paris (Pháp). Trước đó vài ngày, có một cô gái xinh đẹp đã đến cửa hàng điện thoại di động của anh, đó chính là mồi nhử của bọn bắt cóc. Về sau cảnh sát được biết rằng bọn bắt cóc đã áp dụng chiến thuật đó nhiều lần và đã thành công, lúc thì với một cô gái tóc vàng, lúc lại tóc nâu. Có ít nhất 3 âm mưu bắt cóc giống như thế đã được cảnh sát làm sáng tỏ. Chỉ nhờ sự tình cờ hoặc nghi ngờ của đương sự mà công việc bị thất bại. 

Mục đích đầu tiên của chúng là nhằm lấy tiền chuộc của gia đình nạn nhân giống như những vụ bắt cóc thông thường. Cha và người yêu của Ilan đã nhanh chóng nhận được điện thoại, e-mail và tin nhắn đòi từ 50.000 đến 450.000 euro tiền chuộc. Trở ngại đầu tiên là họ không thuộc giới khá giả. Điều này khiến cảnh sát nghi ngờ rằng có sự thông đồng giữa Ilan và bọn bắt cóc, sau đó họ lại suy luận có thể Ilan đã khoác lác về một sự thừa kế kếch sù. Chỉ biết rằng cuối cùng số tiền chuộc đã giảm đến nực cười, chỉ còn 5.000 euro, nhưng bọn bắt cóc lại không đưa ra cách thức trao tiền.

"Xét về phương cách liên lạc thì quá hoàn hảo, không có sai lầm gì. Chỉ đến khi phải hoàn tất thì chúng lại run sợ hoặc chẳng biết làm gì tiếp theo nữa. Hoặc là chúng muốn chơi trò mèo vờn chuột với chúng tôi" – một nguồn tin của cảnh sát cho biết. Suốt những ngày sau đó, cảnh sát hình sự đã thiết lập một hệ thống theo dõi, mai phục suốt 24/24 giờ. Có lúc chỉ còn trong gang tấc là họ nắm được tên thủ lĩnh, một gã da đen che mặt bằng khăn quàng cổ được thấy trên vidéo kiểm tra. 

Cảnh sát thay phiên nhau túc trực tại nhà nạn nhân để ghi âm và xử lý những cuộc gọi của bọn bắt cóc. Việc điều đình kéo dài bởi bọn chúng đưa ra những cuộc hẹn sau đó lại hủy bỏ, tựa như để đùa bỡn với cảnh sát. Do vậy cảnh sát thắc mắc phải chăng họ đang đối đầu với một băng nhóm giống như AZF mà những đòi hỏi phi lý đã khiến nhà chức trách Pháp điên đầu trong năm 2004 và 2005.

Việc tìm thấy Ilan đã đẩy nhanh cuộc điều tra. Trong khi các quan tòa buộc phải công bố vụ việc mà cho đến lúc ấy luôn được giữ kín, giới cảnh sát lại ngỡ ngàng: đây là lần đầu tiên mà một vụ bắt cóc tại Pháp bị kết thúc bằng cái chết của nạn nhân. Bàng hoàng vì sự dã man của bọn bắt cóc, họ nỗ lực điều tra trong khi các nhà chuyên môn tranh luận về động cơ của chúng, nào là "tội ác vô cớ", "phi xã hội", "phân biệt chủng tộc"… Một số người lại cảnh giác: "Đây cũng có thể là một lời cảnh báo. Do lo sợ nên gia đình các nạn nhân tiếp theo sẽ bằng lòng giao tiền chuộc mà không dám báo cảnh sát".  

Qua các thiết bị kỹ thuật, cảnh sát đã biết được hành tung của một kẻ trong nhóm. Hắn có biệt danh là "Bộ não của nhóm man rợ" và hắn đang lẩn trốn. Youssef Fofana, 26 tuổi, đã thoát được chiến dịch truy quét của cảnh sát vào đêm 16/2. Hắn được xem như là thủ lĩnh của nhóm bắt cóc.     

Đa số bọn chúng có liên can trong ít nhất 6 đến 7 vụ mưu toan bắt cóc trong những tháng gần đây và đều sống trong một chung cư tại Bagneux. Chúng chuyên sử dụng gái để làm mồi nhử. Theo ngài biện lý Jean-Claude Marin, Youssef Fofana là một kẻ "cực kỳ nguy hiểm" với các tiền án trộm cướp và tàng trữ đồ gian. Tổng cộng có 15 người đã bị bắt, trong đó có một cô gái người Bỉ chuyên làm trung gian để nhận tiền chuộc. Ngoài Youssef Fofana mà ảnh chụp đã được phổ biến cho cảnh sát biên phòng và giới báo chí, ít nhất có một kẻ chuyên làm mồi nhử cũng đang bị truy lùng. Đó là một cô gái người Bắc Phi, cánh tay mặt của Youssef, kẻ đã dụ dỗ Ilan Halimi vào bẫy. 

Một kẻ bị tạm giam thừa nhận rằng mục đích của nhóm là vì tiền. Như thế không hề có động cơ bài Do Thái như cộng đồng người Do Thái đang lo ngại. Nhiệm vụ được phân công rõ ràng giữa những người lo cung cấp dụng cụ, người canh giữ nạn nhân và người trung gian để nhận tiền chuộc. 

Các điều tra viên thắc mắc về sự dã man mà nạn nhân đã phải chịu đựng. Ilan đã bị lột trần, mặt bị trùm kín, thân mình chịu nhiều cú đánh đập và đâm chém rồi bị tưới xăng. "Chúng không có giới hạn. Đó là những kẻ thuộc thế hệ Internet, thế hệ điện thoại. Chúng rất ranh ma. Chúng tổ chức chung quanh một hạt nhân gồm những bạn học hay bạn thời thơ ấu" – Cảnh sát trưởng Francois Jaspart nhận xét.

Qua lời khai của những kẻ bị tạm giam, cảnh sát tìm ra sào huyệt của bọn bắt cóc. Gian phòng mà Ilan Halimi bị tra tấn được người gác cổng giao cho bọn bắt cóc sử dụng. Có lẽ bắt chước theo các phim hình sự nên bọn chúng đã lau sạch mọi dấu vết và có thể đã tắm rửa cho nạn nhân. Một sự cẩn trọng khác: Youssef Fofana có thói quen lấy pin ra khỏi điện thoại để không bị phát hiện.  

Cuộc điều tra đã được đẩy nhanh nhờ lời khai của một cô gái tóc vàng đã từng làm mồi nhử của chúng: Audrey Lorleach, 24 tuổi. Nhưng do không hiệu quả nên Youssef và đồng bọn đã bỏ cô. Khai với cảnh sát, cô thừa nhận tính chất hình sự của công việc, nhưng không ngờ rằng lại kéo theo những trò man rợ, tra tấn. Cô đã ra trình diện với nhà chức trách sau khi nhiều người quen nhận ra cô trên ảnh do cảnh sát công bố. Bạn gái của cô, Murielle Izouard, người đã nhận ra ảnh của cô trên báo chí, cũng bị tạm giam để thẩm vấn về tội "không trình báo tội phạm", vì quan tòa cho rằng nạn nhân có thể sống sót nếu cô sớm báo cho nhà chức trách biết.  

Trong ngày 17/2, khoảng 500 người đã đến tham dự tang lễ của Ilan Halimi tại nghĩa trang Do Thái Pantin. Đến chiều ngày 19/2, hàng trăm người đã biểu tình tại quảng trường Cộng hòa ở Paris để tưởng nhớ Ilan Halimi. Họ hô lớn: "Hãy trả thù!".


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét