Cha Jean Monbourquette OMI là giáo sư Mục Vụ ở Đại Học Saint-Paul ở Ottawa – Canada, Điều phối và huấn luyện viên Trung tâm Gia Đình và Cộng đồng. Cử nhân Thần học, Cao học Triết, Cao học về Giáo dục ĐH Ottawa, Cao học Tâm lý lâm sàng ĐH San Francisco, Tiến sĩ Tâm lý ĐH Los Angeles. Tác giả cuốn sách bán chạy nhất Aimer, Perdre et Grandir.
Làm người, ai mà chẳng có lúc lầm lỗi : lầm lỗi mình gây nên cho kẻ khác, lầm lỗi kẻ khác gây ra cho mình, hoặc vô tình hoặc cố ý ; và lầm lỗi nào cũng gây nên một vết thương. Lầm lỗi cần được tha thứ và vết thương cần được chữa lành. Nhưng LÀM SAO THA THỨ ? Làm sao chữa lành ? Đó là vấn đề. Nhất là khi sự xúc phạm đến từ những người thân yêu, những người mình tin tưởng, những người đáng ra phải đứng về phía mình…, thì vết thương lại càng đau đớn và sự tha thứ trở nên càng khó !
Phêrô hỏi Chúa Giêsu : “Thưa Thầy, khi anh em lỗi phạm đến con, thì con phải tha thứ cho họ mấy lần ? Có tới bảy lần chăng ?” Chúa Giêsu đáp : “Thầy không nói là bảy lần, nhưng là tới bảy mươi lần bảy” (Mt.18, 21-22). Chúa còn bảo : “Nếu mỗi ngày, anh em con xúc phạm đến con tới bảy lần, và bảy lần nó trở lại với con mà nói Tôi hối hận thì hãy tha cho nó” (Lc.17,4). Ngài còn đi xa hơn nữa : “Khi con đang dâng của lễ nơi bàn thờ mà sực nhớ người anh em lỗi phạm đến con, thì hãy để của lễ lại đó, đi làm hòa với người anh em trước đã rồi bấy giờ trở lại dâng của lễ của con” (Mt.5, 23-24).
Điều đó quả thật không dễ : Mình có lỗi mà đi làm hòa đã khó, huống chi khi người khác có lỗi với mình và mình là nạn nhân ! Vì “khi một người cảm thấy bị thương tổn, người ấy sẽ bị cám dỗ đầu hàng cơ chế tâm lý của sự tự ái và trả thù, bất chấp lời mời gọi của Chúa Giêsu” (Sứ điệp Mùa Chay 2001 của ĐTC Gioan Phaolô II). Khó, nhưng cần thiết biết bao, vì “tha thứ và xin thứ tha tạo ra một phẩm chất mới trong quan hệ giữa người với người, ngăn chặn vòng xoáy trôn ốc của thù hận và trả thù, trả oán, và bẻ gãy xiềng xích tội lỗi trói buộc trong tâm tư những người thù hận nhau…. không có con đường nào khác hơn là tha thứ và xin thứ tha” (Sứ điệp …).
Cũng chính vì thế mà Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã chọn chủ đề cho Ngày Hòa Bình Thế Giới năm 2002 là “Không có tha thứ thì sẽ không có Hòa Bình”. Trong thời gian qua, đã có hai chủ đề liên quan đến Tha Thứ. Đó là chủ đề của sứ điệp Hòa Bình năm 1975 : “Hòa Giải là con đường dẫn đến Hòa Bình”; và chủ đề của năm 1997 : “Hãy trao ban tha thứ, bạn sẽ nhận lại Hòa Bình”. Trong lời mời gọi hãy tha thứ, ĐTC Gioan Phaolô II bàn về vài điều kiện cần được nhìn nhận và thực hiện, ngõ hầu hòa bình có thể có được. Những điều kiện đó là sự đối thoại thành thật và liên lỉ, sự chấp nhận trách nhiệm và sự nhìn nhận sự tự do con nguời. Giáo Hội đi theo con đường “thanh tẩy ký ức” cách can đảm và khiêm tốn, đặt hết niềm tin tưởng vào tình thương nhân từ của Chúa, và khuyến khích thế giới hãy tin tưởng vào sức mạnh của sự thật và tình thương.
Như thế tha thứ là một nổ lực vừa nhân bản vừa thiêng liêng, là một hợp tác không những giữa kẻ gây nên xúc phạm và người bị xúc phạm, mà còn giữa con người với Thiên Chúa. Tha thứ bao hàm cả lãnh vực thể chất, lẫn tâm lý và thiêng liêng, huy động mọi phần và mọi quan năng của con người mình, nên tiến trình tha thứ vừa dài vừa phức tạp và khó khăn, có khi phải luyện tập vòng lui vòng tới nhiều lần và can đảm bắt đầu trở lại ở một giai đoạn nào đó hoặc ngay cả từ đầu, mỗi khi thất bại, dù việc tập luyện đôi khi như đóng kịch !
Việc nầy còn tùy thuộc một yếu tố quan trọng khác nữa là thời gian : phải có thời gian cho hạt cát biến thành ngọc trai, phải có thời gian cho việc tốt tích lủy thành nhân đức, phải có thời gian cho nỗi đau dịu xuống, vết thương liền sẹo và được lành, phải có thời gian cho tha thứ thành tự nguyện và thực hiện được, đốt giai đoạn là thất bại và hỏng việc.
Thành thật thú nhận bản thân tôi đã trải qua nhiều kinh nghiệm khó khăn và thương đau trong lãnh vực nầy, nên khibạn thân từ Canada gởi cho cuốn LÀM SAO THA THỨ ? (Comment pardonner ?) của Jean Monbourquette o.m.i, do nhà xuất bản NOVALIS ấn hành, thì như “bao nhiêu năm mệt nhòa, mình tìm mà tìm không ra, thế nhưng bây giờ thành bại tùy ta”, tôi đã đọc say mê từng dòng từng trang. Hưởng được nhiều lợi ích trong việc chữa lành và lớn lên nhờ tha thứ và được tha thứ, tôi xin được phỏng dịch, thích nghi và thay đổi một số chi tiết cần thiết để chia sẻ với người khác, như một ước vọng và một đóng góp cho Giáo Hội và Xã Hội của chương trình CHO MỘT TƯƠNG LAI TỐT ĐẸP HƠN. Nếu chỉ có một người cảm thấy được ích từ công việc nầy thôi, thì tôi cũng đã mãn nguyện lắm rồi, và hết lòng tạ ơn Ba Đấng.
Làm sao tha thứ ? Đó là một vấn nạn tôi quan tâm từ 10 năm nay. Chính tôi đã vấp phải sự khó tha thứ và tôi cũng đã gặp cùng vấn đề đó nơi các đọc giả, bệnh nhân và những người tôi tháp tùng thiêng liêng.
Tác phẩm nầy là kết quả của một cuộc nghiên cứu và suy tư lâu dài được nuôi dưỡng đồng thời bởi những kinh nghiệm lâm sàng bên cạnh nhiều người và những kiến thức về tâm lý và thiêng liêng của tôi. Ý hướng của tôi khi viết tác phẩm nầy thật rõ ràng : cung cấp một chỉ dẫn thực hành để học tha thứ theo tiến trình 12 giai đoạn.
Nhiều người hỏi tôi : “Nhưng tại sao lại 12 giai đoạn ? Nhiều quá !” Đúng vậy, tôi công nhận như thế. Bởi vì các bạn nghi ngờ, tôi không đi vào ngay. Đó là kinh nghiệm tôi đã khám phá được rằng một số người dù rất muốn tha thứ lại cảm thấy bị ách tắc vào những thời điểm nhất định trong tiến trình của họ.
Phải đọc tác phẩm nầy thế nào ? Trước hết, điều quan trọng là đọc giả phải chú ý đến tiến trình cá nhân và cách thức tha thứ của mình. Có những người sẽ đọc lướt qua cả cuốn sách ngay một mạch. Một số khác lại thích nhặt lấy đó đây những chỉ dẫn theo nhu cầu mỗi lúc của họ. Các chương nầy có vẻ đã được đọc qua rồi, trong khi những chương khác có vẻ mới và chưa hề đọc. Nếu đọc giả nhận thấy một chương nào thích hợp, thì hãy để thời giờ học hỏi cặn kẻ hơn và đem ra thực tập. Đọc giả sẽ có thể biết rõ hơn các trạng thái tâm hồn của mình, xác định các ách tắc, tìm được phương thế giải quyết chúng và đi từ thành công nầy đến thành công khác. Như thế, tôi có thể nói với mỗi người : “Chúc may mắn suốt cuộc hành trình nội tâm nhằm khám phá một sự tha thứ chữa lành và giúp lớn lên”.
Cuốn LÀM SAO THA THỨ nầy nhắm đến ai ? Nó cố ý được viết cho số lớn đọc giả có thể, dù họ là tín hữu hay không. Bạn sẽ nhận thấy gợi hứng kitô giáo trình bày trong đó rất rõ. Có thể một số người không sử dụng từ ngữ “Thiên Chúa” khi mô tả khía cạnh thiêng liêng của sự tha thứ. Họ cứ thoải mái dùng từ ngữ nào cảm thấy thích hợp nhất tùy theo định hướng thiêng liêng của mình, chẳng hạn “Đấng Siêu Việt”, “Siêu Ngã”, “Suối Nguồn hay Năng Lực Thần Linh”, “Tình Yêu Vô Điều Kiện” v.v…
PHẦN THỨ NHẤT
NHỮNG SUY TƯ và ĐỊNH HƯỚNG về BẢN CHẤT của THA THỨ
Giới thiệu tổng quát
“Anh tìm dạy cái gì về mình khi viết một cuốn sách về tha thứ ?” Câu hỏi nầy của một người bạn mà tôi vừa thổ lộ dự tính của mình đến với tôi thật bất ngờ và đã bắt tôi suy nghĩ. Cho đến lúc đó, tôi cứ tưởng là mình đã quyết định viết cho những người khác về tha thứ. Nhờ suy nghĩ, tôi nhận thấy rằng tôi dấn thân vào cuộc phiêu lưu nầy trước hết là cho chính tôi. Suốt ba năm, tôi đã vật lộn không thành công trong việc muốn chữa lành một vết thương tình cảm. Tôi tưởng tìm được trong một sự tha thứ nào đó thuần túy do ý chí một giải đáp phép lạ cho mọi nỗi cay đắng của mình. Không có trường hợp đó. Tôi đã không đạt được sự bình an nội tâm hằng tìm kiếm.
Khám phá nầy là một trong những biến cố chính thúc đẩy tôi thực hiện và theo đuổi cuộc nghiên cứu về trạng thái động của tha thứ. Bấy giờ tôi tự hỏi tại làm sao tôi đã không thoát khỏi được mối oán hận của mình, mặc dầu đã rất thiện chí và nhiều cố gắng. Tôi có cảm tưởng như đã phung phí thời gian và nghị lực trong những nghiền ngẫm vô ích về quá khứ.
Tôi càng muốn tha thứ thì lại càng ít thành công. Tôi chìm đắm trong vũng lầy các cảm xúc trộn lẫn sợ hãi, mặc cảm tội lỗi và tức giận. Đôi khi giữa sự hổn loạn nội tâm đó nẩy lên những nhiệt tình nhân hậu ngắn ngủi và những lúc được giải phóng nội tâm thoáng qua. Lúc khác, tôi cảm nhận niềm hy vọng vượt thắng được lòng muốn báo thù của mình, nhưng niềm hy vọng ấy mau chóng bị dập tắt bởi những đợt bột phát của bạo lực và tự ái bị tổn thương. Bấy giờ tôi hiểu được rằng mình đang còn ở giai đoạn tập tễnh trong nghệ thuật tha thứ, mặc dầu đã trải qua nhiều năm dài đào tạo tôn giáo, triết học, thần học và mục vụ. Do đó tôi bắt đầu đọc về đề tài nầy, cật vấn kinh nghiệm riêng của tôi cũng như kinh nghiệm của những người tôi hướng dẫn và của các bệnh nhân của tôi. Tôi muốn dứt khoát khám phá ra cái gì làm ách tắc tiến trình tha thứ của tôi. Liệu cuối cùng tôi có thể nhìn thấy được cuối đường hầm không ?
Một biến cố khác trở nên quyết định : Tôi chứng kiến một sự chữa lành tâm lý, kể cả thể lý, bất chợt xảy đến theo sau một cuộc tập luyện tha thứ. Tôi đã nhận vào tâm lý trị liệu một người đàn ông 55 tuổi, là một giáo sư đại học, có một niềm tin tôn giáo sâu sắc. Niềm say mê công việc và những vấn đề gia đình của ông đã làm cho ông suy sụp trong sự trầm uất, dẫn đến bệnh loét bao tử. Sau mười lần gặp, bệnh nhân của tôi đã học được tự giải thoát mình khỏi nỗi đau bằng cách diễn tả ra cách minh bạch sự thất vọng, bị tước đoạt và tức giận đối với người vợ say rượu, đứa con trai nạn nhân của ma túy và đứa con gái say mê điên khùng một chàng trai mà ông ghét cay ghét đắng. Sự hồi thức tiến dần lên nầy, dựa trên sự chấp nhận những tình cảm tiêu cực của mình đã cung ứng cho ông một nâng đỡ rõ rệt. Sau một chuỗi trị liệu mà tôi cảm thấy dường như hết cách, tôi đã nghĩ đến kỹ thuật chiếc ghế trống, hay đúng hơn là những chiếc ghế trống, mà mỗi chiếc thay thế cho một thành phần trong gia đình của ông. Tôi gợi ý ông tha thứ cho mỗi người trong bọn họ. Đó là một cuộc gặp gỡ rất cảm kích. Nhiều lần, bệnh nhân của tôi đã khóc nức nở lúc nói lên lời tha thứ của mình. Và cách tự phát, chứ chẳng phải xin xỏ gì, đến lượt mình, ông đã xin mỗi người trong bọn họ tha thứ cho ông về sự vắng mặt quá nhiều và sự thiếu quan tâm nói chung của ông. Hai tuần sau buổi trị liệu ấy, ông báo cho tôi hay rằng các vết loét dạ dày của ông đã liền sẹo. Tôi tự hỏi không biết cắt nghĩa l! àm sao sự tha thứ đã có thể có hậu quả chữa lành ngay cả những bệnh thể lý ?
Thỉnh thoảng có những người viết chia sẻ với tôi các khó khăn họ cảm nhận trong việc tha thứ. Mọi người đều đồng ý về vẻ đẹp và sự cần thiết của tha thứ, nhưng luôn tự hỏi làm sao để đạt tới được lý tưởng đó. Chúng ta gặp biết bao nhiêu người thất vọng trước sự không thể tha thứ của họ. Họ có cảm tưởng như đang tiến về một ngôi sao, mà họ càng tiến lại gần thì nó lại càng đi xa ra.
Cái thường làm gay gắt thêm cảm giác bất lực như thế, chính là việc trình bày những gương tha thứ đáng ngưỡng mộ hơn là bắt chước được. Làm sao dám nghĩ mình có thể bắt chước Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II tha thứ cho kẻ ám sát mình, hay Ghandi dạy bất bạo động và tha thứ đối với những kẻ bách hại mình, hoặc hơn nữa Đức Giêsu bị đóng đinh nài xin Thiên Chúa tha thứ cho các lý hình ? Bên cạnh những con người tha thứ vĩ đại ấy, không ai nghĩ mình có tầm cỡ đó. Người ta thấy mình như được sai đi câu cá voi mà chỉ trang bị bằng một cần câu yếu ớt.
Tuy nhiên, sự tha thứ chiếm một chỗ trung tâm trong nền tu đức của các tôn giáo lớn, đặc biệt là kitô giáo. Tôi không dám tự phụ rằng việc tôi đang suy tư sẽ tìm được ngôn ngữ tinh tế và chính xác cuối cùng cho vấn đề tha thứ. Chủ tâm của tôi thật khiêm tốn. Trước hết tôi muốn vạch rõ một số quan niệm sai lầm về sự tha thứ. Người ta đặt vào dưới từ ngữ “tha thứ” nầy những thực tại xa lạ với nó, đến đổi nhiều người quá vồn vả tha thứ cảm thấy bị rơi vào những ngõ cụt tâm lý và thiêng liêng.
Bạn sẽ tìm thấy trong phần thứ nhất những ý niệm lý thuyết về bản chất của sự tha thứ để khỏi rơi vào bẩy của những sự tha thứ giả tạo và sai lầm, đồng thời để giúp bạn hiểu được hành vi tha thứ của bạn. Trong phần thứ hai, tôi xin đề nghị một lối sư phạm về tha thứ theo một tiến trình 12 giai đoạn. Tôi xác tín rằng một diễn tiến như thế sẽ dẫn đưa các cõi lòng bị tổn thương khám phá được trong sự tha thứnguồn bình an và giải thoát nội tâm hằng mong ước.
Dù sao đi nữa, những biến cố trong cuộc sống hàng ngày chứng tỏ rõ ràng rằng sự tha thứ và hòa giải cần thiết biết bao cho sự canh tân cá nhân và xã hội. Điều này không chỉ đúng trong quan hệ giữa cá nhân với nhau mà còn trong phạm vi các cộng đồng và các dân tộc.
Gioan Phaolô II
Tha thứ vẫn luôn có tính cách thời sự, cả trong thế giới tục hóa của chúng ta. Không cần phải mất nhiều thời gian lắng nghe người khác thổ lộ mới nhận ra sự cần thiết nóng bỏng của tha thứ. Quả thực, chẳng ai thoát khỏi những tổn thương do mất mát, chán nãn, phiền muộn, đau buồn vì tình, phản bội, v.v… Những khó khăn trong cuộc sống chung được tìm thấy rất nhiều ở khắp mọi nơi : những xung đột giữa vợ chồng, trong gia đình, giữa những người yêu phải chia tay, giữa vợ chồng ly thân – ly dị, giữa chủ và thợ, giữa bạn bè, giữa láng giềng, giữa các chủng tộc hay quốc gia. Một ngày nào đó, tất cả đều cần đến sự tha thứ hầu tái lập hòa bình và tiếp tục chung sống với nhau. Trong cuộc lễ kỷ niệm 50 năm thành hôn, có người hỏi bí quyết của đôi vợ chồng. Người vợ trả lời : “Sau một cuộc cải vả, không bao giờ chúng tôi đi ngủ mà không xin lỗi lẫn nhau”.
Để khám phá ra tất cả tầm quan trọng của tha thứ trong các mối tương quan nhân loại, chúng ta hãy thử tưởng tượng một thế giới không có tha thứ sẽ như thế nào. Đâu là những hậu quả trầm trọng của nó ? Có lẽ người ta sẽ bị kết buộc trong bốn chọn lựa sau đây, mà chúng ta sẽ khảo sát cặn kẻ hơn :
- Duy trì mãi trong mình và trong kẻ khác sai trái đã phải chịu,
- Sống trong sự oán giận,
- Bám chặt vào quá khứ,
- Trả thù.
1. Duy trì mãi trong mình và kẻ khác sự dữ đã phải chịu :
Khi ai bị tác hại đến toàn bộ thể lý, tinh thần hay thiêng liêng, thì có cái gì đó nghiêm trọng sản sinh nơi người ấy. Một phần hữu thể của họ bị va chạm, xé nát, bị hoen ố và xúc phạm, dường như sự độc ác của kẻ tấn công đã động đến cái tôi thâm sâu của mình. Họ trở nên có khuynh hướng bắt chước kẻ xúc phạm đến mình, dường như bị lây nhiễm phải một thứ vi trùng truyền nhiễm. Căn cứ vào một thứ bắt chước ít nhiều có ý thức đó, họ bị đun đẩy, đến phiên mình, tỏ ra độc ác, không những chỉ đối với kẻ xúc phạm, mà cả đối với chính mình và kẻ khác. Một người đàn ông sống với một người đàn bà mới ly dị ít lâu chia sẻ với tôi những khó khăn ông ta cảm thấy trong cuộc sống chung của họ. Ông nói : “Đôi khi tôi có cảm tưởng như nàng bắt tôi phải trả giá cho những điều bậy bạ mà người chồng cũ của nàng đã bắt nàng phải chịu đựng”.
Sự bắt chước kẻ tấn công mình là một cơ chế tự vệ rất phổ biến trong khoa tâm lý. Bởi một phản xạ sinh tồn, nạn nhân đồng nhất hóa với tên lý hình. Trong cuốn phim Đan Mạch tuyệt vời Pélé, le conquérant, người ta không trình bày rõ làm sao một đứa trẻ dịu dàng như Pélé lại thích thú lấy roi quất túi bụi đứa bạn chậm trí của nó. Mọi sự trở nên rõ ràng khi nhớ lại rằng Pélé chỉ tái diễn trên một đứa trẻ vô tội cái lối ứng xử của thằng giữ trang trại đã hạ nhục Pélé với những lằn roi trong quá khứ. Chúng ta cũng tìm thấy cùng hiện tượng đó trong phim sinh học của Lawrence d’Arabie. Chúng ta chứng kiến sự thay đổi tận căn tính tình của vị anh hùng. Sau khi bị tra tấn, ông ta trở nên một người hoàn toàn khác. Từ một tính tình ôn hòa và nhân ái, ông trở nên hung hăng và tàn bạo. Biết bao kẻ tấn công tình dục và lạm dụng thô bạo chỉ là lặp lại những hành động hung bạo mà chính họ đã phải gánh chịu trong thời thơ ấu chăng ? Trong việc điều trị có tính cách gia đình, chúng ta thường nhận thấy rằng trong những hoàn cảnh bị ứng suất, trẻ conchấp nhận theo những lối ứng xử tương tự với những lối ứng xử của cha mẹ chúng. Cũng thế, chúng ta có trước mắt gương của những nước sử dụng cho các dân tộc khác chính những sách lược phi nhân mà chính họ đã phải chịu đựng trong thời gian bị bách hại.
Tôi không có ý nói ở đây về sự trả thù chính hiệu, nhưng muốn nêu rõ những phản xạ tiềm ẩn trong vô thức cá nhân hoặc tập thể. Chính vì thế, trong việc tha thứ, chúng ta không chỉ dừng lại ở chỗ không trả thù, nhưng còn phải dám đi cho tới tận gốc rễ của những khuynh hướng bạo lực lệch lạc để đánh bật chúng ra khỏi mình, và để chận đứng các hậu quả tàn phá của chúng trước khi quá muộn. Bởi vì những thiên hướng thù nghịch và thống trị kẻ khác như thế có nguy cơ được truyền chuyển từ thế hệ nầy qua thế hệ khác, trong các gia đình cũng như trong các nền văn hóa. Chỉ có sự tha thứ mới có thể bẻ gãy những phản ứng dây chuyền nầy, chận đứng những hành vi lặp đi lặp lại của việc trả thù, hầu biến đổi chúng thành những hành vi sáng tạo sự sống.
2. Sống trong một mối oán giận thường kỳ :
Biết bao nhiêu người đau khổ phải sống trong một mối oán giận thường kỳ. Hãy lấy trường hợp của những người ly dị. Những cuộc nghiên cứu mới đây về các hậu quả về lâu về dài của việc ly dị đã minh chứng rằng một số lớn những vợ chồng đã ly dị, đặc biệt các bà vợ, vẫn còn tiếp tục nuôi dưỡng trong lòng nhiều nỗi oán giận đối với người phối ngẫu cũ, ngay cả sau mười lăm năm chia tay. Trong kinh nghiệm lâm sàng của tôi, tôi năng có cơ hội để nhận thấy rằng một số phản ứng tình cảm quá trớn chỉ là sự phục hoạt của một tổn thương quá khứ không được chữa lành cho đúng.
Quả thế, sống buồn giận, dù là cách vô thức, làm tiêu hao nhiều nghị lực và nuôi dưỡng cơn ứng suất thường kỳ. Chúng ta sẽ hiểu rõ hơn cái gì xảy ra nếu nhớ luôn trong trí sự khác biệt giữa sự oán giận sản sinh ra ứng suất và sự tức giận không làm điều đó. Sự tức giận là một xúc cảm tự nó vô thưởng vô phạt và sẽ biến tan một khi đã được bộc lộ ra, trong khi đó sự oán giận và thù nghịch tồn tại như một thái độ tự vệ luôn luôn cảnh giác chống lại mọi sự tấn công có thực hoặc tưởng tượng. Như thế kẻ bị chế ngự và hạ nhục trong buổi thơ ấu sẽ trở nên nhất quyết không bao giờ để bị ngược đãi nữa. Nó thường xuyên đề cao cảnh giác. Hơn nữa, nó có khuynh hướng phát minh ra những chuyện âm mưu hay tấn công khả dĩ chống lại nó. Chỉ có sự chữa lành được thực hiện sâu xa bởi việc tha thứ mới có thể mang lại phương dược cho tình trạng căng thẳng nội tâm nầy.
Sự oán giận mưng mủ từ một thương tổn không được chữa lành đúng cách cũng có những hậu quả gây hại khác. Nó là nguyên do của nhiều chứng bệnh tâm thể lý. Sự ứng suất tạo nên bởi oán giận tấn công ngay vào hệ thống miễn dịch. Hệ thống miễn dịch luôn luôn ở tình trạng báo động sẽ không còn biết khám phá ra kẻ thù nữa. Nó không còn nhận ra các tác nhân gây bệnh nữa. Nó còn tấn công ngay cả các bộ phận lành mạnh mà nó được coi như phải bảo vệ. Người ta giải thích như thế về sự phát sinh nhiều chứng bệnh nhưchứng viêm khớp, chứng xơ cứng động mạch, chứng xơ cứng từng mảng, những bệnh về tim mạch, tiểu đường, v.v Giữa những chiến lược tự vệ chống lại những hậu quả có hại của sự oán giận, bác sĩ Redford khuyên thực tập thường xuyên tha thứ trong cuộc sống mỗi ngày.
Sau khi mô tả các cuộc nghiên cứu khoa học khác nhau về mối liện hệ nhân quả giữa các trạng thái tình cảm tiêu cực và sự xuất hiện bệnh ung thư, bác sĩ Carl Simonton dành cả một chương sách Guérir envers et contre tous chứng minh rằng sự tha thứ vẫn là phương tiện tốt nhất để vượt thắng nỗi oán giận gây hại của mình. Nhờ một kỹ thuật tranh ảnh tâm thần, ông mời những người bị ung thư cầu chúc điều tốt lành cho ông hay bà nào đã làm họ bị tổn thương. Những ai sử dụng một kỹ thuật như vậy đã cảm nhận một sự giảm bớt rõ rệt cơn ứng suất của họ. Họ cảm thấy mạnh mẻ hơn để chống lại bệnh hoạn của mình. Thật là ngạc nhiên một tiếp cận đơn giản như thế với sự tha thứ lại có thể làm phát sinh những hậu quả sinh phúc dường ấy.
3. Bám chặt vào quá khứ :
Người không muốn tha thứ hay không thể tha thứ sẽ sống thời khắc hiện tại một cách khó khăn. Y khư khư bám chặt vào quá khứ, và bởi chính sự kiện đó, tự buộc tội mình làm hỏng hiện tại, hơn nữa làm ách tắc tương lai của mình. Trong vở diễn Le voyage dans la nuit của Eugene O’Neill, Mary Tyrone bị kiệt lực vì cứ nghiền ngẫm không ngừng một quá khứ nặng nề và khép chặt với tha thứ. Nàng trở thành một gánh nặng và một nguồn phiền muộn cho các phần tử trong gia đình. Chồng nàng khổ sở van xin : “Maria ơi, vì tình yêu thiên đàng, xin em hãy quên quá khứ đi!”. Nàng đốp lại : “Tại sao ? Làm sao em có thể quên đi được ? Quá khứ, chính là hiện tại, không. Quá khứ, cũng chính là tương lai. Chúng ta đều cố gắng thoát ra khỏi đó, nhưng cuộc đời lại không cho phép mình”. Trước sự bất lực tha thứ của mình, đời sống nàng bị đông cứng. Việc nhớ lại quá khứ trở về làm tăng thêm nỗi đau khổ cố hữu của nàng. Thời khắc hiện tại bị tả tơi trong những sự nghiền ngẫm vô ích : thời gian trôi đi không hạnh phúc, niềm vui có thể có được từ những quan hệ con người bị mờ nhạt. Tương lai bị bít lại và đe dọa : không còn những mối liên hệ tình cảm mới, không còn những dự tính mới Cuộc sống đóng neo trong quá khứ.
Kinh nghiệm lâm sàng của tôi với những người đau buồn vì cái chết hay sự chia ly với một người thân yêu chứng minh cho tôi thấy rằng sự tha thứlà đá thử vàng cho phép kiểm chứng xem sự thanh thoát đối với một người yêu mến đã đạt tới cùng chưa. Sau khi giúp người đó nhận ra vết thương, lau chùi vũ trụ tình cảm và khám phá ra ý nghĩa vết thương của y, tôi mời y thực hiện một cuộc tha thứ : tha thứ cho chính mình, để loại bỏ nơi y mọi dấu vết của mặc cảm tội lỗi, và tha thứ cho người thân yêu đã khuất, ngõ hầu xua đuổi mọi nỗi oán giận còn lại gây nên bởi sự chia lìa. Trong động thái của tang chế, sự tha thứ phô bày một giai đoạn quan trọng và quyết định. Chính nó chuẫn bị cho tâm hồn bước sang giai đoạn kế tiếp, đó là giai đoạn thừa kế di sản mà người thọ tang lấy lại được tất cả những gì nó đã yêu quí nơi người kia. Sau nầy tôi sẽ mô tả cặn kẻ hơn giai đoạn thừa kế nầy cũng như nghi thức cho phép nhận lãnh di sản ấy.
4. Trả thù :
Những di hại đầu tiên của cuộc sống không tha thứ chẳng mang lại gì làm thỏa lòng cả, như chúng ta vừa nhận định. Đâu là di chứng của sự trả thù ? Nó có đưa ra những viễn ảnh triển nở hơn khong ? Chắc chắn nó là câu trả lời có tính cách bản năng nhất, tự phát nhất đối với điều lăng nhục. Tuy nhiên, JM. Pohier viết rằng tìm bù trừ nỗi đau khổ của mình bằng cách gây đau khổ cho kẻ xúc phạm mình, chính là nhìn nhận cho sự đau khổ một tầm mức thần diệu mà còn lâu nó mới có. Dĩ nhiên việc nhìn thấy kẻ xúc phạm mình bị hạ nhục và đau khổ tạo nên cho người trả thù một vui khoái say mê. Nó thoa một thứ dầu thơm tạm thời lên nỗi đau riêng tư và lên nỗi nhục nhã của y. Nó làm cho người bị xúc phạm có cảm giác như không còn cảm thấy cô đơn trong nỗi bất hạnh nữa. Nhưng sẽ phải trả giá nào ? Đó là một sự thỏa mãn ngắn ngủi không có triển nở thực sự và không có tính sáng tạo trong các mối quan hệ.
Một cách nào đó, trả thù là một thứ công lý có tính cách bản năng đến từ các thần linh sơ khai của vô thức. Nó nhằm tái lập một sự bình đẳng đặt nền tảng trên nỗi đau khổ gây ra cho cả hai bên. Trong truyền thống Dothái giáo, luật phạt bằng ngang danh tiếng “mắt đền mắt, răng đền răng” có mục đích quy định việc trả thù. Nó muốn giảm nhẹ những lời nói của Lamek, con trai Cain, đã tuyên bố với các bà vợ : “Ta đã giết một mạng người vì một vết thương, một đứa trẻ vì một sầy sướt. Phải, Cain sẽ được trả thù gấp bảy lần, nhưng Lamek sẽ được bảy mươi lần bảy!” (Stk.4, 23-24). Bản năng trả thù làm mù quáng kẻ nhượng bộ nó. Làm sao có thể lượng định được giá trị chính xác của một đau khổ để đòi hỏi người có lỗi phải chịu một đau khổ tương đương ? Quả thực, kẻ xúc phạm và người bị xúc phạm đều không ngừng leo thang, khiến càng ngày càng khó phán đoán sự ngang nhau của các thương tổn. Hãy lấy ví dụ cổ điển nợ máu của người đảo Corse trong đó cái chết của những người vô tội cứ kế tục từ thế hệ nầy sang thế hệ khác. Dĩ nhiên những sự trả thù trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta ít đẫm máu hơn. Nhưng không phải là ít thiệt hại hơn đối với các mối quan hệ giữa người với người.
Khi ở trong bầu khí trả thù, người ta thường quên đi tác động phá hoại của sự trả thù trên toàn thể môi trường. Chẳng hạn, ở một học hiệu kia, sự xung đột cá nhân giữa vị giám đốc và một giáo sưđã biến thành một trận chiến giữa hai lập trường của đoàn giáo sư. Nhiệt độ ngờ vực và ứng xử không công minh lan ra cả nơi các học viên. Bầu khí làm việc và học tập vì thế mà ngày càng trở nên nặng nề và khó nhọc. Cũng cần phải ghi nhận tầm quan trọng tiên quyết của một thái độ tha thứ nơi các nhân vật nắm giữ quyền bính. Nếu họ để bị lôi kéo bởi tinh thần trừng phạt nhân danh xã hội của mình thì sự xung đột sẽ đạt tới những tầm mức kinh khủng và không thể kiểm soát được nơi những người thuộc quyền của họ.
Thỏa mãn mà sự trả thù mang lại kéo dài rất ngắn ngủi. Nó không thể nào bù trừ nổi các thiệt hại mà nó sẽ gây nên trong hệ thống các mối quan hệ giữa người với người. Ngoài ra, sự trả thù sẽ phát động những chu kỳ bạo lực khó mà bẻ gãy. Nỗi ám ảnh phục thù chẳng đóng góp gì để chữa lành vết thương của người bị xúc phạm, song hoàn toàn ngược lại, nó đầu độc y. Hơn nữa, không nên nghĩ rằng chỉ nguyên quyết định không trả thù kiến tạo được sự tha thứ. Tuy nhiên, nó vẫn là bước đầu tiên quan trọng và có tính cách quyết định để dấn thân trên con đường tha thứ.
Một Chuyện Ngụ Ngôn Về Sự Tha Thứ : Alfred và Adèle
Làm cách nào để nhận thức một sự thay đổi nghiêm túc đời sống? Trước hết, ta phải mở lòng ta cho những sứ điệp đánh động tâm linh của phụng vụ. Thời kỳ dẫn đến Mùa Phục Sinh đem lại cho ta một món quà quý giá của Chúa và một cơ hội hiếm có để đưa ta lại gần Ngài, thay đổi nội tâm và lắng nghe tiếng Ngài từ trong ta.
Gioan Phaolô II
Ở bìa một ngôi làng nhỏ êm đềm nổi lên một trang trại mà nhà cửa mới sơn quét. Đó là trang trại của Alfred, một con người tự hào, thanh liêm và hơi ba hoa. Thân người to lớn nhưng gầy, cằm thon, mũi khoằm, ông được dân chúng vừa kính trọng vừa sợ. Hơi ba hoa, nhưng khi ông nói là để tuyên bố những câu châm ngôn về giá trị của công việc hay sự nghiêm túc của cuộc đời.
Bà Adèle, vợ ông, luôn có nụ cười niềm nở và giọng nói duyên dáng. Dân chúng thoải mái khi có mặt bà. Bà âm thầm đau khổ bên cạnh một người chồng dè sẻn lời nói và vuốt ve. Nàng nuối tiếc trong lòng là đã cưới một người quá ham việc, vốn đã từng làm cho người cha quá cố của nàng ngưỡng phục. Chắc chắn Alfred đã làm cho nàng sống thoải mái và hằng trung thành với nàng, nhưng vì quá bù đầu vào công việc, chàng chỉ dành cho nàng quá ít thời gian thân mật và vui thú.
Một hôm, Alfred quyết định rút ngắn ngày sống. Thay vì làm việc đến tối mịt, chàng trở về nhà sớm hơn dự tính. Trước sự sửng sốt, chàng bắt được quả tang Adèle với một người đàn ông láng giềng ngay trên giường ngủ của vợ chồng chàng. Người đàn ông mau lẹ nhảy qua cửa sổ chạy trốn, còn Adèle lúng túng qùy sụp dưới chân Alfred van xin tha thứ. Alfred đứng khựng như một pho tượng: mặt trắng bạch vì phẩn nộ, môi thâm lên vì giận dữ, nhưng nén giữ được làn sóng cảm xúc tấn công mình. Thấy mình bị cắm sừng như vậy, tình cảm của chàng đi từ bị lăng nhục đến tức giận, qua một nỗi đau sâu xa. Không phải là người lớn tiếng, chàng chỉ biết im lặng. Nhưng ông nghĩ ngay rằng thái độ im lặng sẽ làm cho Adèle bị một sự hành hạ lớn hơn mọi lời nói hay cử chỉ bạo lực.
Không hiểu vì sao vụ việc Adèle được lan truyền trong làng và những kẻ “xấu miệng” tha hồ mà tán hươu tán vượn. Người ta đoán trước rằng Alfred sẽ đòi chia tay. Nhưng, để làm thất bại những chuyện ngồi lê đôi mách đó, thì nầy đây vào lễ trọng ngày Chúa nhật, Alfred đi vào lối giữa, đầu ngước cao, với Adèle bước lon ton theo sau. Là một tín hữu tốt, ông dường như đã hiểu những lời của Kinh Lạy Cha : “Xin tha thứ cho chúng con như chúng con tha thứ cho những kẻ xúc phạm chúng con”. Nhưng cái vinh quang tha thứ của Alfred được kín đáo nuôi dưỡng bởi sự xấu hổ của Adèle.
Ở nhà, Alfred tiếp tục khơi lửa hiềm thù, bằng thái độ câm lặng và những cái liếc nhìn đầy khinh miệt đối với nữ tội nhân. Tuy nhiên, trên trời không để bị giễu cợt bởi những vẻ bên ngoài của nhân đức, nên vội vả sai một thiên thần đến vực dậy tình trạng nầy. Cứ mỗi lần Alfred phóng cái nhìn cứng rắn và tối tăm trên Adèle thì thiên thần để rơi vào trái tim ông một hòn sỏi to bằng cúc áo. Mỗi lần như thế, Alfred cảm nhận một nhói đau khiến mặt ông phải nhăn nhó. Quả tim ông chỉu nặng đến đổi ông phải khom người bước đi và phải khó nhọc ưỡn cổ ra để thấy rõ phía trước.
Một hôm đang cắt lúa, Alfred nhìn thấy một nhân vật sáng láng đứng tựa vào hàng rào bảo ông : “Alfred, ngươi xem ra quá đọa rồi.” Bất thần nghe một người lạ gọi tên mình, Alfred hỏi người là ai và muốn gì. Thiên thần nói với ông : “Phải, ta biết ngươi đã bị vợ lừa dối và sự sĩ nhục hành hạ ngươi. Nhưng ngươi đang thực hiện một sự trả thù tinh vi, mà nó làm cho chính ngươi phải suy sụp tinh thần”. Alfred cảm thấy mình bị đoán đúng nên cúi đầu xuống thú nhận : “Tôi không thể lấy ra khỏi đầu óc cái tư tưởng bị nguyền rủa nầy : làm sao nàng đã lừa dối tôi, một người chồng trung thành và quảng đại như thế ? Đó là một con đĩ, nàng đã làm nhơ bẫn cái giường của vợ chồng !” Nói những lời đó, Alfred nhăn mặt đau đớn. Bấy giờ thiên thần đề nghị giúp đỡ ông, nhưng Alfred quả quyết rằng không ai có thể nâng đỡ ông khỏi gánh nặng của mình : “Hỡi người lạ mặt, dù ông có thể toàn năng đi nữa, ông sẽ không bao giờ có thể xóa đi cái gì đã xảy ra được”. Thiên thần bảo ông : “Ngươi có lý, Alfred ạ, không ai có thể thay đổi được quá khứ, nhưng từ bây giờ ngươi có khả năng nhìn quá khứ một cách khác. Ngươi hãy nhận diện vết thương của mình, chấp nhận sự tức giận và sĩ nhục của ngươi. Rồi từ từ, ngươi hãy bắt đầu thay đổi cái nhìn của ngươi trên Adèle. Phải chăng chỉ một mình nàng là có lỗi ? Hãy nhớ lại sự dững dưng của ngươi đối với nàng. Hãy đặt mình vào hoàn cảnh của nàng. Ngươi cần những con mắt mới và thần diệu để nhìn nỗi bất hạnh của! ngươi dưới một ánh sáng mới”.
Alfred không thực sự hiểu, nhưng ông tin tưởng vào thiên thần. Làm sao ông chọn lựa làm khác được với gánh nặng thiêu đốt trái tim ? Thiếu phương tiện, ông hỏi vị khách làm sao có thể thay đổi cái nhìn của ông. Thiên thần bắt đầu chỉ dẫn cho ông thế nầy : “Trước khi nhìn Adèle, hãy làm giản ra các nếp gấp trên trán, những nét nhăn quanh miệng và những thớ thịt khác nơi khuôn mặt ngươi. Thay vì nhìn thấy nơi Adèle một người đàn bà xấu xa, hãy thấy một người vợ đang cần sự dịu dàng. Hãy nhớ lại ngươi đã đối xử lạnh nhạt và cứng cỏi với nàng như thế nào. Hãy nhớ lại lòng quảng đại và nhiệt huyết của nàng mà ngươi rất yêu quí ngay buổi đầu hai người yêu nhau. Đổi lại mỗi cái nhìn được đổi mới, ta sẽ cất khỏi trái tim ngươi một cục sỏi”.
Alfred chấp nhận cuộc trao đổi trong khi biện hộ cho sự vụng về tự nhiên của mình. Từ từ từng chút, cách chậm chạp, nhưng không phải là không cố gắng cách ý thức, ông chuyên chú nhìn Adèle với những cái nhìn mới. Nỗi đau trong lòng ông mờ nhạt đi dần dần. Adèle xem ra được biến đổi trông thấy : từ người vợ bất trung, nàng trở thành một con người dịu dàng và đáng yêu mà ông đã biết vào mùa xuân tình yêu của họ. Chính Adèle cũng cảm nhận được sự thay đổi. Được nâng đỡ, nàng tìm lại được tính khí tốt lành và nụ cười tươi vui của mình. Đến lượt mình, Alfredtự cảm nhận đã hoàn toàn thay đổi. Con tim còn sây sướt vì các hòn sỏi đi qua tràn ngập một sự dịu dàng sâu xa. Cảm xúc mới mẻ ngập tràn còn làm chàng lo sợ. Nhưng một chiều nọ, đầm đìa nước mắt chàng ôm Adèle trong vòng tay, không nói một lời. Phép lạ tha thứ vừa được hoàn tất.
Kêu cầu sự tha thứ của Thiên Chúa cho Giáo Hội và cho tội lỗi của con cái Giáo Hội. Chúng ta đều biết rằng tội lỗi của các Kitô hữu đã nhuộm đen khuôn mặt không tì vết. Tuy nhiên, cậy trông vào lòng thương xót Chúa, không nhớ đến tội của hối nhân, chúng ta sẽ có thể quay lại chính đạo với lòng tự tin.
Gioan Phaolô II
Trước khi nghĩ đến tha thứ, điều khẩn thiết là phải cởi bỏ khỏi chúng ta những ý tưởng sai lầm về tha thứ. Chúng ta ngụp lặn trong văn hóa kitô giáo, nên, vì thiếu biện phân, một số giá trị bị lây nhiễm bởi những lối giải thích ý nhị nhưng không quan trọng. Sự tha thứ cũng không thoát khỏi méo mó đó, nhưng còn trầm trọng hơn : một số “thầy tu đức” bảo dưỡng bằng chữ viết hay lời nói những ý tưởng sai lầm về sự tha thứ. Đáng tiếc là như vậy, trong khi tha thứ, yêu cận nhân, và nhất là yêu kẻ thù chiếm chỗ trung tâm trong giáo huấn Phúc Âm và các truyền thống tu đức khác. Chính vì thế, điều cấp bách là phải tố cáo những quan niệm sai lầm người ta đã tạo ra quanh sự tha thứ hay sự sử dụng tha thứ. Nhờ đó, chúng ta có thể tránh được những ngõ cụt thuộc lãnh vực tâm lý và thiêng liêng : những chán nãn, bất công, ảo tưởng thiêng liêng, phản bội chính mình, ách tắc trong phát triển nhân bản và tôn giáo.
Đọc chương nầy, có thể một số đọc giả cảm thấy bị đảo lộn trong cách thức họ quan niệm và thực hành tha thứ. Thật khó khăn để khám phá được là mình đã bị lầm về bản chất của tha thứ, và đáng buồn là điều đó lại kéo dài trong nhiều năm. Nhưng ta có thể nào đổ rượu mới vào bầu da cũ ? Xây một tòa nhà mới mà không dọn mặt bằng và đào lỗ để đặt nền móng vững chắc ?
1. Tha thứ không phải là quên đi :
Biết bao lần chúng ta đã nghe những lời như thế nầy : “Tôi không thể tha thứ cho nó, bởi vì tôi không thể quên đi được”, hoặc là “Anh hãy quên tất cả chuyện đó đi”, “Chị hãy lật sang trang mới”, “Đừng thèm dừng lại ở điều lăng nhục đó, hãy tiếp tục cuộc đời của bạn”. Kiểu nói và hành động như vậy là không lối thoát. Lý do thật đơn giản : Việc quên đi biến cố đau thương, dù có thể quên được đi nữa, sẽ cản trở việc tha thứ, bởi vì chúng ta không còn biết mình tha thứ cái gì. Hơn nữa, nếu tha thứ có nghĩa là quên, thì cái gì sẽ xảy đến cho những người được phú bẩm một trí nhớ tuyệt vời ? Sự tha thứ không có lối vào tới họ được. Do đó, tiến trình của tha thứ đòi hỏi một trí nhớ tốt và một ý thức thật rõ ràng về điều xúc phạm ; nếu không, việc mổ xẻ con tim mà tha thứ đòi hỏi sẽ không còn có thể được nữa.
Dùng sự quên đi để thử nghiệm tha thứ là một sai lầm. Thật ra là ngược lại. Sự tha thứ giúp ký ức chữa lành. Với sự tha thứ, hoài niệm về thương tổn sẽ mất đi tính cay độc của nó. Biến cố đau thương sẽ dần dần bớt có mặt và ám ảnh ; vết thương sẽ dần dần liền sẹo ; sự gợi lại điều xúc phạm không còn gây đau đớn nữa. Chính vì thế, ký ức đã được chữa lành tự giải phóng và có thể đầu tư vào một cái gì khác hơn là tư tưởng làm tinh thần suy sụp của điều xúc phạm.
Vậy những người khẳng định “Tôi tha thứ, nhưng tôi không thể quên đi được” chứng tỏ họ có một sức khoẻ tâm thần thật tốt. Họ đã hiểu được rằng tha thứ không đòi hỏi chứng quên điều xúc phạm. Trái lại, khi nói như thế, họ muốn chỉ rõ là họ quyết định không còn tin tưởng và ở lại thường xuyên với những canh chừng của họ, đó là bằng chứng họ đã không chấm dứt tiến trình tha thứ của họ.
2. Tha thứ không có nghĩa là phủ nhận :
Khi nhận một cú đau, một trong những phản ứng thông thường nhất là làm cho mình ra dạn dày với đau đớn và cảm xúc dồn dập. Phản ứng tự vệ nầy thường mặc lấy hình thức của một sự cự tuyệt không nhận điều xúc phạm. Nếu phản xạ tự vệ vẫn tồn tại thì cuối cùng nó sẽ trở thành bệnh hoạn. Người bị tổn thương sẽ cảm thấy bị ứng suất, băng giá trong lòng, không biết gì xảy đến cho mình trong phần lớn thời gian. Y thường không cảm thấy cần được chữa lành, cũng chẳng cần đến tha thứ. Rõ ràng lúc ấy, nổ lực tha thứ không phát huy được hiệu quả, bao lâu mà người trong cuộc từ chối nhìn nhận điều xúc phạm với di chứng đau đớn của nó.
Tôi rất ngạc nhiên thấy những “thầy tu đức” không nhận có một trở ngại nào đối với sự tha thứ. Trái lại, họ kiếm tìm một con đường duy nhất phải dẫn đến tha thứ. Edith Stauffer là một thí dụ. Trong cuốn Amour inconditionnel et pardon, bà lấy hứng từ Bộ Luật Essénien để định nghĩa tha thứ : “Tha thứ, chính là hủy bỏ mọi yêu sách, điều kiện và chờ đợi khỏi trí khôn, vì chúng làm ách tắc thái độ của tình yêu”. Phải chăng bà muốn nói rằng để tha thứ, trước hết phải chối bỏ một phần chính mình ? Một sự tha thứ tương tự không chỉ tương đương với một dồn nén tâm lý với tất cả những hậu quả mà chúng ta đã biết sao ? Dù được tác động bởi “Tình yêu vô điều kiện”, sự tha thứ đòi hỏi một sự dồn nén hay cắt cụt một phần của chính mình đối với tôi xem ra rất nguy hiểm.
Phải chăng đó là một tiếp cận quá thiêng liêng hóa sự tha thứ không để ý đến vai trò của tính xúc cảm ? Tôi đã nhận thấy những hậu quả tai hại trong trường hợp của Claudette. Người đàn bà nầy có những triệu chứng trầm uất : ứng suất, lo âu, mất ngủ, biếng ăn, mặc cảm có lỗi. Chồng bà ngang nhiên đi lại công khai với một tình nhân trẻ. Claudette và các con bà cảm thấy bị nhục nhã sâu xa. Đầy khiếm nhã, người chồng đã rút hết tài khoản gia đình để sống cuộc đời ngông cuồng với người bạn gái mới. Khi tôi hỏi Claudette về tình trạng cảm tính của bà, bà trả lời ngay rằng nhờ vào những gì một vị hướng dẫn thiêng liêng viết, bà đã tha thứ cho chồng bà.
Luôn luôn theo lời khuyên của vị hướng dẫn đó, bà cố gắng cho chồng bà đầy “những điều tích cực” để đối nghịch lại những xúc cảm “tiêu cực” của bà, trong đó sự tức giận có thể hủy diệt bà. Tôi buộc lòng nói ngược lại những lời khuyên của vị hướng dẫn bà và tôi đã mạnh mẻ khích lệ bà không được không biết tới sự xấu hổ và tức giận của bà, nhưng phải tìm ra cho chúng những cách thế có thể chấp nhận được để bộc lộ ra.
Bấy giờ, Claudette mới hiểu rằng bà chưa ở trạng thái có thể tha thứ được. Trước hết cần phải tôn trọng xúc cảm của bà. Theo lời khuyên của tôi, bà tìm được phương thế cáng đáng nỗi tức giận và sự xấu hổ của mình : bằng cách làm việc nhà, bà lợi dụng để đập thật mạnh vào những tấm thảm, vừa để bay bụi ra, vừa để tiêu hao lượng arênalin thặng dư. Sự chấp nhận tiệm tiến nỗi tức giận, rồi sự xấu hổ thấy mình bị chồng hạ nhục cho phép Claudette được giải thoát khỏi những tấn công của lo âu và mặc cảm có lỗi cách bệnh hoạn.
3. Tha thứ yêu sách nhiều hơn một hành vi ý chí :
Đây là hai cảnh quen thuộc. Cảnh thứ nhất : một đứa con trai bị nhốt trong nhà bắt phải xin lỗi chị nó vì đã lục lọi nhật ký rồi sau đó chọc ghẹo những cuộc tình chóng qua của chị. Cảnh thứ hai : một cô giáo tách riêng hai đứa trẻ đang cải nhau trong sân chơi và buộc chúng lập tức phải tha thứ lẫn cho nhau. Phải chăng ý tưởng đầu tiên của chúng ta về tha thứ cũng sinh ra từ kinh nghiệm tương tự của trẻ con ?
Một số nhà giáo dục của chúng ta đưa ra sự tha thứ như một công thức thần diệu có khả năng sửa chữa hết mọi lỗi lầm. Chẳng hề lưu ý đến kinh nghiệm sống cảm tính của trẻ, sự tha thứ bị giản lược vào một hành vi đơn giản của ý chí có khả năng thu xếp mọi xung đột một cách tức thời và dứt điểm. Vào thời đại nầy, chúng ta không thể không hoài nghi giá trị của một sự tha thứ giả tạo như thế. Miệng nói tha thứ nhưng mà lòng thì không có đó. Nó được dùng để làm dịu đi nỗi lo lắng của nhà giáo dục hơn là giáo dục đứa trẻ.
Chúng ta khó mà thoát khỏi sự tha thứ ma thuật và tức thời tuổi ấu thơ. Cái ảo tưởng nầy cho chúng ta một thứ cảm giác toàn năng trên vũ trụ cảm xúc của mình ! Về sau chúng ta đã phải xuống nước. Chúng ta đã cảm thấy rất thất vọng và ngay cả có lỗi khi không còn có khả năng tạo ra cùng một ma lực thần diệu như thế. Sai lầm vẫn là coi tha thứ như một hành vi ý chí đơn thuần, thay vì xem tha thứ như là kết cuộc của tập luyện. Một sự hoàn thành như thế lâu hay mau tùy theo sự thương tổn, những phản ứng của người gây ra xúc phạm và các nguồn năng lực của người bị xúc phạm. Dĩ nhiên ý chí được mời gọi đóng vai trò rất lớn trong việc nầy, nhưng nó không kiện toàn được một mình công việc của tha thứ. Tất cả mọi quan năng đều được huy động trong việc tha thứ : cảm tính, con tim, trí tuệ, phán đoán, trí tưởng tượng, đức tin, v.v
4. Tha thứ không thể bị truyền khiến :
Hoặc tha thứ là tự do và tự nguyện, hoặc không có tha thứ. Nhưng cơn cám dỗ thật lớn lao, nhất là nơi một số nhà giảng thuyết, là bắt buộc người ta tha thứ một cách tự do ! Bà mẹ gia đình nầy không lý luận tốt hơn khi bà hỏi tôi làm thế nào bà có thể ép buộc con của bà học hành một cách tự do. Một hôm, tôi nghe bài giảng của một vị Giám mục trong thánh lễ truyền hình ngày Chúa nhật. Lúc đầu vị mục tử giải thích rằng tha thứ là một hành động cao cả của lòng quảng đại, nhưng sau đó lại bắt đầu trượt xuống bằng cách nhấn mạnh sự bắt buộc của kitô giáo trong việc tha thứ. Bài diễn văn của ngài được đánh dấu bằng những thành ngữ như “phải tha thứ”, “ta phải tha thứ cho kẻ khác”, “giới răn yêu thương kẻ thù”, “qui tắc công giáo” Hình ảnh thu trên cử tọa chứng tỏ thính giả khó chịu. Người ta đoán họ đang có cuộc tranh cải nội tâm : ý muốn tha thứ vấp phải những tình cảm và cảm xúc không bộc lộ ra nhưng cũng đòi phải được lắng nghe.
Không nên giản lược sự tha thứ, cũng như bất cứ thực hành đạo đức nào, vào một bó buộc luân lý. Làm như thế là liều đánh mất đi đặc tính nhưng không và tự phát của tha thứ. Tuy nhiên đó là cái mà một số thực hành kitô giáo thừa nhận. Đây là một bằng chứng hiển nhiên nhất : các tín hữu công giáo, nam cũng như nữ, hằng ngày đọc Kinh Lạy Cha, nhưng chẳng hề ý thức rằng một sự giải thích sai lầm câu “xin tha thứ cho chúng con, như chúng con tha thứ cho những kẻ đã xúc phạm chúng con” đồng hóa sự tha thứ với một hành động công lý được đòi hỏi. Họ nghĩ rằng nhất thiết họ phải đặt ra một cử chỉ tha thứ trước khi chính họ được Thiên Chúa tha thứ. Họ quên đi rằng sự tha thứ của Thiên Chúa không bị điều kiện bởi những sự tha thứ nghèo nàn của con người. Họ tạo ra cho mình hình ảnh thảm hại nào về Thiên Chúa thế ? Đó là hình ảnh một con người tính toán kiểu buôn bán, lệ thuộc vào luật có đi có lại.
Còn hơn thế nữa, sự “bó buộc” tha thứ trong Kinh Lạy Cha còn để hiểu ngầm rằng trong trường hợp không có sự tha thứ về phía mình thì con người phải gánh chịu hình phạt là đến lượt nó không được tha thứ. Lúc ấy chúng ta nghĩ rằng mình ở trong tinh thần giới răn Cựu ước hơn theo lời kêu gọi yêu thương tự phát và nhưng không của Tám Mối Phúc Thật. Để tránh sự hàm nghĩa trong công thức “Xin tha thứ những xúc phạm của chúng con như ”, tôi đọc trong ý nghĩa những lời của thánh Phaolô : “Như Chúa đã tha thứ cho anh em, anh em cũng hãy làm như vậy” (Cl.3,13). Trong cùng cảm hứng ấy, một người bạn nói lên công thức mình thích hơn sau đây : “Xin tha thứ cho chúng tôi những xúc phạm của chúng tôi, ngõ hầu chúng tôi có thể tha thứ cho những người đã xúc phạm đến chúng tôi “.
5. Tha thứ không có nghĩa là tìm lại được mình như trước khi bị xúc phạm:
Khi tôi kể cho một người bạn gái là nhà tâm lý rằng tôi đang viết một cuốn sách về tha thứ, thì nàng rất đổi tư lự. Nàng thú nhận rằng nàng cảm thấy bất lực không thể tha thứ cho một người bạn gái đã phản bội lòng tin của nàng vì đã thổ lộ những lời tâm sự của nàng ra. Nàng nói : “Tôi không thể tha thứ cho cô ta được, bởi vì tôi cảm thấy bất lực không thể lại trở nên cùng một người bạn như cũ đối với cô ta”. Dưới con mắt nàng, tha thứ có nghĩa là hòa giải và hòa giải có nghĩa là “trở lại như trước”. Chúng ta thường lẫn lộn tha thứ với hòa giải, dường như hành động tha thứ hệ tại việc tái lập các mối quan hệ giống hệt những mối quan hệ chúng ta đã có trước khi lầm lỗi. Trong những liên hệ thân mật ruột thịt, chung sống và làm việc, thì hòa giải phải là hậu quả bình thường của tha thứ. Nhưng tự bản chất, tha thứ không đồng nghĩa với hòa giải, bởi vì tha thứ có lý do hiện hữu của nó mà không có hòa giải.
Chẳng hạn chúng ta có thể tha thứ cho một người vắng mặt, đã chết hay không hề biết mặt. Hiển nhiên trong trường hợp nầy, sự hòa giải là không thể có được. Tôi biết có những cha mẹ đã tha thứ như thế cho kẻ sát nhân giết chết con của họ, mà họ chẳng hề trông thấy, cũng chẳng hề biết mặt kẻ giết người ấy. Trong những trị liệu về tang chế, thực hành thông dụng là xin người chịu tang tha thứ cho người thân đã khuất. Khi liên quan đến những lạm dụng và hãm hiếp, người ta khuyên nạn nhân chấm dứt quan hệ với kẻ tấn công để tự bảo vệ mình. Điều đó không có nghĩa là loại trừ việc tha thứ trong một tương lai có thể.
Nhưng là sai lầm khi nghĩ rằng một khi đã tha thứ thì có thể tìm lại mình như trước với kẻ xúc phạm mình. Sau khi đã làm món trứng tráng, người ta có thể thu hồi lại những quả trứng được sao ? Sau khi đã nướng bánh, người ta có lại bột sao ? Không thể nào trở lui lại đàng sau, sau khi đã chịu một lầm lỗi. Hoặc là người ta cố gắng làm cho mình tin rằng đã không có gì xảy ra và như vậy người ta tái lập quan hệ trong sự dối trá, hoặc là người ta lợi dụng xung đột để duyệt xét lại phẩm chất của mối quan hệ và lại đưa ra mối quan hệ với những nền tảng mới vững chắc hơn.
6. Tha thứ không đòi hỏi người ta phải từ chối quyền lợi của mình :
Sau một cuộc diễn thuyết trong đó tôi đã nói về tha thứ như một giai đoạn quan trọng trong động thái tang chế, một bà Dothái đến nói với tôi : “Cha nên thận trọng khi nói về tha thứ. Thật là nguy hiểm và ghê tởm nữa khi tha thứ cho những kẻ bất lương, chẳng hạn cho những kẻ bạo lực tấn công tình dục. Như thế chẳng phải là một cách nào đó khuyến khích chúng tái phạm sao ?” Đối với bà nầy và nhiều người thì tha thứ có nghĩa là từ chối các quyền lợi của mình và việc công lý được thực hiện. Xét về hậu quả thì như thế hóa ra xui khiến những kẻ xúc phạm và những kẻ độc ác tiếp tục mãi những bất công của chúng. Bernard Shaw đã chẳng nói tha thứ là “chỗ ẩn núp cho những kẻ bất lương” sao ? Đôi khi các kitô hữu cũng bị trách cứ một điều tương tự, là đồng hóa tha thứ với một hình thức thoái lui trước những yêu sách của công lý, nhất là khi họ có khuynh hướng quá dễ dàng đưa ra cả “má bên kia”.
Vấn đề nổi bật ở đây là những tương quan giữa công lý và tha thứ. Chúng ta sẽ đi thật xa, nếu muốn bàn đến cách thích hợp. Chỉ cần báo hiệu rằng tha thứ trước hết phát xuất từ lòng khoan dung nhưng không, trong khi công lý nhằm tái lập trên nền tảng khách quan các quyền lợi của người bị thiệt hại. Điều đó không có nghĩa là trong khi tha thứ là người ta từ chối áp dụng công lý. Đó là điều tôi đã làm cho một người đàn bà hiểu, khi bà viết thư nói cho tôi hay chồng bà đòi ly dị mà từ chối mọi bù đắp cho bà về hai mươi năm làm việc trong đời sống vợ chồng. Dù với một bất công tỏ tường như thế, bà sẵn sàng tha thứ tất cả cho ông ta. Bà viết : “Ngay cả khi tôi đã nuôi dạy các con và làm việc rất thành công trong nghề ngoại giao, tôi không muốn gây cho chàng thiệt hại nào. Tôi tha thứ cho chàng đã bỏ rơi tôi không có một xu, bắt các con tôi đi và ngay cả vất bỏ tôi để đến với một người đàn bà khác trẻ hơn”.
Theo ý tôi, một thái độ như thế, dù xem ra đẹp đẻ và quảng đại đấy, che đậy nhiều nỗi sợ hãi và hèn nhát trước người đàn ông được giả thiết là “đại nhân” đó. Tôi đã trả lời cho người đàn bà đó rằng : “Bà đã lẫn lộn tha thứ với công lý. Bà hãy chọn cho bà một luật sư giỏi. Hãy làm cho các quyền lợi của bà được tôn trọng. Và sau đó, bà sẽ quyết định xem bà có còn thực sự muốn tha thứ không”. Bà đã làm như vậy.
Sự tha thứ không chiến đấu chống bất công là một dấu hiệu yếu đuối và dung thứ sai lầm, và còn lâu mới là dấu hiệu của sức mạnh và can đảm. Cái đó chỉ khuyến khích sự tồn tại của tội ác thôi. Đó là cái mà một số người có trách nhiệm đã không hiểu khi đã được thông tin đầy đủ về những lạm dụng tình dục về phía “chức sắc” mà các ngài đã không can thiệp đúng lúc và hữu hiệu, kể cả trong các tôn giáo.
7. Tha thứ cho kẻ khác không có nghĩa là biện giải cho y :
“Tôi tha thứ cho ngài, đó không phải là lỗi của ngài”. Đó là một quan niệm sai lầm khác về sự tha thứ. Sai lầm, bởi vì tha thứ không tương đương với biện giải cho người khác, nghĩa là cất đi cho họ khỏi mọi trách nhiệm luân lý. Các lý do viện cớ không thiếu để biện minh cho việc làm đó : ảnh hưởng của di truyền, của giáo dục, của môi trường văn hóa, v.v Nếu xét như thế, thì có lẽ không ai phải chịu trách nhiệm về các hoạt động của mình hết, bởi vì chẳng ai hưởng được một tự do thật đầy đủ cả. Phải chăng vẫn còn trong chiều hướng lệch lạc đó mà người ta thường giải thích câu nói bình dân “Hiểu hết là tha thứ hết” ? Rồi cứ thế mà quyết định lờ đi mọi tội ác.
Lời biện giải sai lầm thường mang dáng dấp một thủ đoạn khéo léo và che đậy mà người ta sử dụng để làm nhẹ đi nỗi đau của mình. Bị thuyết phục rằng kẻ xúc phạm không có trách nhiệm sẽ ít nặng nề để chịu đựng hơn là biết rằng nó đã gây ra điều sai lỗi với tất cả sự hiểu biết và tự do. Nhưng sự biện giải dễ dàng có thể trở thành con dao hai lưỡi. Nếu đàng nầy nó làm giảm nhẹ, thì đàng kia nó hạ giá và khinh bỉ chính kẻ gây ra xúc phạm. Nó lén lút khẳng định : “Mầy không đủ thông minh để gây nên một lỗi lầm như thế đâu”. Nói chung lại, nó góp phần hạ nhục hơn là giải thoát. Gabriel Marcel minh họa rõ ràng điểm đó trong vở kịch sân khấu La Grâce. Françoise, người vợ bất trung, không còn có thể chịu đựng được lời giảng giải của Gérard, chồng bà, đang cố gắng minh oan cho bà khỏi tội cách vô ích. Gérard nói với vợ : “Anh không phải tha thứ cho em lý do các hành động của em là ở ngoài em mà”. Françoise, nhục nhã, bác lại : “Không, không phải như vậy ! Tôi thà chết còn hơn !”
8. Tha thứ không phải là minh chứng mình trội hơn về mặt luân lý :
Một số loại tha thứ hạ nhục hơn là giải thoát. Cái gì xảy ra trong những trường hợp đó ? Sự tha thứ có thể được biến thái thành một cử chỉ tinh vi của sự trội hơn về mặt luân lý, “một sự ngạo nghễ thượng đẳng”. Dưới dáng vẻ bề ngoài của lòng hào hiệp, nó có thể che đậy một bản năng quyền lực. Làm sao giải thích rằng kẻ tha thứ tìm cách mang lấy những dáng vẻ của sự cao thượng giả dối ? Chính là việc y cố gắng che đậy điều đê tiện sâu xa của mình. Y cố tự bảo vệ mình khỏi sự xấu hổ và bị loại bỏ đang xâm chiếm y. Y cố che đậy sự sĩ nhục của mình dưới vị thế trên trước của kẻ cả bị tổn thương, nhưng đầy quảng đại và bao dung.
Cám dỗ tha thứ để loè quần chúng thật lớn lao. Kẻ tha thứ phô trương sự cao cả luân lý của mình là kẻ bị xúc phạm để làm nổi bật hơn sự hèn hạ của kẻ gây nên xúc phạm. Vậy, càng sử dụng sự tha thứ vào những mục đích ấy thì càng rõ ràng tự châm biếm mình. Sự tha thứ đích thực của cõi lòng được kiện toàn trong sự khiêm tốn và mở ra con đường hòa giải chân thực. Ngược lại, sự tha thứ giả tạo chỉ duy trì một tương quan giữa kẻ thống trị và người bị trị. Chính là để chống lại sự tha thứ cao ngạo đó mà Edmée, nhân vật của vở kịch Un homme de Dieu của Gabriel Marcel, đã phản kháng. Nàng đã thất trung với chồng, là một mục sư Tin Lành. Sau khi đã chịu đựng sự tha thứ cao ngạo đó kéo dài nhiều năm tháng, nàng không còn chịu đựng được nữa và thét lên : “Thứ cao thượng tâm hồn rẻ tiền đó làm tôi ghê tởm”. Và Claude đáp lại : “Rẻ tiền ư ! Nhưng khi anh đã tha thứ cho em ”. Edmée cắt ngang : “Nếu anh đã không tha thứ cho tôi vì yêu tôi, anh muốn tôi làm chi với sự tha thứ của anh ?”
Sự tha thứ chỉ dùng để chứng minh vẻ trịch thượng luân lý được thực hành bởi ba kiểu “chuyên nghiệp”. Trước hết, cái không đừng được : tha thứ đối với những lỗi nhỏ mọn nhất. Hai là mặc cảm có lỗi. Nó đầu độc hoàn cảnh để thích thú tỏ ra khoan hồng và đè nặng lên người khác bằng sự tha thứ. Ba là nạn nhân chung thân mà thí dụ thông thường nhất là vợ của người chồng nghiện rượu. Bà tính lôi kéo thiện cảm và vinh dự nơi những người chung quanh là bà đã hy sinh sống với người đàn ông ghê tởm đó và không ngừng tha thứ cho chàng cứ say sưa mãi như vậy.
Do đó, không phải là một biểu dương quyền lực, sự tha thứ đích thực là một dấu hiệu của sức mạnh nội tâm. Quả thực, cần phải có sức mạnh nội tâm để nhận biết và chấp nhận sự dễ bị thương tổn của mình và không muốn che đậy nó dưới những dáng vẻ của lòng từ tâm giả dối. Có thể lúc khởi đầu, người ta có thể bị tác động bởi nhu cầu tỏ ra thượng phong bằng cách tha thứ. Nhưng suốt trong tiến trình tha thứ, người tha thứ có nhiều cơ hội tỏ ra cảnh giác để thanh tẩy các động lực làm hỏng mọi nổ lực quảng đại của mình.
9. Tha thứ không hệ tại việc trút đổ cho Thiên Chúa:
“Tha thứ thuộc về Thiên Chúa”. Chắc bạn đã từng nghe giải thích câu châm ngôn nầy dường như con người không có gì phải làm cả trong hành động tha thứ. Đó là một viện cớ để trút đổ vào Thiên Chúa trách nhiệm của chính mình ! Nhưng như thế là sai, bởi vì trong lãnh vực tha thứ cũng như trong mọi lãnh vực khác, Thiên Chúa không làm thay cho chúng ta điều gì xuất phát từ sáng kiến của con người.
Mới đây có người nói với tôi rằng việc tha thứ đối với y rất dễ dàng : “Nếu người nào làm tổn thương tôi, tôi vội vàng cầu xin Chúa tha thứ cho người đó. Như vậy tôi không phải để mình bị hành hạ bởi mọi thứ cảm xúc phiền não, nổi nóng, oán giận hay sĩ nhục”. Lời tuyên xưng đức tin đó tuyệt diệu thay, nhưng tôi không khỏi tự hỏi về sức khoẻ tâm thần của một con người như thế. Thay vì cáng đáng kinh nghiệm sống nặng nề đó của mình, y đã trút đổ cho Thiên Chúa. Tôi tin vào sự cần thiết phải chạy đến với siêu nhiên như một yếu tố thiết yếu của sự tha thứ, nhưng tôi cũng tin không kém rằng trước hết người ta phải tự chuẫn bị mình trên bình diện con người cho việc đón nhận ân sủng của Chúa. Sự tha thứ cùng lúc vừa là hoạt động của con người vừa là hoạt động của Thiên Chúa. Tự nhiên và ân sủng không loại trừ nhau, trái lại chúng hợp tác với nhau và kiện toàn nhau.
Những biếm họa về tha thứ như thế không phải là giả tưởng mà là rất thật. Trong cuốn Is Human Forgiveness Possible?, John Patton cho rằng những sự méo mó trong việc tha thứ như thế khiến ông thất vọng về khả năng tha thứ nơi con người. Ông nghĩ rằng tốt hơn nên ký thác hoàn toàn nơi Thiên Chúa là Đấng duy nhất có thể tha thứ. Chính vì vậy, thay vì tự làm khổ mình vì muốn tha thứ, người bị xúc phạm phải tập trung nghị lực mình vào việc ý thức rằng “sự tha thứ đã được thực hiện nơi Ngài”. Lập trường của John Patton đối với tôi xem ra quá đáng và không thể giữ vững được. Nó không lưu ý chút nào về sự đóng góp của con người trong việc tha thứ, dù khiêm tốn mấy đi nữa.
Cuối cùng, chúng ta phải nhớ rằng nếu dấn thân vào con đường tha thứ đích thực đòi hỏi nhiều can đảm, thì tránh nhượng bộ cho những ảo ảnh của những tha thứ giả dối cũng yêu sách can đảm không kém.
Tha Thứ, Một Cuộc Phiêu Lưu Nhân Bản Và Thiêng Liêng
Tha thứ, chính là sự cao cả trong thường nhật
Vladimir Jankelevitch
Việc từ bỏ “cái tôi” là khó khăn. Tuy nhiên, không có gì là không thể khi ta có thể tín thác vào sự trợ giúp của Thiên Chúa ban cho ta “qua sự hiệp thông với con người của Đức Kitô.
Gioan Phaolô II
Trong một cuộc chiến tranh giữa hai nước, có tiếng đồn trại địch vừa tậu được một vũ khí đáng sợ. Bấy giờ người ta giao cho các người mù đột nhập trại địch để dò xét vũ khí bí mật đó. Nhờ tật nguyền giúp đỡ, họ có thể lại gần dụng cụ chiến tranh mới mà không gây nên nghi ngờ nào. Đó là con voi khổng lồ mà họ mò mẫm khảo sát. Lúc trở về trại, mỗi người làm phúc trình của mình. Tên mật thám đầu tiên đã khảo sát cái lỗ tai tuyên bố : “Đó là một vật rất lớn và sần sùi, rộng và có thể gấp được như một thấm thảm”. Người thứ hai thăm dò cái vòi bác lại : “Không phải, đúng hơn là giống một cái ống rổng”. Người thứ ba thăm dò một cái chân quả quyết ngược lại là một cột trụ lớn và chắn chắn. Cứ như vậy tiếp tục, mỗi người đi từ một giải thích nói ngược lại giải thích của các bạn cùng đi quan sát.
Chúng ta đã đoán hiểu cũng không thích hợp như thế khi diễn tả sự tha thứ bằng một trong những khía cạnh của nó, giống như giản lược việc mô tả con voi bằng các phần chi thể của nó. Trong khi cố gắng mô tả những thành phần cấu tạo cốt yếu của tha thứ, liệu tôi có làm tốt hơn được những người đi trước không?
Từ ngữ “tha thứ” như quen dùng trong đời sống hằng ngày là đánh lừa. Nó không diễn dịch đúng thực tại phức tạp mà nó phải chỉ định. Đa phần nó nói đến một hành vi ý chí tức thì và biệt lập với bối cảnh của nó. Nhưng sự tha thứ đích thực là hơn như vậy ! Một đàng, nó hơn là một hành vi cố gắng của ý chí ; qui trình của tha thứ kêu gọi đến tất cả các quan năng khác của con người. Đàng khác, không phải là một hành vi trong chốc lát, sự tha thứ được xây dựng trong thời gian và chia từng chặng dài hay ngắn. Nó bao gồm một thời gian trước, một thời gian trong và một thời gian sau.
Hành động tha thứ đòi hỏi cả một lô điều kiện cần thiết liên quan đến nhau : thời gian, nhẫn nại với chính mình, kìm nén ước muốn hiệu quả của mình, sự kiên trì trong quyết định đi cho tới cùng. Khi tìm kiếm những lối diễn tả thích hợp nhất thì những thành ngữ nầy liền đến trong đầu óc tôi : hoán cải nội tâm, hành hương tâm hồn, nhập môn vào tình yêu kẻ thù, tìm kiếm tự do nội tâm Tất cả những thành ngữ nầy phản ánh sự cần thiết của một hành trình.
Và đây là những nét lớn những thành phần cấu tạo chính yếu của sự tha thứ:
1. Sự tha thứ bắt đầu bởi quyết định không trả thù :
Một ngạn ngữ nói : “Con đường dài nhất bắt đầu từ bước đầu tiên”. Bước đầu tiên phải làm trên đường dài tha thứ là quyết định không trả thù. Không phải là một quyết định lấy theo đà hưng phấn nồng nhiệt của duy ý chí, mà là được đọc cho bởi ý muốn chữa lành và lớn lên.
Không cần trở lại với mọi nỗi thất vọng và khốn khổ mà sự trả thù sản sinh ra. Chúng nghiêm trọng đến độ chẳng ai muốn, dù bản năng mời gọi. Jean Delumeau nói lên ý nghĩ của một thi sĩ Cuba bị tù của Fidel Castro trong hai mươi hai năm : “Đối với ông, tha thứ chính là bẻ gãy mối bạo lực chằng chịt, là từ chối chiến đấu với những khí giới hận thù của đối phương, là vẫn cứ tự do hay là trở nên tự do ngay cả khi bị xiềng xích”. Trong cùng tâm trạng đó, Jean Marie Pohier viết : “Tha thứ hệ tại cái gì ?- Không bắt phải trả giá”. Dù định nghĩa nầy có tiêu cực, thì quyết định không trả thù vẫn là điểm khởi hành của mọi tha thứ đích thực.
2. Tha thứ đòi hỏi một sự trở về với chính mình :
Như đạp chân vào tổ kiến, sự xúc phạm gây nên rối loạn và kinh hoàng. Sự hòa điệu an bình của người bị thương tổn vì thế mà bị xáo trộn, sự thanh tĩnh bị đảo lộn, sự toàn vẹn nội tâm bị đe dọa. Những mặt yếu cá nhân cho đến đó được che đậy nay tức khắc lộ diện. Những lý tưởng, nếu không muốn nói là những ảo tưởng về từ tâm và quảng đại bị thử thách. Bóng tối nhân cách lộ ra. Những cảm xúc tưởng là đã trị được giờ hoảng loạn và nổi lên dữ dội. Người ta đành bất lực và nhục nhã trước sự xấu hổ của mình. Những vết thương cũ không được chữa lành đúng cách góp tiếng lạc điệu với những âm hưởng xấu.
Bấy giờ cơn cám dỗ từ chối ý thức về sự nghèo nàn nội tâm và chấp nhận nó thật là lớn lao. Nhiều thủ đoạn đánh lạc mục tiêu vào cuộc để ngăn cản làm việc đó : chối bỏ, trốn chạy vào duy hoạt động, cố quên đi, đóng vai nạn nhân, tiêu phí nghị lực để tìm lại thủ phạm, tìm một trừng phạt tương xứng với điều lăng nhục, tự cáo buộc mình đến suy sụp tinh thần, làm cho mình cứng rắn lên hay đóng vai anh hùng không thể lay chuyển và hào hiệp
Nhượng bộ cho những thủ đoạn như thế sẽ làm phương hại đến sự thành công của tha thứ, là cái đòi hỏi giải phóng chính mình trước khi giải phóng kẻ gây nên xúc phạm. Khuyên nên lặng lẽ tha thứ mà không bận tâm chi đến việc trở lại với các trạng thái tâm hồn của mình là một lời khuyên xấu, bởi vì sự tha thứ tất yếu phải ngang qua sự ý thức về mình, và bởi sự khám phá ra sự nghèo nàn nội tâm của mình: hổ thẹn, gạt bỏ, bạo lực, trả thù, ước muốn dứt đi cho xong. Một cái nhìn trong sáng và đúng đắn hơn về chính mình là một dừng chân bó buộc trên con đường khúc khuỷu của tha thứ. Thoạt đầu một cái nhìn như thế gây sợ hãi, ngay cả dẫn đến thất vọng. Giai đoạn khó khăn nhưng không thể thiếu, bởi vì sự tha thứ cho kẻ khác nhất thiết phải đi qua sự tha thứ cho chính mình.
3. Tha thứ trên đường tìm kiếm một cái nhìn mới về các mối tương quan giữa người với người :
Đối với Christian Duquoc, tha thứ là lời mời đến với trí tưởng tượng. Chúng ta không biết nói gì tốt hơn, dù điều đó gây ngạc nhiên. Quả thực trí tưởng tượng đóng một vai trò thiết yếu trong tiến trình tha thứ. Chính tác giả nầy cũng viết : “Sự tha thứ diễn tả sự đổi mới nầy : nó tạo nên một không gian trong đó cái luận lý nội tại đòi phải có những tương đương pháp lý không thi thố được. Tha thứ không phải là quên đi quá khứ, nó là may rủi của một tương lai khác với cái tương lai được áp đặt bởi quá khứ hay ký ức”. Vậy để dấn thân vào con đường tha thứ, điều quan trọng là phải ước mơ một thế giới tốt đẹp hơn, trong đó công lý và cảm thông ngự trị. Tất cả công cuộc sáng tạo nên một thế giới mới phải chăng không bắt đầu bởi những tưởng tượng ngông cuồng nhất ?
Như vậy sự tha thứ về phe với tưởng tượng. Nó bao gồm một ý muốn sáng tạo, hay đúng hơn là tái tạo. Miguel Rubio nói lên tất cả cái độc đáo : “Tha thứ không phải là một cử chỉ của thói quen phổ biến nhất, cũng không phải là một tập quán thường ngày. Đúng hơn đó là một cánh hoa giấu kín, độc đáo, nở ra mỗi lần trên một nỗi đau và chiến thắng chính mình”.
Sáng tạo không phải là làm nên một cái gì đó từ không có gì sao ? Cái không có gì từ đó phát xuất sự tha thứ, chính là cái thiếu thốn hay cái trống rổng mà lầm lỗi đã đem vào trong các mối tương quan giữa con người với con người. Sự tha thứ đảo ngược tình thế và tạo nên một tương quan mới với người phạm lỗi. Được giải thoát khỏi những ràng buộc đau đớn với quá khứ, người tha thứ có thể cho phép mình sống tròn đầy cái hiện tại và tiên liệu cho tương lai những tương quan mới với kẻ gây nên xúc phạm đến mình.
Bây giờ y tập được thôi nhìn với “con mắt xấu” oán giận và bắt đầu thấy với đôi mắt mới mẻ. Lúc ấy, trong tâm lý trị liệu, người ta nói đến “đặt khung lại”. Như từ ngữ chỉ định, đó là nhìn thấy biến cố đau thương trong một khung cảnh mở rộng. Cho tới lúc nầy, người ta bị giới hạn nơi thương tổn, không thể nhìn thấy cái gì khác, trái tim đầy oán giận. Bây giờ người ta ngẩng đầu lên để phê phán mọi sự trong một viễn ảnh đúng hơn và rộng lớn hơn. Tầm mắt rộng lớn và mở ra trên một thực tế rộng lớn hơn và đẩy lui những giới hạn của chân trời. Sự xúc phạm đã chiếm một chỗ xâm lấn bắt đầu mất đi tầm quan trọng trong cái nhìn của những khả thể hiện hữu và hành động mới mẻ. Nhưng công cuộc không dừng lại ở đó.
4. Tha thứ tin vào giá trị của người gây nên xúc phạm :
Để đạt tới tha thứ, điều thiết yếu là phải tiếp tục tin tưởng vào phẫm giá của kẻ đã gây ra thương tổn, bách hại hay phản bội. Ngay lúc đó thì chắc chắn là rất khó thực hiện. Kẻ gây ra lầm lỗi xuất hiện như một tên độc ác mà ta kết án. Nhưng một khi được chữa lành, thì giống như trường hợp Alfred, cái nhìn tác hại về người khác có thể được thay đổi. Đàng sau con quái vật, người ta khám phá ra một hữu thể dòn mỏng và yếu đuối như chính mình, một con người có khả năng thay đổi và thăng tiến.
Hơn nữa, tha thứ không phải chỉ là được giải thoát khỏi gánh nặng đau đớn của mình, nhưng cũng chính là giải thoát người khác khỏi gánh nặng phán đoán ác ý và nghiêm khắc mà ta có về họ, chính là khôi phục người khác trước mắt mình trong phẫm giá con người của ho. Jean Delumeau đã tìm được những lời lẽ hạnh phúc để nói lên điều đó : “Tha thứ là tự do, giải phóng và tái tạo. Nó làm cho chúng ta nên mới. Nó mang lại niềm vui và tự do cho những ai bị đè bẹp dưới gánh nặng lỗi lầm của mình. Tha thứ chính là một hành động tín nhiệm đối với một hữu thể người, chính là nói “vâng” với người anh em của chúng ta”.
Trong cùng hướng ấy, Jon Sobrino nhìn thấy trong sự tha thứ một hành động yêu thương đối với kẻ thù, một hành động có khả năng hoán cải chính kẻ thù đó: “Tha thứ cho kẻ xúc phạm chúng ta là một hành động yêu thương đối với người có tội mà chúng ta muốn giải thoát khỏi nỗi bất hạnh riêng của họ, là hành động yêu thương kẻ mà ta không muốn vĩnh viển đóng cửa tương lai”.
Tất cả những cái đó thật đẹp đẻ, nhưng có liều lĩnh không khi muốn đi xa như thế ? Kẻ gây nên xúc phạm có gồng mình lên và từ chối sự giải thoát mà người ta hiến dâng cho y ? Ta có để làm cho mình bị tổn thương lần thứ hai vì sự từ chối được tha thứ của y ? Sự liều lĩnh là chắc chắn. Có đáng chịu như vậy không ? Sự tha thứ đích thực đòi hỏi một sự chiến thắng trên nỗi sợ bị sĩ nhục thêm một lần nữa. Chính điều đó khiến Jean Marie Pohier viết : “Chính vì thế mà tha thứ thật khó, bởi vì người ta sợ”.
Đến đó, ta có lý do không để tự hỏi là hành động tha thứ có vượt quá sức riêng con người không ?
5. Tha thứ phản ánh lòng thương xót của Chúa :
Quả thực, tha thứ thuộc về hai lãnh vực : lãnh vực của con người và lãnh vực của Thiên Chúa. Trong ý niệm về tha thứ, có hai sai lầm lớn cần phải tránh. Sai lầm thứ nhất hệ tại việc giảm trừ tha thứ vào một ứng xử thuần túy và đơn giản mang tính chất con người, được tác động bởi sợ hãi hay thương hại. Một nhà tâm lý đồng hóa tha thứ với một hình thức của thủ đoạn tự vệ. Đối với ông, sự tha thứ giữa con người với nhau được điều khiển bởi sợ trả đũa và hủy diệt lẫn nhau. Triết gia Hylạp Sénèque thấy trong sự thương hại động lực chính của tha thứ. Ông tóm tắt tư tưởng của mình trong một công thức bất hũ : “Con hãy tha thứ cho người yếu hơn con vì thương hại y, và con hãy tha thứ cho người mạnh hơn con vì thương hại con”.
Sai lầm kia là coi tha thứ như là đặc quyền của chỉ một mình Thiên Chúa. Khi ấy người ta để ít chỗ cho sáng kiến của con người. Họ khẳng định : “Chỉ một mình Thiên Chúa có thể tha thứ” hoặc “Tha thứ là việc của Thiên Chúa”. Đó là những công thức để ít chỗ cho trách nhiệm của con người. Dĩ nhiên đó là việc của Thiên Chúa, nếu người ta hiểu rằng Thiên Chúa là nguồn tối hậu của sự tha thứ đích thực, như truyền thống Dothái giáo, Kitô giáo và Hồi giáo dạy. Nhưng sự tha thứ không được thực hiện mà không có sự hợp tác của con người.
Sự tha thứ nằm ở giữa bản lề nhân loại và thần linh. Điều quan trọng là phải tôn trọng hai yếu tố cấu thành nầy, nếu không sẽ cắt xén sự tha thứ khỏi yếu tố chính yếu nầy hoặc yếu tố kia. Cũng về điểm nầy, Jean Delumeau đã tìm được những từ ngữ chính xác. Ông khẳng định rằng sự tha thứ “thiết lập nên gạch nối duy nhất có thể có giữa con người với nhau và giữa con người với Thiên Chúa. Cái cầu vồng giữa Thiên Chúa và con người, chính là sự tha thứ”.
Cho đến đây, chúng ta đã khảo sát phần của con người trong vấn đề tha thứ: quyết định không báo thù, trở về với chính mình để tự chữa lành, sáng tạo nên một trật tự mới, và cuối cùng là giải phóng người anh em hay người chị em của mình. Tất cả những phận vụ đó xem ra hầu như ở bên kia sức người. Có lý, bởi chữ “tha thứ”, như nghĩa từ nguyên của nó gợi lên, có nghĩa là cho cách sung mãn, cũng như “làm hoàn hảo” nghĩa là làm cách sung mãn. Vậy tha thứ mang ý tưởng sung mãn nầy, bởi vì nó diễn tả một hình thức tình yêu đưa tới thái cực, tức yêu mến bất chấp sự xúc phạm phải gánh chịu. Để kiện toàn, điều đó đòi hỏi những sức mạnh thiêng liêng vượt quá sức con người.
Kinh nghiệm sống thiêng liêng trong tiến trình tha thứ được đặt vào trong một bộ ghi khác của hiện hữu và hành động. Ở mức độ nầy, cái tôi cá vị bỏ rơi sự kiểm soát cá vị trên hoàn cảnh. Nói cách khác, nó làm cho mình trở nên dễ cảm thụ với người vô danh và với cái bất ngờ, nếu nó muốn đi vào pha cuối cùng của sự tha thứ.
Chính là nhờ một “thụ động tích cực” mà nó trở nên chăm chú với hoạt động của Thần Khí, thổi ở đâu và khi nào Ngài muốn. Lúc đó, công việc nhẫn nại và tự ý của tâm lý nhường chỗ cho sự chờ đợi cởi mở và tràn đầy hy vọng của một tha thứ, không đến tự mình nhưng từ một Đấng Khác.
Sự từ bỏ ý muốn quyền lực, nghĩa là muốn là tác nhân duy nhất của tha thứ, sẽ đi xa hơn người ta nghĩ. Các nghiên cứu trên quả quyết rằng nếu muốn thành công trong hành động tha thứ thì phải từ bỏ cả ý muốn tha thứ của mình. Thỏa lòng biết bao khi có thể khẳng định với vẻ chiến thắng “Tôi tha thứ cho anh”. Nhưng sự tha thứ trong pha cuối cùng không hề biết đến một tự phụ như thế. Nó được thực hiện kín đáo, khiêm tốn, lặng lẽ. Nó không phát xuất từ cảm tính hay cảm xúc, nhưng bộc lộ sâu xa từ con người và con tim được Thần Khí tác động. Nó có một cái gì độc đáo, không có gì chung với tính đa cảm. Lewis Smedes khẳng định : “Sự tha thứ có một tình cảm, một màu sắc, một khí hậu đặc biệt, khác với mọi hành động sáng tạo khác trong danh mục các tương quan nhân bản”.
Như chúng ta nhận định, sự tha thứ đặt ra một thách đố có thực. Thách đố duy trì mối căng thẳng giữa tâm lý và thiêng liêng. Vậy một sư phạm tha thứ đầy đủ và được soi sáng phải lưu ý điều đó và chính đó là cái mà tôi muốn phân bố tiến trình tha thứ ra thành mười hai giai đoạn.
Tôi không muốn kết thúc chương nầy mà không trích dẫn bản văn của Philippe Le Touzé mô tả cách tuyệt vời hoạt động sáng tạo của Thiên Chúa trong việc tha thứ. Đây là điều ông nói về các nhân vật của Bernanos, biệt danh là ngôn sứ của tha thứ : “Các thánh của Bernanos xuống tận vực thẳm của “lòng thương xót dịu dàng” nầy. Tha thứ là chính Thiên Chúa, người cha nhân hậu của đứa con trai hoang đàng, Tình Yêu nhưng không thuần túy. Tình Yêu là sáng tạo, tràn trào ra khỏi mình, và tha thứ là khí cụ của công cuộc sáng tạo được tiếp nối, phục hưng, làm mới. Ở đâu con người làm phát sinh chết chóc thì tha thứ lại tung toé ra sự sống”.
Người Kitô hữu cần tạo ra hòa bình ngay cả khi cảm thấy mình là nạn nhân của người sinh sự vô lý. Chúa đã hành xử như thế.
Gioan Phaolô II
Một người trong số cựu nữ sinh viên của tôi đã viết : “Thưa cha, sau khi suy nghĩ chín muồi, cuối cùng con quyết định viết cho cha để tha thứ cho cha vì đã cho con “trôi” trong cuộc thi vừa rồi”. Tôi rất đổi ngạc nhiên vì sự ngây ngô và giọng điệu tự do quá trớn của nàng. Tôi không hiểu tại sao tôi lại phải được tha thứ vì một thất bại mà nàng đáng phải chịu. Bây giờ tôi mới hiểu rằng không những chỉ có những tha thứ giả trá mà cũng còn có những lý do giả trá để tha thứ nữa. Như trong trường hợp vừa trích dẫn, người ta liều mình tầm thường hóa sự tha thứ và sử dụng tha thứ cách không ý thức. Vậy cần thiết phải có biện phân rõ ràng giữa những hoàn cảnh phải tha thứ và những hoàn cảnh không có gì phải nại đến thực hành thiêng liêng trọng đại nầy.
Chúng ta hãy xem vài thí dụ trong đó sự tha thứ không có lý do gì hiện hữu, bởi vì người ta xứng đáng trả giá cho hành động của mình. Tôi lái xe vượt quá tốc độ và phải nhận một biên bản phạt vi cảnh ; tôi đánh bạc và bị thua ; tôi bị ông chủ khiển trách vì trễ giờ làm việc quá nhiều. Đó là bao nhiêu hoàn cảnh khiến tôi phải bị thất vọng, tức giận, tổn thương trong tự ái của tôi. Nhưng chúng ta có thực sự tin rằng viên cảnh sát, chủ sòng bạc và ông chủ phải xin lỗi tôi về những điều sĩ nhục mà tôi đã tự chuốc lấy cho mình không ? Câu trả lời quá rõ ràng rồi. Sự tha thứ chỉ được thực hành trong trường hợp của những xúc phạm bất công thôi. Tuy nhiên cũng chính trong những hoàn cảnh đó, lời xin lỗi sẽ bị bắt buộc, nếu viên cảnh sát đã mắng chửi tôi, chủ sòng bạc đã gian lận và ông chủ đã sĩ nhục tôi công khai.
1. Những xúc phạm bởi những người được yêu thương :
Sự tha thứ mặc lấy những màu sắc và hình thức khác nhau tùy theo do những người thân tình hay chỉ là những khách lạ gây nên. Ai có thể làm chúng ta bị tổn thương sâu xa hơn những người được chúng ta yêu thương ? Chúng ta đã kết dệt với họ những mối liên hệ tình cảm. Một cách nào đó họ đã làm nên một phần của chúng ta. Chúng ta đã bao bọc họ bằng một vầng quang lý tưởng và rồi chúng ta nghĩ là có thể chờ đợi rất nhiều vào họ. Chính vì thế, tính nghiêm trọng của thương tổn do tính nghiêm trọng khách quan của xúc phạm được kể là nhẹ hơn so với sự cao cả của những chờ đợi, dù những chờ đợi nầy có thực hiện được hay không.
Những trường hợp chờ đợi quá mức thật là nhiều. Con cái lý tưởng hóa cha mẹ chúng như thế, rồi đòi hỏi ở cha mẹ sự bao dung và tình yêu vô điều kiện. Đối lại, phần đông cha mẹ mong ước con cái sẽ hoàn toàn đáp ứng đúng kỷ luật của mình và thực hiện thay mình những mộng ước mà mình đã thất bại trong việc cụ thể hóa ra trong cuộc sống của chính mình. Cũng thế, tình yêu đam mê thật phong phú trong những ước mơ không thực tế. Các vợ chồng và những tình nhân hy vọng luôn luôn được đoán hiểu trong những ước muốn của họ mà không cần phải bộc lộ ra. Họ muốn luôn luôn được hiểu, được yêu mến, được tán dương, được an toàn nhờ sự hiện diện thường xuyên của người phối ngẫu. Tôi để bạn liệt kê ra những chờ đợi và hy vọng tiềm ẩn được nuôi dưỡng bởi những tình nhân, cha mẹ, con cái, chị em, anh em và bạn bè. Điều quan trọng phải lưu ý nơi đây là sự tha thứ đóng một vai trò không thể thiếu được trong các mối liên hệ thân tình, tùy cường độ của chúng và số lần những cơ hội va chạm nhau.
Dĩ nhiên cần phải giữ cho khỏi biến thành bi kịch những buồn chán nho nhỏ hay những nỗi thất vọng chóng qua hằng ngày : Người chồng về trễ giờ cơm chiều hay nhớ lầm ngày sinh nhật của vợ ; trẻ con làm bẩn sàn nhà vừa mới rửa xong ; người sử dụng sau cùng xe chung của gia đình đã quên đổ xăng. Lúc nầy chắc ai cũng cảm thấy khó chịu, bị tước đoạt và ngay cả bạo lực nữa. Không nên quá quan trọng hóa những rắc rối cỏn con như thế. Nhưng cũng không được hoàn toàn không biết đến. Chúng có thể là dấu hiệu của một vấn đề trong quan hệ với nhau mà ta phải xem xét, giải quyết và có thể điều chỉnh bằng một sự tha thứ. Đó cũng là trường hợp, nếu, sau khi đã lưu ý các vị hữu trách về những sai sót của họ, mà nhận thấy không có chút thay đổi nào trong cách điều hành của họ. Lúc ấy cần xem xét hoàn cảnh và giải quyết nó, dù phải nại đến sự tha thứ, nếu cần.
Xảy ra là những sự kiện không đáng kể của cuộc sống hằng ngày có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng. Một bác sĩ giải phẩu tâm sự với tôi rằng ông nghĩ phải ly thân với vợ vì nàng là một người ngủ quá muộn. Thường khi vào giường là nàng đánh bật ông dậy khỏi giấc ngủ quí báu của ông. Đôi khi còn rất sớm, nàng đã đánh thức ông dậy đòi nói chuyện, nhất là để thu xếp một bất hòa. Người đàn ông tội nghiệp lại cần những đêm nghỉ ngơi để tập trung tinh thần và sự khéo léo của đôi tay. Cứ xảy ra như vậy khiến ông đâm ghét bà vợ đến độ nghĩ rằng bà muốn hủy diệt nghề nghiệp của ông.
Có những sự thiếu quan tâm còn nghiêm trọng hơn nữa. Hãy nghĩ đến những sự phản bội và thiếu thành thật giữa những người yêu nhau. Các lầm lỗi của họ gây nên những thương tổn đau đớn và kéo dài, bởi vì người ta thường nghĩ cách tự nhiên rằng cha mẹ, bạn thân, đồng nghiệp phải về phe với mình, dù gì xảy ra đi nữa. Đã có sự nối kết giữa họ một thứ hợp đồng mặc nhiên bảo vệ lẫn nhau, dù có mặt hay vắng mặt. Tôi cũng đã bị tổn thương và phiền muộn như thế bởi sự không kín đáo của một người bạn cũ. Trong câu chuyện thân tình, tôi đã tâm sự một điều bí mật với anh ta, thế mà anh ta lại vội vả thổ lộ với một người mà tôi lại rất ác cảm. Tôi phải thú thật rằng từ đó tôi chẳng còn can đảm yêu cầu anh ta giải thích về sự không kín đáo của anh ta, đến đổi tình bạn của chúng tôi bị phá hỏng nặng nề.
Phải nói gì về những sự phản bội ? Không có gì nặng nề cho bằng hay biết mình bị phản bội bởi một người mình quí mến nhiều. Chẳng hạn bạn nghe rằng một người bạn thân nói sau lưng bạn, rằng vợ bạn lừa dối bạn với một người bạn của bạn, rằng đồng nghiệp của bạn dùng bạn làm bàn đạp để mưu đồ quyền lực
Có những sự thiếu thành thật về phía những người gần gủi mang những hình thức tinh vi hơn, nhưng cũng không kém làm mếch lòng, như cười nhạo và châm chọc cay đắng. Những thứ đó thật nặng nề để mà chịu đựng, ngay cả với những người phải chứng kiến. Tôi rất khó chịu khi có mặt trong các cuộc vợ chồng cãi cọ nơi công cộng, ví dụ một bà vợ ám chỉ những vụng về sinh lý của chồng, một người chồng dễu cợt những lỗi ngôn ngữ của người vợ người nước ngoài của mình. Những người chứng kiến cũng không chịu nổi những cảnh như vậy, huống chi đối với người phối ngẫu bị lăng nhục!
Dĩ nhiên, những hành vi bạo lực giữa những người yêu nhau phải được kể vào số những xúc phạm độc ác nhất và tồi tệ nhất. Các cuộc thống kê đưa ra những con số kinh hoàng về số phụ nữ bị bạo hành bởi chồng hay bạn trai của mình. Ngoài ra, các cuộc thống kê còn im lặng đối với những sự bạo hành bằng lời nói và tâm lý đi trước những màn thượng cẳng tay hạ cẳng chân. Sau cùng, phải nói gì về nạn dịch lạm dụng tình dục đối với trẻ em mà xã hội của chúng ta đã quyết định đưa ra công khai ?
Cho đến đây, chúng ta mới nói đến những thiếu sót trầm trọng đối với tình yêu của những người gần gủi. Một số hoàn cảnh phân ly nào đó xem ra không đòi hỏi được chăm sóc bằng một sự tha thứ, vì chúng không có chủ tâm. Hãy lấy trường hợp sự ra đi của những đứa con lớn. Ngay cả khi biết là phải lẽ đứa con phải tung cánh bay ra khỏi tổ ấm gia đình, con tim của mỗi phần tử trong gia đình vẫn se thắt đau đớn. Biết bao đám cưới mà cuộc ra đi của người con trai hoặc người con gái của gia đình buồn nhiều hơn là người ta muốn nhìn thấy.
Cuộc chia ly bởi cái chết của một người thân yêu làm chổi dậy cả một lô tình cảm, như sợ hãi, đau thương, giận dữ và mặc cảm có lỗi. Chính vì thế, trong khi trị liệu nỗi đau tang chế, tôi mời gọi những người còn sống chu toàn một nghi thức tha thứ để vượt thắng nỗi tức giận và cảm tưởng có lỗi của họ. Trong khi xin lỗi người thân yêu quá cố, họ tự giải thoát khỏi sự buộc tội chính mình là đã không yêu thương người thân hơn được. Và trong khi tha thứ cho người thân yêu quá cố, họ loại bỏ được nỗi tức giận của họ là đã bị người thân yêu bỏ rơi.
2. Những xúc phạm bởi những người xa lạ :
Một người lái xe ẩu tả cắt ngang đường của bạn, một khách hàng vội vả dành mất chỗ xếp hàng của bạn trước quầy trả tiền, một người tài xế xe buýt trả lời bạn cách thô lỗ, một điện thoại viên trả lời bạn bằng tiếng Anh trong khi bạn xin được phục vụ bằng tiếng Pháp. Dĩ nhiên đó là những buồn chán không đòi hỏi những tiến trình tha thứ dài dòng. Ngay lúc ấy, bạn cảm thấy bực bội khó chịu, nhưng rồi bạn sớm quên đi ngay những hỗn xược đó. Bạn tự nhủ rằng đó là những kẻ xa lạ.
Vậy sự xúc phạm đến từ một người xa lạ phải nghiêm trọng hơn thế để làm bạn mất sự an bình nội tâm. Sự xúc phạm đó phải biểu lộ một đụng chạm đến toàn thể vật lý, tâm lý, xã hội hay luân lý. Chẳng hạn như trường hợp một vụ trộm bẻ khóa đột nhập gia cư. Chắc chắn người ta tiếc sự mất mát các đồ vật bị đánh cắp, nhất là nếu liên quan đến những đồ vật quí báu vì giá trị tình cảm mà người ta gắn bó với chúng. Nhưng điều va chạm sâu xa nhất, chính là ý thức về sự xâm phạm lãnh địa của mình. Sự xúc phạm càng đụng đến con người, người ta càng bức xúc : những hành vi xúc phạm đến những người được yêu mến, tấn công thanh danh họ, tàn nhẫn đối với thân thể, sờ mó tình dục, hảm hiếp, v.v Sự an toàn bản thân bị đe dọa, những giới hạn của con người mình bị xâm phạm, một cách nào đó bị bóc trần và phó mặc cho người khác. Sự xấu hổ và kinh hoàng do đó mà ra gây nên trở ngại rất lớn cho việc tha thứ, như chúng ta sẽ thấy. Cuối cùng chúng ta ghi nhận rằng tính nghiêm trọng của thương tổn thường gặp thấy rất nặng nề vì những gợi nhớ không được chữa lành đúng cách của thời thơ ấu.
Điều lăng nhục do một người xa lạ trở thành gây chấn thương hơn khi người ta không thấy được lý do. Làm sao bạn muốn tha thứ cho những tên khủng bố chính trị đã bắt đi, hành hạ và giết chết các phần tử của gia đình bạn ? Francine Cockenpot, một nữ nhạc sĩ kiêm thi sĩ người Pháp đã thử tha thứ. Sau khi thoát chết khỏi tay một kẻ bạo hành vô danh, nàng cảm thấy buộc lòng phải thiết lập một mối tương quan với kẻ hoàn toàn vô danh đó. Để đi vào liên lạc với nó và xua đuổi nỗi quẫn bách của mình, nàng bắt đầu viết cho nó, biết rất rõ rằng các thư của nàng sẽ không bao giờ đến tay người nhận. Nàng nói : “Ngay khi về tới nhà, như để trừ khử nỗi kinh hoàng của mình, tôi chụp ngay cây viết chì và xấp giấy rồi bắt đầu viết. Cho đến năm hay sáu lá thư mỗi đêm, không thể đọc lại, vì tôi đã bị mất một con mắt. Tôi viết cho kẻ bạo hành tôi, kẻ vô danh mà tôi chẳng biết chút gì về nó, ngay cả giọng nói của nó, bởi vì nó không trả lời cho tôi khi tôi la lên “nhưng tại sao ông muốn giết tôi ?”
3. Những xúc phạm đã mất đi trong quá khứ :
Dù sự xúc phạm đến từ một người thân yêu hay bởi một kẻ hoàn toàn xa lạ, luôn luôn cần phải nhớ rằng nó có khả năng động viên các hoài niệm và gợi lên một phản ứng giây chuyền. Những vết thương cũ mà người ta tưởng là đã bị dồn nén và chôn chặt nay lại tĩnh thức, cùng lúc gia tăng nỗi kinh hoàng và hổn loạn. Bấy giờ sự xúc phạm được nhận ra qua cái nhìn sợ sệt và phóng đại lên của đứa trẻ đang sống trong chính mình.
Đó là điều đã xảy ra với một cán sự xã hội, khi điều trị, đã kể lại với tôi rất nhiều khó khăn trong quan hệ y gặp phải với các cấp trên thuộc nam giới của y. Y nhấn mạnh đến sự thiếu ngay thẳng của các cấp trên đó, là điều xem ra giải thích sự ít tín nhiệm của y đối với họ. Mệt mõi vì những xung đột thường xuyên với ban điều hành, y xin tôi giúp y khám phá ra cội rễ của thái độ ngờ vực của y đối với các cấp trên của y. Y đã lâu dài tìm kiếm nguyên nhân bằng những cố gắng nội quan, nhưng y vẫn có cảm tưởng lẫn quẫn trong vòng tròn.
Bấy giờ tôi xin anh ta sống lại hiện trường tình cảm ngờ vực của anh, và từ lúc đó trở đi, anh dần dần lùi lại quá khứ của mình và vạch ra tất cả những biến cố trong đó anh đã cảm nhận sự nghi ngờ đối với các quyền bính. Anh đã phải bắt đầu lại nhiều lần trước khi được thành công, bởi vì biến cố đầu tiên vẫn bị che giấu kỷ. Trong một lần kia, anh đột nhiên bắt đầu khóc nức nở : Anh vừa sống lại biến cố bất hạnh. Lúc lên bảy tuổi, sau khi anh bị cắt bỏ hạch hạnh, lúc tỉnh dậy anh thấy chỉ có một mình cô độc và đau đớn trong một phòng bệnh viện. Anh đã hết sức hoảng sợ. Ba của anh đã không đến thăm anh lúc anh tĩnh lại như ông đã hứa. Anh đã chờ đợi suốt cả buổi chiều, rồi suốt cả buổi tối, nhưng vô ích. Hơn nữa, bác sĩ giải phẩu cũng đã hứa đem cho anh kem lạnh, nhưng cũng chẳng thấy đâu. Cô y tá cũng chỉ viếng thăm vài lúc ngắn ngủi. Trong khi cảm thấy bị bỏ rơi như thế, cậu bé con đã lấy quyết định sẽ không còn tín nhiệm vào các người lớn nữa, nhất là những người đàn ông. Sau khi đã khóc rất nhiều, cuối cùng anh hiểu ra được do đâu mà đến sự ngờ vực đối với những người đàn ông có quyền bính hằng ám ảnh anh. Bấy giờ, anh có thể tha thứ cho bố của anh và bác sĩ giải phẩu vì đã không giữ lời, đồng thời sống lại những cuộc xung đột khác trong quá khứ với các cấp trên hầu tháo gỡ chúng đi.
Câu chuyện của người đàn ông nầy không phải là duy nhất đâu. Trong phần lớn trường hợp, sự không thể tha thứ tìm thấy nguồn gốc của nó trong những vết thương cũ hoặc những mất mát của tuổi thơ ấu.
Người ta không thể sống chung với nhau nếu không tha thứ lẫn cho nhau và nhìn nhận mỗi người chỉ là cái mà mình là.
François Varillon
Kêu cầu sự tha thứ của Thiên Chúa cho Giáo Hội và cho tội lỗi của con cái Giáo Hội.
Gioan Phaolô II
Những mối quan hệ giữa con người với con người sẽ trở thành không thể, nếu không có sự tha thứ. Nhưng tha thứ cho những ai ? Trước hết là tha thứ cho chính mình, tiếp đến là tha thứ cho các thành viên trong gia đình mình, tha thứ cho láng giềng, tha thứ cho bạn bè, nhưng cũng tha thứ cho những người xa lạ, những thể chế, những kẻ thù truyền thống, và sau cùng là “tha thứ cho Thiên Chúa”. Đây là một liệt kê không đầy đủ những thí dụ về những hoàn cảnh phải tha thứ.
1. Tha thứ cho những thành viên trong gia đình mình:
Quan trọng nhất là tha thứ cho các thành viên trong gia đình mình, bởi vì những quan hệ thân thiết có khả năng làm phát sinh những xung đột thường xuyên :
- Tha thứ cho cha mẹ vì đã làm bạn thất vọng khi bạn nhận ra khuyết điểm của các ngài.
- Tha thứ cho người cha ghen tuông sự thành công của con trai mình.
- Tha thứ cho bà mẹ luôn o bế không để cho bạn được lớn lên.
- Tha thứ cho người cha thường xuyên vắng mặt và im lặng.
- Tha thứ cho cậu em hay cô em đã dành mất địa vị của bạn trong gia đình.
- Tha thứ cho người anh em từ chối giúp đỡ trong lúc bạn túng quẫn.
- Tha thứ cho người anh đã không muốn cho bạn nhập vào nhóm bạn của anh.
- Tha thứ cho ba hay mẹ nghiện ngập làm bạn phải xấu hổ.
- Tha thứ cho chồng bạn vì tính ưa mèo mỡ.
- Tha thứ cho vợ bạn vì đã lừa dối
- Tha thứ cho mẹ chồng đã nghĩ là bạn cướp mất con trai của bà.
- Tha thứ cho ông bố chồng vì những cử chỉ tán tỉnh cầu thân…
- Tha thứ cho con bạn đòi được quan tâm hơn mà bạn không thể.
- Tha thứ cho cậu con phạm pháp làm bạn phải nhục nhã.
- Tha thứ cho cô con gái không chịu khép mình dưới kỷ luật của bạn.
- Tha thứ cho các con bạn vì đã không tôn trọng các giá trị của bạn và đã phá hủy những ước mơ của bạn về chúng.
2. Tha thứ cho bạn bè và những người gần gủi :
Thường người ta đặt để những kỳ vọng lớn nơi bạn bè thân thiết và những người quen biết. Chính đó là một nguồn thất vọng bao la :
- Tha thứ cho những người bạn đã làm bạn tổn thương cách bất công.
- Tha thứ cho thằng bạn thân đã để mặc bạn qụy ngã vào lúc bạn cần đến nó.
- Tha thứ cho con bạn thân đã không kín đáo và đã tiết lộ bí mật của bạn.
- Tha thứ cho thằng bạn đã không nhìn nhận bạn trước mặt những nhân vật quan trọng.
- Tha thứ cho người thân thiết đã bỏ rơi bạn trong khi dọn đi nơi khác hay chết.
- Tha thứ cho người bạn chóng quên lời hứa…
- Tha thứ cho người bạn gái thủ lợi đã gài bẩy mai mối cho bạn làm bạn khó xử và nguy hiểm.
- Tha thứ cho những thầy cô kém cỏi và cố chấp làm bạn phải mất thời giờ quí báu ở trường.
- Tha thứ cho ông giám đốc cần khẳng định mình bằng cách hạ nhục bạn.
- Tha thứ cho thằng bạn đồng nghiệp đã gièm pha bạn với thượng cấp.
- Tha thứ cho thượng cấp đã có những lời quở trách làm mếch lòng bạn trước mặt mọi người.
3. Tha thứ cho những người xa lạ :
Các hoàn cảnh cuộc sống áp đặt cho bạn những con người khó ưa gây nên cho bạn những thiệt hại bất ngờ và không lường trước được :
- Tha thứ cho tên lái xe ẩu tả say rượu cán chết con bạn.
- Tha thứ cho thầy thuốc đã chẩn đoán sai khiến bạn phải mất thời gian, tiền bạc và sức khoẻ của bạn.
- Tha thứ cho kẻ làm hư xe bạn mà không nói.
- Tha thứ cho tên trộm đã cướp đi sự kín đáo tư riêng của nhà bạn.
- Tha thứ cho người bán hàng tráo đổi hàng bạn đã chọn lựa.
4. Tha thứ cho các cơ chế :
Vì sự vô danh của chúng, thật ra khó tha thứ cho các cơ chế hay hiệp hội. Nhưng chúng còn có những người đại diện mà bạn có thể tha thứ cho họ :
- Tha thứ cho hiệp hội đã sa thải bạn sau nhiều năm dài phục vụ trung thành.
- Tha thứ cho Nhà Dòng nễ người quyền thế, ép kẻ cô thế.
- Tha thứ cho hội đồng cố vấn địa phận vì thành kiến và thiếu thông tin chính xác đã có những quyết định bất công và oan ức
- Tha thứ cho tòa giám mục đã để xảy ra những lạm dụng mà không can thiệp kịp thời và hữu hiệu.
- Tha thứ cho Giáo Hội vì chậm trễ cất đi những vạ oan
5. Tha thứ cho những kẻ thù truyền thống :
Thoạt đầu xem ra phóng đại, cường điệu khi nói tha thứ cho những kẻ thù của quê hương qua dòng lịch sử. Có lẽ người ta sẽ tự biện minh cho mình, lấy cớ không thể đặt mình vào địa vị của các nạn nhân. Giải thích nầy khó được chấp nhận, vì vẫn còn ký ức tập thể qua đó một dân tộc vẫn giữ sống động những thương tổn đã gây nên cho tổ tiên của họ. Ký ức đó duy trì những thành kiến và ngờ vực khi nó không xúi giục sự thù ghét hoặc không kích động những cuộc tấn công bất công chống lại hậu duệ của những kẻ thù nầy. Trong mức độ người ta còn cảm thấy uất ức về những sĩ nhục quá khứ được ký ức chuyển giao từ thế hệ nầy qua thế hệ khác thì việc chạy đến tha thứ chữa lành trở nên một sự cần thiết :
- Tha thứ cho những nước đã đánh bại tổ tiên bạn.
- Tha thứ cho dân tộc đã lăng nhục dân tộc bạn bằng cách không cho dân tộc bạn được nói tiếng nói của mình và thực hành tôn giáo của mình.
- Tha thứ cho kẻ chiến thắng đã sử dụng sách lược đồng hóa dân tộc bạn.
- Tha thứ cho nòi giống đã thực hành chính sách diệt chủng hoặc toan tính làm như vậy đối với dân tộc của bạn.
6. “Tha thứ cho Thiên Chúa” :
Xảy ra ngay cả Thiên Chúa cũng bị đưa ra hàng bị cáo. Đề tài tế nhị để đề cập đến khi có kẻ tranh luận vấn đề gai góc về sự cùng tồn tại của sự dữ trong thế giới và lòng tốt của Thiên Chúa. Vấn đề quá phức tạp để bàn đến cách thỏa mãn ở đây. Tôi chỉ xin được phép báo hiệu cho người nào muốn tiến bộ trong đời sống thiêng liêng và củng cố thêm khả năng tha thứ của mình rằng Thiên Chúa, thay vì muốn hay cho phép sự dữ trong thế gian, thì lại là nạn nhân đầu tiên của sự dữ, nếu nghĩ đến Đức Giêsu Kitô. Bấy giờ tôi bằng lòng đặt ra ở đây một câu hỏi đơn giản, ý thức rằng không mang lại một câu trả lời thích đáng : “Người ta phải tha thứ cho vị Thiên Chúa nào đây ?” Vị Thiên Chúa toàn năng mà người ta qui cho nhiều sai lầm không phải là vị Thiên Chúa bất lực và khiêm tốn mà Đức Kitô đã dạy :
- Vì Ngài để cho trẻ con phải đau khổ và phải chết.
- Vì Ngài nói là yêu tôi mà không đến giúp tôi trong những lúc khó khăn nặng nề.
- Vì Ngài coi như ở khắp mọi nơi mà tôi chẳng thấy Ngài.
- Vì xem ra Ngài không trả lời những kêu xin của tôi.
- Vì Ngài không ban cho tôi hạnh phúc mà tôi có quyền được hưởng vì đã chu toàn các bổn phận tôn giáo của tôi.
- Vì sau khi cho tôi biết một chút về thiên đàng bởi một tình yêu lớn lao thì Ngài lại đến tìm đem đi người tôi yêu.
- Vì Ngài để người ta lạm dụng, ngay cả trong Giáo Hội, mà không can thiệp.
- Vì Ngài vẫn phán xét tôi không ngừng.
- Vì tôi không thể đạt tới sự trọn lành mà Ngài buộc tôi nhắm đến.
7. Tha thứ cho chính mình :
Tôi để sự tha thứ cho chính mình đến cuối bảng liệt kê, thực ra trong tiến trình tha thứ, nó phải được đặt lên đầu hết. Quả thật, sự tha thứ cho người khác mà không được đi trước bởi một sự chấp nhận cảm thông chính mình và sự nghèo nàn của mình thì chỉ là một sự tha thứ hời hợt giả tạo bên ngoài. Nhưng phải tự tha thứ cho mình về cái gì ? :
- Vì đã đặt mình vào một hoàn cảnh khiến mình bị tổn thương.
- Vì đã không biết phải làm gì hay nói gì.
- Vì để bị rơi vào tương tư mà không suy nghĩ.
- Vì để mình bị suy sụp bởi những lời lăng mạ của kẻ nọ người kia.
- Vì đã tự oán trách mình và đã hùa theo kẻ xúc phạm mình.
- Vì đã kéo dài quá lâu một mối quan hệ xấu.
- Vì cảm thấy mình bị tổn thương mà vẫn còn muốn yêu.
- Vì tính ưa hoàn hảo đến không chấp nhận một sai sót nào của mình.
Tha thứ để giải phóng nơi bạn những sức mạnh của tình yêu.
Martin Gray
Thiên Chúa lớn hơn lòng của chúng ta…Tha thứ là niềm vui của Thiên Chúa, trước khi là niềm vui của con người… Chúa Giêsu mạc khải cho tất cả chúng ta gương mặt của Thiên Chúa, sẵn sàng vui mừng vì sự trở về của đứa con hoang đàng.
Gioan Phaolô II
Đọc một tác phẩm về tha thứ có thể là một việc rất hữu ích, nhưng không gì có thể thay thế được kinh nghiệm. Để thực hành, tôi đề nghị một kinh nghiệm dưới hình thức suy niệm. Trong sự tha thứ cũng như trong mọi thực hành đạo đức khác, như nguyện ngắm hay cầu nguyện, người ta không ứng biến, mà phải chuẫn bị trước. Tôi thực sự không biết từ đâu ra cái ý tưởng là người ta có thể thành công trong việc tha thứ ngay lập tức mà không có luyện tập trước.
1. Những chỉ dẫn để sống tốt một kinh nghiệm tha thứ :
Đây là vài chỉ dẫn liên quan đến việc suy niệm giúp bạn thành công trong việc tập luyện nầy :
1) Điều cốt yếu của kinh nghiệm hệ tại việc chăm chú theo dõi các chuyển động của con tim bạn, học hỏi những điều về bạn và chấp nhận bạn đúng như bạn đang là trong tiến trình của bạn. Trước hết, bạn hãy tránh việc bắt buộc mình tha thứ với bất cứ giá nào. Có thể sự tha thứ sớm rơi vào tâm hồn bạn như một trái chín, và như vậy càng hay. Cũng có thể bạn cảm thấy con tim bạn khép kín trước mọi cảm thông, và cũng tốt thôi. Bạn hãy chấp nhận mọi chuyển động nội tâm, dù thuộc loại gì đi nữa. Hoàn toàn quyết định thuận với kinh nghiệm, bạn hãy tự cho phép mình hõan nó lại ngay khi bạn cảm thấy cần.
2) Để tập luyện việc nầy, tôi khuyên bạn chọn một sự xúc phạm nhè nhẹ. Cũng như trong thời gian đầu các cuộc tập luyện thể lực, không ai liều lĩnh nâng cao một trọng lượng năm mươi kilô, hay chạy marathon ngay, thì đối với tha thứ cũng như vậy. Vậy bạn đừng bắt đầu muốn tha thứ ngay những xúc phạm nặng nề, như sự xúc phạm của tên bợm đã làm bạn tan nát cuộc đời hay sự xúc phạm của người bạn cũ đã tàn nhẫn với bạn suốt nhiều năm tháng. Tốt hơn bạn hãy chọn sự xúc phạm của của tên tài xế bạt mạng, của thằng bé nổi loạn hay của ông chủ cục cằn.
3) Hãy ghi âm bài suy niệm vào một cuộn băng để giúp bạn tập trung hơn.
4) Cuối buổi suy niệm, sẽ hữu ích cho bạn là nên viết một bài về các cảm tưởng của bạn. Lợi ích hơn nữa là chia sẽ các cảm tưởng đó với một người bạn. Việc đó sẽ giúp bạn đẩy xa hơn nữa những suy nghĩ của bạn.
5) Buổi suy niệm kéo dài khoảng hai mươi phút. Để công việc được diễn tiến dễ dàng, bạn hãy loại bỏ tất cả những gì có thể làm bạn chia trí, chuông diện thoại reo chẳng hạn. Giữ một tư thế thoải mái. Thích hợp hơn là nên ngồi, hai chân chạm đất và hai mắt nhắm lại.
2. Diễn tiến của buổi suy niệm :
Thong thả đi vào chính mình.
Từ từ tập trung chú ý tới những chuyển động của con tim.
Cảm nhận rõ những nhịp đập và nhiệt huyết của nó.
Rồi tự đặt cho mình những câu hỏi : “Sự tha thứ thể hiện cái gì cho tôi ? Nó có thể mang lại cho tôi phẩm chất mới mẻ nào của cuộc sống ?”
Hãy nhớ lại một kinh nghiệm hạnh phúc trong đó chính bạn đã được tha thứ.
Hãy để thời giờ thưởng thức niềm vui được tha thứ đó.
Hãy tưởng tượng ra một thế giới được làm nên bởi những tương quan hạnh phúc và tha thứ.
Bây giờ, hãy để trổi lên trong bạn gợi nhớ về con người mà bạn cảm thấy oán giận. Hãy nhìn con người đó. Hãy nghe con người đó. Tiếp tục cảm nhận những gì trổi lên trong bạn, trong tất cả sự thật.
Hãy để con người mà bạn đã vất bỏ khỏi trái tim đó tiến lại gần bạn, có mặt với kinh nghiệm sống và với nhiều tế nhị đối với bạn.
Ý thức những ách tắc có thể phát sinh trong tâm hồn bạn vào lúc nầy. Hãy để trào ra những xung động và tình cảm đang làm bạn sôi nổi. Hãy thong thả nhận dạng và chấp nhận chúng.
Nếu những cảm xúc của bạn quá mạnh, thì đừng đi xa hơn nữa. Hãy thong thả chịu đựng và đồng hóa chúng trước khi tiếp tục.
Nếu bạn cảm thấy dễ chịu, hãy tiếp tục để cho con người mà bạn muốn tha thứ đến gần. Tiếp tục quan sát những gì xảy ra trong bạn.
Khi bạn cảm thấy đã sẵn sàng, hãy để con người đó đi vào con tim bạn. Bạn hãy thỏ thẻ với y : “Tôi tha thứ cho bạn”. Hãy nói với con tim của y và trong ngôn ngữ riêng của bạn, theo cách của bạn, hãy lặp lại với y : “Tôi tha thứ cho bạn tất cả những gì bạn đã làm trong quá khứ, cố ý hay vô tình, làm tôi đau đớn hay bị thiệt hại : những lời nói, những cử chỉ hay ngay cả những ý nghĩ của bạn. Tôi tha thứ cho bạn. Tôi tha thứ cho bạn”.
Hãy ý thức đến độ chính con người đó đang đau khổ, sợ hãi và bị tổn thương.
Hãy để thời gian cho y đón nhận sự tha thứ của bạn và bị xúc động.
Thật cảm động, thật trọng đại, thật an ủi khi nhận thấy hai cõi lòng gặp lại nhau trong kính trọng và bình an !
Bạn sẽ thực hiện cho mình rằng sự xúc phạm đã hết, đã chấm dứt, đã được điều chỉnh và không còn đè nặng trên bạn nữa. Cái gì còn có thể oán giận bị xóa đi với sự tha thứ, bởi vì hai con tim đã gặp nhau, nhìn nhận nhau với nhiều thiện cảm.
Phải, mọi sự đã hết với sự tha thứ.
Rồi, với sự chúc lành của bạn, hãy để con người đó bây giờ ra đi như một con người đã được giải phóng, biến đổi, tươi trẻ lại với sự tha thứ của bạn. Bạn hãy để con người đó tiếp tục con đường của y, cầu mong y được hạnh phúc lớn nhất có thể.
Bạn hãy cho mình thời gian hưởng nếm sự chữa lành nầy và hãy cảm tạ Chúa đã ban cho bạn ân sủng nầy.
3. Những hậu quả theo sau buổi suy niệm :
Bạn hãy để một lúc suy nghĩ hầu gặt hái những hoa quả, hoặc chia sẻ với một người nào, hoặc ghi lại các cảm tưởng của bạn vào trong nhật ký. Đến đó, những câu hỏi nầy có thể hữu ích cho bạn :
Bạn đã sống điều gì trong suốt buổi suy niệm ?
- Nếu bạn cảm thấy được giải thoát, hãy khen ngợi bạn và chúc mừng sự tha thứ đó.
- Nếu bạn đã gặp phải những trở ngại, hãy khen ngợi sự can đảm của bạn và để thời gian nhận dạng rõ chúng.
Cái gì còn ách tắc ở trong bạn ? Hãy thong thả chấp nhận bạn trong sự ách tắc ấy.
Bạn phải làm gì để tháo gỡ ách tắc hay những ách tắc nầy ?
Bạn phải làm gì để tiến triển trong sự tha thứ ?
Sau khi đã biết những giai đoạn khác nhau phải vượt qua để tha thứ, bạn hãy tự hỏi xem bạn đã đạt tới giai đoạn nào rồi.
Tới đây chúng đã ở cuối một đoạn đường dài. Tôi hy vọng không chuốc lấy nhận xét mà một nữ tu lớn tuổi đã nói với một vị linh mục trẻ vừa giảng một cuộc tĩnh tâm về những con đường thần bí : “Nầy cha, tôi ngạc nhiên thấy cha tung hứng với bao than hồng mà cha không bị đốt cháy”. Viết một tác phẩm về tha thứ cũng bao hàm những nguy hiểm tương tự, bởi vì đó là một cuộc phiêu lưu liều lĩnh. Trong khi viết cuốn sách nầy, tôi cảm thấy -và còn đang cảm thấy- bịtrần trụi trước sự rộng lớn, phức tạp và sâu xa của đề tài. Nói về tha thứ, chính là nói về một tình yêu rất đặc biệt, về một tình yêu sẵn sàng vượt quá mình đến đổi muốn tái tạo một vũ trụ tương quan mới.
Câu hỏi mà bạn tôi đặt ra ở lời dẫn nhập luôn luôn lẩn vẩn trong đầu óc tôi: “Bạn muốn dạy cái gì về bạn khi viết một cuốn sách về tha thứ ?” Chắc chắn tôi đã khám phá thấy những sự nghèo nàn bản thân mình trước những nhu cầu riêng để tha thứ. Ngoài những hiểu biết mới mẻ mà các nghiên cứu của tôi giúp tôi đạt được, tôi có cảm tưởng hiểu rõ hơn tầm quan trọng và những lợi ích của tha thứ trong chính cuộc đời của tôi, vừa ở quan điểm thể chất lẫn ở quan điểm tâm lý và thiêng liêng. Đặc biệt, tôi còn tự hỏi có nên gán cho các suy tư của tôi về tha thứ một sự hạ thấp chứng cao huyết áp động mạch không ? Biết đâu ?!
Về các mục tiêu tôi đã đề nghị trong sách, tôi tự hỏi không biết đã đạt được chưa ? Nói cách khác, tôi có thành công trong việc làm tĩnh ngộ và lột mặt nạ những quan niệm sai lầm về tha thứ không ? Tôi có đặt cọc tiêu khá rõ ràng con đường tha thứ để người ta dấn thân vào cách bảo đảm mà không thải trừ đi huyền nhiệm không ? Việc tôi đã làm có tránh được cho người muốn tha thứ khỏi bị lạc mất trong một mê hồn trận, tuy hấp dẫn, mà không dẫn đến đâu cả không? Cuối cùng, tôi có lý do để tin rằng tiến trình tha thứ mười hai điểm qui chiếu mà tôi đề nghị có mang lại tự do bên trong và bình an tâm hồn cho những ai cần đến chúng không ? Chỉ có các bạn đọc giả mới có thể nói cho tôi biết mà thôi.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét