Thứ Hai, 16 tháng 9, 2013

Nguoi Muon Hon.html


THÔNG TIN EBOOK

Tên truyện: Người Mượn Hồn

Chuyện Không Kể Lúc Nửa Đêm

Tác giả: Người Khăn Trắng

Thể loại: Kinh dị – Ma quái

Nhà xuất bản: Thanh Niên

Năm xuất bản: 2007

Số trang: 144

Kích thước: 13,5 x 20,5 cm

Trọng lượng: 150 gr

Số quyển / 1 bộ: 1

Hình thức bìa: Bìa mềm

Giá bìa: 17.500 VNĐ

———————————-

Nguồn: http://vietmessenger.com

Chuyển sang ebook (TVE): santseiya

Ngày hoàn thành: 04/04/2010

Nơi hoàn thành: Việt Trì – Phú Thọ

http://www.thuvien-ebook.com


MỤC LỤC

NGƯỜI MƯỢN HỒN

NGƯỜI CHẾT TRỞ VỀ

TRĂNG NGÀN NANH SÓI

MA RẮN

CÁI ĐẦU BÁO OÁN

NGƯỜI VỀ TỪ ĐÁY MỘ

CHIẾC XE TRỞ CHỨNG


NGƯỜI MƯỢN HỒN

Bà chủ ngôi biệt thự Xuân Lan nhờ Trọng giúp một tay thì mới đẩy được cánh cổng sắt vô. Bà giải thích như sợ anh chàng ngại:

– Mùa này trời mưa thường xuyên và độ ẩm cao, nên cổng sắt bị rỉ sét, chớ thật ra nhà này không có người chỉ chưa đầy hai năm.

Nhưng Trọng lại có vẻ thích điều ấy, anh vui vẻ nói:

– Cháu lại khoái ở những nơi lâu lắm không có ai như vậy mọi hơi hám của người khác sẽ không còn chút gì…

Nghe cách nói lạ của anh chàng khá điển trai và có chút phong trần, bà chủ nhà tuy tuổi đã gần sáu mươi cũng phải liếc nhìn. Và chẳng hiểu nghĩ sao, bà chỉ nhẹ mỉm cười…

Dẫn khách đi xem qua một lượt khắp nơi, đến các căn phòng đóng kín cửa, bà Xuân Lan mở từng phòng, phòng nào cũng đầy đủ tiện nghi, trang bị hiện đại, nên chắc chắn là rất thích hợp với những người trẻ tuổi.

Trọng cười:

– Tuy trong bụi vậy chớ cháu chỉ mới ba mươi, còn có thể gọi là trẻ sao?

– Cỡ như tôi đây mới đúng là già, phải không cậu!

Hình như mình vô tình đã chạm vào điều cấm kỵ của một phụ nữ lớn tuổi, nên Trọng chữa lại ngay:

– Trẻ nghĩa thông thường chỉ những người tuổi dưới ba mươi, còn hiểu rộng ra thì ở tuổi sáu mươi trở xuống vẫn còn được gọi là trẻ. Bởi một công chức phải tuổi sáu mươi mới bị cho nghỉ hưu kia mà!

Mãi lo nói chuyện Trọng quên nhìn kỹ một căn phòng có cách trang trí lạ hơn các phòng khác, đến khi bà chủ sắp đóng cửa phòng lại, anh mới kêu lên:
– Bà cho tôi xem lại căn phòng này.

Cửa mở ra, Trọng lại suýt xoa:

– Như vầy không công bằng. Tại sao chỉ riêng có phòng này là toàn bộ đều màu hồng, nổi bật hơn tất cả các phòng kia?

Biết Trọng hỏi đùa, nhưng bà chủ vẫn vui vẻ trả lời:

– Đây là căn phòng riêng mà mới tháng trước tôi cho trang trí, sơn phết lại đúng theo ý người tới thuê. Tiếc là giờ chót cô ấy bỏ cả sáu tháng tiền đặt cọc, vì một lý do bất khả kháng, cô ấy kẹt ở nước ngoài không về được.

– À, ra thế…

Trọng có vẻ thích thú trước việc có một cô gái nào đó cũng có ý định thuê một biệt thự ở xa thành phố giống như mình. Như vậy ít ra anh cũng không phải là người duy nhất có ý tưởng khác người, chỉ thích những nơi thật ít người, sống biệt lập.

– Như vậy lỡ khi cháu vào ở rồi mà cô ấy về đột ngột thì sao?

Bà chủ Xuân Lan cười:

– Có đuổi là tôi đuổi, nhưng với một người hoạt bát, hiểu biết nhiều như cậu thì tôi đâu đủ sức làm càn, đuổi đi khi hợp đồng còn hiệu lực!

Trọng cũng đùa:

– Nhưng nếu cô ta về, bà không đuổi tôi đi!

– Cô nào?

– Thì cô gì bà vừa nói, đã đặt tiền cọc mà bỏ, không ở.

Bà Xuân Lan cười thành tiếng:

– Cậu này nịnh đầm thuộc loại dữ đây!

– Chẳng qua do tôi sợ phụ nữ thôi. Nơi nào có phụ nữ là tôi tránh xa.

– Thiệt hông?

– Bằng chứng là tôi chỉ thích ở một mình nơi nào thật vắng vẻ. Và đó là lý do tôi chấp nh! ận thu�! � một ngôi nhà rộng đến tám phòng, giá thật cao, chỉ để ôm gối ôm mà ngủ.

Bà Xuân Lan lại nhìn khách như dò xét:

– Điều này chắc là phải chờ thời gian trả lời. Bởi trong điều khoản thuê nhà, đâu có điều nào quy định người thuê chỉ ở một mình?

Thấy bà chủ cũng vui tính, nên sau khi xem xong nhà, nhận chìa khóa. Trọng đã vui vẻ nói nửa đùa nửa thật:

– Nói vậy chớ nếu cần, bà có thể báo trước vài tuần là tôi có thể hủy hợp đồng. Với điều kiện là chỉ nhường lại nhà cho cô nào đó đã lỡ hạn hợp đồng trước đây thôi.

Trước khi ra về, bà chủ nhà còn nói vói lại:

– Chiều nay tôi sẽ giới thiệu cho cậu một người giúp việc rất tốt. Trước đây chị ta từng làm ở nhà này.

Trong chỉ định sau khi xem nhà xong sẽ ra về, và đợi khi nào nhờ người dọn dẹp xong mới dọn đến ở, tuy nhiên chẳng hiểu sao anh lại tò mò, muốn xem lại cho kỹ căn phòng màu hồng lúc nãy.

Dẫu sao thì giờ đây ngôi nhà này cũng đã thuộc về mình, tại sao không xem những gì mình muốn? Nghĩ vậy nên Trọng bước trở lại căn phòng lúc nãy. Sau vài giây lưỡng lự, Trọng bước thẳng vào bên trong. Chỉ còn lại một mình nên Trọng có thì giờ xem tỉ mỉ hơn, lúc này anh mới thầm phục óc thẩm mỹ của người trang trí căn phòng, bởi từng chi tiết nhỏ nhặt, cũng được thực hiện một cách hoàn hảo, chứng tỏ giữa người có ý tưởng và người thực hiện có sự đồng cảm sâu sắc.

Đi một lượt khắp phòng, điều làm cho Trọng ngạc nhiên hơn cả là sự sạch sẽ đến tuyệt đối ở mọi nơi, còn hơn những c! ăn phòn! g đang có người ở. Trong lúc bà chủ nhà nói là cô ấy từ ngày đặt cọc trên một năm nay rồi chưa hề đặt chân đến đây lần nào…

Càng ngạc nhiên hơn khi ở dưới chiếc gối còn thẳng nếp, có một mảnh giấy nhỏ với dòng chữ rất đẹp, nắn nót: Nơi hò hẹn của chúng ta.

Cầm tờ giấy trên tay Trọng không khỏi băn khoăn. Không phải nội dung của nó, mà là bởi hương thơm mà nó đang toát ra. Dù cho là loại dầu thơm nhân tạo đắt tiền cỡ nào, hay bông hoa thiên nhiên cực hiếm thế nào, thì cũng không thể lưu giữ hương lâu qua vài tháng. Đằng này đã hơn một năm, như lời bà chủ nhà nói…

Trong đầu Trọng hình dung ra một cuộc hò hẹn vụng trộm nào đó của một đôi nam nữ mà căn phòng lý tưởng này là địa điểm họ dùng gặp mặt thường xuyên, trong lúc gia chủ vô tình không hay biết. Mà họ cũng khéo chọn một nơi tiện nghi và đẹp nhất như thế này, chứng tỏ họ cũng không phải hạng phàm phu tục tử.

Thuận tay, Trọng vò mạnh giấy và vứt vào thùng rác đặt ở chân giường ngủ, vừa lẩm bẩm:

– Trước khi dọn về mình phải cho thay hết tấm trải giường…

Bước vào phòng vệ sinh, Trọng khá hài lòng về sự tươm tất của nơi này, anh nghĩ chắc mình không phải sửa đổi gì khi vào ở.

Trở ra, vừa tính ngồi xuống chiếc ghế ở bàn trang điểm, chợt Trọng giật nãy mình khi nhìn thấy tờ giấy mình vò nhỏ và vất vào sọt rác, giờ lại nằm ngay ngắn trên gối như lúc đầu!

Không tin vào mắt mình, Trọng bước lại cầm tờ giấy lên, thì nhận ra đúng là tờ giấy lúc nãy, không sai một chi tiết nào. Nhìn t! rong thù! ng rác thì… chẳng còn gì.

– Cái này…

Một cảm giác là lạ xâm chiếm thần kinh Trọng, nhưng vốn là con người bướng bỉnh, ít khi sợ hãi bất cứ chuyện linh tinh nào, nên Trọng lại một lần nữa vò nát tờ giấy, mà lần này chẳng những vò, anh còn xé nó nát ra từng mảnh, không vất thùng rác như lúc nãy, mà cho luôn vào túi quần. Xong, anh bước ra ngoài, đóng cửa phòng lại.

Tuy nhiên, đó chỉ là động tác giả, chỉ sau vài phút, Trọng bất thần mở cửa phòng ra và… lần này thì Trọng thật sự sửng sốt, khi… tờ giấy giống hệt lại nằm y chang.

Thọc tay vào túi quần, Trọng kêu lên khẽ:

– Lạ thiệt!

Bởi trong túi Trọng chẳng hề còn mảnh giấy vụn nào!

Nếu là người khác có lẽ họ đã phát hoảng. Còn Trọng, sau vài giây lặng đi, anh nhẹ nhàng khép cửa lại và đi ra. Việc đầu tiên Trọng làm sau đó là lái xe thẳng vào Chợ Lớn, tìm ông thầy Tướng số mà đã từ lâu có người bạn đã giới thiệu rằng ông ta là bậc thầy của thế giới cõi âm.

Trọng vốn không tin, nhưng hôm nay anh lại muốn kiểm tra lại điều nghi vấn đang gặp phải.

Dò tìm khá lâu Trọng mới mò ra được nơi trú ngụ của lão FengXiao. Lão ngụ trong một ngôi nhà xưa ở một con đường nhỏ, mà chung quanh toàn là người Hoa. Khi Trọng vừa xuất hiện ở cửa phòng, thì lão Feng đã từ trong nói vọng ra:

– Anh hãy lấy tờ giấy trong túi ra trước khi bước vào đây!

Trọng theo phản xạ tự nhiên vội cho tay vào túi quần, chạm phải mảnh giấy nhỏ, anh rút ra ngay và… tái mặt khi thấy đó chính là mảnh giấy l�! �c nãy! ! Chưa biết phải làm gì, thì thật bất ngờ mảnh giấy như bị ai đó thổi bay ra khỏi tay và biến mất trong nháy mắt.

Lúc này từ trong nhà một ông lão tuổi khá cao nhưng trông còn rất tráng kiện, nhẹ bước đi ra. Không nhìn Trọng, lão lên tiếng:

– Cậu tìm tôi về chuyện ngôi nhà mới vừa mướn?

Trọng ngơ ngác:

– Ông biết chuyện ấy?

Rất điềm tĩnh, lão Feng mời Trọng ngồi, rồi châm trà mời khách:

– Cậu không tìm tới đây thì nội nhật này tôi cũng đi tìm cậu. Chỉ vì mảnh giấy lúc nãy.

Trọng càng ngạc nhiên hơn:

– Ông cũng biết?

– Nếu không biết thì chính cậu là người đem tai họa đến cho tôi vừa mới rồi đó!

Câu nói lạ của ông lão làm cho Trọng thắc mắc:

– Ông nói thế, nghĩa là…?

– Do đâu cậu biết đây mà tới? Chắc có người chỉ hay do… mảnh giấy đó khiến cậu tìm đến chính xác nơi mà họ muốn?

– Họ là ai, ông nói gì cháu không biết? Quả đúng là có người bạn đã chỉ cho cháu địa chỉ này.

– Người đó chỉ cậu sau khi cậu có ý định thuê ngôi nhà?

Nhớ lại khi người bạn mách cho mình địa chỉ này, đúng lúc Trọng vừa đọc báo xong, đang có ý định tìm ngôi nhà cho thuê. Trọng gật đầu:

– Đúng là như vậy.

Ông lão gục gật đầu:

– Họ muốn phá tôi đó.

Trọng cau mày:

– Sao lại phá ông và có liên quan gì tới ngôi nhà tôi đang thuê?

Lão Feng càng làm cho Trọng ngạc nhiên hơn:

– Vì tôi chính là người đã ếm ngôi nhà đó! !
– Ông nói…?

– Cậu đã từng nghe người ta nói về việc những ngôi nhà mới xây bị ếm, không thể ở được chưa?

– Có! Nhưng không lẽ…

Giọng ông ta trở nên nghiêm trọng hơn:

– Không ai thuê tôi làm chuyện ấy. Mà đơn giản chỉ vì tôi phải làm. Đúng ra tôi giữ kín chuyện này, nhưng hôm nay cậu đã tới đây thì dù tôi có giữ cũng không được. Tôi đã ếm ngôi nhà nên từ lúc xây xong đến nay không ai có thể vào ở được. Người chủ của nó phải trả giá cho những gì bà ta đã gây ra cho tôi.

Trọng quan sát thật kỹ lão già đang ngồi trước mặt. Anh không hoàn toàn tin lời một người chưa gì đã khai toạc ra hết mọi chuyện như vậy. Tuy nhiên đến khi lão ta lấy ra một cuộn giấy nhỏ mà trên đó có những chữ viết thoạt trông Trọng đã giật mình. Dòng chữ viết tháo, nhưng đọc được dễ dàng: Không ai được ở, cho đến khi nó trở thành nhà hoang…

Lão đột nhiên hỏi:

– Cậu có biết ai đã viết những chữ này không?

Trọng chưa kịp đáp thì lão đã trả lời thay:

– Chính người chồng của bà chủ nhà. Bà Xuân Lan, cậu biết rồi chớ?

– Chồng bà ấy đã chết? Vậy thì… người nào đang ở nhà bà ta? Chính tôi…

Lão Feng ngửa mặt lên trời cười một tràng cười rất khó hiểu, giọng ông ta trở nên bí hiểm hơn:

– Chẳng riêng gì cậu, mà hầu như ai tới liên hệ thuê nhà đều được bà chủ nhà giới thiệu là chồng bà ta đã chết. Bàn thờ và di ảnh người đàn ông mà cậu nhìn thấy đó là…

Lão ngừng nói, đứng lên đi vào tr! ong rồi! mãi hơn mười phút sau vẫn không trở ra. Trọng chờ mãi không được, anh phải gọi lớn:

– Tôi về đây, ông thầy ơi!

Vẫn không có tiếng trả lời. Trọng đành phải bước hơi sâu vào trong nhà và rất đỗi ngạc nhiên, bởi ngoài ông Feng ra thì hầu như chẳng có bóng người nào khác.

Mà kể cả lão Feng, giờ này lão cũng biến đi đâu mất, trong khi Trọng tìm kỹ vẫn không thấy một lối ra nào khác, ngoài lối vào như anh đã tới. Lão ta đi đâu? Nửa giờ sau, không tiện ở lâu, Trọng bước ra ngoài và lần này anh lại một phen kinh dị, khi gặp một người hàng xóm, anh ta hỏi:

– Ông tìm ai trong ngôi nhà hoang đó?

Trọng ngơ ngác:

– Đây là nhà hoang?

Người đàn ông tỏ ra rành rẽ:

– Từ hơn năm năm nay chẳng có người nào ở, không gọi là nhà hoang thì gọi là gì?

Trọng lẩm bẩm:

– Vậy ai mới vừa rồi?

Người kia nghe câu nói của Trọng:

– Anh gặp một ông lão người Hoa phải không?

Không đợi Trọng trả lời, anh ta nói ngay:

– Nhiều người đã từng gặp lão như anh vậy. Ma đó!

Sau câu nói, anh ta bỏ đi luôn, nên dù có muốn hỏi gì thêm, Trọng cũng đành phải chịu. Nhìn lại ngôi nhà một lúc, Trọng càng thêm tò mò, anh tìm thêm vài người hàng xóm nữa để hỏi, nhưng chẳng một ai biết gì. Có một chị lớn tuổi, sau khi nghe Trọng hỏi, đã hỏi lại anh:

– Nếu có ai đó hỏi nhà anh có phải là nhà hoang không, thì anh nghĩ gì?

Hình như họ không muốn vây vào chuyện của ngôi nhà đó…

° ° °

Trọng ngồi đợi khá lâu thì bà Xuân Lan mới về tới. Nhìn sắc mặt căng thẳng của Trọng, bà ta ngạc nhiên hỏi:

– Có chuyện gì vậy, cậu Trọng?

Trọng cố giữ bình tĩnh, nhưng vẫn khó giấu cảm xúc:

– Có lẽ tôi sẽ không thể tiếp tục thuê ngôi nhà…

Bà Xuân Lan nhìn khách, dò hỏi:

– Có chuyện gì phải không? Hay là cậu không hài lòng về điểm nào trong ngôi nha?

– Đơn giản chỉ bởi…

Trọng đưa trả lại chìa khóa nhà:

– Bà có thể trừ ba tháng tiền nhà do tôi phá vỡ hợp đồng, số còn lại tôi lấy lúc nào cũng được, không nhất thiết phải là bây giờ.

Trọng đứng dậy ngay, chợt bà Xuân Lan hỏi:

– Có phải cậu nghe ai nói nói gì về ngôi nhà? Chuyện ma chẳng hạn…

Thấy bà ta đã đề cập thẳng, Trọng ngồi lại và hỏi không rào đón:

– Bà biết trong nhà bà có ma?

Bà chủ nhà vẫn rất bình tĩnh:

– Tôi đoán ra ngay mà. Có phải một ông gọi là FengXiao?

– Bà biết ông ta?

Bà Xuân Lan không trả lời ngay, mà ra dấu cho khách chờ, bà bước vào phòng riêng, lát sau trở ra, đưa cho Trọng một gói giấy nhỏ:

– Cậu nhìn xem, cái này có phải là vật người ta thường hay ếm khi xây nhà?

Không rành lắm chuyện thư ếm, nhưng nhìn tờ giấy màu vàng, trên đó có nhiều chữ viết theo dạng tượng hình ngoằn ngoèo, Trọng nghi nghi:

– Có vẻ như vậy…

Bà Xuân Lan chậm rãi kể:

– Khi tôi vừa ăn tân gia ngôi nhà đó thì tình c�! �� phát hiện tờ giấy bùa này được ai đó đặt trong tường bên trên cửa ra vào. Địa điểm đặt không dễ phát hiện, nếu hôm đó tôi không có một giấc mơ kỳ lạ và nghe một người nào đó

mách rằng nhà tôi bị ếm, do có ai tư thù.. Tôi không tin chuyện mê tín, nhưng một buổi chiều khi từ ngôi nhà mới đi ra, tôi gặp một lão già người Hoa…

Trọng chen ngang:

– Lão Feng Xiao!

– Chắc cậu cũng đã gặp lão ta. Lúc đầu tôi cũng chưa biết lão ta là ai, cứ tưởng đó là người hàng xóm, nhưng sau mấy câu chào hỏi thông thường, lão ta đã nói thẳng rằng lão ta sẽ ngăn không cho bất cứ ai vào ở ngôi nhà mới của tôi! Hỏi lý do thì lão cũng không giấu giếm bảo rằng ngôi nhà đã bị thư ếm mà lão ta là tác giả. Nói xong lão ta đi mất. Tuy không tin lắm, nhưng tôi vẫn cho người đi dò hỏi thì phát hiện là ở Chợ Lớn quả có một ông thầy như vậy, lão ta tên Feng Xiao.

– Bà đã gặp lão ta?

Bà Xuân Lan lắc đầu:

– Tôi chưa gặp nhưng nghe người ta kể rành mạch rằng có một ông thầy tướng số chuyên làm việc đó. Hình như lão ta được ai đó thuê mướn để phá tôi.

Trọng trầm ngâm một lúc rồi nói:

– Lão ta không phải là người hiện hữu trên đời này.

Câu nói của Trọng thật sự làm cho bà chủ nhà kinh ngạc:

– Sao cậu biết?

– Tôi đã gặp ông ta. Và…

Sau một lúc đắn đo, Trọng thuật lại chuyện mình gặp lão tướng số người Hoa. Cuối cùng anh hỏi:

– Có phải từ chuyện đó mà ngôi nhà mới của bà không một ai ở được không?

Chừng! như muốn giấu, nhưng nghĩ là Trọng đã biết hết, nên bà Xuân Lan gật đầu:

– Gần như vậy. Tuy nhiên, đó là trước khi tôi tìm ra vật ếm này.

Bà kể:

– Tôi phải sang tận Hồng Kông, tốn khá nhiều tiền để rước ông thầy này. Ông ta sau khi lấy được vật giấu trong tường ra, đã quả quyết là coi như yên ổn. Do vậy tôi mới dám cho cậu thuê.

Sau khi nói mọi điều, bà Xuân Lan tỏ ra là không bắt ép người thuê, bà hỏi lại Trọng:

– Bây giờ cậu còn có ý trả lại nhà không? Nếu cậu trả thì tôi sẽ gởi lại đủ tiền cậu ứng trước, không trừ một xu nào, bởi đơn giản là cậu chưa ở ngày nào.

Trọng có chút áy náy, nên sau một lúc suy nghĩ, anh cương quyết:

– Nếu thế thì tôi sẽ tiếp tục thuê. Xưa nay tôi chưa từng sợ bất cứ gì liên quan đến thế giới tâm linh.

– Tôi không ép, như cậu thấy đó, tôi rất kén người thuê, nếu cậu không hội đủ những điều kiện thì tôi đã chẳng đồng ý.

Trọng nhớ, hôm tới hỏi thuê nhà, bà ta đã hạch hỏi đủ điều, sau khi anh trả lời xuôi mọi điều khoản chủ nhà mới cho thuê và còn dặn:

– Khi đã thuê, thì trong suốt thời gian hợp đồng, cậu là chủ toàn quyền ngôi nhà thuê đó. Kể cả chủ nhà cũng không được quyền can thiệp vào những chuyện xảy ra trong nhà đó.

Trọng lấy lại xâu chìa khóa, anh đứng lên cáo từ bằng quyết tâm:

– Tôi sẽ ở cho đến khi nào bà đuổi mới đi. Với điều kiện là bà đừng tăng tiền thuê theo kiểu mỗi tháng một lần.

Bà Xuân Lan cũng nổi hứng:

– Tôi thí! ch tính ! cách của cậu, nên xin miễn cho cậu sáu tháng tiền nhà đầu tiên. Có nghĩa là, thay vì ở một năm, nay cậu có quyền ở đến mười tám tháng luôn!

Trọng cười:

– Xin cám ơn lòng tốt của bà. Tuy nhiên xưa nay tôi không thích nhận những ân huệ như vậy. Thay vào đó, tôi muốn bà lắp một đường điện thoại nữa vào tận phòng riêng với chức năng gọi được cả ra nước ngoài.

– Ồ, cậu quên là phòng dành cho cậu, tôi đã cho kéo đường đây riêng sẵn rồi.

– Tôi muốn lắp thêm ở căn phòng sơn màu hồng phấn kia. Phòng của…

Bà Xuân Lan ngạc nhiên:

– Cậu thích ở căn phòng của cô gái thuê hụt đó hả? Nó đâu rộng bằng phòng ở phía ngoài. Vả lại phòng ấy thiết kế riêng cho nữ mà…

Trọng cười nhẹ:

– Tôi lại thích phong cách ấy…

– Thôi được, tôi sẽ cho thực hiện ngay. Mong là cậu sẽ không mau chán.

Trọng chào bà chủ nhà, nhưng khi vừa bước ra tới ngoài anh chợt nhớ đến chuyện mảnh giấy trên gối, nên quay lại vừa móc trong túi quần ra mẩu giấy gấp tư, hỏi:

– Bà có nhớ tuồng chữ này không?

Vừa nhìn vào bà Xuân Lan nói ngay:

– Chữ của cô Dạ Hương, người ký hợp đồng thuê nhà mà không ở. Tôi còn mẫu chữ của cô ấy đây.

Bà bước ngay vào phòng, lấy ra tờ hợp đồng đưa cho Trọng. Vừa thoạt nhìn Trọng đã kêu lên:

– Đúng rồi!

Hai mẫu chữ giống nhau như đúc, mà bất cứ ai nhìn vào cũng đều không thể nhầm lẫn được.

Mà mảnh giấy trong túi của Trọng lúc này là mảnh thứ tư anh nh�! �t đư�! �c mới đây thôi…

° ° °

Ba đêm liền Trọng ngủ yên giấc, không mộng mị, cũng không điều gì xảy ra trong căn phòng màu hồng phấn. Điều đó khiến Trọng không tin cũng không được khi nhớ lại câu anh đọc được một cách tình cờ trong quyển sách mới mua: “Muốn ngủ yên giấc, bạn nên đặt cạnh gối mình một đóa hoa mà bạn ưa thích. Trọng đã chọn hoa trà mi là loại hoa mà từ khi đọc tác phẩm Trà Hoa Nữ anh đã đâm ra yêu mến. Nhất là từ khi có cái tên Trà My trong cuộc đời chàng sinh viên nghèo tên Hoàng Trọng.

Thì ra yếu tố tâm lý rất quan trọng. Nó giúp thần kinh bớt dao động, từ đó con người có thể vượt qua được những điều mà bình thường họ thấy khó vượt qua. Như trường hợp này, Trọng tin rằng hoa trà mi chính là yếu tố giúp củng cố tinh thần và đẩy lùi mọi suy nghĩ viễn vông để đưa anh vào giấc ngủ ngon lành…

Từ niềm tin đó, tự dưng Trọng ao ước mình có được một cây trà mi ngay trong nhà. Và anh quyết định tìm ở những nơi bán hoa kiểng. Cái khó của Trọng là việc anh chưa từng biết hình dáng cây trà mi là như thế nào, chỉ ngẫu nhiên anh được người bạn tặng cho đóa trà mi đã hái sẵn, không cành không lá, nên việc tự đi tìm có lẽ sẽ khó. Dẫu vậy Trọng vẫn không muốn hỏi chủ vườn hoa, mà anh thử tự tìm và tin chắc là mình sẽ nhận ra cây hoa lạ này qua hoa của nó.

Tuy nhiên, đã đi hai vòng trong vườn kiểng mà Trọng vẫn không thể tìm ra. Bởi ngoài những loại hoa phổ biến như hồng, cúc, mẫu đơn, lan, thược dược đang nở, còn phản nhiều loài hoa khác thì chỉ ở dạng nụ, thậm chí có nhiều cây! chưa có nụ. Cuối cùng Trọng dừng chân trước một lùm cây xanh tốt, định sẽ chờ người trong vườn tới và nhờ họ tìm hộ.

– Ông cần lấy chậu trà mi lớn đó phải không?

Trọng giật mình nhìn lại thì thấy người phụ nữ đứng tuổi ra dáng chủ vườn, đang nhìn khách mỉm cười.

– Dạ, đây là… trà mi?

– Đúng là trà mi, giống này của Pháp nên rất hiếm. Vườn tôi chỉ còn đúng hai cây loại đó. Nhưng đã được người mua và con gởi lại.

Trọng nhìn thật kỹ hai cây trước mặt mình, anh không ngờ ngẫu nhiên mình lại chọn đúng nơi có cây hoa mình đang cần để đứng nhìn. Anh tiếc rẻ:

– Bà không còn cây nào khác?

Bà chủ vườn tươi cười:

– Nếu có thì cũng phải mất một tháng nữa thì vườn ươm của tôi trên Dalat mới kịp mang về. Tuy nhiên…

Bà quay lại gọi một công nhân.

– Em bưng một trong hai chậu trà mi này ra đây coi.

Chậu trà mi được bê ra đặt ngay trước mặt Trọng. Bà chủ vườn bảo:

– Đây có lẽ là một cơ may hiếm gặp, nó lại rơi đúng vào ông!

Trong lúc Trọng chưa hiểu ý bà ta nói gì thì bà chủ vườn đã tiếp lời:

– Hôm qua tôi đã được người ta trả tiền mua hai chậu trà mi này và họ có dặn, họ chỉ lấy một chậu, còn chậu còn lại thì tặng cho bất cứ ai tìm mua. Tôi thắc mắc nhưng không tiện hỏi, nên từ sáng đến giờ có ý trông xem ai là người tới mua. Không ngờ là ông…

Trọng vô cùng ngạc nhiên:

– Người mua là ai vậy?

Bà chủ lắc đầu:

– Tôi không g�! �p mặt.! Chỉ thấy một anh đạp xích lô tới nói có người đưa tiền nhờ anh ta mua và dặn như vậy.

Trọng chép miệng:

– Tiếc quá, phải chi tôi tới sớm hơn. Tôi đang rất cần chậu trà mi như vầy…

– Ông cần mua cả hai chậu?

Trọng lắc đầu:

– Dạ không, chỉ một cây là đủ.

– Vậy thì cây trà mi này đã là của ông rồi.

Trọng lẳng lặng bỏ đi, khiến bà chủ vườn phải gọi:

– Nè ông, người ta đã có nhã ý tặng cho bất cứ ai yêu hoa trà mi mà!

Trọng vẫn không quay lại. Với Trọng, anh rất ngại chuyện nhận không của ai bất cứ cái gì, mặc dù lúc này anh tiếc rẻ vô cùng chậu hoa trà mi đó…

Anh tới bốn điểm hoa kiểng khác, nhưng không nơi nào có hoa trà mi, chủ vườn rất ngạc nhiên hỏi với Trọng:

– Hôm qua có người đã tới mua hết số chậu trà mi mà chúng tôi có. Loại này kén khách nên chúng tôi ươm rất ít, phải vài tuần nữa mới có.

Cho là chuyện ngẫu nhiên nên Trọng thất vọng ra về, tự an ủi khoảng vài tuần nữa sẽ trở lại mua.

Nhưng lúc vừa về đến cổng nhà Trọng đã vô cùng ngạc nhiên khi thấy chậu hoa trà mi ai đã đặt ngay trước cổng. Nhìn quanh không thấy ai, Trọng ngẩn người ra khá lâu trước khi quyết định gọi xích lô chở trở lại vườn hoa kiểng lúc nãy. Vừa trông thấy anh, bà chủ vườn nói ngay:

– Ông vừa đi vài phút thì người mua đã tới chở cả hai chậu hoa đi. Tôi đâu biết là họ biết chỗ của ông…

Trọng yêu cầu được trả lại chậu hoa, anh nói:

– Tôi sẽ không nhận cái gì khôn! g phải ! của mình.

Nhưng bà chủ vườn đã nghiêm giọng:

– Ở đây một khi hàng đã chở ra khỏi nơi bán thì không nhận lại. Nhất là chậu hoa này không hề có một khuyết điểm nào.

Bà bỏ đi vào trong có lẽ sợ Trọng nói lôi thôi thêm.

Sau vài phút lúng túng, cuối cùng Trọng đành phải đưa chậu hoa về nhà với nỗi thắc mắc đang lớn dần trong đầu. Anh tự hỏi:

– Ai chơi trò cắc cớ như thế này?

Dẫu vậy Trọng cũng tìm chỗ để đặt chậu hoa. Ngôi biệt thự đã được trồng khá nhiều loại hoa khác và mọi nơi hầu như đều đã có sự sắp xếp hài hòa, khó tìm một nơi để chen thêm vào. Nên cuối cùng Trọng chọn bên ngoài cửa sổ của căn phòng màu hồng phấn. Anh tự hài lòng, bởi ở đó bất cứ lúc nào hễ mở của sổ ra, hoặc nằm trong phòng là anh cũng có thể nhìn thấy hoặc ngửi được hương thơm của hoa.

Hôm đó, buổi tối cuối tuần…

Đã từ lâu lắm rồi, Trọng hầu như quên hắn cái thú tiêu khiển đêm bên ngoài, đặc biệt là những cuộc hẹn hò nhảy nhót ở một vũ trường nào đó với người yêu, để rồi khi tàn cuộc, nắm tay nhau ra khỏi vũ trường thì trời đã gần sáng. Những cuộc hò hẹn như vậy hầu như mất hẳn với Trọng, kể từ khi người con gái mang tên loài hoa mà anh đang thích, Trà My biến mất khỏi cuộc đời anh mà không một lời giải thích. Trọng thích cô đơn và chọn lối sống khép kín là bởi đó…

Nhưng hôm nay tự dưng Trọng nghĩ khác. Chẳng hiểu sao anh lại muốn ra ngoài, đi đâu đó một vòng, tìm chỗ nào đó uống vài ly rượu chẳng hạn, có thể là do tâm trạng bớt căng thẳn! g sau khi! ổn định được chỗ ở, hay do… tìm được chậu hoa trà mi?

Trọng không thích liên tưởng chuyện này sang chuyện kia, chỉ đơn giản là hiện tại anh có nhu cầu muốn thư giãn. Tuy nhiên, lúc Trọng vừa thay quần áo xong thì chợt chuông điện thoại reo. Không nghĩ là khách của mình, bởi từ khi dọn về nhà mới Trọng chưa hề cho ai số điện thoại ngôi nhà này, mà thậm chí anh còn chưa thuộc số nữa là…

– A lô!

Trọng chỉ nghe từ đầu dây bên kia lên tiếng có bấy nhiêu đó, rồi lặng im, không nói thêm gì, mặc dù Trọng đã hỏi lại đến lần thứ ba.

– Ai vậy?

Hỏi lại lần thứ tư, bên kia vẫn không đáp, Trọng bắt đầu bực, muốn gắt lên, nhưng bởi người bên kia đầu dây là một phụ nữ, nên Trọng khẽ lắc đầu rồi định đặt máy xuống.

– Trọng phải không?

Lúc này bên kia mới chịu lên tiếng. Mà sao giọng nói nghe như…

– Ai vậy? Phải chăng…

Trọng suýt rú lên bởi giọng nói như từ trong giấc mơ vọng về!

– Trọng hả?

– Trà My, anh đây!

Trọng mừng đến quính lên, tay chân run rẩy đến nỗi làm rơi chiếc ống nghe. Đến khi nhặt lên thì chỉ còn nghe bên kia nói nhanh:

– Ở đó, em sẽ tới!

Mọi chuyện đúng là như một giấc mơ. Trọng đã mất Trà My từ hơn sáu năm nay. Buổi chiều cuối năm ấy Trà My lên xe đó về quê ở một tỉnh miền Trung rồi không bao giờ trở lại. Trọng đợi chờ trong vô vọng đến ba tháng sau và đã về tận quê của nàng để tìm, nhưng ngoài đó người ta bảo Trà My không về quê, cũng không có tin tức gì!
B! an đầu Trọng nghĩ là nàng phản bội anh, đi theo tiếng gọi của một mối tình khác, bởi thời điểm đó Trọng đang thất nghiệp, túng bấn… Nhưng sau một thời gian, tình cờ Trọng đọc lại một tờ báo cũ, anh chết điếng khi đọc tin một vụ lật xe ở đèo Cả, làm chết gần chục người, trong số đó có tên Trà My!

Vậy mà…

Nhìn đồng hồ, lúc ấy mới hơn chín giờ, Trọng hồi hộp như chàng trai mới lớn lần đầu hẹn hò với người yêu. Anh hết ra rồi lại vào, dọn cái này, dẹp cái kia cố để cho khi Trà My tới nàng thấy mọi thứ đều tươm tất, đẹp như ngôi nhà hạnh phúc mà ngày xưa khi bắt đầu yêu nhau hai người thường mơ ước…

Mười giờ…

Vẫn chưa nghe tiếng gọi cổng. Có lẽ nàng còn phải đi tìm nhà…

Mười một giờ…

Lúc này Trọng như tỉnh giấc mơ, anh bình tâm lại và tự hỏi:

– Có đúng nàng là Trà My? Giọng thì không sai rồi. Nhưng…

Bao nhiêu thắc mắc trong đầu, nhưng niềm náo nức thì vẫn không vơi theo kim đồng hồ…

Mười một giờ rưỡi…

Điện nhà tự dưng tắt phụp. Mà hình như cả khu phố đều mất điện. Trọng lúng túng chẳng biết làm sao, bởi mới dọn về, nên anh không hề chuẩn bị đèn dầu hay nến dự phòng. Lỡ nàng tới thì làm sao?

Không do dự, Trọng bước ra mở khóa cổng, chỉ khép hờ, phòng khi Trà My tới không bấm được chuông cổng thì cũng có thể vào được nhà. Hồi hộp trở vào ngồi đợi thêm.

Mười hai giờ…

Chẳng hiểu do chờ đợi lâu quá mệt mỏi, hay do ly rượu thuốc uống sau giờ ăn chiều, mà ! Trọng �! �ã gục ngủ ngay tại salon, nơi anh đang ngồi đợi. Cho đến khi…

– Đợi khách mà như thế này sao!

Nghe tiếng, Trọng choàng tỉnh dậy, anh ngơ ngác nhìn quanh. Toàn một màu tối đen.

– Trà My phải không? Em đâu…?

Trọng như kẻ mộng du, bật dậy và đưa tay quờ quạng vào khoảng không. Anh chạm phải đôi tay của người con gái.

– Em đây mà!

Ngủ mà không khóa cổng, lỡ không phải em vào thì sao…

Nàng ôm chầm lấy người yêu và nụ hôn của họ đã thay bao nhiều lời nói mà đáng lẽ lúc ấy họ đã phải nói với nhau.

Giọng nàng nồng nàn:

– Anh đừng hỏi gì hết lúc này. Em chỉ muốn tận hưởng… Em chỉ muốn mãi mãi trong vòng tay anh như thế này… Đừng rời em ra, em… chết mất. Siết chặt em đi… ôm em nữa đi…

Nàng chủ động đẩy Trọng lùi dần vào phòng ngủ và đôi môi không rời ra khỏi môi anh chàng. Họ quấn lấy nhau, lúc ấy chỉ còn hơi thở gấp là còn có thể nghe trong màn đêm…

Khá lâu sau…

– Em nói cho anh nghe xem, chuyện gì đã xảy ra gần sáu năm trước?

– Chuyện em xa anh đột ngột?

– Cả chuyện báo đăng…

Giọng nàng cười rút rít trong bóng tối, hồn nhiên và dễ thương như ngày nào…

– Cho rằng em chết nên anh… mừng phải không? Thảo nào không lo đi tìm người ta…

– Sao lại không tìm. Anh về quê em hai lần, đi khắp nơi quen biết để hỏi nữa. Nhưng không nơi nào…

– Tại sao không lên am Cô Ba, anh không nghĩ em ở đó sao?

– Am Cô Ba! T! hảo nà! o…

– Em bị bệnh hiểm nghèo, chán nản, em không muốn cho anh biết nên trốn lên đó. Nghĩ là trước sau gì anh cũng tìm ra em. Vậy mà…

Nàng lại ghì lấy Trọng như để bù đắp thời gian xa nhau quá lâu. Giọng nàng qua hơi thở:

– Đến khi em biết chắc mình không còn bệnh nữa mới dám đi tìm anh.

Chừng như lúc này Trọng cũng không quá quan tâm đến những lời giải thích. Với anh điều quan trọng nhất là một Trà My bằng xương bằng thịt đã trở về.

– Anh không hỏi làm sao em biết được nơi anh ở? Anh cũng không hỏi tại sao em có tên trong danh sách người tử nạn trên chuyến xe đò rơi xuống vực mà vẫn còn sống?

– Rồi mình sẽ nói sau…

– Nếu anh không hỏi bây giờ thì sau này đừng bắt em trả lời. Nhớ đấy…

– Ừ…

Đúng là Trọng không còn biết gì khác. Đã quá lâu rồi, cái cảm giác như lúc này thiếu vắng nơi một chàng trai đang độ sung sức, nên Trọng có quên hết mọi thứ trên đời cũng là điều dễ hiểu. Và việc mất điện kéo dài hình như ngẫu nhiên mà vô cùng hữu lý, nó hỗ trợ cho cuộc trùng phùng kỳ lạ trở nên tuyệt vời, vô tận…

Nhưng rồi việc gì cũng đến hồi kết thúc. Trọng trong trạng thái ngụp lặn sâu vào thế giới như mơ như thực, đã phải choàng tỉnh lại khi ánh mặt trời từ cửa sổ xuyên thẳng vào giường ngủ. Vừa mở mắt ra Trọng đã chạm vào một thân thể bên cạnh. Nhớ lại chuyện vừa qua, Trọng bật dậy ngay, và việc đầu tiên của anh là ôm choàng lấy cô gái đang ngồi ủ rủ với mái tóc dài phủ kín khuôn mặt…

&#! 8211; Tr�! � My! Anh muốn nhìn lại em…

Nàng ngẩng lên và lần đầu tiên Trọng nhìn rõ mặt.

– Cô là…

Trọng trợn tròn mắt, buông nàng ta ra và hấp tấp tìm cách bước xuống giường, suýt nữa đã vấp té. Trước mặt Trọng là một cô gái hoàn toàn xa lạ, chớ không phải là Trà My!

– Sao lại như thế này?

Cô gái oà lên khóc, giọng nghẹn ngào, nhưng vẫn còn nghe rất rõ:

– Em biết rồi sẽ có giây phút này mà. Đời con gái nó phủ phàng giống nhau cả, trao thân cho người ta để rồi…

Lạ làm sao, giọng nói ấy đúng là của Trà My! Dẫu đã cách xa nhau bao nhiêu năm, nhưng làm sao Trọng quên được cái âm điệu từng đã khắc sâu vào tâm trí anh.

– Cô là…?

Cô nàng không đáp, vụt bước khỏi giường và vồ lấy quần áo đang vươn vãi dưới sàn nhà, chạy biến ra khỏi phòng, mà tiếng khóc nức nở vẫn còn vọng lại.

Sau vài giây sững sờ, Trọng chạy theo. Nhưng khi ấy anh chàng phát hiện là mình trong tình trạng gần như chẳng có gì che thân, nên khựng lại. Đến khi mặc lại quần áo, Trọng ra tới ngoài thì chẳng còn thấy cô nàng đâu.

Ở ngay cửa ra vào có một vật gì đó rơi nằm ngay tầm mắt, Trọng cúi xuống nhặt và kêu lên:

– Trà My!

Miếng ngọc bội bằng cẩm chạch này là của mẹ Trọng, chính tay anh đã đeo vào cổ Trà My gần mười năm trước, nó không thể lẩn vào với thứ nào khác, bởi nó là của gia bảo nhà Trọng, truyền từ đời bà cố, đến bà ngoại, rồi mẹ anh và chính bà trước khi mất đã tin tưởng giao cho Trọng, dặn là chỉ trao lại cho người con gái s�! � là dâ! u bà.

– Trà My!

Trọng lặng người đi, đầu óc đang quay cuồng với những gì diễn ra đêm qua…

Vừa lúc ấy có tiếng chuông điện thoại reo vang. Trọng đợi chuông reo đến lần thứ ba anh mới bước tới nghe. Nhưng đôi chân của anh hầu như không thể cất lên được. Nó như bị ai đó ghì kéo lại…

Chuông đổ liên hồi…

° ° °

Bà Xuân Lan ái ngại hỏi cô y tá:

– Tình trạng cậu ấy ra sao rồi cô?

Cô y tá rút cây đo nhiệt độ ra, vừa lắc đầu:

– Không khả quan hơn chút nào. Sáng nay khi chúng tôi nhận bệnh nhân vào thì ông ấy đã trong tình trạng này rồi. Bác sĩ đã khám, cho thuốc, đích thân tôi đã chích hai lần nhưng ông ấy vẫn không tỉnh lại và nhiệt độ thì vẫn rất cao. Hình như người nhà chở vào quá chậm…

Bà Xuân Lan thở dài:

– Tôi gọi điện thoại tới nhà cậu ấy rất lâu mà không nghe trả lời, lúc đầu tôi cứ tưởng là cậu ấy ngủ quên, nên phải một giờ sau tôi mới gọi lại, lần này có người nhấc ống nghe lên, nhưng không trả lời, rồi tôi nghe có vật gì đó đổ vỡ mạnh. Tôi bảo tài xế chạy tới thì phát hiện cậu ta nằm ngất đi ở cạnh điện thoại nhấc lên mà không kịp nghe…

Vừa lúc ấy vị bác sĩ điều trị bước vô, ông hỏi liền:

– Bà là gì của anh này?

– Tôi là chủ nhà, cậu ấy là người thuê.

– Nghe bà nói thì anh ấy ở một mình lúc xảy ra chuyện?

Bà Xuân Lan gật đầu:

– Cậu ấy một mình mướn nguyên ngôi biệt thự của tôi. Cậu ấy độc thân. Vị bác sĩ nghiêm giọng:

– Một người đàn ông độc thân không đồng nghĩa với việc họ có quan hệ nam nữ. Trong trường hợp này, tôi có thể kết luận, anh ấy đã… quá tải chuyện tế nhị…

Tuy là lớn tuổi, nhiều kinh nghiệm, nhưng bà Xuân Lan vẫn không hiểu hết ý của bác sĩ, bà hỏi lại:

– Bác sĩ nói thế nghĩa là! sao?

Vị bác sĩ giờ mới cười:

– Nói cho dễ hiểu, anh này bị lâm vào tình trạng kiệt lực do quan hệ nam nữ quá độ, cộng thêm cơ thể đang yếu. May cho anh ta đã vào đây kịp, nếu không thì…

Trước khi bước ra khỏi phòng bệnh, vị bác sĩ trấn an:

– Đã qua hiểm nguy rồi. Tôi sẽ cho truyền dịch với đạm và thuốc bổ liều cao, chỉ sau một ngày nữa là anh ấy có thể về nhà. Nhưng tôi dặn riêng bà, phải ngăn cấm anh ấy tránh xa chuyện kia. Nếu không…

Bà Xuân Lan lúng túng:

– Thưa bác sĩ, tôi chỉ là…

Cô y tá che miệng cười vừa bước nhanh ra ngoài như chạy trốn… trong lúc ấy bỗng Trọng cử động nhẹ mi mắt và từ từ mở mắt ra. Anh ta vừa hồi tỉnh…

– Trà My!

Bà Xuân Lan ngạc nhiên.

– Tôi đây mà. Cậu vừa gọi ai vậy, cậu Trọng?

Nhận ra người trước mắt mình, Trọng muốn gượng dậy mà không được, anh nói rất khẽ:

– Nàng đâu rồi, tìm nàng ta giúp tôi…

Tằng hắng một tiếng lớn, bà Xuân Lan nghiêm giọng:

– Bác sĩ vừa cảnh cáo, nếu cậu không biết giữ mình thì… chết không kịp hối đó!

Trọng ngơ ngác:

– Tôi làm gì?

– Làm gì thì cậu biết! Đúng là đàn ông, người nào cũng y như nhau. Vậy mà cậu nói với tôi, cậu sợ đàn bà, ghét phụ nữ, chỉ muốn sống độc thân.

– Thì tôi…

Bà Xuân Lan không muốn chạm vào điều tế nhị mà chính bà cũng đang cố quên nó. Bà nhẹ bước ra ngoài, khiến Trọng phải kêu lên:

– Kìa, bà chủ. Tôi cần nh! ờ bà&#! 8230;

Chợt nhớ ra, bà Xuân Lan quay lại dặn:

– Nghe tài xế tôi kể lại, lúc nó tới cứu cậu thì thấy cửa trong, cửa ngoài cổng gì cũng mở toang hoác ra hết trong lúc cậu ngủ. Bộ cậu tưởng đây là chốn thiên đàng sao chớ?

Trọng định nói rõ, nhưng lại thôi. Đợi khi bà Xuân Lan đi rồi, anh nhắm mắt lại cố xua hết những hình ảnh đang rối tung trong đầu ra, thậm chí là tìm một giấc ngủ dài… Tuy nhiên, chỉ nửa phút sau Trọng đã nghe ai đó càu nhàu:

– Lại ngủ nữa rồi…

Trọng mở mắt ra và gặp ngay cô y tá. Anh chưa kịp hỏi gì thì cô đã đặt lên bàn một bó hoa hồng vàng tươi thắm vừa nói:

– Có người gởi cho anh. Đào hoa quá, thảo nào…

Trọng vừa nhìn thấy bó hoa, anh đã kêu lên:

– Trà My!

– Kìa, anh làm sút dây truyền dịch ra rồi!

Trong lúc phản ứng tức thời sau khi nhìn thấy bó hoa, Trọng đã bật dậy, tính nhảy xuống khỏi giường bệnh.

– Tôi xin lỗi…

Thấy anh lảo đảo, cô y tá phải làm nhiệm vụ, đỡ một bên, nhưng càu nhàu lần nữa:

– Anh quên là đang kiệt sức hay sao chớ. Người gì mà…

Chợt thấy mình quá lời, cô ta nín ngang, nhưng vẫn không quên liếc xéo một cái. Cũng may là Trọng không nhìn thấy:

– Ai gởi cho tôi bó hoa này?

Cô y tá đáp và nhìn Trọng với anh mắt là lạ:

– Hình như chung quanh anh chỉ toàn những người như thế?

– Người nào?

– Các cô gái đẹp!

Cô ta nói dứt lời đã bước nhanh ra ngoài, khiến Trọng phải kêu lên:

! – K! ìa cô! Người nào đã gởi…

Cô ta đi khuất rồi. Trọng thắc mắc trong đầu, đợi cô ta trở lại hỏi cho ra xem ai gởi. Nhưng cho đến hơn một giờ sau vẫn chẳng thấy bóng dáng cô ta đâu.

Đến giữa trưa thì một cô y tá khác, trẻ hơn đến thay ca. Trọng hỏi ngay:

– Ai đã gởi cho tôi bó hoa này?

Cô y tá mới ngơ ngác:

– Tôi mới tới thay ca, đâu biết gì.

Chỉ có Trà My là biết sở thích của Trọng. Ưa trà mi trong chậu, nhưng lại thích hoa hồng vàng cắm trong lọ. Ngày xưa, mỗi khi sinh nhật Trọng, Trà My đều tặng số hoa theo tuổi của anh và chỉ cần nhìn bó hoa cắm trong lọ mà không cần nhìn thấy người tặng, Trọng cũng hiểu ngay đó là nàng.

– Cô có thể giúp tháo ống truyền dịch ra, tôi cần ra ngoài một chút, được không?

Cô y tá lắc đầu ngay:

– Bác sĩ có ghi trong bệnh án của anh như thế này: Không để bệnh nhân này ra khỏi giường khi nào chưa có ý kiến của bác sĩ điều trị. Như vậy làm sao tôi dám.

Trọng bực bội:

– Tôi có bệnh gì đâu mà phải nằm đây cho tốn thì giờ!

– Cô y tá nhìn vào bệnh án rồi nói ngay:

– Bệnh kiệt sức cấp hai thì đâu phải là nhẹ. Bộ anh lao lực nặng mà thiếu dinh dưỡng hay sao vậy?

Trọng đang cáu, nên vừa nghe hỏi đã gắt lên:

– Đúng là mấy ông thầy thuốc khám ai cũng ra bệnh cả! Sức tôi bẻ cổ voi còn được, sao lại suy dinh dưỡng?

Cô y tá nhìn Trọng rồi lắc đầu:

– Mặt mày anh xanh rờn thế kia, không phải bác sĩ cũng đoán ra bệnh! Chắc là anh chưa nhìn vô gương h! ả.

Cô ta bước ra khỏi phòng, lúc ấy Trọng mới vào phòng vệ sinh và nhìn vào gương soi. Anh giật mình cúi sát mặt vào, vừa lẩm bẩm:

– Sao… sao lại thế này?

Trong gương, sắc mặt Trọng xanh dờn, hốc hác thấy rõ. Chính anh cũng không thể ngờ.

– Thế nào, anh còn đủ sức bẻ cổ voi chớ?

Cô y tá trở lại với vị bác sĩ lúc sáng. Ông nhìn Trọng với nụ cười:

– Anh lúc này chỉ đủ sức bẻ cổ voi trên giấy thôi! Nếu anh muốn xuất viện lúc này cũng có thể được, với điều kiện là khi trở lại đây sẽ không được nằm phòng săn sóc riêng.

Trọng vẫn cãi:

– Tôi đâu có bệnh gì, thưa bác sĩ?

– Nếu tôi không lầm thì trước đây anh rất phong độ, hồng hào, tráng kiện?

Trọng đáp ngay:

– Tôi cao 1,72 mét, nặng 72 ký, ít khi đau bệnh gì.

Vị bác sĩ lại cười:

– Để tôi bảo cô Yến đây đi lấy cân bàn tới, anh cân thử xem bây giờ còn mấy ký.

– Yến, cô y tá chạy đi ngay, vài phút sau đã trở lại với chiếc cân bàn đặt ngay dưới chân Trọng. Anh chàng bước lên ngay bàn cân và kêu lên:

– Sao kỳ vậy? Tôi mới cân cách đây mấy ngày mà!

Cô y tá Yến đọc to lên:

– 56 ký!

Không tin, Trọng cúi sát xuống nhìn và con số 56 lạnh lùng hiện ra trước mắt, khiến cho anh sững sờ. Chỉ mới qua một đêm mà đã như thế…

Vị bác sĩ hỏi rất khẽ, để tránh cho Trọng sự ngại ngùng:

– Anh trác táng hay phung phí sức vào việc gì mà mau xuống vậy? Lúc anh 72 ký là khi nào.

– Mới hôm ! qua đây! thôi!

Ngay như bác sĩ cũng không tin:

– Con người ta chỉ xuống sức, mất cân khi trải qua năm ba ngày, thậm chí là cả tháng mới như vậy. Còn anh…

Ông ngừng lại nhìn Trọng, rồi nhìn sang bó hoa hồng, rồi nói như một kết luận:

– Những nhan sắc như thế, thảo nào….

Trọng nhìn ông, hỏi lại:

– Bác sĩ nói gì?

Vừa bắt tay Trọng, bác sĩ vừa đáp:

– Sáng nay tôi đã nhìn thấy cô gái đẹp như hoa hậu đến gởi cho anh bó hoa này. Anh có diễm phúc, nhưng cũng…

Có lẽ sợ nói ra điều không đúng chức năng một bác sĩ, nên ông ngừng lại, nheo mắt với Trọng rồi bước ra.

Nhưng Trọng thì đời nào chịu tin:

– Bác sĩ nhìn thấy cô gái đó ra sao? Cô ấy…

– Một cô gái rất trẻ, mặc chiếc áo lụa màu vàng giống như màu những đóa hồng kia. Còn là ai thì làm sao tôi biết được, hả ông đào hoa!

Ông ta đi khỏi rồi, cô y tá Yến nói chen vô:

– Hồi sáng, lúc tôi vào thay ca, tôi có thấy cô gái ấy cầm bó hoa đưa cho chị Hạnh, y tá trực ca trước. Cô ấy đẹp mê hồn luôn! Tôi tưởng khách nào, ai dè là… là…của anh.

Trọng không còn kiên nhẫn nữa, anh thay ngay bộ đồ bệnh viện ra, mặc lại quần áo của mình và nói với cô y tá:

– Cô đi làm thủ tục xuất viện giùm tôi rồi lát nữa tôi trở lại lấy.

Trọng để lại một số tiền vượt quá tiền viện phí, rồi chạy ngay ra ngoài. Cái bóng áo vàng ám ảnh Trọng, khiến cho ai xuất hiện trước mặt anh cũng đều có sắc vàng. Suốt hơn nửa giờ tìm kiếm khắp nơi! trong b�! ��nh viện, cuối cùng Trọng đành tiu nghỉu bước ra khỏi bệnh viện, như một kẻ mất hồn…

Trọng quên là chưa làm thủ tục xuất viện, giấy tờ, tiền bạc vẫn còn trong đó. Anh gọi xe taxi và bảo:

– Cho tôi ra bến xe đò đi Bảo Lộc.



Không phải nhất thời ngẫu hứng, mà bằng sự tính toán, Trọng tìm về Bảo Lộc, nơi mà anh và Trà My đều biết: Am Cô Ba!

Nhưng tại sao lại là nơi này? Trọng còn nhớ, đêm vừa gặp lại nhau, chính Trà My đã nhắc cho anh nhớ nơi này. Đó không phải là quê hương bản quán gì của cả hai, mà chính là một cái am thờ vong hồn ba cô gái bị tai nạn chết đã lâu đời, mà một lần khi đi chơi Đà Lạt về, hai người đã buột miệng nói đùa một câu: “Khi nào một trong hai đứa bị đứa kia phụ thì sẽ tìm về ẩn cư nơi này”. Gần sáu năm xa cách phải chăng Trà My đã về đây như nàng nói đem hôm ấy! Lạy trời đúng là như vậy…

Trọng đi chuyến xe khá trễ, nên khi tới ngang am Ba Cô (thay vì là Am Ba Cô, Trọng lại gọi là am Cô Ba) thì đã gần nhá nhem tối. Thấy anh bảo cho xuống ở đó, người tài xế ái ngại:

– Nơi này chỉ có mấy cái miếu, rồi làm sao ông đón được xe đi tiếp hay trở về vào giờ này?

Trọng chỉ khẽ mỉm cười rồi bước thẳng lên núi.

Chưa từng đặt chân tới đây bao giờ, nên Trọng hơi dè dặt bước từng bậc đá, nhắm nơi có ánh đèn dầu leo lét mà lần tới. Một hồi chuông ngân nga, vang ra từ trong ngôi miếu, khiến Trọng dừng lại trong giây lát, trước khi bước tiếp. Anh yên tâm, vì trong am có người.

Vừa bước tới thềm am, bỗng Trọng! nghe có! người hỏi:

– Ngài viếng am muộn quá!

Trọng quay lại và hơi ngạc nhiên khi thấy một sư cô khá trẻ.

– Dạ, do trễ xe…

Sư cô nói vọng vào trong:

– Giờ này vẫn có người viếng am, thầy ạ.

Tiếng chuông trong am cũng vừa dứt. Một sư cô lớn tuổi hơn nhẹ bước ra. Vừa nhìn thấy Trọng bà nói ngay:

– Mô Phật, cửa thiền, cửa am luôn rộng mở cho mọi người. Nhưng chắc tín hữu không chỉ viếng am?

Trọng lúng túng:

– Dạ, con có việc…

Ni cô trẻ lịch sự mời khách:

– Dạ, mời ngài vào.

Vị sư cô nhìn qua Trọng một lượt rồi bỗng lên tiếng:

– Chắc là về chuyện gần sáu năm trước!

Trọng ngơ ngác:

– Dạ, sư cô nói…

– Gần sáu năm trước, một hôm có người mang tới tận am này một gói đồ….

Sư cô ra dấu cho ni cô trẻ đi lấy một chiếc ba lô nhỏ mang tới.

– Vật này đây…

Vừa trông thấy Trọng đã kêu lên:

– Của Trà My!

– Đúng là người mà chúng tôi đợi rồi!

Đặt chiếc ba lô trước mặt khách, sư cô nhẹ giọng:

– Người mang chiếc ba lô này tới chỉ nói rằng, ông ta cùng đi chung trên chuyến xe đò qua Đèo Cả, ngồi chung băng ghế với chủ chiếc ba lô này. Khi xe bị nạn rơi xuống vực thì cô gái còn sống, cô ấy biết mình không thể qua được nên đã đưa ba lô này cho người ngồi bên cạnh may mắn sống sót và dặn hãy giúp mang nó đến am ba cô, gởi ở đó, chờ đến khi nào có người tên là Trọng đến thì đưa… Tôi! đã gi�! �� nó từ ấy đến nay mà chưa thấy người nào tới tìm. Bởi am này ít khách, nên lúc nãy khi nhìn thấy ông, tôi đã nghĩ ngay tới người tên là Trọng…

Trọng run run giọng:

– Dạ, chính tôi là Trọng. Chiếc ba lô này đúng là của Trà My, người tôi yêu đã mất tích gần sáu năm rồi.Vừa rồi…

Trọng không tiện nói ra chuyện mấy hôm trước. Tuy nhiên vị sư cô đã nói: – Cách đây hai hôm, tôi nằm mơ thấy có một cô gái mặt mày đầy máu me, vừa khóc vừa nói rằng cô ấy cám ơn tôi lâu nay đã giữ giùm những kỷ vật và nhờ vậy mà ngày nay cô ấy sắp được gặp lại người yêu. Nhưng có điều này hơi lạ, mà hai hôm nay tôi cứ nghĩ ngợi mãi không ra.

Bà ngừng nói một lúc rồi kể tiếp:

– Trong giấc mơ ấy tôi thấy cô gái mặt đầy máu lại đi chung với một cô gái khác rất đẹp, mà vài tuần trước đã từng ghé am này…

Bà lại ngừng kể, quay sang ni cô trẻ:

– Diệu Thiện sẽ kể cho ông nghe chuyện ấy…

Ni cô được gọi là Diệu Thiện thật thà kể:

– Cách đây hơn hai tuần, có một cô gái đẹp, ăn mặc sang trọng ghé am này. Lúc ấy sư cô đi hái thuốc sau núi nên tôi đã tiếp. Trong lúc nói chuyện cô ấy nói mình gốc Sài Gòn, đi xa mới về, nhân đi chơi Đà Lạt về ghé qua viếng am, nơi mà cô ấy chưa hề biết, nếu không có giấc mơ lạ, mà trong giấc mơ ai đó đã khuyên cô nên ghé qua am này. Bởi tò mò nên sau khi hỏi thăm đường cô ấy mới ghé được nơi đây. Nghe nói thế tôi nghĩ tới chiếc ba lô mà lâu nay sư cô vẫn chờ chủ tới lấy, nên vội đem nó ra, kể qua chuyện lai lịch chi�! ��c ba l�! �. Cô gái ấy muốn xem những thứ bên trong ba lô, mà thú thật từ nào đến giờ tôi chưa hề xem qua. Thấy yêu cầu không có gì quá đáng nên tôi đã đánh bạo mở ba lô ra. Bên trong chỉ có vài bộ quần áo, một số sách, tập vở và một album ảnh, gồm toàn ảnh chụp một đôi trai gái và chân dung riêng của một cô gái, chừng như đó là của chủ nhân chiếc ba lô này. Chẳng hiểu sao khi vừa nhìn thấy ảnh trong album ấy bỗng dưng cô gái đẹp kia sững sờ nhìn trân trối rồi sau chừng nửa phút bỗng ôm đầu kêu chóng mặt rồi ngã vật ra chỗ này, cho tới lúc sư cô về tới.

Sư cô tiếp ngay:

– Tôi không hài lòng chuyện Diệu Hiền cho người khác xem ba lô, nhưng khi ấy thấy tình trạng vị khách kia tôi hơi hoảng nên giục lấy dầu bôi để cứu chữa. Cũng may nữ thí chủ ấy đã tỉnh lại. Vừa tỉnh cô ấy đã kiếu đi ngay. Đến khi cô ấy đi hồi lâu Diệu Hiền mới phát hiện là cô ấy cầm theo luôn cuốn album ảnh.

Trọng chép miệng:

– Tiếc quá, đó là ảnh của tôi và Trà My.

Trọng xin phép xem lại những vật trong ba lô. Anh bồi hồi khi nhìn quyển nhật ký đang viết dở dang của nàng, bên cạnh còn có hai quyển sách mà chính Trọng đã mua và đề tặng mấy hôm trước khi xảy ra tai nạn.

Anh thắc mắc:

– Tại sao cô gái lạ kia lại lấy quyển album? Cô ta không lẽ là người nhà của Trà My ư?

Ni cô Diệu Hiền nhận xét:

– Trước lúc mở ba lô ra tôi không thấy cô ấy có biểu hiện gì quan tâm lắm, cho đến khi nhìn thấy quyển album với những bức ảnh. Lúc ấy tôi nghe không rõ lắm, nhưng hình như cô ấy có kêu lên khẽ tr! ong miệ! ng như là đúng cô ấy đây mà… rồi nhìn sửng sốt.

Trọng lúc này mới chợt nhớ ra, anh hỏi:

– Cô ấy có nói là người ở đâu không?

– Không nói, mà chúng tôi cũng chưa kịp hỏi. Nhưng hình như là Việt kiều ở nước ngoài. Qua cách ăn mặc và qua giọng nói.

Đóng ba lô lại, Trọng hỏi:

– Sư cô có thể cho tôi nhận vật này được không ạ?

Sợ bị từ chối, Trọng móc túi lấy ra giấy tờ tùy thân:

– Tôi đúng là Trọng.

Sư cô cười hiền hòa:

– Cậu đúng là người mà chủ nhân ba lô đã phó thác thì cứ nhận, chúng tôi giữ làm gì, chỉ tiếc là quyển album, đó là sơ xuất của chúng tôi…

– Dạ, không có gì. Chắc là người đó trong lúc bị bấn loạn sao đó nên quên. Hy vọng lúc nào đó họ sẽ đem trả lại đây, tôi xin để lại địa chỉ, nếu họ gởi trả quyển album thì phiền sư cô báo tin giùm.

Trọng ghi vội địa chỉ rồi xin phép cáo từ. Sư cô ngăn lại ngay:

– Giờ này quá tối, mà đường đèo ở đây lại không có xe đi vào giờ này. Ngoại trừ cậu có xe riêng…

Trong đành phải nói cho qua chuyện:

– Dạ không sao, tôi có quen trạm kiểm lâm trên đèo. Tôi sẽ…

Anh đi nhanh xuống đèo. Lúc ấy đồng hồ tay đã chỉ chín giờ…

Đúng là Trọng quá liều. Vào giờ này không mấy ai dám đi bộ trên đèo vắng này. Bởi sự hoang vắng đến rợn người của nó, mà còn có sự nguy hiểm đang chực chờ đi trong bóng đêm dày đặt như thế này. Nhũng chiếc xe chở gỗ, xe tải nặng lên đèo thường ép sát vách núi và là mối đ! e dọa m! ạng sống người đi bộ như Trọng.

Tuy nhiên lúc ấy Trọng quên hết mọi hiểm nguy, anh cứ cắm đầu đi xuống dốc, hướng về phía Sài Gòn.

Cho đến lúc bất chợt mắt Trọng mờ đi, một phần vì sương đêm xuống nhanh, một phần có lẽ do quá mệt. Trong mơ hồ, Trọng thấy hình như có một chiếc xe dừng bên cạnh và anh chỉ kịp đưa tay chạm vào thành xe…

° ° °


Sau chuyến đi Bảo Lộc về Trọng ngã bệnh nằm liệt giường đến ba bốn ngày liền. Sáng nay khi vừa cảm thấy trong người sảng khoái hơn thì nhà anh có khách. Nghe tiếng chuông gọi cổng Trọng hấp tấp chạy ra với một hy vọng. Nhưng khi nhìn thấy một lão già đợi ở ngoài, Trọng thất vọng. Người anh đợi đã không tới.

– Cậu không mở cửa mời khách sao?

Câu hỏi đó làm cho Trọng giật mình. Anh còn chưa kịp hỏi thì người đàn ông đang đứng đợi ngẩng mặt lên, nhìn thẳng vào Trọng.

– Ông… ông là…

Vị khách cười nhẹ:

– Là ông thầy tướng số mà cậu đã từng tìm tới nhà!

Trọng còn tròn xoe mắt nhìn, thì ông ta đã tự động đưa tay về phía Trọng:

– Nếu cậu còn yếu không mở cổng được thì đưa chìa khóa đây, tôi mở cho.

Trọng còn chưa định thần kịp thì như bị sai khiến, anh đưa ngay xâu chìa khóa cho lão ta, rồi bước vào nhà như kẻ mất hồn.

Lão già bước theo rất nhanh, giọng lão nghe khỏe và bình tĩnh:

– Tôi đợi cậu hai ngày rồi. Hôm nay là ngày cuối cùng, nếu không gặp được thì cậu sẽ là người hối hận.

Trọng quay lại nhìn lão để xác định xem lão ta là người hay là… ma. Trọng nhớ lại hôm lão biến mất trong ngôi nhà hoang.

– Thật sự ông là ai?

Lão tướng số hình như hiểu ý của Trọng:

– Cậu nghĩ tôi là ma cũng được. Nhưng bữa nay tôi tới đây không phải với tư cách một… âm hồn. Mà là người sẽ cứu cậu thoát khỏi một tai ách.

Lão ta t! ự nhiên ngồi xuống ghế, lấy từ trong túi ra một gói giấy nhỏ, mở ra trước mặt Trọng:

– Cậu đã từng nhìn thấy vật này?

Trọng trố mắt:

– Lá… bùa ếm của ông?

Trọng đã nhìn thấy lá bùa này một lần do bà Xuân Lan đưa cho xem, nên nhận ra ngay. Tuy nhiên lão tướng sổ lắc đầu bảo:

– Cái này không phải của tôi, mà là của bà chủ nhà cậu đang mướn!

Nghĩ là Trọng không hiểu, lão ta giải thích thêm:

– Đúng là trước đây tôi có ếm ngôi nhà này, nhưng không phải phá hay trù cho chủ nhà tàn mạt, mà chỉ nhằm mục đích ngăn cản không cho người khác thuê. Tôi không muốn…

Trọng chợt nhớ:

– Thảo nào đã từng có người đặt cọc cả năm tiền thuê rồi mà phải bỏ!

Lão ta trầm ngâm một lúc rồi thở dài:

Điều đó trái lại mới đúng. Người duy nhất tôi muốn cho vào thuê ngôi nhà này chính là người phải bỏ tiền cọc đó!

Trọng càng lúc càng rối:

– Vậy ông ếm để làm gì?

– Là ngăn không cho ai khác được thuê, kể cả cậu!

Nhớ lại những mảnh giấy để trên gối, Trọng hỏi:

– Có phải ông là tác giả những mảnh giấy đó?

Lão ta nhìn Trọng một lúc rồi lắc đầu:

– Không phải tôi, mà chính do lá bùa này.

Lão ta lấy ra thêm một mảnh giấy nữa, đưa cho Trọng xem:

– Cậu nhìn kỹ xem, đây có phải là chữ viết của bà chủ nhà Xuân Lan không?

Đã từng thấy bút tích của bà chủ nhà trong tờ hợp đồng, nên Trọng nhận ra ngay:

– Đúng là chữ của! bà ấy! .

– Còn chữ ở đây, có phải cũng là của cùng một người không?

Lão ta đưa thêm một tờ giấy khác có nhiều chữ hơn. Vẫn là tuồng chữ của bà Xuân Lan và có cả ký tên và ghi đầy đủ họ tên của bà nữa. Trọng ngạc nhiên khi đọc thấy nội dung tờ giấy: Tờ thuận tình ly hôn.

– Cậu đọc xem, có phải bà ấy và tôi đã ly hôn cách đây ba năm không?

Đúng là nội dung tờ giấy đề cập chuyện ly hôn giữa bà Xuân Lan và FengXiao, lỗi thuộc về người chồng, nên bà vợ được quyền hưởng trọn số tài sản ở Việt Nam!

Thì ra ông và bà Xuân Lan…

– Chúng tôi là vợ chồng. Từ Hồng Kông chúng tôi sang đây làm ăn lúc còn hàn vi. Đến khi phất lên thì bà ấy tìm cách tống cổ tôi ra khỏi nhà. Tờ thuận tình ly hôn này là do bà ấy ép tôi phải ký, chỉ vì tôi phạm phải một lỗi lầm do hớ hênh. Ngôi nhà này do tôi đứng ra xây, khi gần xong thì chuyện ly hôn xảy ra, tôi không còn cách nào khác hơn là tự mình làm lá bùa ếm, để bà ấy không bán hoặc cho ai khác thuê, ngoại trừ đứa con riêng của tôi. Vậy mà…

Lão ta lại cầm lá bùa trên tay:

– Bà ta cao tay hơn tôi. Khi biết được tôi ếm ngôi nhà, bà ta đã về tận Hồng Kông nhờ một lão thầy số giỏi hơn tôi, làm đạo bùa này về và phá tác dụng đạo bùa tôi làm. Chính đạo bùa của bà ta đã ngăn không cho đứa con gái riêng của tôi, khiến nó phải bỏ ngang số tiền cọc khá lớn!

Trọng ngạc nhiên:

– Người bỏ tiền cọc thuê nhà kia là con gái của ông?

– Nó là con riêng đời vợ trước của tôi. Tôi đưa nó về đây là nhằm tính kế lấy lại số tài sản đã mất về tay người đàn bà quá quắt mà cậu vẫn gọi là bà chủ Xuân Lan! Bà ta đã lừa, lấy hết sản nghiệp của tôi như cậu vừa nghe đó.

Trọng đã dần hiểu ra sự việc, lúc này anh mới đánh bạo hỏi:

– Ông là người vẫn còn.. sống?

Không trả lời Trọng ngay, lão ta đứng dậy bước ra cửa mới nói:

– Giờ thì tôi đã làm được điều mình muốn. Tôi đã gỡ được lá bùa của bà ta gài trong căn phòng màu hồng mà cậu vẫn ngủ. Từ nay con gái t! ôi có thể trở về và sẽ là chủ nhân của ngôi nhà này. Điều này cũng có nghĩa là cậu phải dọn đi ngay, nếu không muốn nguy đến sinh mạng. Bởi thú thật với cậu, tôi đã lở ếm bùa hơi nặng tay, người ngăn cản con gái tôi tất sẽ bị nguy hiểm mà không có cách nào cứu được!

Lão ta bước luôn ra cổng sau khi buông ra những lời lẽ đầy hăm dọa đó. Trọng không quên nhìn theo bước chân lão đi, xem có gì khác thường như thiên hạ lâu nay vẫn nói ma luôn đi lướt trên mặt đất. Tuy nhiên Trọng đã không kịp nhìn kỹ thì lão già đã biến rất nhanh, chẳng thể nào kết luận được.

Trọng tính khóa cổng lại rồi chẳng tiếp khách nào nữa, cho tới lúc khỏe lại hoàn toàn. Anh viết một mảnh giấy dán lên cổng với dòng chữ: “Chủ nhà đi vắng”, đang tìm cách dán lên thì có chiếc xe hơi ngừng lại.

– Cậu Trọng lại tính đi nữa à?

Bà Xuân Lan bước xuống xe, nhìn Trọng với cặp mắt dò xét. Trọng đành phải phịa chuyện:

– Tôi có chút việc phải đi…

Chợt lúc ấy có người lên tiếng từ trong xe:

– Vậy thì sẵn xe, mời đi luôn!

Một cô gái rất trẻ bước xuống. Vừa trông thấy Trọng đã trố mắt nhìn!

– Sao… sao lại là..

Trọng làm sao quên được cô gái mà anh tưởng lầm là Trà My đêm hôm trước. Cô gái này đang đứng trước mặt anh.

– Hai người đã quen nhau rồi sao? Vậy mà cô Dạ Hương đây cứ đòi tôi dẫn tới gặp cho được người chủ mới của ngôi nhà mà đáng lý ra là của cô. Tôi làm phiền cậu một ít phút, được chớ cậu Trọng?

Không để Tr�! �ng nói,! cô gái đã tiếp:

– Anh đã nhớ lại lúc nửa đêm ở đèo Bảo Lộc anh về đây bằng gì chưa?

Trọng như người bừng tỉnh từ giấc mơ:

– Cô là…

Anh nhìn chiếc xe hơi, đầu óc đang lộn xộn của Trọng từ từ nhớ lại…

– Cô đã chở tôi về?

Cô gái mỉm cười:

– Nếu tối đó tôi không tình cờ từ Đà Lạt về ngang đó giờ ấy thì có lẽ…

Trọng bỗng rùng mình, cảm giác lạnh lan cả toàn thân. Cả một chuỗi sự việc rời rạc giờ đây hình như đang được xâu chuổi lại và trong đầu Trọng đang lờ mờ hiện ra tất cả…

– Anh không mời chúng tôi vào nhà sao?

Trọng còn đang lúng túng thì bà Xuân Lan đã nói đỡ:

– Cô Dạ Hương này chỉ muốn nói với cậu một chút chuyện gì đó rồi đi ngay, không phiền cậu lâu đâu.

Lúc ấy Trọng mới mời khách vào nhà. Càng nhìn cô gái này Trọng càng khẳng định cô nàng chính là người đã cùng với anh. Nhưng chỉ có giọng nói thì không có chút âm hưởng nào của Trà My như đêm hôm đó.

Cô gái chợt nói, làm cho Trọng ngơ ngác:

– Trước mặt bà chủ nhà đây có lẽ anh Trọng không dám thú thật là đã từng tiếp tôi trong nhà này cách nay không lâu. Tiếp vào ban đêm nữa…

Cả bà Xuân Lan cũng tròn mắt nhìn hai người. Trọng thì như con gà mắc tóc:

– Tôi… tôi…

Nàng lại tiếp:

– Đàn ông mau quên, chớ phụ nữ chúng tôi thì nhớ dai và cũng thù dai nữa!

Những câu nói không đầu đuôi của cô ta khiến bà Xuân Lan càng lúc càng mù tịt, bà quay sa! ng Trọn! g định hỏi, thì chợt cô gái lấy từ rong túi xách ra một vật mà vừa nhìn thấy Trọng đã kêu lên:

– Quyển album!

Đúng là quyển album của anh và người yêu quá cố.

Tôi vô tình cầm nhầm ở am Ba Cô, nay hoàn lại cho anh. Cũng nhờ có nó…

Nàng ta không nói hết câu, thái độ hơi lạ… Tuy nhiên vì lúc này Trọng chỉ để ý đến quyển album, nên anh chụp lấy ngay và giở liền ra xem. Ở ngay trang đầu tiên, bức ảnh chân dung của Trà My đang cười rất tươi, sống động đến nỗi Trọng có cảm giác như nàng đang muốn nói gì đó với mình!

Trong ảnh Trà My mặc chiếc áo dài tựa màu vàng anh mà ngày xưa lúc nào hẹn hò cùng nhau, lúc nào nàng cũng mặc màu áo này.

– Anh không cám ơn tôi về việc có lại tập ảnh này?

Lúc này Trọng mới nhớ ra, anh hỏi:

– Chính cô là người tới am và lấy đi. Tại sao cô biết chốn đó?

Câu hỏi thật đúng lúc. Lúc này cô gái mới hết vẻ thách thức như nãy giờ:

– Tôi làm theo lệnh của con tim mách bảo. Tôi cũng không biết tại sao nữa.

Bà Xuân Lan không còn đủ kiên nhẫn:

– Giữa hai người đã có chuyện gì? Này cô Dạ Hương, cô nói với tôi là chỉ muốn gặp người chủ mới của ngôi nhà để dặn một chút về căn phòng sơn màu hồng phấn mà cô đã cố công bỏ tiền ra cho thợ thực hiện trước kia. Chớ đâu có nói việc hai người từng qua lại với nhau. Bây giờ…

Hầu như không để ý đến sự có mặt của bà chủ nhà, Trọng cố hỏi cho ra lẽ câu nói còn bỏ lửng của cô gái:

– Cô nói con tim mách bảo việc gì? Tại sao ! cô ghé ! am chỉ để nghe kể về cái ba lô của Trà My và bị kích động khi xem thấy ảnh của chúng tôi trong album?

Trước những câu hỏi dồn dập của Trọng, rõ ràng cô gái không còn tự chủ nữa, cô hấp tấp đứng lên và bước thẳng về phía căn phòng, vừa nói như lời xin phép:

– Anh có thể cho tôi vào phòng riêng một chút, tôi cần…

Trọng nói đại, theo trực giác của mình:

– Có phải cô đi tìm vật người ta ếm trong phòng đó không? Nếu thế thì đã có người lấy đi rồi. Cha cô đã lấy!

Cô gái đứng khựng lại, trong lúc bà Xuân Lan thì hoảng hốt:

– Cậu nói ai lấy vật gì trong phòng kia?

– Lão Feng Xiao!

Vừa nghe tới tên con người này thì bà Xuân Lan tái mặt, bà run run giọng:

– Lão ta… tới… tới đây?

– Đúng. Lão ấy vừa ra khỏi đây thì bà tới. Lão đã lấy đi vật mà bà đã giấu trong căn phòng màu hồng. Lão ta đã nói vật đó do chính bà đem về từ Hồng Kông với mục đích để…

Không muốn Trọng nói hết ý, bà Xuân Lan chận ngang:

– Cậu có biết là đã rước họa vào thân không! Lão ấy là người… đã chết!

– Bà nói….

Không để bà ta trả lời, cô gái đã chen vô:

– Một người chết, một hồn ma không hại ai, chỉ muốn đòi sự công bằng cho con gái mình thôi! Người con gái đó là chính tôi đây, bà Xảo Lan!

Nghe cô ta gọi đúng tên tộc của mình, bà Xuân Lan giật nảy mình:

– Cô là… là XiangWa?

– Bà cứ gọi tôi là Giáng Hương như lâu nay cho dễ. Chắc bà còn nhớ lúc tôi tới! làm h�! �p đồng thuê nhà một năm trước chớ? Lúc ấy bà có nói là sẽ chỉ cho người nào thích sơn phòng ngủ với màu hồng phấn và sau khi tôi nói ra ý của mình là tôi chỉ thích màu đó thì bà lại nhờ thầy tướng số ếm căn phòng đó, nhằm không để cho tôi thực hiện việc thuê nhà. Thì ra bà đã biết là ba tôi có cô con gái riêng sống ở nước ngoài, người đó cũng là một hồn ma từ mấy năm trước do tự tử sau khi nghe tin cha mình bị mất cả sản nghiệp về tay bà vợ kế nhiều mưu mẹo như bà! Hồn tôi đã hiển hiện về đôi lần dọa sẽ trở về báo thù khi nào tôi lọt được vô nhà, sống trong căn phòng sơn màu hồng phấn. Biết được điều đó nên bà đã ra tay trước, rước thầy về làm phép, khiến tôi đành phải rút lui, bỏ cả số tiền đặt cọc lớn. Nhưng trời còn thương cha con tôi, nhờ người con trai tên Trọng này, mà ở cõi âm tình cờ tôi gặp được người yêu chết oan của anh ta và chúng tôi đã hứa giúp nhau…

Cô ta quay sang Trọng, nhẹ giọng:

– Tôi cám ơn anh nhiều lắm. Qua một đêm thử thách, tôi đã biết được lòng dạ anh. Biết rằng anh xứng đáng được tôi trả ơn và anh cũng rất xứng đáng để trùng phùng với người yêu, cô Trà My!

Cô nàng nói xong bước thẳng vào phòng. Ở trong đó khá lâu, trong lúc bà Xuân Lan đứng im bên ngoài như người bị thôi miên, chẳng nói lời nào, cũng chẳng cử động.

Trọng thì không bị gì, nhưng anh cũng nhẫn nại chờ…

Lát sau cô nàng trở ra, trên tay cầm chiếc áo lụa màu vàng anh đưa cho Trọng:

– Anh nhận ra chiếc áo này chứ?

Trọng kêu lên:

– Áo của Trà My!!
– Đúng như vậy. Lúc tới am ngoài quyển album tôi còn lấy đi chiếc áo này. Mục đích của tôi là hóa thân thành Trà My, để qua anh sẽ thâm nhập được vào nhà này. Nhưng bà ta quá cao tay, đã phát hiện dược ý đồ ấy qua mách nước của tay tướng số từ Hồng Kông, mụ ta đã nhờ lão ấy đánh cắp chiếc áo này và đem nó đặt bên trong gối của anh, nhằm một lần nữa ngăn không cho anh đón tôi vô phòng. Cũng may, từ nay chủ thật sự của chiếc áo này có thể về với anh.

Trọng quá đỗi ngạc nhiên:

– Trà My?

– Anh cứ bình tĩnh, việc gì tới rồi nó sẽ tới.

Nhưng Trọng làm sao không sốt tuột:

– Tôi muốn biết, Trà My giờ ở đâu?

– Bà này sẽ cho anh biết lúc nào thì anh gặp được cô ấy. Nói gặp thì cũng chưa chính xác, phải nói là sẽ mãi mãi ở bên anh!

Trọng nhìn sang bà Xuân Lan hỏi:

– Thế nào, bà chủ?

Trái với thái độ kẻ cả lúc trước, giờ bà ta nói, giọng yếu xìu:

– Cậu muốn làm gì cũng được.

Nhưng cô nàng đã gắt lên:

– Bà phải lấy hết giấy tờ nhà ra đây, ký tên vào tờ “đoạn mãi” như bà từng làm với ba tôi ngày xưa. Bà làm ngay đi, như thế tôi còn để cho bà con đường sống, bằng không…

Vừa nói, cô nàng vừa lấy ra một tờ giấy nhỏ màu vàng, chữ viết đen, đưa ngay trước mặt bà Xuân Lan:

– Bà nhìn ra vật này rồi phải không Chính bà đã thuê tên tướng số ở Hồng Kông làm để hại cha con tôi bấy lâu nay linh hồn không siêu thoát được, nhưng giờ đây tôi sẽ dùng nó để đốt và rắc lên đầu b! à, bà b! iết tác dụng của nó như thế nào rồi chứ!

Bà Xuân Lan tái mặt, run lẩy bẩy:

– Xin… tha… tha cho tôi. Tôi sẽ làm, sẽ làm…

Cô nàng cười rít lên, giọng cười lạnh như băng:

– Bà rõ hơn ai hết, nếu giờ đây tôi đốt tờ giấy này thì bà sẽ ngã lăn ra chết tức khắc! Bà hãy chọn đi, trả lại những gì lấy của chúng tôi hay là chết?

– Dạ… dạ… tôi xin nghe. Đây, toàn bộ giấy tờ nhà và đây, cô cứ đọc đi, tôi sẽ viết tờ đoạn mãi.

Mọi việc được làm rất nhanh. Xong xuôi, cô nàng cầm cả số giấy tờ đó đưa cho Trọng:

– Anh giữ lấy. Bởi chỉ có anh mới giữ được chúng.

Trọng xua tay:

– Sao được! Những thứ này là của cô mà.

– Nãy giờ tôi nói hết rồi mà anh vẫn chưa hiểu sao? Tôi, cha tôi đã là người của cõi âm thì làm sao sở hữu tài sản của dương thế được! Chúng tôi đòi lại của là vì sự công bằng, chớ đâu để hưởng.

– Nhưng tôi thì…

– Anh hãy nghe lời, rồi anh sẽ hiểu và chắc chắn là không hối hận. Cứ tin tôi đi.

Bà Xuân Lan sau khi làm theo lời cô gái, đã lầm lũi bước ra cổng, đi như cái xác không hồn…

° ° °

Ngày hôm sau…

Có một câu chuyện mà ngoài cô gái tên Dạ Hương, Trọng và bà Xuân Lan ra, thì chẳng một ai nữa biết. Nhưng bà Xuân Lan thì từ lúc ấy đã trở thành một người bị tâm thần nặng, hầu như không nhớ chuyện gì hết, còn Trọng và cô nàng thì đã như hai mà một: Từ phút ấy họ chính thức sống với nhau như đôi vợ chồng vô cùng hạnh phúc. Trọng luôn gọi nàng là Trà My và nàng thì hầu như không còn nhớ đến tên mình là Dạ Hương nữa.

Trọng biết rất rõ, hồn Trà My đã nhập vào xác của Dạ Hương và mãi mãi sống bên người yêu, không biến đi nữa. Trọng hỏi thì cô nàng giải thích:

– Do khi chết ở bên nước ngoài xác của Dạ Hương được ướp lạnh theo phương pháp cấp đông nên sau hơn một năm xác vẫn còn nguyên và nhờ vậy hồn Trà My mới may mắn nhập được vào đó, sống lại. Tuy nhiên, chuyện này chỉ hai người mình biết thôi, nếu để người ngoài biết thì tức khắc hồn người cõi âm sẽ tan biến vào hư vô ngay!


NGƯỜI CHẾT TRỞ VỀ

Ông bà Phạm trước đây cư ngụ ở thành phố, nhưng trước khi ông Phạm hồi hưu, hai ông bà quyết định về sống tại miền quê để được hưởng bầu không khí trong lành và sự yên tĩnh cần thiết cho tuổi già. Họ mua một mảnh đất xinh xắn nằm trên một sườn đồi. Và vừa dọn vào, công việc đầu tiên của bà Phạm là cho trồng ngay một vườn rau với đủ những loại rau cải mà ông bà ưa thích. Với một vườn rau xanh tươi, mỗi tuần ông bà chỉ cần mua sắm thêm một ít thực phẩm và một vài thứ lặt vặt là đã có thể sống thoải mái suốt tuần.

Một hôm trong khi đang làm việc ngoài vườn, bà Phạm có cảm tưởng như mình đang bị ai đó theo dõi.

Ngước mắt nhìn lên, bà thấy một thiếu niên ốm yếu với đôi mắt trũng sâu đang đứng nhìn bà. Cậu bé mặc một chiếc quần Jean cũ và đi chân không. Bà giơ tay vẫy chào nhưng cậu bé cứ đứng bất động. Bà thầm nghĩ có lẽ cậu ta yếu ớt quá tới độ không đủ sức đưa tay lên vẫy lại. Cậu bé gầy trơ xương và bà Phạm có thể đếm được từng cái xương sườn của nó.

Đứng theo dõi bà làm việc trong vài phút, cậu bé quay mình rảo bước và chẳng mấy chốc đã biến dạng sau những bụi cây rậm rạp. Hai hôm sau cậu ta trở lại và đi cùng là một người đàn bà khoảng bốn mươi tuổi, cũng ăn mặc rách rưới, mặt mũi hom hem. Người đàn bà tiến tới sát hàng rào, lên tiếng hỏi bà Phạm trong khi cậu bé cúi đầu lẽo đẽo theo sau:

– Bà là người mới mua mảnh đất này phải không?

– Dạ đúng đó. Bà có cần tôi giúp gì kh! ông?

Người đàn bà nói với về cứng cỏi:

– Tôi tới đây xem có giúp được gì cho bà hay không.

– Đây là Mẫn, con trai tôi. Nó làm việc rất giỏi và rất khỏe mạnh chứ không yếu ớt như cái dáng vẻ bề ngoài của nó đâu. Nếu bà cần, nó sẽ phụ bà trong công việc vườn tược cũng như để bà sai vặt. Mỗi ngày chỉ xin bà cho cháu năm ngàn đồng.

Bà Phạm toan từ chối vì bà không cần có ai phụ giúp mà trái lại bà rất thích hoạt động một mình trong bầu không khí trong lành tại đây. Tuy nhiên thấy hình ảnh tiều tụy của cậu bé với đôi tay buông xuôi và đôi mắt trũng lơ, bà hơi ngập ngừng:

– Con bà coi bộ còn nhỏ quá, và hình như nó cũng không được khỏe mạnh lắm….

Người đàn bà giơ tay ngắt lời:

– Năm nay nó đã mười sáu tuổi tuy coi nó có vẻ nhỏ hơn tuổi của nó. Như tôi đã nói, nó rất mạnh khỏe chứ không yếu đuối như hình dáng của nó đâu. Tôi bảo đảm là bà sẽ không có điều gì than phiền. Mẫn là một người giúp việc rất giỏi.

Năm ngàn đồng một ngày đối với bà Phạm không nghĩa lý gì và bà nghĩ rằng nếu cho cậu bé này phụ giúp bà một tay, bà sẽ có cơ hội cho cậu ta ăn uống đầy đủ.

Nghĩ thế bà Phạm bèn đáp:

– Được thôi! Mỗi ngày cháu Mẫn có thể tới đây vào lúc mười giờ sáng và đi về vào lúc năm giờ chiều. Tôi sẽ cho cháu ăn trưa luôn.

Rồi bà Phạm quay sang phía cậu bé:

– Sao Mẫn cháu thấy như vậy có được không?

Mẫn không trả lời khiến bà Phạm tự hỏi không biết cậu ta có nghe bà nói hay không vì cậu! ta vẫn! đứng yên cúi đầu, không hề ngước mắt. Mẹ của Mẫn ra hiệu cho cho bà Phạm bước ra xa với bà rồi bà thầm thì:

– Thưa bà, tôi không muốn con tôi phải đi đi về về vì nhà chúng tôi ở đây khá xa. Nó có thể ngủ trong căn chòi nhỏ đằng kia và xin bà đừng bận tâm gì về việc cho nó ăn uống, tôi sẽ đem đồ ăn tới cho nó mỗi ngày. Nó ăn uống khó khăn lắm. Tôi biết nó muốn ăn món gì và sẽ lo cho nó. Mỗi lần tôi tới, xin bà cho tôi năm ngàn đồng.

– Thế còn cháu Mẫn thì sao? Nếu cháu ấy làm việc cho tôi, tôi phải trả tiền cho cháu mới phải!

Người đàn bà lắc đầu:

– Thưa bà, bà không hiểu. Tôi cần tiền để nuôi mấy đứa nhỏ ở nhà. Ba của cháu Mẫn mất rồi và bây giờ chỉ còn mình nó là người có thể làm việc được để nuôi gia đình. Nó muốn làm việc để giúp đỡ tôi và bà sẽ không ân hận khi nhận cho nó giúp việc. Nó rất siêng năng, làm việc không biết mệt và không bao giờ than phiền bất cứ điều gì cả.

– Thôi được rồi. Nhưng tôi nghĩ rằng có lẽ nó không nên ngủ ngoài lều, để tôi sửa soạn một phòng trong nhà dành cho nó. Nhà tôi rất rộng!

– Thưa bà, không sao đâu. Nó không cần ngủ trong nhà đâu. Nó khó ngủ lắm và tôi không muốn nó làm phiền bà. Nó ngủ trong cái chòi tranh kia là tốt nhất.

Thế là ngày hôm sau Mẫn đến làm việc cho bà Phạm.

Chẳng bao lâu, bà Phạm nhận thấy những gì mẹ cậu ta nói với bà hoàn toàn đúng. Mẫn không bao giờ than phiền cũng như không bao giờ tỏ ra mệt mỏi. Mỗi buổi sáng dù ông bà Phạm dậy sớm tới đâu đi nữa. Mẫn đã đang làm vi�! �c hăng ! say, khi thì cho gà vịt cho cá ăn, khi thì làm vườn… Dần dần bà cho Mẫn làm một vài việc vặt trong nhà và bất cứ việc gì bà sai cậu ta, không bao giờ bà phải nhắc lại lần thứ hai. Một hôm bà nói với ông Phạm:

– Thằng bé Mẫn nó giỏi thật! Nhưng nó không giống một đứa con trai mà giống như… một cái máy vậy. Ông có biết là nó không hề nói một lời nào với tôi hay không. Nó cũng không bao giờ nhìn tôi mà chỉ luôn luôn nhìn xuống đất.

Ông Phạm càu nhàu:

– Hừ! Tôi chỉ biết một điều là nó làm tôi nổi da gà. Có thể nó bị câm hay sao đó. Và theo ý tôi, có thể tâm trí nó không bình thường cho lắm.

Bà Phạm lắc đầu:

– Không thế đâu, tôi thấy nó rất thông minh. Tôi có cảm tưởng như nó là một kẻ mộng du, làm việc trong khi đang ngủ…

Ông Phạm ngắt lời:

– Ờ, thì… giá thuê mướn như vậy cũng được… à. Mà không được! Chỉ có năm ngàn đồng một ngày quả là không thể chấp nhận được khi nó làm việc thật sự siêng năng. Mình cho nó lên mười ngàn đồng đi. Tôi không bực bội gì vì sự hiện diện của nó, nhưng để coi việc tăng lương có khiến nó phản ứng gì hay không.

Bà Phạm thì không nghĩ rằng Mẫn để ý tới vấn đề tiền bạc vì cậu ta không bao giờ đụng chạm tới. Mỗi ngày, sau buổi trưa cậu bé ngưng làm việc, đứng yên tại chỗ nghiêng đầu như nghe ngóng. Chỉ mấy phút sau mẹ cậu xuất hiện từ sau hàng cây dâm bụt dày đặc, mang đồ ăn trên một cái gà mên đậy kín tới cho cậu. Bà ta chờ tới khi bà Phạm trả tiền rồi mới dẫn con tới lều và ngồi chờ tr! ong khi c! on bà ăn uống. Bà Phạm nói với chồng bằng một giọng bất bình:

– Tại sao bà ta không chịu để tôi cho nó ăn uống? Tôi đã thấy món ăn của bà ta mang tới cho nó, trông giống như một loại cháo lỏng. Đó không phải món ăn thích hợp cho một đứa bé làm việc vất vả như vậy. Tôi thấy hình như nó còn ốm hơn khi vừa mới tới đây nữa.

Ông Phạm hoàn toàn đồng ý. Xương mặt của Mẫn bây giờ lộ ra rõ rệt. Khi cậu ta cúi xuống, những đốt xương sống hiện lên thật rõ sau làn vải áo. Bà Phạm cố gắng một lần nữa khi gặp mẹ Mẫn:

– Tôi muốn cho cháu Mẫn ăn đồ nóng hàng ngày. Nếu không, tôi không thể để nó tiếp tục làm việc như hiện tại, nó mỗi ngày một gầy yếu. Tôi sợ rằng nó có thể bị bệnh hay là bị suy dinh dưỡng.

Một nét hoảng hốt hiện lên trong đôi mắt người đàn bà:

– Thưa bà! Bà không hiểu đâu. Mẫn giống y như cha nó. Nó không ăn được những món ăn của bà và của tôi. Nó không thể ăn muối được. Cơ thể của nó không chịu đựng được muối. Xin bà cứ để mọi việc diễn tiến như hiện tại và xin cho cháu nó tiếp tục được làm việc với bà. Nó là đứa con duy nhất mà tôi nhờ cậy được. Nếu không có số tiền mà nó kiếm được ở đây, mấy đứa em nó ở nhà sẽ chết đói hết cả.

Bà Phạm đành phải nhượng bộ:

– Thôi được. Nó có thể tiếp tục làm việc với tôi. Phải nhìn nhận rằng nó làm việc rất giỏi nhưng nó có vẻ không được vui lắm khi ở với chúng tôi. Nó không bao giờ cười và cũng không bao giờ nói một lời nào với tôi hoặc nhà tôi.

Người đàn bà nh! ún vai: !

– Thưa bà, điều đó không có nghĩa gì hết. Mẫn là đứa trẻ rất khác người. Nó không có cùng sự xúc cảm như những đứa trẻ khác. Nó chỉ biết một việc duy nhất là giúp đỡ tôi và các em nó. Xin ông bà đừng thắc mắc gì về nó. Nó luôn luôn làm những gì nó muốn. Xin hãy để yên cho Mẫn…

Tuy nhiên bà Phạm vẫn tự hỏi “Có phải đó là việc Mẫn muốn làm hay không?”. Rồi buổi tối hôm đó bà đứng ở cửa sổ phòng ngủ nhìn ra căn chòi tranh nơi Mẫn thường ngủ. Cậu bé không ngủ mà ngồi ngay ở cửa, hai tay bó gối nhìn ánh trăng không chớp mắt. Bà nói lớn:

– Chắc có điều gì lạ lắm thì phải.

Ông Phạm đang ngái ngủ lên tiếng:

– Bà nói cái gì thế?

– Thằng Mẫn đó. Tôi đứng theo dõi nó đã nửa tiếng đồng hồ rồi. Nó ngồi yên như phỗng đá vậy. Với những việc nó làm ban ngày, đáng lẽ nó đã phải ngủ từ lâu rồi. Nhưng mà không, nó vẫn ngồi bó gối ngoài kia kìa.

Ông Phạm vừa ngáp vừa tiến tới bên vợ:

– Đáng lẽ tôi phải cho bà biết điều này từ lâu rồi. Tôi thấy nó vẫn luôn luôn ngồi đó suốt đêm. Theo tôi biết, nó hình như không bao giờ ngủ. Thú thực với bà, tôi thấy thằng bé này có vẻ ma quái quá! Nhưng thực ra nó đâu có làm phiền ai đâu!

Bà Phạm không nói nhưng biết rõ rằng Mẫn đã khiến bà lo nghĩ rất nhiều. Sáng hôm sau, hình dáng cậu bé khiến bà cảm thấy bất nhẫn. Làn da xanh xao của Mẫn bây giờ đã trở thành vàng khè, bóng loáng. Xương trán và xương má của Mẫn như lộ rõ ra. Bà còn lo lắng hơn nữa khi thấy Mẫn có vẻ chậm chạp hơn và m�! ��t mỏi! hơn thường lệ, bà hỏi:

– Sao, cháu thấy không được khỏe trong người có phải không?

Mẫn không đáp lại, lặng thinh cúi đầu đi qua trước mặt bà. Cảm thấy bứt rứt, bà Phạm nói với chồng:

– Ông coi nó kìa. Tôi nghĩ rằng nó bị bệnh. Nó di chuyển như một ông già vậy.

Ông Phạm chăm chú nhìn Mẫn đang cắt cỏ một cách chậm chạp:

– Bà nói đúng. Sao da nó bị đen ở nhiều chỗ thế nhỉ?

– Tôi không biết nhưng chắc chắn một điều là nó thiếu dinh dưỡng quá độ. Tôi không cần biết mẹ nó nói những gì và tôi sẽ chuẩn bị một vài món ăn ngon lành và bổ dưỡng cho nó. Rồi ngày mai ông đưa nó lên tỉnh gặp bác sĩ xem sao.

Nghĩ rằng có lẽ Mẫn thiếu chất protein, bà Phạm bèn làm một món súp khoai tây, cà rốt, sườn heo, hột gà, còn làm thêm một ly sữa tươi và một cái bánh ngọt. Xong xuôi bà gọi Mẫn vào, đưa cậu ta vào phòng ăn và nói thật ngọt ngào:

– Cháu mau ngồi vào bàn đi. Tôi sửa soạn một bữa ăn thật đặc biệt cho cháu vì hôm nay là đúng ba tháng cháu làm việc với tôi. Đây là một kỷ niệm dành cho cháu.

Mẫn cắn một miếng, rồi một miếng nữa. Cậu nhai miếng sườn heo chầm chậm trước khi nuốt. Rồi cậu ta từ từ đứng lên. Bà Phạm lên tiếng với vẻ lo lắng:

– Sao vậy? Cháu chưa ăn xong mà muốn đi đâu vậy?

Nhưng Mẫn đã đi ra ngoài rồi. Bà Phạm chạy tới mở tung cánh cửa. Mẫn đã đi tới hàng cây bao quanh mảnh đất với những bước chân thật dài. Bà Phạm lớn tiếng gọi nhưng Mẫn vẫn không hề nhìn lại. Ông Phạm cầm tay vợ:

– Thôi c! ứ để! nó yên. Chắc là nó muốn đi về nhà. Có lẽ mẹ nó nói đúng. Đáng lẽ bà không nên cho nó ăn những món đó.

Đêm hôm đó bà Phạm trằn trọc suốt đêm. Hôm sau khi trời mới tờ mờ sáng bà đã dậy, ra vườn đi tới, đi lui.

Đúng như bà lo ngại, Mẫn đã không quay trở lại. Tuy nhiên ngay trước buổi trưa, mẹ cậu ta tới nơi, tiến thẳng tới trước mặt bà Phạm, khuôn mặt bà ta đanh lại:

– Bà đã làm việc đó phải không? Bà cho nó ăn sau khi tôi đã dặn bà không được làm như vậy. Bà cho nó ăn cái gì thế?

– Thì… tôi cho nó ăn súp khoai tây và sữa tươi, là những thứ đồ ăn cần thiết cho Mẫn.

Người đàn bà rên lên:

– Súp khoai tây! Trời ơi! Bà cho nó ăn muối rồi!

Rồi bà ta rít lên the thé:

– Bà điên rồi hay sao? Tại sao bà không để cho nó được yên?

Bà Phạm có vẻ bối rối:

– Tôi rất tiếc nếu đồ ăn của tôi khiến cho cháu Mẫn bị bệnh.

Đột nhiên bà Phạm đổi giọng nặng nề:

– Nhưng… nó thiếu ăn đến độ gần chết đói ngay trước mắt tôi. Tôi không thể nhắm mắt làm ngơ được. Tôi sẽ trả tiền thuốc men và sẽ nhờ một bác sĩ săn sóc cho nó.

Người đàn bà kia im lặng trong một phút trước khi lên tiếng bằng một giọng khá buồn bã:

– Thưa bà xin bà vui lòng đi theo tôi để xem những gì bà đã làm cho con tôi.

Người đàn bà quay lưng. Bà Phạm đi theo bà ta xuyên qua cánh rừng trước khi tiến tới một chân đồi. Khoảng nửa tiếng sau, hai người tới một túp lều xiêu vẹo nơi ba đứa nhỏ ngồi yên ngoài cửa. Khi bà Phạ! m dừng ! lại, người đàn bà nắm tay bà tiếp tục kéo lôi đi. Bà Phạm hỏi:

– Đây không phải nhà bà hay sao? Cháu Mẫn không có trong căn nhà này hay sao?

Người đàn bà lắc đầu tiếp tục đi tới. Mấy phút sau cả hai vượt qua một hàng cây trước khi tiến tới một khoảng đất trống với một vài ụ đất cỏ mọc um tùm. Một vài ụ đất có cắm cây thánh giá, những ụ khác thì không. Bà Phạm rùng mình:

– Đây là chỗ nào vậy bà?

Người đàn bà thản nhiên đáp:

– Một khu nghĩa trang cũ. Không còn ai dùng đến nữa. Đây mời bà tới đây.

Rồi bà ta chỉ vào một ụ đất. Bà Phạm giật mình nổi gai ốc khi thấy đám cỏ phía trên như bị xé bung ra và dường như có người tìm cách đào một cái hố ở phía dưới.

Không một ai hoặc một sức mạnh nào có thể buộc bà tới gần ngôi mộ bị đào tung lên đó. Tuy nhiên từ nơi bà đứng, bà Phạm nhìn thấy dưới hố một hình thù co quắp trong chiếc quần jean sờn rách và cái áo thun bẩn thỉu.

Người đàn bà rên rỉ:

– Đó, thằng Mẫn đó. Đó là chỗ bà đưa nó tới đó. Chồng tôi và nó chết từ hai năm nay giữa một mùa đông lạnh lẽo vì chứng sưng phổi. Tôi cầu khẩn cả hai trở lại nhưng chỉ có thằng Mẫn đáp lại lời cầu xin của tôi. Nó biết là tôi cần nó. Nó muốn săn sóc cho tôi và mấy em của nó. Nó luôn luôn là một đứa con ngoan ngoãn.

Bà Phạm ngẩn ngơ:

– Bà nói gì thế? Tôi… tôi không hiểu gì cả…

Người đàn bà không để ý, lẩm bẩm:

– Tôi phải săn sóc cho nó thật cẩn thận.Bà có biết là bà không thể ch! o ngườ! i chết ăn muối hay không? Muối làm cho người chết quên tất cả mà chỉ nhớ chỗ nghĩ ngơi cuối cùng của họ mà thôi. Chính bà đã khiến cho thằng Mẫn phải trở về nắm mồ cũ của nó, và từ bây giờ trở đi, chắc chắn nó sẽ không bao giờ rời khỏi nơi đó nữa.


TRĂNG NGÀN NANH SÓI

Mùa thu. Bên kia đèo Rù Rì là khu rừng nhiệt đới đang ở vào mùa mưa. Mưa rừng như trút nước, mưa như chẳng bao giờ biết tạnh. Gió rừng vù vù thổi, bầy thú lạc đàn kêu vang. Khung cảnh ảm đạm thê lương bao trùm.

Mới năm giờ chiều mà trời tối đặc như lúc nửa đêm. Đám đào vàng tuy có bảy tám người lực lưỡng bậm trợn nhưng trước cảnh rừng chiều mưa gió bão bùng trông họ ủ dột giống như những con thỏ non chết nhát. Cả bọn rút lên cái lán trại cất kiểu nhà sàn bằng những khúc gỗ rừng to, xung quanh được rào bằng những cây tre già vát nhọn đầu giống như thành lũy của bọn sơn tặc.

Sở dĩ họ cần có một nơi trú ẩn an toàn, vững chắc như vậy vì khu vực đại ngàn này thường có những đàn voi dữ, những bầy hổ tinh ma, những con chó mắt đỏ ăn thịt người thường hay xuất hiện..

Cư, gã đàn ông lớn tuổi nhất xuống nhà sàn đốt một đống củi nhỏ nhằm mục đích, thứ nữa là phòng ngừa đám thú hay lảng vảng xung quanh.

Nhìn ngọn lửa đã bắt cháy Cư trở lên cầu thang thì thấy mấy thằng bạn đang ngồi quanh một bàn nhậu. Một đĩa to thịt heo rừng luộc cùng một ít lá cây dại trong rừng thay rau. Thịt luộc chấm muối ớt bên cạnh một can rượu trắng.

Để chống lại lam sơn chướng khí, đàn đi rừng nào cũng phải biết uống rượu. Rượu giúp người chống lạnh, cũng như làm cho người ta thêm can đảm trước những hiểm nguy luôn rình rập đợi chờ.

– Vào đi anh Cư, giờ này chỉ còn nhậu thôi.

Một người lên tiếng. Một gã khác mặt ! xanh tái nhớt đang bị sốt rét kinh niên hành đẩy cái chén sành sứt mẻ và đôi đũa tre sang Cư:

– Mai chắc chúng ta vẫn phải ở nhà. Nghe nói bên hầm bọn thằng Quý “khùng” bị lũ bùn chôn hết mấy đứa. May mà bọn mình cất lán trại ở trên đồi cao… nè làm một miếng mở hàng đi đại ca Cư!

Một gã đầu trọc tuếch trên ngực xăm hình một con linh cẩu báo cáo:

– Nghe nói bên trại bọn “Châu” điên hôm kia có đứa bị ông Ba Mươi vồ mang vô rừng, hai ngày sau bọn họ mới tìm thấy một đống xương và chiếc đầu lâu nham nhở máu của thằng Sơn “hủi”.

Gã tóc bù xù vừa mới tu xong một chén rượu báo cáo tiếp:

– Em mới gặp đám vận lương cho hầm thằng Chắt “điếc”, xì ra rằng bọn chúng vừa mới trúng một mạch vàng khẳm lắm. Nghe nói mỗi đứa vận lương

đều được Chắt “điếc” cho một bụm vàng nát có cả lượng. Mình qua đó khoắng một mớ được không Đại ca Cư?

Cư lơ đãng gắp một miếng thịt chấm muối ớt bỏ vào miệng nhai nhóp nhép. Không phải Cư không muốn nghe mấy thằng đàn em báo cáo nhưng kinh nghiệm đi rừng và sống ở rừng còn nhiều hơn thời gian sống ở nhà đã cho Cư biết đêm nay rừng có chuyện lạ.

Hôm qua lúc ra bờ suối tắm giặc Cư đã phát hiện nhiều dấu chân dẫm trên bãi cát. Ngoài dấu chân của cọp còn có những dấu chân mới rõ ràng của một loài lang sót. Hổ coi vậy chớ chưa đáng sợ bằng loài linh cẩu mắt đỏ này.

Cư từng thấy một bầy lang sói đào bới một ngôi mộ của dân đi rừng bị chết mới chôn và chúng thi nha! u cấu x! é xác người xấu sổ. Chỉ mới vừa tàn điếu thuốc thì thi hài người xấu số chỉ còn lại đống xương trắng hếu. Loài lang sói này có con vì ăn thịt người quá nhiều nên chúng đã thành tinh, biết giả giọng người nửa khuya vào các làng bản gọi cửa những nhà ở sát bìa rừng. Ai vô tình không xem xét trước mà mở cửa là nó nhào vô cắn cổ và tha đi. Loài sói tinh này có đôi mắt đỏ như lửa, tiếng tru của nó như tiếng xé lụa, như tiếng bốc vải của mảnh vỡ thủy tinh.

Cư đang lắng tai nghe. Bên ngoài hàng rào tre vạt nhọn nghe có tiếng chạm nhẹ. Cư xoay người nhìn xuyên qua khe hở. Trong bóng đêm dày đặc của đại ngàn Cư nhìn thấy một đôi mắt đỏ vượt cao hơn tầm hàng rào chừng một gang tay. Đây có lẽ đúng là con sói tinh từng ăn thịt mấy tay đào vàng do bị sốt rét nặng quá bị đồng bọn bỏ lại giữa rừng.

Lần ấy Cư đi theo đám săn trầm, kỳ nam vô mãi tận rừng sâu. Nơi đây tưởng là chốn không người, vậy mà sau cùng họ cũng gặp một cái lán trại bỏ hoang chắc đã qua mấy mùa mưa nắng. Mái tranh đã nát tả tơi, vách phên xiêu vẹo. Khi bọn người săn trầm vừa leo lên khỏi chiếc hang gỗ đã rùng mình sởn gáy khi nhìn thấy rải rác trên sàn nhà là những khúc xương người bị nhai gặm nham nhở. Xương sọ bị vỡ ra thành từng mảnh vụn. Nghe nói con sói tinh đầu đàn là con được quyền ăn óc người mà nó giết trước. Hàm răng sắc như dao của nó bập vào xương sọ người cũng dễ như người ta cắn vào hạt dưa.

Đám săn trầm, kỳ nam từng kể cho Cư nghe chuyện chính mắt họ trông thấy một con sói tinh cắn gỗ chiếc quan tài rào rạo để lôi ra c! ho đư�! �c xác người xấu số.

Những người đó kể rằng, cả bầy sói kéo xúm lại cắn vào cổ áo quan, tiếng cắn nghe rào rạo như người ta nhai cốm. Hút chưa tàn điếu thuốc nắp quan tài đã bị lũ sói mắt đỏ cắn bung ra và nhanh như chớp cái xác sắp phân hủy bị chúng tha đi…

Cư quan sát hai con mắt đỏ đang đi dài theo bờ rào tre vạt nhọn. Chứng tỏ con sói tinh này đang đi bằng hai chân đang tìm cách để nhảy vào. Cư chui qua lỗ hở của vách phên nhặt một viên đá. Chờ cái đầu của con quái vật nhô lên cao,

Cư ném vào đầu nó đánh bốp một tiếng, đôi mắt đỏ biến mất đồng thời một tiếng tru sắc lạnh như tiếng mảnh vở thủy tinh kéo dài mất hút tận rừng xa.

Mấy gã đồng bọn với Cư đã thấm rượu. Gã bị bệnh sốt rét bắt đầu bị cái lạnh của núi rừng ban đêm hành hạ, gã chụp một tấm chăn vá chằng vá đụp trùm vào người rồi ngồi run. Cư nói:

– Tao không đám đốt một lò lửa cho mầy đâu Hũ. Ngoài kia vừa mới xuất hiện một con sài tinh mắt đỏ. Đây là một con sài rất ranh ma tinh quái vì nó ăn thịt quá nhiều người rồi.

Hưng mãng xà bỏ ly rượu xuống hỏi:

– Con sài tinh xuất hiện bao giờ?

– Mới đây thôi, tao đã ném đá đuổi nó đi rồi.

Gã đầu trọc rùng mình nói giọng mái:

– Cách đây hai tháng cánh đi săn kỳ nam của Bảy “hòn” đi suốt bảy ngày băng rừng, lội suối đã gần hết lương thực mà vẫn chưa thấy hình dạng một cây kỳ nam nào thì trong đoàn có một gã sốt rét nặng như thằng Hũ. Cả bọn hội ý chọn một cây cổ thụ cất trên đó một mái! lều ch! o người bệnh tạm trú cho an toàn trong lúc cả đoàn dắt nhau đi săn. Thời may được thần rừng độ, họ trúng một cây kỳ nam nặng cả trăm ký. Để tránh bị các toán khác phát hiện nên họ tranh thủ mãi mê bới đào, cưa được để mong khi trời tối thì chia nhau mang về tập kết ở căn lều nằm trên một chạc cây cổ thụ sum xuê um tùm cành lá.

Gã đầu trọc tạm dừng câu chuyện, húng hắng ho. Hưng – gã xâm mình hình con mãng xà trên ngực thúc:

– Rồi sao nữa mày?

Gã đầu trọc lắp bắp:

– Đến khoảng tám giờ tối… rừng xuống một màu đen đặc…. tiếng tắc kè ở đây kêu nghe lắc nhắt từng tiếng thật buồn. Cả bọn bật đèn săn bỏ kỳ nam vào bao rồi hối hả quay trở về lán. Chỉ còn độ hơn hai trăm mét nữa thì về đến gốc cây dựng lán chợt nghe tiếng hú xoải dọc theo bờ suối như ai vốc mãnh chai vở đi mà ném. Biết là gặp đám sài đi săn đêm rồi nên cả bọn hối hả vừa đi vừa chạy mong cho chóng về đến trại. Dù mỗi người phải mang vác hàng hai ba chục kí kỳ nam nhưng không ai biết mệt vì nghĩ đến ngày mai mọi người sẽ có một khoản tiền tỷ trước mắt.

Họ đi mà như chạy. Về đến leo lên lều mọi người tưởng đâu gã sốt rét vẫn còn nằm trên võng. Nhưng đến khi giở tấm chăn ra thì chỉ thấy nhầy nhụa một vũng máu còn gã bị sốt rét hành thì biến mất. Xuống chân cầu thang rọi đèn xem chỉ thấy lố nhố dấu chân sài… như vậy, con sài tinh đã leo được lên cây rồi lôi xác gã sốt rét đang lên cơn sốt xuống đất và tha về hang ổ của chúng.

Nghe gã đầu trọc kể chuyện, gã tên Hũ càn! g run lê! n bần bật. Gã lắp bắp:

– Xin các bạn đừng bỏ tôi một mình khi lo khui mẻ vàng ở bên suối, Sài tinh đang lảng vảng đâu đây. Em sợ quá!

Đúng lúc đó ba người đi vận lương thực cũng vừa về đến, quần áo họ đầy bụi đỏ với mỗi người một ba lô nặng trĩu. Gã đội chiếc nón rộng vàng vừa quăng ba lô xuống sàn lều vừa chỉ tay ra ngoài rừng nói với Cư:

– Bọn tôi vừa gặp con Sài cao to. Đầu có bờm, hai con mắt đỏ như hai hòn than, con sài đi hai chân như người, rất quái quỉ.

Gã chột mắt mặc bộ đồ rằn ri đi rừng đã bạc màu mặt như còn in vẻ bàng hoàng phụ họa:

– Cũng may là bọn tôi qua được bên này suối rồi nếu không, chắc đã chết với lũ sói quân lính của con sài đầu đàn mắt đỏ đó.

Gã vác chiếc xà gạc trên vai nói với vẻ sợ hãi:

– Vậy mà chúng còn hùa nhau qua suối. Bọn tôi phải dùng đá bên bờ suốt tấn công lại bọn chúng, cũng nhờ suốt chảy khá xiết nên có con bị trôi tuột theo dòng nước. Nếu không giờ này chưa biết sẽ ra sao?

Cư mỉm cười hất đầu qua phía hàng rào:

– Vậy mà nó lại vừa đến đây trước bọn mầy đấy. Cách đây mươi phút con sài tinh ấy đã xuất hiện ở ngoài kia. Đêm nay phải chia nhau ra kẻ canh người ngủ. Đứa nào lấy ra đây cho tao khẩu súng săn, mấy quả pháo và vài cây chĩa. Đợt canh đầu tiên để cho tao và thằng Hưng. Phiên canh sau tất cả mấy thằng bây phải thức. Thôi mấy đứa mới về ăn chút gì đi rồi đi ngủ, mọi chuyện để đó cho tao với thằng Hưng “mãng xà” lo.

Ú ớ tiếng người.

Quá nử! a khuya m! ột cơn mưa rừng bất chợt ào đến một cách xối xả. Tiếng gió rừng thổi trùng trùng trong đại ngàn, những tia chớp kèm theo tiếng sét đinh tai, nhức óc càng làm cho rừng khuya thêm vẻ thần bí ma quái.

Căn lều trại mặc dù được cất trên những cột gỗ vững chắc nhưng với những cơn gió thốc hung bạo như muốn xô ngã, hất tung nó. Ngọn lửa dưới sàn nhà đã tắt ngấm từ bao giờ. Chung quanh trời tối đen như mực. Thỉnh thoảng dưới làn tia chớp như xé bầu trời thành những mảnh rạn vỡ Cư mới nhìn thấy được Hưng “mãng xà” cũng ngồi lặng lẽ ngó mông lung ra phía rừng sâu. Bên trong lều tiếng ngáy, tiếng mớ của mấy gã đàn ông tạo thành một thứ âm thanh kỳ quái.

Mưa kéo dài độ hơn một giờ đồng hồ thì ngưng tạnh. Từ sau đám mây đen ũng nước đã tan rã, mộc vừng trăng như vừa được tắm sạch, tròn lẳn hiện ra dãi ánh sánh trong vắt xuống khu rừng già, tiếng động của rừng khuya lại bắt đầu. Tiếng con hoẵng, con cheo bên rừng nghe sao buồn đến não ruột. Hình như bên con suối có tiếng rống của một đàn voi ở khu rừng le dày dặc như một thành lũy bất khả xâm phạm.

Cư đang nghĩ đến bãi vàng của mình chẳng biết có bị ngập nước hay không Cư biết lực lượng của mình yếu hơn những cánh đào vàng khác nên anh và mấy bạn chọn một đêm ở tận rừng sâu núi thẳm xa dấu chân người để không ai có thể phát hiện được sự có mặt của họ. Dân đào vàng là loại dân giang hồ đang ở tận cùng của xã hội. Vì thế họ sẵn sàng chém giết nhau một khi khám phá có một đối tác cùng làm ăn ở bên cạnh mình. Nhất là những khi nghe tin bên đ�! �i phươ! ng đã tìm thấy mạch vàng thì chắc chẩn sẽ có cuộc… “gió tanh, mưa máu” xảy ra.

Vì vậy, biết lực lượng mình yếu thế Cư dắt đám bạn đi đường vòng bí mật tránh bọn họ đi xa tận những cánh rừng sâu chưa từng có dấu chân người. Chính vì thế mà ở nơi sơn cùng thủy tận này bọn họ phải đối mặt với những hiểm nguy khác là sơn lam chướng khí, thú dữ và kể cả yêu ma của chốn rừng thiêng nước độc.

Sau cơn mưa, ánh trăng rừng sáng rỡ soi xuống những tàn lá ướt đọng những hạt mưa lấp lánh. Bỗng dưng Cư nghe một tràng tiếng tru từ bên kia dòng suối lướt sang phía bên này nhanh như một luồng gió. Bầy thú yêu tinh này đã phát hiện ra nơi ẩn náu của bọn Cư rồi. Có lẽ món thịt người là món ăn sơn hào hải vị của bọn chúng nên bọn chúng khó lòng bỏ qua.

Cư lên đạn cho khẩu súng săn, đưa mũi súng hướng ra phía hàng rào re vạt nhọn. Người ta bảo ở trong rừng sâu thì hổ là chúa tể sơn lâm, nhưng mấy ai biết được chính loài sài lang, linh cẩu mới là loài hung bạo. Chúng xem bọn cọp beo vớ vẩn như loài cỏ rác. Nhiều đám sài lang đã tấn công cả hổ báo làm cho bọn chúa tể sơn lâm này phải cuốn vó chạy dài.

Đúng lúc Cư ngồi chờ đám sài xuất hiện thì Hủ lên cơn sốt nặng. Anh ta chồm dậy, hai tay đánh vào ngực mình binh binh như mấy con dã nhân khi nổi giận. Rồi như nổi cơn điên Hủ lao ra cửa lán và như được cơn điên hỗ trợ hắn phóng như bay qua hàng rào cao hai thước và biến mất vào trong rừng khuya.

Cả bọn đang ngủ bật dậy. Hưng “mãng xà” như chết điếng hỏi Cư.

– Thằng này ! bị sao ! rồi anh Hai?

Cư đứng lên cầm súng trên tay chỉ thị:

– Tất cả mặc quần áo, giầy ủng, mang đèn vào rồi theo tao!

Năm phút sau, cả bọn biến vào màn đêm cô tịch.

Sau cơn mưa, rừng trở nên ẩm ướt, ánh trăng sáng tỏ vậy mà vẫn không sao lọt qua từng đám lá rừng đan xen vào nhau. Cư soi đèn cố tìm dấu chân của Hủ. Đây rồi, dấu chân Hủ đang chạy băng về hướng bờ suối. Sau mấy giờ đồng hồ mưa xối xả, nước từ thượng nguồn đổ về như được tăng thêm cả về thể tích và khối lượng, nên suối chảy xiết và vô cùng hung hãn, gã điên này nếu vượt suối ắt sẽ phải chết, tiếng một gã lẩm nhẩm ở phía sau Cư.

– Đừng nói chuyện, lũ sói sẽ nghe thấy chúng ta. Nó không chết vì dòng suối thì cũng có thể rơi vào miệng con sài mắt đỏ đã biến thành tinh.

Đi thầm trong bóng đêm dầy đặc độ nửa giờ, cả bọn đã nghe tiếng suối chảy ầm ầm trước mặt. Cư lại chiếu đèn dưới con đường mòn, dấu chân Hủ vẫn còn làm đục nước đây.

Độ hai mươi phút sau, cả bọn dừng lại bên bờ suối. Dấu chân Hủ đã mất nhưng cái áo bông của hắn lại bị vất ở trên một tảng đá.

– Nó đâu rồi?

Hưng “mãng xà” chỉ vào chiếc áo và hỏi bâng quơ. Đúng lúc đó bên kia suối chỗ khoảng rừng le có tiếng xào xạc và tiếng gì đó vang lên như một tiếng cười rất là quái dị. Gã mắt chột và gã tóc bù xù dừng chân lại thì thào:

– Ai cười? Người hay ma vậy anh Cư?

Thoáng qua một góc lừng le Cư thấy chớp rất nhanh hai đốm sáng đỏ. Cư nhỏ giọng:

– Kh! ông ph�! �i tiếng người cũng chẳng phải tiếng ma mà đó là tiếng của sói tinh.

Hưng mãng xà sợ hãi:

– Hay là con tinh này đã bắt được thằng Hủ rồi. Vì sao đang nửa đêm mà nó lại lên cơn mê loạn?

Cư kéo mọi người ngồi xuống sau một tảng đá to:

– Tao với thằng Hủ đã phiêu bạt với nhau hồi mới mười mấy tuổi đầu, hai đứa đã từng trôi dạt qua Miên theo đám cửu vạn vác hàng lậu, và tại đây thằng Hủ đã có thời nó nghiện bồ đà. Tánh tình nó thay đổi từ đó, lúc vui, lúc buồn rất thất thường. Có những đêm nó không ngủ, một mình nó lang thang ra giữ những cánh đồng hoang. Những khi no thuốc, nó nói đang bay trên bảy sắc cầu vồng! Nó thấy được cả ma, cả quỉ làm cho ai nghe cũng sợ. Thằng này…

– Sao anh Cư? – gã đầu xù lo lắng.

Cư chép miệng quả quyết:

– Phải cứu nó thôi. Tao sẽ qua suối, thằng nào theo thì đi, bằng không thì phục nơi đây chờ.

Cả bọn nhao nhao lên:

– Anh đi thì bọn em đi, sống chết có nhau.

Cư đanh giọng:

– Nhưng suối chảy xiết lắm, rất nguy hiểm. Để tao đi trước bắt cầu dây cho tụi bây theo sau.

Nói xong Cư mở cái túi vải sau lưng lấy ra một khoanh dây dù to tướng. Một đầu dây, Cư cột vào một thân cây to, còn khoanh dây ước chừng cả sáu bảy chục thước thì mang vào vai. Cư ra hiệu:

– Khi nào bọn bây thấy tao nhá đèn ba cái là tao đã sang tới bên ấy rồi thì bọn bây sẽ lần theo dây mà sang.

Gã đầu xù lắp bắp:

– Nhưng nhỡ bọn em không nhìn thấy ánh đèn?

Cư Vò đầu th�! �ng đồ! ng bạn cười:

– Nếu như thế thì có nghĩa là thằng anh mầy đã bị dòng suối nhai sống rồi. Thế thôi.

– Đừng nói gở làm bọn em sợ mà anh Cư. Anh lội giỏi như nhái mà làm sao không qua được chứ! – Gã mắt chột nói riu ríu.

Cư cười:

– Thôi yên tâm, tao qua suối đây.

Nói rồi Cư lặng lẽ đi xuống mép bờ suối. Nước suối lạnh quá. Bây giờ trăng hiện lên phía trên dòng suối soi xuống dòng nước trắng bạc đang chảy xiết. Cây súng săn mang một bên vai. Cư lần từng bước. Có lẽ dòng suối cạn.

Cư cứ đi xiên xiên theo dòng nước, có lúc gặp luồng nước chảy mạnh nước hất tung anh ta lên rồi rơi xuống, tuy vậy Cư vẫn cố gắng đều đặn thả từng mối dây. Ra càng xa lòng suối càng sâu dần. Nước chảy mạnh như cắt, nhiều lúc Cư nghĩ chắc mình sẽ không sao sang được tới bờ bên kia. May sao chính những lúc thập tử nhất sinh anh lại được những tảng đá to giữa dòng suối cứu mạng. Cuối cùng vào lúc đuối sức nhất Cư lại được một luồng nước mạnh xô dạt vào bờ. Cư nằm xoải tên bờ cát ven suối để thở, ánh trăng chếch sang phía mấy quả đồi trọc.

Đột nhiên Cư nghe một tràng những tiếng sói tru kéo dài từ rừng le lên mấy quả đồi. Tiếng tru gồm nhiều cung bậc, âm sắc tạo nên một giai điệu ma quái, dễ sợ.

Nghỉ độ mươi phút, Cư vội ngồi dậy tìm một gốc cây, căng thẳng cái sợi dây rồi buộc vào. Quay qua bên kia suối, Cư nhá đèn ba cái. Phía bên kia cũng nhá đèn đáp lại. Như vậy là bọn kia đang sắp sửa men theo sợi dây để qua suối.

Trong lúc chờ đợi đồng bạn, Cư m�! �c một ! bọc thuốc được gói trong cái gói da dê ra vấn hút và thẫn thờ ngồi nhìn trăng rừng. Bỗng dưng đúng lúc đó trên quả đồi trọc cách chỗ Cư ngồi độ hai trăm thước hiện lên những cái đầu sói vươn cao cùng cất lên những tiếng hú trăng quái đản. Rồi từ dưới chân đồi có một đôi mắt đỏ như lửa vượt lên và theo sau là một bóng người cũng chạy nhanh như gió.

Mười lăm phút sau, cả bọn đeo dây đã vượt qua dòng suối cùng ngồi lại quây quần bên Cư. Cư chỉ lên quả đồi, Hưng “mãng xà” nhìn một lúc rồi nói thì thào:

– Có một bóng người chạy theo sau bầy sói.

Gã chột mắt sợ hãi:

– Hình như bóng của thằng Hủ thì phải.

Một gã đồng bọn lên tiếng:

– Đúng là nó rồi. Mà vì sao lũ sói chưa ăn thịt nó?

Một gã khác nói trong tiếng thở:

– Tôi nghe thằng Hủ cũng tru lên giống như bầy sói. Kìa, cái bóng của nó chạy theo phía sau sát với con sói tinh mắt đỏ. Lẽ nào nó đã hóa thành sói.

Cư lặng thinh vất mẩu thuốc lá, khoát tay ra hiệu:

– Chúng ta bò lên nhưng phải yên lặng.

Rồi Cư dẫn đầu, cả bọn chạy lúp xúp men theo những bụi cỏ cao dưới chân đồi trọc. Càng đến gần chân đồi trong tiếng hú trăng của đám sói rừng còn có tiếng cười, tiếng rú man dại của Hủ.

Để tránh sự phát hiện hơi người của bầy sói tinh, Cư ra hiệu cho cả bọn bọc vòng hướng ngược chiều gió. Còn độ năm mươi thước đến đỉnh đồi cả bọn nhìn thấy con sói tinh mắt đỏ đầu đàn đứng dựng hai chân bên cạnh Hủ và cả hai hú lên một tràng dài man dại.
! Gần một giờ sau đám sói lẳng lặng đi xuống đồi hướng về phía rừng khộp trước mặt. Con sói tinh đầu đàn mắt đỏ cũng phóng theo chỉ còn Hủ đứng lại tru lên những tiếng thật quái dị.

Cư đề nghị:

– Chúng ta phải tìm cách cứu nó.

Gã đầu trọc đề nghị:

– Phải chăng dây trên lối nó đi mới được vì thằng này đã hóa thành sói mất rồi!

Gã đầu xù quay lại mấy đứa phía sau la lệnh:

– Mấy đứa bây chuẩn bị căng dây đi. Khi nào nó chạy theo bầy sói qua ngang dây thì căng thẳng sợi dây cho nó té ngã, lúc đó phải xông vào trói nó lại.

Trăng đã xuống thấp thoáng bên kia quả đồi…

Cả bọn đưa Hủ về được căn lán thì trời đã sáng. Bấy giờ mọi người mới nhìn rõ Hủ. Mặt mày anh ta xanh xám, một bên mép nước bọt chảy thành dòng, đôi mắt ngầu đỏ long lên trông thật dễ sợ.

Tuy đã bị trói chặt hai tay nhưng Hủ giãy giụa hết sức hung hãn, hai hàm răng nhe ra như muốn cắn mọi người.

Cư căn dặn:

– Thằng này đã bị bệnh sói điên rồi, tụi bây phải cẩn thận với nó.

Bất chợt Hủ lại cất tiếng tru lên như đang muốn kêu cứu với bọn sói tinh. Lúc Hủ ngửa cổ lên kêu, Cư kịp nhìn thấy có hai dấu răng nanh rướm máu trên cổ hắn, vết máu chưa kịp khô, Cư kêu lên:

– Thôi rồi, thằng này đã bị sói tinh hút máu và truyền cho nó con vi trùng sói dại rồi.Trong người nó lúc này là nửa người nửa sói, hết mong cứu chữa giữa chốn rừng hoang này.

Cả ngày hôm đó Hủ ngồi trong bóng tối ở góc lều, miệng luôn gầm gừ. Đến �! �êm lúc! trăng vừa mới mọc khi nghe tiếng bầy sói tinh kêu hú phía bên kia bờ suối, Hủ chợt chồm đứng dậy dùng răng cắn đứt dây, hú lên một tiếng dài rồi phóng qua hàng rào chạy biến vào rừng. Cư nhìn theo Hủ ứa nước mắt, từ đêm nay toán đào vàng của anh sẽ mất một thành viên. Người bạn thuở thiếu thời với một lần lầm lỡ nghiện bồ đà. Bản chất con người từ đó đã thay đổi, nay lại bị một con sói tinh hút máu truyền bệnh nên cái chủ thể con người mong manh còn sót lại của anh ta cũng biến mất và anh ta đã hóa sói.

Cư buồn bã thở dài…

Trăng rừng khuya vẫn lung linh trên cánh rừng hoang dại, phía đồi trọc bên kia suối vang lên tiếng bầy sói man dại gọi trăng.


MA RẮN

Câu chuyện ma rắn được cha tôi kể lại cho nghe từ khi tôi còn tấm bé, ông vẫn thường kể đi, kể lại câu chuyện lạ lùng này trong gia đình cho đến khi tôi lớn lên. Cha tôi không phải là người ưa thích những câu chuyện hoang đường. Trước sau ông chỉ kể một câu chuyện này thôi bởi nó đã xảy ra trong chính gia đình ông cố tôi tức là ông nội của cha tôi. Những tình tiết ly kỳ của chuyện ma rắn cứ ám ảnh mãi anh em chúng tôi cho đến bây giờ. Nó hấp dẫn vì câu chuyện người thật, việc thật đã để lại dấu ấn đậm nét như một mảng màu bám mãi vào ký ức trong suốt quãng đời niên thiếu của mấy anh em tôi.

Bây giờ đã khôn lớn, trưởng thành trong mảng màu đó vẫn chưa rơi rụng nhạt nhòa. Chuyện xảy ra trong gia đình ông bà cố nội tôi cách đây gần trăm năm…

Thuở ấy vùng quê ông cố tôi trồng mía nấu đường. Những phú hộ, phú nông thuở ấy nhiều ruộng mía đều dựng lò đường thủ công trong nhà để sản xuất đường mía.

Khi mía đã già ngoài ruộng, người ta chặt đem ép lấy nước đưa vào lò nấu cô đặc lại thành đường. Ông cố tôi là một phú nông, đất ruộng nhiều nên kẻ ăn người làm trong nhà rất đông. Bà cố vừa lo ăn uống cho đám thầy thợ trong nhà vừa ra ruộng coi ngó người làm. Hầu như trong suốt mùa thu hoạch mía ngày nào bà cũng phải đi về giữa nhà và ruộng. Quãng đường từ nhà ra ruộng cũng khá xa, đi ngang qua một ngôi miếu hoang.

Một hôm, đang lúc trưa nắng khi đi ngang qua chỗ miếu hoang bà nghe tiếng thở phì phờ cùng tiếng rào rào như tiếng qu! ạt giê lúa. Liếc mắt nhìn vào bà điếng hồn.

Một con rắn to như gốc cột nhà nằm cuộn tròn mấy vòng trên nền gạch cạnh các bát nhang. Đầu rắn có mống mào đỏ tía lắc lư qua lại, những chiếc vảy rắn to như nửa bàn tay ánh lên những sắc xanh đỏ.

Bà cố bỏ chạy thục mạng. Đến chỗ ruộng mía có đông người bà mới kịp dừng lại thở không ra hơi, mặt mày tái ngắt. Một lúc sau bà mới hoàn hồn. Vốn là người trầm tĩnh và có bản lĩnh, bà cố im lặng không hé lộ cho đám người làm biết chuyện gì vừa xảy ra. Khi những trai tráng chuyển mía về nhà, bà đi lẫn vào giữa đám người đi ngang qua chỗ ngôi miếu hoang. Lén nhìn vào, bà thấy cái nền gạch giữa miếu trống không vẫn như thường ngày không có chuyện gì xảy ra.

Bà giữ kín câu chuyện không cho ai biết cho đến sau này mới kể lại cho ông cố nghe. Cũng từ đó mỗi khi đi ngang qua ngôi miếu hoang này, bà luôn bảo người khác theo bên cạnh chứ không dám đi một mình nữa.

Khoảng mươi hôm sau trên con đường đi chợ trở về nghe tiếng sột soạt phía sau lưng, bà quay lại thì thấy con rắn lửa. Đây là loại rắn nhỏ rất hiền lành chiều dài khoảng ba gang tay, thân chỉ bằng ngón chân cái, sở dĩ gọi tên rắn lửa vì cổ nó có cái khoang dài khoảng mười phân màu đỏ như lửa. Thường ngày có thể thấy rắn lửa ở trong vườn, bụi cây, bờ ruộng nên sự xuất hiện của nó không làm bà ngạc nhiên.

Đi được một đoạn lại nghe tiếng sột soạt bà quay lại nhìn cũng chính là nó. Bà thật sự lo lắng khi thấy nó bám đuổi theo mình. Kinh ngạc hơn khi bà bước vào cổng ngõ vào sân, vào nhà nó vẫn l�! ��ng lẽ! bò sát bên chân. Bà ra sau nhà nó vẫn theo, dám gia nhân thấy vậy tóm lấy nó hất bay vèo ra ngoài bờ rào. Nó lại nhanh chóng vào lại theo sau chân bà. Người ta liền báo cho ông cố biết, ông vội chạy xuống xem, ông sai người làm bắt con rắn lửa đem bỏ ra bàu nước cách xa nhà một khoảng ở vùng quê tôi thời ấy cho đến bây giờ người ta không giết rắn lửa vì niềm tin trong dân gian rằng mỗi con rắn lửa như thế là hiện thân của một hồn ai đó.

Một lát sau con rắn vẫn bò vào, lẩn quẩn quanh theo chân bà cố, ông lại đích thân tóm nó đem bỏ ở nơi xa hơn. Nhưng rồi nó lại hiện diện trong nhà. Năm lần bảy lượt bắt nó ra khỏi nhà bỏ ở những nơi mỗi lúc một xa hơn, có khi cách nhà cả buổi đi đường nhưng nó vẫn về được làm ông cố bực mình.

Mấy hôm sau thấy con rắn vẫn ngang nhiên bò theo bước chân bà chẳng sợ sệt ai, hễ bà lên nhà trên nó theo lên, hễ bà xuống nhà dưới nó theo xuống, ông nổi giận chộp lấy nó vất mạnh ra giữa sân gạch. Đang cơn giận dữ ông vớ chiếc vồ đập đất giáng liên tục lên nó đến khi đầu mình nó giập nát ra từng mảnh nhỏ vẫn chưa thôi.

Ông vất cái vồ không quên chửi theo một câu: “Tiên sư mầy! Thử xem mày còn sống lại bò theo chân bà nhà tao nữa không?”.

Chưa hết lời, ông bỗng giật mình, ngoài bờ rào có hai con rắn lửa y chang như con rắn vừa rồi bò vào sân ngay chỗ ông giần nát con rắn trước đó. Cơn giận lại trào dâng, ông vớ lấy cái vồ nện tiếp. Trong chốc lát, hai con rắn nát bấy. Định quẳng cái vồ, phủi tay xong việc nào ngờ thêm bốn con nữa từ đâu bò đến tiếp. Tức khí xung th! iên, v�! �i sức mạnh của người hay luyện võ ông lại cầm cái vồ lên giần chúng. Ngay tức khắc, lại hàng chục con nối tiếp nhau từ ngoài bờ rào bò vào. Chúng như thách thức ông, ông lại càng điên tiết, cái vồ trên tay càng vung lên kịch liệt nhắm vào đám rắn. Những âm thanh bình bịch, bèm bẹp náo động một khoảng sân. Máu và thịt rắn tóe ra, vung vãi khắp sân bốc mùi tanh tưởi… Mọi người trong nhà hốt hoảng kéo nhau đến xem ông kịch chiến với đám rắn. Như ma hiện ra, lũ rắn ngoài vườn liên tục bò vào. Chúng bò hàng năm, hàng bảy.

Mặt trời đã lên đến đỉnh đầu, xác rắn chất chồng cao đến đầu gối có đến hàng ngàn con. Dòng rắn tiến vào hầu như vô tận, ông thì mồ hôi, mồ kê ướt đẫm cả người. Ông khỏe thế nhưng cái vồ vung lên cũng chậm chạp dần. Đến một lúc ông không còn sức liền vất cái vồ đứng thở hỗn hển coi như đầu hàng chúng. Đám rắn tỏa ra khắp nhà. Chúng bò ngang, bờ dọc một hồi rồi tản ra ngoài vườn đi đâu mất hết. Đống rắn chết còn nguyên đó bốc mùi tanh lợm giọng. Ông cố ra lệnh cho đám gia nhân đem xác rắn vất ra ngoài bàu nước…

Hôm sau con rắn lửa hôm qua lại thấy trong nhà. Nó vẫn bám theo sau chân bà. Đến đêm bà lên giường ngủ nó cũng bò theo lên. Ông cố nổi tiếng là người ương ngạnh. Sự kiện hôm qua không làm cho ông cố sợ sệt con ma rắn này. Ông liền tóm lấy nó đem đến chỗ lò đường đang nấu. Lò đường đun những chảo đường được đốt bằng củi hay bã mía khô cháy hừng hực tỏa ra sức nóng ghê gớm. Ông vứt con rắn vào giữa lò. Vậy là nó sẽ cháy ra tro thôi. Nhưng thật kinh hãi, con rắn l�! �i thong ! thả bò trở ra xem như một chuyến đi… dạo mát. Rõ ràng nó là con rắn ma. Bây giờ ông mới hoảng kinh thật sự. Con rắn lửa lại lẽo đẽo bò theo sau bà cố nội tôi ở trong nhà hay đi bất cứ đâu… xem ra ông cố không làm gì được nó.

Từ khi có con rắn lửa hiện diện trong nhà mọi người luôn lo lắng bất an, nhất là ông cố, không biết tai họa gì sẽ xảy ra đây. Đêm đêm ai nấy đều nín thở lắng nghe bên ngoài cửa hay đâu đó trong vườn, trên mái nhà có tiếng thở phì phì như trâu lặn nước và trong rào rào như quạt giê lúa. Ai cũng sợ đến nổi da gà, run cầm cập. Không hé miệng với ai ngoài ông cố, bà cố biết rằng những âm thanh kia là từ con rắn to như gốc cột nhà có mống mào đỏ tía mà bà nhìn thấy trong ngôi miếu hoang hôm trước.

Buổi trưa hôm ấy mùa hè trời nắng như thiêu đốt. Trong vườn, ngoài ruộng đâu đâu cũng không có lấy một cơn gió thoảng. Tiếng ve kêu rền rĩ trên những ngọn mà cao một hối rồi nín bặt, trả lại không gian yên ắng hoang sơ cho cái làng quê hẻo lánh chuyên nghề trống mùa nấu đường. Trên con đường làng vắng vẻ có một ông cụ già đang rảo bước. Cụ đi guốc mộc, mặc bộ quần áo bà ba màu đà, đầu đột nón lá, tay nải quàng sau vai. Hình như cụ đang bôn ba vượt đường xa dưới cơn nắng gay gắt nên mồ hôi thấm tất cả lưng áo.

Đến cổng ngõ ngót cạnh bụi tre già có bóng râm cụ dừng lại giở nón lá xuống phe phẩy quạt. Cụ thoát nhìn cái cổng ngói rồi rảo bước luôn vào bên trong. Đây chính là nhà ông cố tôi.

Đang trên đường đi, giữa cơn nắng trưa mùa hè nóng bức, tình cờ gặp được nhà dân! cụ t�! �t vào xin miếng nước uống. Ông cố tôi tiếp cụ rất niềm nở. Ông sai người làm đem nước chè tươi ra mời cụ. Thấy ông cụ tóc bạc trắng như cước trán rộng, mắt sáng, tay chân dài hơn người bình thường như một dị nhân, vóc dáng phương phi đạo mạo, ông cố biết vị khách này không phải là người tầm thường. Ông cố liền đem sự việc con rắn lửa trong nhà kể cho cụ nghe với mong muốn nhờ cụ giúp đỡ hoặc cụ đi đây đi đó nhiều, hiểu biết rộng có thể mách bảo những vị cao nhân nào đâu có phép thuật hay phương pháp gì giúp cho gia chủ trục con rắn lửa ra khỏi nhà. Hiện nay gia đình ông cố tôi như đang gặp nạn lớn, miệng thế gian đồn đại ông nhà có rắn ma khiến công việc làm ăn bị ảnh hưởng nghiêm trọng, gia nhân phần lớn sợ hãi bỏ đi, người làm công thì không dám đến, các lò nấu mía đường ngưng nghỉ… Ông cụ nghe xong mỉm cười bảo:

– Bây giờ thì con rắn sẽ không có ở trong nhà này!

– Ông cố nghe vậy liền gọi bà cố lên. Quả nhiên không thấy con rắn lửa bò theo sau, ông bảo mọi người tìm kiếm khắp trong nhà vẫn không thấy con rắn đâu. Ông cố mừng rỡ vô cùng, rõ ràng vị khách không phải con người bình thường. Ông chấp tay kính cẩn trước mặt cụ già:

– Thầy quả thật bậc cao nhân. Uy linh của thầy đã khiến cho loại tà ma trong nhà phải né tránh, vạn lần phúc đức cho gia chủ được may mắn gặp thầy. Xin thầy ra tay cứu giúp diệt trừ con rắn ma!

Cụ già khoát tay vui vẻ như không có chuyện gì xảy ra:

– Có gì đâu mà anh phải nhiều lời, để ta giúp cho!

Rồi cụ già căn dặn ông! cố lá! t nữa đây khi cụ ra khỏi nhà con rắn sẽ trở vào lại. Ngày mai gia chủ ra chợ mua một cái hủ mới và một con gà trống trắng, rang một bát nổ từ lúa nếp để sẵn. Bắt con rắn bỏ vào hủ, hơ lá chuối tiêu bịt miệng hũ lại. Lấy dây mây to thắt nhiều chiếc bóng cho thật chắc, bền. Lưu ý là phải chọn loại dây mây tốt, dẻo bền vô cùng, nếu không sẽ hỏng việc. Ra vườn chặt hai gốc tre già to cứng cáp làm đòn. Chọn năm, bảy người lực điền mạnh mẽ nhất túc trực chờ lệnh trong nhà. Ba ngày sau cụ sẽ trở lại giúp cho gia chủ.

Khi cụ già bước ra khỏi nhà quả nhiên con rắn bò vào lại. Ông cố thực hiện đúng y lời dặn của cụ già.

Ba hôm sau y hẹn cứ đến. Đích thân cụ mở miếng lá chuối tiêu bịt miệng hũ ra. Bên trong hũ trống không. Cả nhà lo lắng, cụ già thì tủm tỉm cười:

– Con đại xà yêu này cũng cao tay đây, nhưng không sao, sẽ có cách!

Nói rồi cụ mở tay nải lấy một tờ giấy ra, dùng ngón tay khoán mấy chữ đưa cho ông cố và bảo rằng ba hôm nữa ông sẽ trở lại. Khi con rắn xuất hiện bắt bỏ vào hũ và bịt miệng lại bằng lá bùa này. Quả nhiên ba hôm sau cụ già trở lại thì con rắn vẫn còn nằm im trong lòng hũ.

Cụ già cho bày bàn nhang đèn ra. Cụ già cắt tiết con gà trống tràng đổ vào trong bát nổ trắng được rang từ lúa nếp. Cụ đọc lầm thầm những câu thần chú rồi bưng bát nếp nổ thảy lên không. Kỳ lạ thay, những hoa nếp tan biến nhanh trong không khí chẳng còn gì. Bây giờ những trai điền được lệnh bê chiếc hũ đặt vào những chiếc gióng mây lồng vào nhau. Cây đòn gốc tre gài rắn chắc được xỏ và! o. Hai ng! ười trai điền lực lưỡng khiêng cái hũ ra khỏi nhà.

Cụ già bảo những trai điền khác cùng tháp tùng và đem theo cái đòn tre và những chiếc gióng còn sót lại. Họ được lệnh tiến thẳng về phía sông lớn cách nhà một buổi đường. Lúc đầu hai trai điền khiêng cái hủ đi rất nhẹ nhàng. Ông cố và những người đi theo không hiểu cụ già bảo họ đem theo gióng mây và đòn tre nữa làm gì.

Ra khỏi nhà một đoạn cái hủ bắt đầu nặng dần. Những sợi gióng mây căn ra, chiếc đòn bằng gốc tre già võng xuống. Hai người trai điền mạnh mẽ thế mà bất đầu thở dốc. Hai người trai điền khác vào thay. Đi một đoạn nữa cái hũ trở nên nặng một cách kỳ lạ, những sợi gióng mây căng hết cỡ muốn đứt không biết lúc nào. Nhớ lời dặn của cụ già đừng bao giờ để gióng đứt rơi vỡ hũ sẽ hỏng việc, ông cố cho đám trai điền còn bao nhiêu chiếc gióng thì lồng hết vào. Đến bây giờ thì hũ nặng đến nỗi hai trái điền khiêng không nỗi nữa. Ông cố cho luồn thêm vào cân đòn gốc tre còn lại. Bốn người khiêng nhưng, xem ra cũng phải nhấc từng bước một vì hũ càng trở nên quá nặng.

Càng gần đến bờ sông thì hũ như trĩu xuống sát mặt đất gây khó khăn cho những bước di chuyển của bốn người khiêng vốn đã quằn lưng vì sức nặng tưởng chừng như khiêng hòn đá núi mấy nghìn cân. Cách bờ sông một đoạn ngắn cái hũ đã thì xuống sát mặt đất, nặng như một tảng đá lớn hầu như không nhấc lên được nữa.

Ông cố cùng đám trai điền vận hết sức lực vừa nhích vừa xê đít hũ lên trên mặt đất từng tấc một. Ai nấy mồ hội mồ kê đổ giọt, lư! ng vai, t! ay chân tím bầm.

Cuối cùng, họ đã đem được cái hũ ra được mé sông chỗ vực thẳm. Dồn hết sức và những cánh tay, bờ vai, đôi chân lực lưỡng, gần chục cái miệng lấy hơi hò lên một tiếng đẩy cái hũ rơi ầm xuống vực. Ông cố quày quả trở về nhà hậu tạ cụ già có quyền phép đã giúp đỡ mình tống khứ con rắn ma nhưng cụ đã lặng lẽ rời khỏi nhà tự lúc nào mà người nhà chẳng ai hay biết.

Từ đó không thấy con rắn lửa và những âm thanh kỳ quái đêm đêm trong khu vườn nhà nữa.


CÁI ĐẦU BÁO OÁN

- Tại sao lại có thiếu máu đến thế này!

Tiếng la thất thanh của cụ Sáu Thọ làm cho mọi người trong xóm đều đổ ra bờ sông để cùng nhìn xem. Lại có tiếng nói:

– Trời ơi! Đây chính là máu người đó!

Và câu nói ấy càng làm cho hầu hết mọi người đang đổ tới xem đều tỏ ra vô cùng hoảng sợ.

Một vài người đàn bà phải đứng dựa vào nhau với khuôn mặt nhớn nhác sợ hãi.

– Chị Bảy Thắm đã chết! Chị ta đã bị ai đó chặt đứt mất cát đầu!

Thêm một câu nói hoảng hốt như mất hơi của cụ Tám già từ trong xóm cũng vừa chạy ra. Tiếng kêu rên:

– Giêsu-ma! Lạy chúa tôi!

Thoát ra từ miệng mọi người và tay chân của một số người mềm ra như không thể cất bước, còn một số người khác tỏ ra mạnh dạn hơn thì đang nhanh chân chạy về hướng nhà của chị Bảy Thắm.

Xác của chị Bảy Thắm nằm đó nhưng cái đầu thì hầu như đã hoàn toàn biến mất. Tại sao lại như vậy? Câu hỏi nào hầu như đều nằm trong đầu mọi người nhưng không một ai dám chính miệng mình thốt lên. Chung quanh nhà chị Bảy Thắm, tiếng bàn tán xôn xao của nhũng người tò mò và tiếng khóc rên của những người thân làm cho khung cảnh làng xóm càng thêm bi đát và lạnh lẽo. Lẽ từ xưa đến nay chưa bao giờ dân trong làng Dìn lại nhận thấy tình trạng ghê gớm như thế này xảy ra nên ai nấy đều vô cùng hoang mang lo sợ…

Buổi chiều tối hôm ấy, mới có gần bảy giờ mà nhà mọi người đều đóng cửa kín mít. Có một vài gia đình phải tụ t�! �p chung với nhau cho đỡ sợ hãi. Riêng đám tuần đinh do anh Năm Lâm đứng đầu được dân làng ủy nhiệm canh giữ cái xác của chị Bảy Thắm, đồng thời cũng canh gác cho mọi người dân trong làng Dìn. Tuy toàn là trai tráng trong làng nhưng bọn anh Năm Lâm thật ra với tám người có cái gan cũng tương đối nhỏ lắm. Trời càng về đêm thì càng lạnh lẽo. Ngồi gần bên một cái xác người không đầu càng làm cho anh Năm Lâm cảm thấy lạnh run mặc dù anh đã khoác vào người một cái áo bông rất to. Cứ mỗi một cơn gió thổi vào người Năm Lâm là một cơn ác mộng thoảng đến trong đầu anh.

Lúc thì anh tưởng tượng ra một người nào đó đang giơ cái búa phía sau lưng, lúc thì anh tưởng tượng ra cái đầu của chị Bảy Thắm đang bay đâu đó quanh đây…

– Mấy người kia sao lâu về quá vậy, Tư Nhôm?

Anh Năm Lâm vờ quay qua hỏi người cùng ngồi canh cái xác với mình. Thì ra chỉ có anh Tư Nhôm và anh Năm Lâm có nhiệm vụ canh giữ cái xác, còn những người khác thì đã chia ra hai tốp đi xem xét mọi ngóc ngách trong làng.

– Có lẽ đêm nay họ sẽ không kịp trở về đây đâu anh Năm Lâm à!

Tiếng trả lời của anh Tư Nhôm càng làm cho Năm Lâm thêm ngay ngáy lo sợ. Tới lúc khoảng gần nửa đêm thì gió bắt đầu thổi mạnh thêm. Những cơn gió thổi làm cho cây cối xung quanh nhà phát lên những tiếng như tiếng ma kêu quỷ gào, cộng với đôi lúc căn nhà tranh tuềnh toàng phát lên những tiếng ken két làm cho khung cảnh càng tăng thêm sự ma quái huyền ảo. Giá mà không có Tư Nhôm ngồi ở kế bên thì có cho vàng chắc Năm Lâm cũng không còn hồn vía nào mà ngồi đây.

! Anh Năm! Lâm bèn hớp một hớp rượu Bàu Đá đoạn cất giọng hát nho nhỏ để tự trấn an lòng mình, nhưng thật sự thì chỉ cần một tiếng động nhỏ sau lưng cũng làm cho anh ta giật bắn mình quay lại ngay lập tức.

Thời gian cứ âm thầm lặng lẽ trôi qua cho tới khoảng hơn một giờ sáng thì anh Năm Lâm nghe thấy một tiếng rên nho nhỏ phía ngoài cửa sổ nhưng anh cứ giả vờ như không nghe thấy. Anh nhắm chặt hại mắt lại, miệng lâm râm khấn vái rồi bất chợt, Năm Lâm giật mình hoảng sợ khi anh cảm thấy dường như đang có một bàn tay ai đó khẽ khàng vỗ nhẹ lên vai mình. Năm Lâm lấy hết bình tĩnh mở mắt:

– Trời đất! Thì ra là mày hả? Chuyện gì vậy Tư Nhôm?

Hình như tui vừa nghe có tiếng động ngoài cửa sổ, Tư Nhôm cố nài nỉ Năm Lâm, một phần vì sợ Tư Nhôm biết là mình nhát gan nên Năm Lâm cũng miễn cưỡng bước tới cái cửa sổ đâm ra hướng bắc. Năm Lâm lấy hết bình tĩnh mở hé cánh cửa sổ ra nhưng không thấy gì nên thử làm liều, mở toang cả cánh cửa sổ ra. Năm Lâm bỗng hồn kinh kéo cửa sổ trở vào một cái đánh rầm khi anh mơ hồ nhìn thấy chiếc đầu của chị Bảy Thắm đang lơ lửng bay bay ở ngoài sân. Cả người như đông cứng lại nên anh xoay người lại tìm Tư Nhôm cho bớt sợ nhưng hình như anh Tư Nhôm cũng đã biến mất từ hồi nào. Năm Lâm liền la hoảng lên một tiếng và chạp vội lấy cây đòn gánh, đưa mắt cố tìm kiếm Tư Nhôm nhưng ngoài cái xác người không đầu vẫn nằm đấy thì không còn thấy ai cả.

Mỗi một lần ánh mắt của Năm Lâm vô tình chạm đến cái xác người kia thì lại tưởng tượng đến cái đầu bay lơ lửng ngoài ! sân làm! anh ta càng run rẩy thêm. Cuối cùng Năm Lâm lại mò tìm được chai lược Bàu Đá, đưa lên miệng tu một hớp lớn cho đỡ sợ rồi nép vào góc nhà ngồi đọc kinh. Bất thình lình “rầm” một tiếng khiến cho cánh cửa sổ bật mở tung ra. Và kìa, một khuôn mặt quen thuộc bỗng vừa xuất hiện, nhe hai hàm răng trắng toát ra với một giọng nói khàn khàn. Thì ra là Tư Nhôm.

– Sao? Có thấy gì lạ không anh Năm Lâm?

Năm Lâm bấy giờ vẫn còn đang run nhưng cố cất giọng lớn hỏi dồn:

– Trời! Nãy giờ mày bỏ đi đâu vậy Tư Nhôm? Mày có thấy gì ngoài đó không?

Và như vớ được chiếc phao cấp cứu, Năm Lâm chạy vội ra mở cửa chính để đón Tư Nhôm vào nhà. Ở bên ngoài gió đã ngưng thổi làm cho không gian chìm trong một sự tĩnh mịch rất đáng sợ. Mặt trăng cũng đã thoát ra khỏi những cụm mây che, le lói chiếu qua những khe hở của căn nhà gỗ tựa như ánh mắt sáng ngời của ai đó đang cố nhìn vào tận bên trong căn nhà. Sương cũng bắt đầu xuống nặng hạt tăng thêm sự mờ ảo ma quái.

Ở trong nhà, Năm Lâm vẫn ngồi đó với đôi mắt nhắm nghiền, tay chân ướt đẫm mồ hôi và thịt trên gò má anh ta cứ giật giật liên hồi. Nhìn sơ qua thì trông giống như Năm Lâm đang ngủ, nhưng một một tiếng động nhỏ anh ta cũng nghe thấy được.Thời gian cứ lặng lẽ trôi, tuy rất chậm nhưng cũng đã tới hơn 2 giờ sáng…

– Gâuuuuuuuuuuuuuuu! Gâuuuuuuuuuuuuuuuuuu! Gâuuuuuuuuuuu…!

Tiếng cho tru đâu đó bên ngoài làm cho Năm Lâm giật mình hoảng hốt đưa mắt nhìn xung quanh. Anh Tư Nhôm lúc này hình như đã ngủ mê lắm rồi nên không thấy anh ta! nhúc nh! ích gì cả. Năm Lâm lại với lấy chai rượu Bàu Đá tu một hơi dài đoạn móc túi lấy ra điếu thuốc đưa lên môi. Lục lọi một hồi trong túi cũng không thấy cái hộp quẹt diêm ở đâu nên Năm Lâm đành phải đi lại chỗ bàn thờ để mồi thuốc. Bất ngờ “Phụt!” cái đèn dầu chợt tắt ngấm, không biết tại do Năm Lâm hay là có ai đó đã cố tình thổi tắt. Căn nhà tối om càng trở lên rùng rợn hơn. Mò mẫm mãi cũng trở về được chỗ cũ ngồi, Năm Lâm làm thêm một ngụm Bàu Đá nữa và lại nhắm mắt cầu nguyện.

“Kẽo kẹt Keo kẹt…!”

Tiếng kêu đó làm tim Năm Lâm như muốn nhảy vọt ta ngoài, tuy vậy, anh ta vẫn cứ vờ nhắm mắt bất động chờ đợi xem chuyện gì sẽ xảy ra. Một phút, rồi hai phút qua đi nhưng tuyệt nhiên không có tiếng gì nữa nên Năm Lâm từ từ mở mắt ra. Không có tiếng gì nữa nên đến nỗi anh muốn la to lên nhưng không thể thoát ra tiếng được. Anh nhìn thấy cái đầu của chị Bảy Thắm đang dừng lại trên không ngay phía trước mặt, đang chăm chú nhìn vào cái xác không đầu của chị ta. Năm Lâm nắm chặt hai tay và nhắm mắt lại cố giữ im lặng để cho cái đầu của chị Bảy Thắm không biết anh đang ngồi dậy. Thế nhưng dường như cái đầu kia bất thình lình trợn trừng cặp mắt xanh lè và nhe hai hàm răng trắng phếu phì phò bay tới trước mặt Năm Lâm. Trời ơi quả là đáng kinh sợ quá. Mắt mũi miệng của cái đầu đang dính đầy những máu và chiếc cổ vẫn còn phun phọt từng tia máu tươi ra ngoài. Quá hãi hùng, Năm Lâm la lên một tiếng:

– Giêsu-ma! Xin cứu con! và rồi anh bèn mở cặp mắt của mình thật lớn nhìn lên cá! i đầu ! chị Bảy Thắm. Anh Năm Lâm thở phào nhẹ nhõm, thì ra đó là chỉ vì anh tưởng tượng ra mà thôi chứ cái đầu chị Bảy Thắm vẫn còn xoay cái ót của nó về phía anh.

Nhưng ngay lúc này thì Năm Lâm mới thật sự run sợ vì hình như cái đầu kia cũng đã kịp nghe thấy tiếng la của anh nên nó đang từ từ xoay lại. Năm Lâm đã hoảng lại càng thêm hoảng kinh đến độ muốn chạy bay ngay ra cửa nhưng chân anh như đã đông cứng lại từ khi nào, không còn nghe theo muốn của chủ nhân nữa. Quả tim của Năm Lâm mỗi lúc một đập mạnh và như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực khi cái đầu người một lúc một xoay gần về phía anh… Không gian chung quanh như bị đông cứng lại. Không có một tiếng gì ngoài tiếng thở hổn hển của Năm Lâm. Khuôn mặt trắng xanh của chị Bảy Thắm vẫn bay lơ lửng trong bóng đêm mờ ảo tạo nên một khung cảnh rùng rợn ghê gớm. Nhưng lạ thay, lúc nhìn thẳng vào cái mặt xanh xao của chị Bảy Thắm cũng là lúc Năm Lâm cảm thấy hết còn sợ hãi. Khuôn mặt của chị Bảy Thắm trông khá hiền từ và đáng thương. Cặp mắt và cặp môi của chị như muốn nói với Năm Lâm điều gì đó rồi từ từ bay ra ngoài. Nhìn vào cặp mắt của chị Bảy Thắm, Năm Lâm giống hệt như người đang bị thôi miên và bất giác anh mở cửa ra đi theo cái đầu.

Khi ra đến gần bờ sông thì cái đầu dừng lại và mấp máy cặp môi khô với Năm Lâm. Tuy không biết chắc chị Bảy Thắm muốn nói gì nhưng căn cứ vào những gì Năm Lâm biết được lúc sáng thì anh đoán chắc là cái đầu thật của chị Bảy Thắm còn ở quanh quẩn đâu đây và chắc là chị ta đang muốn ám chỉ điều đó. Năm Lâm nhắm theo! tia mắ! t của chị Bảy Thắm thì liền trông thấy chiếc đầu thật của chị Bảy Thắm đang bị sóng đùa lay qua lay lại ở bên bờ sông, gần chỗ anh đang đứng. Năm Lâm liền cởi chiếc áo khoác bông ra bọc lấy cái đầu của chị Bảy Thắm và mang trở lại căn nhà. Sau khi Năm Lâm bỏ chiếc đầu của chị Bảy Thắm vào gần chỗ cái xác thì ánh mắt của chị Bảy Thắm ngoài cửa sổ tỏ ra một sự biết ơn sâu sắc và từ từ biến mất…

Đã hơn mười năm nay, câu chuyện chị Bảy Thắm bị ai đó chặt đầu đã từ từ đi vào quên lãng. Khu xóm đã trở lại mức sinh hoạt bình thường như trước khi chuyện xảy ra đối với chị Bảy Thắm. Cũng từ cái ngày mà Năm Lâm kiếm được cái đầu cho chị Bảy thắm thì hình như chị đã an giấc cũng như từ đó không còn chuyện gì ghê gớm xảy ra nữa…

Hôm nay, xóm làng Dìu hân hạnh đón tiếp anh Tám Tàng dọn vào trong một ngôi biệt thự đẹp đẽ và to lớn. Không ai biết anh Tám Tàng từ đâu tới và cũng chẳng ai thèm để ý chuyện đó làm gì. Mọi người ở xóm làng Dìu chỉ biết anh ta là một người to con, đẹp trai và giàu có. Lý trưởng chắc đã được anh Tám Tàng tặng cho quà hậu hĩ nên đã tổ chức một bữa ăn rất trịnh trọng mời tất cả những người có máu mặt đến cùng tham dự. Năm Lâm vốn là đội trưởng tuần đinh chuyên về công tác giữ gìn trật tự an ninh trong xóm lên cũng được hân hạnh đến tham gia buổi tiệc ra mắt của anh Tám Tàng. Buổi tiệc diễn ra rất vui vẻ và ồn ào. Vì Năm Lâm có tính tình phóng khoáng và cũng là một bợm nhậu có cỡ nên anh uống rất nhiều rượu và luôn nói cười oang oang trong suốt bữa tiệc.
! Nhưng bữa tiệc vui nào rồi cũng có lúc phải tàn, riêng Năm Lâm tuy vẫn không nỡ rời bàn nhưng mà vì đã gần quá nửa đêm nên anh bèn nốc một hơi cạn một ly rượu lớn và xin phép từ biệt gia chủ ra về….

Ánh trăng đêm nay lúc tỏ lúc mờ nhịp theo những cành lá đong đưa đùa theo những cơn gió mát làm tâm hồn anh Năm Lâm cảm thấy vô cùng khoan khoái. Anh vừa đi vừa ngân nga hát câu vọng cổ: Từ là từ phu tướng… nghe cũng rất hay và thú vị. Khi Năm Lâm đi ngang qua bờ sông thì tự nhiên anh im bặt tiếng hát và lắng tai nghe ngóng vì hình như anh vừa nghe để tiếng nức nở của ai đó chung quanh đây. Anh dừng lại nghe ngóng một hồi rồi ngoái ngoái lỗ tai bước đi và lẩm bẩm: Có lẽ tại mình uống nhiều rượu quá nên bị ù tai chăng?

Nhưng hình như không phải vì tiếng nức nở đó lại văng vẳng lên bên tai. Năm Lâm thử đưa mắt liếc chung quanh. Lúc này tự nhiên anh bị nổi gai óc, người anh cảm thấy lành lạnh. Anh liền móc túi lấy ra điếu thuốc đem lên môi, tay run run bật cái diêm quẹt mà mất thì không ngừng liếc qua liếc lai. Một đám mây đâu đó đã đến che khuất chỗ của ánh trăng, không gian trở nên u tối mờ một. Lúc này anh trông thấy có một ánh lửa hồng chợt sáng bừng lên rồi lại từ từ nhạt dần rồi lại sáng bừng lên tạo nên một khung cảnh ma quái hão huyền…

Và kìa, một bóng trắng xuất hiện bên bờ sông với làn tóc xõa xuống tận đến chân. Anh Năm Lâm tự hỏi: Ai mà giữa đêm khuya khoắt ra ngồi đây làm gì? và tự nhiên anh nghĩ ngay đến ma.

Năm Lâm từ từ bước tới bờ sông. “Phựt!” ánh lửa hồng chợt tắt ngúm �! �úng khi! điếu thuốc trên môi anh rớt xuống đất, ấn tượng ma quái mỗi lúc một ám ảnh Năm Lâm. Tuy nhiên, anh cũng cố bước gần người áo trắng đó để tìm hiểu sự tình. Càng tới gần, Năm Lâm càng cảm thấy sờ sợ. Thế rồi cuối cùng anh toan quay đầu định bỏ chạy và thầm nghĩ trong đầu khi anh nhìn thấy chân của người áo trắng đó không hề chấm đất.

“Ma!… Trời ơi đúng là ma! Mình phải chạy khi nó chưa nhìn thấy mình!” Nhưng đã quá trễ khi bóng ma đó đã xoay người lại nhìn anh. Năm Lâm té sấp xuống và xoa xoa cái đầu còn đang nhức như búa bổ, Năm Lâm mường tượng đến bóng ma đêm qua và tự nghĩ: “Ai đã đem mình về nhà vậy…?” Không lẽ chính là người đó?… Tiếng “đinh đoong” làm Năm Lâm giật mình nhìn lên chiếc đồng hồ treo tường. Đã mười giờ đêm rồi, vậy là Năm Lâm đã ngủ suốt cả một ngày trời….

Trời lại về đêm, nhưng đêm nay thì không gian u ám hơn đêm trước. Trời không có ánh trăng vì mây đen từng cụm từng cụm đua nhau che phủ, gió lốc thì cứ từng cơn từng cơn thổi ào ào uốn cong những cành lá bên hiên nhà miết vào mái tôn nghe kêu ken két rờn rợn như ai đó nghiến răng từng chập. Ở trong nhà, dưới ánh đèn dầu le lói phất qua phất lại, Năm Lâm nằm trên phản mà mắt cứ mở thao láo. Chuyện xảy ra đêm qua còn đang ám ảnh trong đầu… Tiếng đinh đoong lại vang lên làm Năm Lâm một lần nữa đưa mắt ngó mông vào chiếc đồng hồ treo tường và lẩm bẩm: “Không biết đêm nay làm sao mà khó ngủ đến vậy? Và tiếng “đinh đoong” của chiếc đồng hồ cứ lần lượt văng vẳng vang lên tro! ng đêm ! vắng làm Năm Lâm cảm thấy sốt cả ruột….

Đã hai giờ sáng. Ngoài trời mưa đã bắt đầu lất phất, không gian bắt đầu trở lạnh, và gió thì vẫn không ngừng thổi… Trời đất! Giờ phút này mà Năm Lâm chợt thấy buồn tiểu! Vậy là anh liền khoác vào người chiếc áo mưa, mở cửa đi ra bụi chuối sau hè. Khi Năm Lâm định đi trở lại nhà thì anh nghe thấy có tiếng rên rỉ giống tiếng hồi đêm qua lại vọng đến. Năm Lâm rùng mình, đôi mắt ngó ngang ngó ngửa và chợt bắt gặp một ánh đèn pin đang lay động trong đêm tối. Thử mò mẫm đi theo ánh đèn, Năm Lâm không khó khăn gì để nhận ra đây chính là sân sau của nhà cô Chín Tước. Cánh cửa sau của nhà cô Chín Tước từ từ mở ra. Bên trong, cô Chín Tước đang ngủ say với khuôn mặt mịn màng chất phác dưới ánh đèn dầu le lói. Đột nhiên, một chiếc búa được đưa lên phía trên cái cổ trắng ngần của cô Chín Tóc, tựa như bàn tay sắc bén của Diêm vương đang tính đùa giỡn trước một người con gái sắp sửa lìa trần. Lưỡi búa từ từ bốc lên cao, cao thêm chút nữa và sắp sửa phập mạnh xuống cổ cô Chín Tước. Từ trong bóng tối, Năm Lâm nhắm nghiền mắt lại và run lên từng hối như thể anh sẽ là người lãnh nhận cái chém ấy. Song một bàn tay vô hình nào đó đã đẩy bật Năm Lâm ra ngoài. Anh liều mạng phóng tới cản lấy cán búa và lúc này thì cô Chính Tước cũng vừa tỉnh dậy la to lên. Vô tình thay, đầu cô lại chạm phải cái gì đó cùng với sự quá hoảng sợ nên cô Chín Tước cuối cùng đã té xỉu…

Lăn lộn vật vã với sức mạnh của người cầm búa, Năm Lâm càng lúc càng cảm thấy quá mệt mỏi, đu�! ��i sức! . Sau đó Năm Lâm chỉ biết rên lên một tiếng thảm thiết và té ngã nhoài xuống đất. Lưỡi búa lại một lần nữa được nhấc lên cao, cao nữa nhưng lần này không phải nhắm vào cái cồ ngọc ngà của cô Chín Tước mà là ngay ở chiếc cần cổ đen sậm đang ướt đẫm mồi hôi của anh Năm Lâm.

Năm Lâm trợn trừng hai mắt đã mất hết dũng khí nhìn vào lưỡi búa đang chực kết liễu đời mình. Lưỡi búa bén ngót vẫn vô tình giáng xuống, giáng xuống từ từ. Và khi lưỡi búa chỉ còn cách cổ Năm Lâm trong gang tấc thì bỗng nhiên nó khựng lai. Năm Lâm thoáng thấy “con ma áo trắng” đêm qua xuất hiện và đang giơ hai tay giữ lại chiếc búa. Trong lúc người cầm búa đang giằng co giật lại chiếc búa thì Năm Lâm kịp thời lăn người ra đằng sau chụp được một cây đòn gánh và ráng sức phang mạnh vào khía sau ót của người cầm búa.Trúng đòn, hắn ta ngã té xỉu. Anh Năm Lâm ngước mắt lên nói:

– Cám ơn chị Bảy Thắm đã cứu mạng!

Cũng chính đôi mắt hiền từ như hơn một năm về trước, chị Bảy Thắm quay nhìn Năm Lâm một lần nữa và từ từ biến mất. Khi này, cô Chín Tước cũng đã tỉnh lại và nhóm tuần đinh của làng đã được báo đến. Anh Năm Lâm được băng bó những vết thương. Mọi người cùng xúm nhìn kẻ gian trong tay còn giữ chặt chiếc cán búa. Hóa ra kẻ đã chặt đầu chặt Bảy Thắm hơn mười năm về trước là gã Tám Tàng. Trước áp lực của dân làng, gã Tám Tàng được chuyển lên tỉnh để điều tra và kết án.

Thế nhưng cuối cùng cũng không một ai có thể biết được nguyên do tại sao gã tám Tàng lại làm nhưng chuyện kinh tởm như vậy v�! � chỉ s! au khi bị bắt giam khoảng một tuần lễ, gã Tám Tàng đã kịp tự cắt cổ kết liễu đời mình ở nhà lao…


NGƯỜI VỀ TỪ ĐÁY MỘ

Lão Ba cố hả miệng thều thào hỏi một cách đau đớn:

– Mày đầu độc tao hả? Đúng không? Mày đầu độc tao! Đồ quỷ cái!

Bà Ba gật đầu, đáp bằng một giọng thật lạnh lùng:

– Đúng vậy! Chính tôi đã đầu độc ông. Trước sau gì thì ông cũng chết, bác sĩ đã nói như vậy, chỉ còn vấn đề thời gian. Có thể một vài tháng, có thể một vài năm, và ông hiểu rằng tôi không thể chịu đựng lâu hơn nữa. Mười lăm năm nhọc nhằn! Mười lăm năm quá nhiều điều cay đắng.

Lão Ba nghiến chặt hai hàm răng vì đau đớn nhưng cũng ráng gừ lên một tiếng chửi rủa như lão vẫn chửi rủa vợ lão mỗi ngày trong suốt mười lăm năm qua:

– Con khốn nạn! Rồi đây Trời sẽ phạt mày.

Bà Ba vẫn lạnh lùng:

– Đáng lẽ chúng ta không nên lấy nhau. Tôi không hề yêu ông và ông cũng chẳng ưa gì tôi. Ông căm hận tôi vì việc ông không lấy được con Tư cháo lòng. Còn tôi, ông cũng biết rằng tôi chỉ muốn làm vợ anh Sáu thợ hồ. Chỉ vì mấy thửa ruộng của hai nhà sát bên nhau mà cha mẹ ông và cha mẹ tôi buộc tôi phải lấy ông và ông phải lấy tôi. Tôi biết đó là một cực hình cho ông cũng như cho tôi.

Lão Ba lại vừa tiếp tục lăn lộn vừa không ngớt buông lời chửi rủa:

– Khốn nạn!

Bà Ba vẫn nói bằng giọng đều đều:

– Tôi đã có ý định đầu độc ông từ khi ông mới ngã bệnh. Bác sĩ nói tình trạng ông có thể sống lây lất thêm hàng năm nên tôi không thể nào chịu nổi. Tôi không còn muốn bị ông cứ đánh đập, ch! ửi rủa mỗi ngày nữa.

Lão Ba rên rỉ:

– Tao cầu mong rồi đây có lúc lũ quỷ mặt xanh nanh vàng tra tấn mày dưới địa ngục.

– Có thể đấy… Nhưng dù sao tôi cũng tìm được sự bình an lên cõi đời này trước đã. Còn tiếp tục chung sống với ông đâu có khác gì đang bị ác quỷ hành hạ tra tấn!

Lão Ba vặn mình đau đớn, hai bàn tay lão nắm chặt lại chịu đựng. Là một người cứng rắn và mạnh mẽ, lão cố thu hết tàn lực, quát lớn:

– Tao sẽ trở về! Trở về từ đáy mộ… Hãy chờ đó con quỷ cái!

Rồi lão còn ráng giơ một nắm tay về phía bà vợ:

– Tao sẽ chờ mày xuống địa ngục…

Nói xong lão kiệt lực, buông tay xuống, mồ hôi tháo ra như tắm, toàn thân run rẩy:

– Trời đất ơi! Đau bụng quá! Hệt như dao đang đâm vào ruột…

Đột nhiên bà Ba ngẩng đầu lên nghe ngóng. Có tiếng xe gắn máy. Bà bước vội tới bên cửa sổ, nhìn ra ngoài lẩm bẩm:

– Sao ông bác sĩ hôm nay tới sớm quá vậy kìa?

Rồi bà bước tới bên gương, nhặt lấy chiếc khăn lông nằm dưới chân giường cuộn thành bó đè cứng vào mặt cho lão Ba ngột thở. Lão Ba cố sức vùng vẫy nhưng bà Ba còn đè nguyên người mình lên tấm khăn… chân tay lão Ba giật mạnh mấy cái rồi dần dần buông xuôi… Biết lão Ba đã tắt thở, bà Ba bèn đứng lên thở phào nhẹ nhõm.

Bà ném cái khăn lông lên lưng ghế trước khi bước ra mở cửa. Bà nói với ông bác sĩ vừa bước vào bằng một giọng điệu khá lạnh lùng:

– Ông ấy đã đi rồi sau khi bị bất tỉnh giống như mấy k! ỳ bư�! �c. Tụi nhỏ đi học hết nên tôi không biết làm sao kêu thầy. Nhưng dẫu sao tôi cũng mừng khi lão ấy không còn hành hạ tôi được nữa.

Vị bác sĩ lắc đầu tỏ vẻ thông cảm.ngôi láng hẻo lánh này xem ra mọi ngươi đều biết chuyện gia đình của nhau. Ông bác sĩ già đứng nhìn thi thể của lão ba trước khi kéo cái mền phủ kín mặt lão rồi quay sang bà ba:

– Hãy ngồi nghỉ ngơi một chút đi bà Ba. Đừng lo nghĩ gì thêm nhiều, để tôi cho ông Tám Tàng trại hòm hay trước khi nói với thầy giáo cho con Hoa và thằng Đực về ngay bây giờ. Bà Ba còn muốn kêu ai nữa không?

Bà Ba lắc đầu:

– Nhờ bác sĩ nói dùm với ông tám Tàng tới đem lão ấy đi ngay giùm tôi. Bây giờ căn nhà này là của tôi. Lão đi khuất mất tôi sớm phút nào hai phút ấy. Tôi không muốn nhìn mặt lão thêm chút nào nữa.

Bà Ba nói tiếp băng một giọng đầy cay đắng:

– Suốt đời lão ấy đã làm khổ tôi. Tôi thù ghét lão từ ngày phải về với lão. Bây giờ căn nhà này là của tôi.Tôi sẽ khóa chặt căn phòng của lão ngay khi ông Tám Tàng đem lão đi. Tôi không bao giờ muốn nhìn thấy bên trong căn phòng đó nữa. Chỉ toàn là kỷ niệm đớn đau, những lời chửi rủa, hận thù. Tôi sẽ thiêu rụi căn phòng của lão nếu như căn nhà này không bị ảnh hưởng gì.

Rồi bà Ba ngồi xuống ghế ngước nhìn vị bác sĩ bằng đôi mắt lạnh lùng ráo hoảnh.

Ông bác sĩ cũng ngồi nhìn bà Ba, nói bằng một giọng dịu dàng, thông cảm:

– Có lẽ bà đã quá mệt mỏi rồi. Để tôi về lấy chai thuốc bổ mang tới cho bà.

– Tôi không cần thuốc bổ. Cái chết củ! a lão l�! � liều thuốc bổ tốt nhất đối với tôi rồi…

Ông bác sĩ già gạt ngang:

– Thôi bà à, chúng ta không nên nói xấu người quá cố nữa. Ai cũng biết ông Ba luôn đối xử với bà ra sao rồi. Thôi để tôi giúp bà đi kêu ông tám Tàng đây…

Chưa đầy nửa giờ sau, ông Tám Tàng và một thanh niên phụ việc đẩy xe ba gác mang theo một chiếc quan tài lớn tới. Bà Ba đứng ngay cửa phòng chờ cho hai người vừa khiêng lão Ba tẩm liệm xong liền nói:

– Ngày mai sẽ tiến hành hỏa táng ông ta. Nhưng tôi thề với lòng mình cũng sẽ không bao giờ đặt chân vào căn phòng này sau khi đã hỏa thiêu ông ấy cho tới khi tôi tắt thở…

Hai người đàn ông nọ cũng lắc đầu thông cảm, họ hiểu rõ cuộc sống khốn khổ nhọc nhằn của bà Ba bên ông Ba từ nhiều năm qua.

Những năm kế tiếp, bà Ba thường ngày ra đồng làm việc cùng các lực điền và dành dụm mua thêm được khá nhiều vào cái vốn đã tương đối đồ sộ của ông Ba để lại.

Nhưng cuộc sống bà vẫn lạnh lùng, không hề mở môi và không hề có bạn, hệt như lão Ba đã không hề có bạn.

Rồi hai đứa con bà cũng dần lớn lên, trưởng thành. Con Hoa lập gia đình rồi theo chồng về làng kế bên, thằng Đực lớn lên ra đồng làm việc phụ mẹ khiến bà giảm được một gánh nặng. Rồi thằng Đực lấy vợ và mang cô dâu một về ở chung với bà Ba. Rồi một lũ con nít theo nhau ra đời, cả sáu đứa hết thẩy. Nếu những tiếng cười vô tư của bầy trẻ có khiến tâm hồn bà nội chúng mềm đi một chút, bà không hề để lộ ra ngoài. Trong suốt những năm tháng dài đó, có một cái phòng, ! được ! gọi là phòng của nội, vẫn luôn luôn được khóa chặt. Cả gia đình không một ai nhắc nhở tới. Lũ trẻ tự cảm nhận thấy dường như có một cái gì mà chúng cho là rất kinh khủng đang ở bên trong nên một lúc phải đi ngang căn phòng ấy, chúng vẫn cố tình đi thật nhanh, và khi bóng tối bao phủ căn nhà, ánh đèn dầu lung linh tạo nên những hình nhân lắc lư rung động trên tường chúng cũng không bao giờ dám bước tới gần căn phòng của nội. Dĩ nhiên đầu óc trẻ thơ của chúng luôn tưởng tượng ra thật nhiều điều…

Rồi một năm châu chấu xuất hiện tràn lan phá hoại mùa màng. Và năm sau đó trời hạn hán khiến giá thóc gia tăng trong khi lương bổng bị cắt giảm. Nhiều chủ điền buộc phải cho thợ nghỉ việc. Gia đình cô Hoa là một trong những nạn nhân đầu tiên. Mùa màng thất bát, chồng đau ốm rồi một đứa con nhỏ chào đời. Vợ chồng cô Hoa liền bồng con về xin bà Ba cho ở chung. Tuy vẫn lạnh lùng như thường lệ, nhưng bà Ba vẫn quyết định nhường cho vợ chồng hoa một phòng. Lại tới phiên người anh vợ của Đực cũng bị chủ điền cho nghỉ việc. Không có công ăn việc làm, không tiền trả tiền mướn, anh ta cầu cứu vợ Đực. Nàng dâu bèn thưa chuyện với mẹ chồng. Bà Ba, lúc này đã già, nói với con dâu bằng một giọng cương quyết trong bữa ăn chiều:

– Thêm bốn miệng ăn nữa cũng chẳng sao. Má đồng ý cho tụi nó tới đây, nhưng… không biết phải cho tụi nó ngủ ở đâu?

Cô Hoa liếc nhìn anh Đực trước khi ngập ngừng nói lên cái ý nghĩ của tất cả mọi người:

– Căn phòng của nội. Mình có nên mở cửa phòng cho thoáng khí trước kh! i cho m�! �y người họ dọn vào ở đó được không má?

Bầu không khí đột nhiên yên lặng, nặng nề. Bà Ba liếc nhìn đứa con gái trước khi lần lượt nhìn vào mặt từng người, đoạn gàn giọng:

– Má đã thề sẽ không bao giờ bước chân vào phòng đó cho tới ngày má nhắm mắt.

Cô Hoa thu hết can đảm:

– Nhưng má cũng đâu có cần bước vào đó làm gì. Nhà mình chật quá đâu còn chỗ nào khác nữa đâu má?

Bà Ba đặt đôi đũa xuống bàn nói thật chậm rãi:

– Nếu có ai ngủ trong phòng đó, người đó phải là má. Má đã ở với cha tụi bây mười lăm năm trời, mười lăm năm trời đầy đắng cay thù hận. Cha tới bây ghét má hơn má thù ghét ông ấy. Căn phòng đó đầy những sự thù ghét và sau mấy chục năm trời đóng kín, những sự thù ghét đó hiện đang sôi sục chỉ chờ cửa mở là tràn ra phủ ngập căn nhà nào. Nhưng cũng không sao đâu! Má sẽ dọn vào đó…

Cô Hoa nói bằng một giọng đầy hối hận.

– Má ơi! Phải chi con đừng đưa ra đề nghị đó. Con biết là có một cái gì giữa ba và má nằm trong căn phòng đó nhưng con không biết…

Bà Ba ngắt lời đứa con gái:

– Một cái gì đó mà con nói đó chính là sự thù ghét giữa má và ông ấy. Nhưng má nói rồi. Cũng chẳng sao đâu! Má giờ đã già rồi, hơn bảy mươi rồi. Chục má cũng chẳng còn sống được bao nhiêu lâu nữa đâu…

Bà ngưng lai, đôi mắt già mỏi mệt nhìn thật xa xôi:

– Có thể đây là sự tiền định! Trước khi chết ông ấy đã nói rằng ông ấy sẽ chờ má… Có thể lắm… Ai biết được!

Rồi ! bà Ba đ! ứng lên:

– Má sẽ cho mở cửa phòng vào sáng ngày mai. Dứt lời, bà mím chặt đôi môi, bước lên cầu thang về phòng ngủ trên lầu. Bước vào phòng, bà Ba đóng sầm cửa lại, ngồi yên lặng trên cái ghế nhỏ bên giường, đôi mắt mệt mỏi nhìn vào hư không trong khi cuốn phim dĩ vãng hiện lên thật rõ. Bây giờ, bà đang bị thúc giục mạnh mẽ bởi một ước muốn mà bà vẫn chôn chặt trong lòng từ gần một nửa thế kỷ, ước muốn của tất cả những kẻ sát nhân muốn nhìn lại hiện tượng. Ước muốn ấy đã tới với bà hàng ngàn lần trước đó nhưng lần này bà cũng nén lòng được. Bây giờ, chỉ còn có mấy tiếng đồng hồ nữa căn phòng kia sẽ được mở ra, ước muốn lại trở về, mãnh liệt hơn bao giờ hết, căn phòng đóng kín kia đang réo gọi bà. Trong óc bà, một tiếng nói vô cùng mạnh mẽ vang lên: Bây giờ! Bây giờ! Tiếng nói này rất quen thuộc với bà vì đó là tiếng nói của chính ông Ba, người bà thù ghét, người mà bà đã đang tâm giết chết.

Bà Ba lặng lẽ đứng dậy, bước tới tủ áo, ngồi xuống mò dưới đáy tủ lấy chiếc chìa khóa mà bà đã giấu kín hàng mấy chục năm trời. Rồi bà trở lại ngồi trên ghế lắng nghe những tiếng chân lần lượt về phòng. Một lúc sau, căn nhà tối om đã hoàn toàn yên tĩnh. Bà Ba đứng dậy hé cửa nhìn ta dãy hành lang. Tất cả đều ngủ yên. Bà bèn trở vào phòng cầm cây đèn dầu, mở cửa thật nhẹ rồi rón rén bước xuống cầu thang.

Ngoài trời không khí bỗng nhiên trở nên nặng nề đường như muốn bão. Bà nghe tiếng gió rít qua những cành cây. Có cái gì tương tự như tiếng gió than van ngoài đêm tối? Bà Ba dừng l! ại, ngh! iêng tai lắng nghe và đột nhiên ký ức trở về thật rõ. Bà lẩm bẩm:

– Giống y như cái đêm trước khi lão ấy chết.

Tim bà đập mạnh hơn khi đứng trước cánh cửa đen ngòm, lạnh lùng của căn phòng chứa đầy thù hận. Sau một thoáng ngập ngừng, bà chuyển cây đèn sang tay trái tay phải lấy chìa khóa đút vào ổ khóa… bà vặn nhẹ… Chiếc ổ khóa không chuyển động. Bà vặn mạnh tay hơn… Cạch một tiếng ổ khóa bật ra. Bà đứng yên một lát, bàn tay đặt trên nắm cửa. Tự nhiên bà run lên vì lý do gì không rõ. Bà lẩm bẩm một mình:

– Lão ấy đã nói là lão sẽ trở về từ đáy mồ… Chắc là lão ấy sẽ chờ…

Bà vặn nắm cửa, đẩy mạnh… Cái bản lề cũ kêu rít lên phản đối trước khi cánh cửa mở bung ra. Một làn sóng hận thù từ trong phòng tràn ra phủ kín người bà. Bà chậm chạp bước vào, đôi môi mím chặt. Giơ cao ngọn đèn dầu, bà quan sát mọi vật trong phòng. Đó chính là cái giường với tấm khăn trải giường nhăn nheo, nơi ông Ba đã trút hơi thở cuối cùng hay không thể là hơi thở cuối cùng? Đó là cái gối mà ông Ba từng gối đầu trước khi nhắm mắt. Mọi vật không hề thay đổi. Bà Ba thoáng nhớ ông cả vị bác sĩ lẫn ông Tám Tàng, những người cuối cùng đặt chân vào căn phòng này bây giờ đây đều đã ra người thiên cổ. Kế bên đầu giường là một chiếc bàn nhỏ nơi vẫn còn cái ly mà bà pha thuốc độc cho ông Ba uống. Bà Ba lẩm bẩm:

– Lão ấy đã nói là lão sẽ chờ mình…

Căn phòng thật ẩm thấp và bụi bặm. Bà Ba khép cửa lại, đặt ngọn đèn dầu lên cái bàn nhỏ bên cạnh cái l! y rồi b! ước tới bên cửa sổ, mở toang cánh cửa.

Một ngọn gió từ bên ngoài lùa vào, rít lên… ngọn đèn chợt lung linh vì gió tạo nên những bóng đen quái đản nhảy múa trên tường. Trên lưng ghế, chiếc khăn lông mà bà dùng đè cho ông Ba chết ngợp nay đã trở thành vàng khè, tuy bà vẫn nhìn thấy thật rõ một đốm đen ở chính giữa, đốm đen mà bà biết ấy chính là những giọt nước dãi cuối cùng của ông Ba. Bà bước tới giữa phòng, đôi mắt vẫn không rời khỏi đốm đen trên chiếc khăn lông. Rồi bà lặp đi lặp lại:

– Lão ấy đã nói là lão sẽ trở về từ đáy mồ… lão sẽ chờ mình…

Đột nhiên một cơn gió mạnh thổi vào qua khung cửa sổ. Ngọn đèn chao lên trước khi tắt ngấm. Bóng tối bất ngờ khiến bà Ba hoảng hốt. Lần đầu tiên trong đời bà biết sợ hãi! Bà liếc về cái giường, và chợt nhận thấy dường như có một người nào đó đang nằm, mặt quay về phía bà đưa tay vẫy vẫy. Bà run rẩy bước lui trước khi té ngồi xuồng ghế. Một cơn gió mạnh thổi chiếc khăn lông như một con bạch tuộc với những cái vòi gớm ghiếc đang siết mạnh quanh cổ bà. Bà đưa hai tay lên cố kéo mạnh chiếc khăn lông ra trong khi bên tai bà, tiếng ông Ba vang lên mồn một: “Tao sẽ trở về từ đáy mồ… Tao chờ mày…”

Sáng sớm hôm sau, người ta thấy bà ba nằm chết cứng đờ trong căn phòng của nội. Quanh cổ bà là chiếc khăn lông vàng khè, y như chiếc vòi bạch tuộc!


CHIẾC XE TRỞ CHỨNG

Tuấn khởi động cách nào nó cũng không chịu nổ máy. Anh xem đồng hồ, hơn sáu giờ chiều. Bực bội, Tuấn đóng cửa nhà xe, xách cặp ra ngoài đón taxi.

Đây là lần thứ ba chiếc xe bị như vậy. Hai lần trước Tuấn cũng có hẹn vào khoảng giờ này và cũng không khởi động được chiếc xe. Sáng hôm sau khi chuẩn bị đi làm, chiếc xe lại nổ máy và chạy bình thường.

Lần thứ hai, anh đã điện thoại cho người chủ ga ra, cũng là bạn anh, nhờ xem lại. Sau khi kiểm tra,chiếc xe được xác nhận là bình thường, thậm chí còn ở trạng thái hoàn hảo nữa là khác. Mà cũng lạ, chỉ có trên dưới khoảng sáu giờ chiều thì chiếc xe mới không nổ. Còn lúc khác thì không sao cả.

Có lẽ thợ sửa xe chưa tìm được bệnh. Triệu chứng này chỉ mới xảy ra trong thời gian gần đây, sau lần Tuấn đưa xe nhờ ga ra theo dõi và chăm sóc chiếc xe hôm cuối tuần.

Trong lúc chờ taxi, Tuấn lại điện cho ông bạn sửa xe:

– Nó lại chứng nữa rồi ông ơi! Tôi làm cách nào nó cũng không chịu nổ máy. Ừ. Đích thân ông coi kỹ lại dùm!

Tối hôm đó, sau khi quan hệ với khách hàng xong, Tuấn về đến nhà thì đã hơn mười một giờ đêm. Tuấn mở cửa rào vào nhà. Anh thấy chiếc xe nằm ngoài sân. Có lẽ ông bạn đã đến sửa và để xe ở đây. Anh mở cửa đề máy và đưa xe vào nhà xe, khóa cẩn thận.

Sáng hôm sau, trong Lúc điểm tâm, Tuấn hỏi vợ:

– Hồi tối anh Khải lại sửa xe cho anh hả?

– Đâu có đâu anh.

– Vậy sao chiếc xe nằm ngoài sân?

– Vậy hả! , em đâu có biết.

– Kỳ vậy. Hồi anh đi, anh đề máy xe không nổ, anh phải đi bằng taxi. Đến chừng về, anh thấy xe đậu ngoài sân. Anh phải đưa xe vô nhà xe mà.

– Đâu có ai chạy xe đâu. Nếu anh Khải tới sửa thì phải kêu em mở khóa nhà, rồi mở cửa nhà xe chớ.

Tuấn điện thoại cho Khải:

– A lô, chừng nào ông mới tới coi xe giùm tôi?

Đầu kia có giọng trả lời vừa mệt mỏi và như ngáy ngủ:

– Xin lỗi Tuấn. Mình chưa tới được. Chiều hôm qua mình có khách nên xỉn quá. Giờ này dậy còn chưa nổi đây. Mà mình thấy xe ông có vấn đề gì đâu. Thông cảm nghe, chiều nay mình tới.

– Vậy thì ai đưa xe ra sân? Không lẽ trộm.

Là một nhà kinh doanh, chuyện xe cộ đối với Tuấn hết sức quan trọng, xe phải tốt để bảo đảm giờ hẹn. Chiếc xe còn thể hiện phong cách làm việc của chủ nhân. Chiếc xe nay hư, mai hỏng vừa làm người đi bực mình, vừa làm xấu đi hình ảnh trước đối tác.

Ý thức như vậy, Tuấn mới mua chiếc xe đắt tiền này và luôn bảo trì cẩn thận. Mỗi tháng anh đều giao cho Khải kiểm tra một lần. Nhờ vậy, từ trước đến nay anh luôn hài lòng với nó. Hơn nữa, anh không mướn tài xế, anh luôn tự lái mỗi khi đi đâu.Trong nhà chỉ có vợ anh, hai con nhỏ và bà mẹ. Tất cả đều không biết lái xe. Nếu anh có thì giờ, anh sẽ đưa họ đi khi cần, còn không thì cả nhà đi taxi.

Tại sao xe anh có lúc nổ máy, lúc không? Tại sao tối hôm qua chiếc xe anh lại đậu ở sân? Tạm thời anh chưa trả lời được câu hỏi nào cả.

Tuấn mở cửa xe. Bước vào. Đút chìa khóa công tắc.! Đề m�! �y. Chiếc xe nổ máy với âm thanh êm ái một cách vừa ý. Anh hôn vợ và dặn:

– Đóng cửa giùm anh nghen.

Chiếc xe nhẹ nhàng ra đường hòa vào dòng xe cộ đang hối hả của thành phố chuyển mình.

Chiều hôm đó, khi Tuấn đang sắp xếp chuẩn bị về thì có điện thoại của vợ anh:

– Anh Khải tới coi xe cho anh, em trả lời sao đây?

– OK. Em nói anh Khải đợi anh, anh về tới liền.

Khi Tuấn về đến nhà Khải mở cổng. Anh lái một đường cong nhẹ để đưa xe đậu ở thềm. Khải ra dấu bảo Tuấn đừng tắt máy. Khải ép sát tai vào ca-pô. Thang máy nổ chậm đều và rất ngọt. Khải nhắm mắt, chăm chú lắng nghe. Tuyệt đối không có một âm thanh lạ, dù rất nhỏ. Khải lại giở ca-pô, nhìn thật kỹ và nghe thật kỹ.

– Không có gì hết. Tất cả đều hoàn hảo.

Tuấn yên tâm khi nghe bạn nói. Tuấn và Khải là bạn học chung thời trung học. Hai người chơi với nhau khá thân. Lên đại học, Khải chọn ngành kỹ thuật, tốt nghiệp kỹ sư cơ khí, Khải tiếp quản cơ sở sửa chữa xe hơi của cha. Với tay nghề kinh nghiệm gia truyền cộng với kiến thức khoa học kỹ thuật của Khải, cơ sở sửa xe ngày một phát triển và rất uy tín của thành phố này.

Còn Tuấn thì lao vào kinh doanh và cũng là một doanh nhân tương đối thành đạt. Mặc dù hiện nay do điều kiện công việc họ không còn cặp đôi như xưa nữa, nhưng tình cảm thân thiết vẫn không hề sứt mẻ tí nào.

Mỗi khi người nào cần thì chỉ cần ới một tiếng, người kia có mặt ngay. Ngay cả khi đi mua chiếc xe này Khải cũng đích thân đi và chọn lựa.

Tuấn ! tắt má! y, mở cửa bước xuống. Khải lên xe khởi động. Chiếc xe nổ máy êm như tu. Khải đánh nhẹ tay lái đưa xe vào nhà xe.

– Em cho anh món gì ngon ngon để anh với anh Khải lai rai một chút.

Tuấn đưa Khải lên lan can tầng một. Nơi đó có cái bàn nhỏ rất hữu tình được thiết kế dành riêng cho các cuộc hội ngộ bạn bè chí cốt.

Cũng như những người bạn khác, lâu lâu mới có dịp thư thả ngồi với nhau, hai người thăm hỏi gia đình, vợ con. Kế đó là trao đổi cho nhau những tin tức về sự thành công hay thất bại của những người bạn chung.

Khi vợ Tuấn mang đĩa thức ăn, đột ngột Khải đổi đề tài:

– Ông nói chiếc xe thường khởi động không được trong khoảng thời gian nào?

Vừa khui chai rượu, Tuấn vừa trả lời:

– Tôi thấy là khoảng sáu tới bảy giờ. Những lúc có chuyện đi trong giờ này thì y thường…

– Hay là bà chủ xe không muốn ông đi giờ đó?

Vợ Tuấn cười:

– Không có đâu anh. Em đâu có biết gì về xe cộ.

– Đùa thôi. Thế này thì lạ thật.

Họ nâng ly. Chất rượu màu mật ong sóng sánh. Thời gian chầm chậm trôi qua. Lâu sau, bất ngờ Khải hỏi:

– Mấy giờ rồi?

– Sáu giờ hai mươi.

– Mình xuống thử xe.

Hai người xuống nhà để xe, mở cửa, lao lên xe, khởi động máy. Chỉ có tiếng khởi động. Máy xe không nổ. Khải kiểm tra thật kỹ, xem máy, thử điện, thử lửa, thử xăng tất cả điều tốt.

– Kỳ à nghen.

Khải trầm ngâm nhìn chiếc xe một lúc, bất ngờ nói:

– Thôi mình lê! n nhậu ! tiếp.

Hai người lạ tiếp tục uống lai rai. Bảy giờ mười phút. Họ trở xuống nhà xe. Chiếc xe khởi động ngọt ngào như chưa bao giờ trở chứng. Khải lắc đầu, nhún vai, cười và từ giã bạn ra về.

Tuấn hoàn toàn không thể tưởng tượng được khi sáng hôm sau anh xuống nhà đi làm thi chiếc xe đã đậu ở ngoài sân, thay vì trong nhà xe. Chiếc xe đậu bên thềm. Cái dáng đậu đó chưa phải là vị trí của chiếc xe sắp ra cổng.

– Chuyện gì đã xảy ra? Tuấn không thể nào dự đoán được một điều gì. Trong đầu anh có biết bao nhiêu nghi hoặc, thắc mắc mà không hề giải thích nổi.

Cuối cùng thì Tuấn cũng có được một kế hoạch.

Chiều hôm đó, anh mắc dây đặt chiếc Camera trên lan can lầu một hướng xuống sân. Tối đến anh cố thức thật khuya quan sát nhưng không có chuyện gì xảy ra. Anh đi ngủ sau khi bật camera.

Sáng hôm sau chiếc xe đậu sẵn ở sân. Tuấn vào phòng mở đoạn phim thu được. Trong bóng tối, không một bóng người, hình ảnh chiếc xe mờ mờ di chuyển tới sân. Anh thấy dường như trên nắp xe có một bóng trắng mờ mờ hình người nằm trên đó. Anh tua đi qua lại nhìn thật kỹ và xác định đúng như vậy.

Tuấn chạy xuống nhìn vào nắp xe. Không thấy có gì lạ.

Hôm sau Tuấn thay đổi vị trí lắp camera. Chiếc máy được lắp sát vào chậu cây cảnh dưới sân. Từ vị trí này góc nhìn của máy rất rộng, có thể thấy từ cửa nhà để xe đến sân. Chiếc camera này là loại mới, có thể nhìn thấy rõ hình ảnh trong đêm tối mà anh mới mượn được của người bạn trưa nay.

Đến hơn mười một giờ tuấn đi ng�! �� và m�! �� máy quay. Thức dậy, việc đầu tiên là Tuấn chạy ra lan can nhìn xuống. Chiếc xe đã đậu ở sân. Anh xuống chỗ đặt máy quay lấy phim thu được. Hình ảnh lần này khá rõ. Cái khóa nhà xe tự mở, hai cánh cửa sắt bung rộng ra, chiếc xe không người lái di chuyển từ từ. Không phải, nói đúng hơn là chiếc xe đang trôi chầm chậm. Đầu tiên là nó lùi ra khỏi nhà xe để trở đầu, qua một khúc cua dễ dàng và đến đậu trước sân. Trong xe không có người lái.

Quan trọng hơn là trên nắp xe có người. Hình ảnh cho thấy một người đang nằm trên nắp xe. Xem lại nhiều lần, Tuấn thấy rõ đó là thân một người con gái, nằm bất động và có cả máu. Cô gái mặc bộ quần áo trắng, mái tóc dài bện máu. Máu trên nắp xe, máu dính vào cản xe. Anh thấy rõ máu còn nhểu từng giọt trên khuôn mặt người con gái tội nghiệp.

Toát mồ hôi Tuấn điện thoại cho Khải. Khải đi sửa xe cho người quen tỉnh. Khải hẹn tối nay gặp. Tối hôm đó vào khoảng bảy giờ rưỡi, Tuấn lái xe đến nhà Khải.

Đây là con đường khá tối trong thành phố, đèn đường rất thưa và có cái hư, nên hai bên đường tối và đường vắng. Đèn đỏ, Tuôn ngừng xe. Bất ngờ anh ngước lên kính chiếu hậu. Cái gì vậy? Một người con gái ngồi nép băng sau xe anh. Đó lại đúng là cô gái mà anh nhìn thấy trong phim thu được. Cô gái mặc bộ quần áo trắng, mái tóc dài bị bện máu. Có cả những giọt máu.

Anh cảm thấy ớn lạnh. Mồ hôi tuôn trơn ướt hai bàn tay đang cầm vô lăng. Anh phải hết sức mình để giữ bình tĩnh.

Bất thần anh quay lai nhìn phía sau. Không có gì cả. Anh nhìn lại kính chiếu hậu, cô g�! �i vẫn ! còn ngồi đó. Thật tình thì anh định mở cửa xe bỏ chạy.

Có tiếng còi xe phía sau. Đèn đã chuyển sang xanh. Tuấn tăng ga cho xe chạy chầm chậm và nhìn lên kiếng chiếu hậu. Hình ảnh cô gái đã biến mất.

Vượt qua một ngã tư nữa, anh từ từ tấp xe vào lề trước nhà Khải. Đây lại là đoạn đường tối.

Trời ơi, trong ánh đèn pha cô gái lại hiện ra trước mắt Tuấn. Vẫn bộ quần áo trắng. Vẫn mái tóc dài bay thấp thoáng còn bện máu.

Nghe tiếng xe ngừng, biết anh tới, Khải mở cửa nhà. Cô gái biến mất.

° ° °

Vợ chồng Khải im lặng khi nghe Tuấn kể câu chuyện. Từ việc anh quay phim đến việc anh thấy người con gái ma trong xe, trong ánh đèn pha. Nhưng không hiểu sao cả hai đoạn phim đều không chiếu được trên máy nhà Khải.

Vợ Khải có vẻ sợ. Khải trầm ngâm hút thuốc.

Sau một lúc suy nghĩ đầy căng thẳng, Khải đứng dậy vào phòng. Khi trở ra anh cầm theo một tờ báo. Mở trang cuối, Khải chỉ cho anh một cột báo có đóng khung.

Tuấn đọc. Đó là thông báo truy tìm chủ xe và người lái xe gây tai nạn. Chiếc xe màu xanh lợt, có hai số sau là 09, gây tai nạn làm chết một cô gái rồi bỏ chạy vào tối thứ bảy tuần rồi…

Tuấn chợt hiểu ra:

– Là xe anh.

Khải nói, giọng trầm và chậm rãi:

– Tôi vừa mới đọc được chiều nay. Tối thứ bảy vợ chồng tôi đi Vũng Tàu. Cơ sở nghỉ. Chỉ có một thằng thợ trực ở tiệm.

Khải quay qua bảo vợ:

– Em kêu thằng Thành qua cho anh.

Ít phút sau vợ Khải và anh thợ sửa xe Thành bước vào. Không khí im lặng và căng thẳng, cái nhìn của ông chủ cơ sở và ông chủ xe quen thuộc, Thành ngơ ngác như mất hồn một chút rồi ngã bệt dưới đất:

– Em lỡ… Tối thứ bảy, em lén lấy xe đi uống cà phê rồi lỡ…

Thành khóc như mưa…

HẾT


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét