Chủ Nhật, 15 tháng 9, 2013

LichSuCacGiaoHoang.html

LichSuCacGiaoHoang.html

LỊCH SỬ CÁC GIÁO HOÀNG

Các Giáo Hoàng

Tác giả: Cựu Nữ Tu Ca-Tô Mary Ann Collins, Trần Chung Ngọc dịch

ĐÂY !! NHỮNG 'ĐỨC THÁNH CHA' ĐẠI DIỆN CỦA CHÚA KI-TÔ

Trần Chung Ngọc

 Phần phụ lục :THÂM CUNG BÍ SỬ

Trần văn Kha

Chương 10: Các Giáo Hoàng. 1

UNMASKING CATHOLICISM.. 6

Unmasking Catholicism10

NUMBERED NOTES: 13

Vài Lời Nói Đầu: 15

Những Dối Trá và Huyền Thoại Của Thánh Kinh. 20

Các Triều Đại Giáo Hoàng Do Điếm Trị: [Papal Pornocracy] 25

Cô Gái Điếm Xinh Đẹp. 26

Nhưng cái gì gọi là "hội thánh"?. 31

Tài Liệu Tham Khảo.- 32

THÂM CUNG BÍ SỬ.. 33

Tác phẩm CUỐN THEO CHIỀU GIÓ Ở VATICAN.. 37

SÁCH: “LỘT MẶT NẠ CA-TÔ GIÁO”

[Unmasking Catholicism] Chapter 10: The Popes

Tác giả: Cựu Nữ Tu Ca-Tô Mary Ann Collins, Trần Chung Ngọc dịch

 

 13 tháng 12, 2007

Chương 10: Các Giáo Hoàng

 

Vài Lời Nói Đầu: Trước đây tôi đã viết một bài nhan đề "ĐÂY !! NHỮNG 'ĐỨC THÁNH CHA' ĐẠI DIỆN CỦA CHÚA KI-TÔ TRÊN TRẦN VÀ LÀ CHỦ CHĂN CỦA GIÁO HỘI CA-TÔ "THIÊN KHẢI, DUY NHẤT, THÁNH THIỆN, TÔNG TRUYỀN”" mà theo Tiến Sĩ Arthur Frederick Ide, là những người “tự cho là không thể sai lầm, là nhất hạng, là tối cao, có quyền giữ trong tay những chìa khóa mở cửa thiên đường nhưng lịch sử đã chứng tỏ thực sự chỉ mở những cánh cửa vào nhục dục, trụy lạc, và bạo lực.” [Who claims to be infallible, primary, and supreme, having the power to the keys to the kingdom of heaven which hictory shows actually open the doors of sex, vice, and violence.]

Trong bài trên, tôi chỉ lược qua một số nhỏ các giáo hoàng đồi bại trong lịch sử của Giáo Hội Ca-Tô Rô-ma. Và trong đoạn kết tôi đã viết như sau:

“Chúng ta thấy rằng, những tín đồ Ca Tô giáo quả là đáng thương vì bị đưa vào một cấu trúc quyền lực giả tạo mà họ tin rằng đó là một “hội thánh”.. Chúng ta không thể và không nên trách họ. Đầu óc họ bị nhào nặn từ khi mới sinh ra đời và có thể khả năng hiểu biết của họ không cho phép họ biết rằng mình đã bị lừa dối bởi những lời nói láo vĩ đại. Vì đã được nhào nặn trong một khuôn đúc đức tin không cần biết không cần hiểu cho nên họ không thể tin được và không thể chấp nhận những gì không phù hợp với đức tin của họ, bất kể là những điều này đúng với sự thật như thế nào. Điều duy nhất mà chúng ta có thể làm được ngày nay là giúp họ hiểu rõ thêm về chính tôn giáo của họ được chừng nào hay chừng ấy. Vấn đề chính là chỉ có chính họ mới giúp được họ mà thôi. Điều này tùy thuộc nhiều vào căn trí của mỗi người.”

Vấn nạn của các tín đồ Ca-Tô Việt Nam là đối với giáo hoàng, họ vẫn tiếp tục xưng tụng là “Đức Thánh Cha" trong khi thực sự cái nhãn hiệu “Holy Father” chỉ là tự phong, không có gì là thánh thiện trong đó. Khoan kể đến một số không nhỏ giáo hoàng cực kỳ đồi bại trong quá khứ, và ngày nay, các giáo hoàng như John Paul II hay Benedict XVI cũng không có gì có thể gọi là thánh thiện cả.

Gần đây, Giáo hoàng Benedict XVI còn viết một câu rất láo lếu, hỗn xược trong Thông Điệp “SPE SALVI ” [Chúng ta được cứu rỗi trong hy vọng] để nhồi sọ tín đồ như sau: “Dù có bao nhiêu thần minh đi nữa, họ sống "không có Thiên Chúa” và hệ quả là họ thấy mình sống trong một thế giới tối tăm, đối diện với tương lai mịt mù.” Câu huênh hoang trơ tráo này xúc phạm đến hơn 2/3 trên tổng số hơn 6 tỷ người trên thế giới, không tin và không cần biết đến "Thiên Chúa” của ông Benedict XVI. Trong số này có không biết bao nhiêu là danh nhân trí thức, khoa học gia v..v.. của nhân loại mà, với bản chất vô đạo đức và kiến thức hẹp hòi, bắt nguồn từ một nền thần học đã lỗi thời, Benedict XVI không đáng là học trò của họ.. Thật vậy, làm sao mà ông Benedict XVI dám khẳng định là nếu sống không có Thiên Chúa thì họ thấy mình sống trong một thế giới tối tăm?? Ông ngồi trong đầu óc của hơn 4 tỷ người trên thế giới hay sao? Viết đần độn như vậy mà cũng lên được chức giáo hoàng, làm đại diện của Chúa trên trần, và được những kẻ có đầu mà không có óc gọi là “đức thánh cha". Giáo hoàng mà còn như vậy thì con chiên thế nào? Chẳng cần nói ai cũng biết. Rất có thể có người cho rằng đó là quyền tự do phát biểu ý kiến. Nhưng một ý kiến ngu đần thì vẫn là ! một ý kiến ngu đần, và nếu xúc phạm đến người khác thì vẫn là xúc phạm, phải lên án, bất kể người phát biểu là ai. Chúng tôi, những người ngoại đạo, yêu cầu ông Benedict XVI hãy rút lại câu viết trên và xin lỗi trước thế giới hơn 4 tỷ người đang sống không cần đến Thiên Chúa của ông.

Đọc thông điệp Spe Salvi chúng ta thấy Benedict XVI không làm gì hơn là, đúng như nhận xét của Trung Quốc trước đây, “chơi lại những bản nhạc thần học cũ rích”, những bản nhạc đã không còn chỗ đứng trong sự tiến hóa trí thức của nhân loại, chẳng còn ai muốn nghe trừ đám con chiên ít có đầu óc. Thật vậy, ông ta vẫn tiếp tục nhồi sọ tín đồ qua câu sau đây: “Đức tin là cốt tủy của những điều ta hy vọng, là bằng chứng cho những điều ta không thấy". Phải chăng ông ta vẫn còn muốn nhốt tín đồ vào trong câu “Phúc cho những ai không thấy mà tin” trong Tân ước. Cho nên, thông điệp Spe Salvi của Benedict XVI không đáng để cho tôi phê bình vì trong đó đầy rẫy những luận điệu thần học ngu dân cũ kỹ như "cứu rỗi", "cứu chuộc" v..v…, những cái bánh vẽ trên trời không ai biết, ai thấy, mà chính Giáo hoàng John Paul II đã bác bỏ qua những lời tuyên bố công nhận thuyết Big Bang về nguồn gốc vũ trụ, thuyết Tiến Hóa về nguồn gốc loài người, và phủ nhận sự hiện hữu của Thiên đường và Hỏa ngục của Ki Tô Giáo.

Nhưng vấn đề là, viết lên câu huênh hoang trịch thượng nhưng khá đần độn như trên, ông ta đã để lộ tư cách không biết đến liêm sỉ của mình, nếu ông ấy còn có chút liêm sỉ nào đó. Tại sao? Bởi vì ông ta đã quên những lời của chính ông về Thiên Chúa của ông ta trong thế giới Tây phương như sau:

- Những tôn giáo chủ đạo ở Tây Phương [Ki Tô Giáo] có vẻ đang chết dần vì các xã hội càng ngày càng trở nên thế tục và không còn cần đến Thiên Chúa nữa. 

(ROME (Reuters, July 27, 2005) – Mainstream churches in the West appear to be dying as societies that are increasingly secular see less need for God, Pope Benedict said in comments published on Wednesday.)

- “Thật là khác lạ trong thế giới Tây Phương, một thế giới mệt nhọc với chính văn hoá của mình, một thế giới mà con người càng ngày càng tỏ ra không cần đến Thiên Chúa, mà cũng chẳng cần gì đến Chúa Giêsu nữa.  Những Giáo Hội gọi là ‘truyền thống’ xem ra như đang chết dần."

(It is different in the Western world, a world which is tired of its own culture, a world which is at the point where there's no longer evidence for a need of God, even less of Christ,” he told a meeting of clergy in the Italian Alps.

   “The so-called traditional churches look like they are dying,” he said, according to a text published by Vatican daily L'osservatore Romano.)

Than phiền như vậy, ông ấy phải hiểu tại sao Tây phương lại “không cần đến Thiên Chúa nữa và cũng chẳng cần gì đến Giê-su nữa.” Sự thật là, Sống “không có Thiên Chúa” chứng tỏ là người Tây phương đã thực sự bước ra khỏi một thế giới tối tăm của Ki Tô Giáo nói chung, Ca-Tô Giáo Rô-ma nói riêng, chứ không phải là họ thấy mình sống trong một thế giới tối tăm, đối diện với tương lai mịt mù như ông giáo hoàng tào lao viết láo như trên.. Là giáo hoàng có mấy bằng tiến sĩ thần học, tất nhiên ông phải biết một sự kiện lịch sử của Ca-Tô Giáo Rô-ma qua nhận định sau đây của Richard Lederer:

Có một thời mà mọi người [ở Âu Châu] tin vào Thiên Chúa và Giáo hội [Ca-Tô] trị vì. Thời đại này được gọi là “Thời đại tối tăm".

[There once a time when all people [in Europe] believe in God and the [Catholic] Church ruled. This time was called the Dark Ages.]

“The dark ages”, Thời đại tối tăm, là thời đại 1000 năm mà người dân Âu Châu phải sống trong gọng kìm quyền lực của Công Giáo Giáo Rô-ma, của tập đoàn “Sống có đầy tràn Thiên Chúa”. Trong thời đại này, Âu Châu đã phải gánh chịu những tội ác vô tiền khoáng hậu của Ca Tô Giáo Rô Ma như các cuộc Thập Ác Chinh, Những Tòa Hình Án Xử Dị Giáo, Những cuộc Săn Lùng, Tra Tấn Và Thiêu Sống Phù Thủy v..v.. Ai có thể phủ nhận những sự kiện lịch sử này, xin mời lên tiếng.

Trong cuốn Missionaries, một cuốn sách nghiên cứu về những thành quả truyền giáo của Ki Tô Giáo trên khắp thế giới, đi kèm với một chương trình TV 6 kỳ của đài BBC, có một nhận định có thể cho chúng ta rõ thực chất của cái gọi là “sống có Thiên Chúa” là như thế nào:

“Đòi hỏi những người Âu Châu tin vào thế giới của Thiên Chúa và Satan có vẻ như là đòi hỏi họ phải từ bỏ sự thông minh của chính mình. (Asking the Europeans to believe in a world of God and Satan, seems to be asking them to deny their own intelligence.)

Từ bỏ sự thông minh của chính mình có nghĩa là tiếp tục sống trong sự tối tăm. Ý thức được như vậy cho nên người dân Âu Châu ngày nay đang dần dần lấy lại sự thông minh của mình bằng cách ra khỏi sự tối tăm của một đức tin mù quáng mà giáo hoàng cho là “bằng chứng cho những điều ta không thấy". Và đó là điều mà ông Benedict XVI đã phải than phiền nhiều lần, vì giáo hoàng muốn tiếp tục nhốt họ trong sự tối tăm của cái ngục tù tâm linh của Ca-Tô Giáo Rô-ma.

Tiến sĩ Madalyn O'Hair đã từng phê bình giáo hoàng John Paul II như sau:

“Những phương tiện truyền thông trong các xứ Ca-Tô đều phụ thuộc giáo hoàng và dựng ông ta lên như là một lãnh tụ danh tiếng của thế giới. Ông ta là một con người Trung Cổ, chống lại tiến bộ và tự do, một con người nguy hiểm… Đây là một con người hoàn toàn đáng khinh bỉ và lịch sử sẽ phán xét ông ta như vậy.

Giáo hội Ca-Tô Rô-ma cho rằng có nhiều tín đồ thứ nhì trên thế giới.. Vì số tín đồ đông đảo như vậy nên giới truyền thông biết đến ông ta chứ không phải là vì trình độ trí thức hay nhân cách của ông ta."

(The media in the Catholic nations is subservient to the Pope and builds him as a world leader of renown. He is a medievalist, a reactionary and dangerous man….This is a thoroughly despicable man and history will judge him as that.

The Roman Catholic Church alleges that it has the second largest religious group in the world… It is the power of this many figures which gives the Pope the attention of the media, not his intellectuality or his personality.)

Tôi cho rằng những lời phê phán chính xác trên đều có thể áp dụng cho con người của Benedict XVI. Người Ca-Tô Việt Nam nên cảm thấy xấu hổ khi có một giáo hoàng như vậy mà họ thường gọi là “đức thánh cha".

Sau đây, với mục đích giúp các tín đồ Ca-tô để cho họ hiểu rõ thêm về chính tôn giáo của họ, được chừng nào hay chừng ấy, vì chỉ có chính họ mới dứt khoát giúp được họ mà thôi, tôi xin dịch một tài liệu về thực chất các giáo hoàng trong Ca-Tô Giáo Rô-ma của một cựu Nữ Tu Ca-Tô: Mary Ann Collins, những người mà tín đồ Việt Nam vẫn thường xưng tụng một các ngu si vô trí là “đức thánh cha". Họ sẽ hiểu rằng bản chất các giáo hoàng của họ đều như nhau: xảo quyệt, vô đạo đức, nuôi dưỡng sự ngu si trong đám tín đồ v..v.. và chỉ được đám con chiên ít đầu óc kính trọng, chứ còn đối với người ngoại đạo, thực sự đó là những con người đáng khinh bỉ..

Đó là mục đích với thiện ý của tôi cũng như của một số anh chị em chủ trương giải hoặc Ki Tô Giáo. Giúp cho con người ra khỏi sự mê hoặc của những thủ đoạn thần học lừa dối có nghĩa là giúp cho con người ra khỏi sự tối tăm để đi vào ánh sáng của lương thiện, của hiểu biết, của lý trí. Nhưng có nhiều người không đủ can đảm để đối diện với sự thật, vẫn cố bám vào một đức tin không cần biết không cần hiểu, và lên án chúng tôi là bôi nhọ tôn giáo của họ. Chúng tôi không muốn cải chính, nhưng trong mục đích giáo dục, chúng tôi nghĩ nên trích dẫn một lý luận về thế nào là “bôi nhọ”.

Tác giả Trần Văn Kha, cựu Đại Tá VNCH, có viết một bộ sách “Tôn Giáo Đối Chiếu" hơn 5000 trang, vô cùng giá trị. Trong bộ này có cuốn “Đạo Ca-Tô Rô-ma” Tập II, Xuất bản Tháng 3, 2002. Trong Tập này, mở đầu Chương “Sách Nhọ Của Tòa Án Ca-Tô Rô-ma” [Le Livre Noir de L'Inquisition: Nguyên bản tiếng Ý của Natale Benazzi và Matteo D'Amico, dịch sang tiếng Pháp bởi Michèle Jarton] là một đoạn rất có ý nghĩa như sau:

Trần Văn Kha: “Trong nhiều bài chúng tôi đã dịch Roman Catholic là Ca-tô Rô-ma, và bây giờ, chúng tôi xin trình bày một chút chi tiết về lý do đó. Người Tàu đã dịch Jesus thành Gia-tô, và vì họ không đọc được chữ R nên đã dịch Rô-ma thành La-mã. Catholicism là Cơ đốc giáo. Chúng tôi thấy khi thì “Cơ đốc giáo" khi thì “đạo Gia-tô", có vẻ hơi lộn xộn, nhưng phiên âm Roman Catholic thành Ca-tô Rô-ma thì gần với chữ gốc hơn cả. Trong bài “Phép Lạ ở Lourdes” (trang 899), chúng tôi cũng đã phiên âm “Cathocrates” thành quan chức “Ca-tô”.

Chữ “noir” thường dịch là đen, nhưng chúng tôi dịch là “nhọ”, vì những tín đồ Ca-Tô Việt Nam thường lên tiếng chỉ trích những ai nói lên những sự thật không có lợi cho đạo Ca-tô là “bôi nhọ” đạo "Public Religion". Public Religion là chúng tôi dịch ngược trở lại danh từ “Công giáo” mà họ thường dùng.

Nói “bôi nhọ” là nói sai, bởi vì nếu đạo "Public Religion" là một đạo không mê tín dị đoan, không gây đổ máu vì tôn giáo, không buôn thần bán thánh, không khai thác Thượng Đế cho những lợi ích thế gian, và nhất là không gây ra những vụ thảm sát giữa người Việt chúng ta với nhau v..v.., mà lại phục vụ cho hạnh phúc của nhân loại, thì không ai có thể bôi nhọ được. Thử đem cục vàng y ra bôi nhọ, làm sao bôi nhọ được. Có bôi nhọ cách nào, dấu kín cách nào, thì vàng vẫn là vàng.

Chỉ cái gì đã nhọ sẵn thì mới có thể bôi nhọ thêm, nhưng nếu nó đã nhọ quá, đen kịt rồi, thì cũng không bôi nhọ vào chỗ nào được. [Đúng vậy, những tác phẩm nghiên cứu của chúng tôi chẳng qua chỉ là vạch ra những chỗ đã nhọ sẵn rồi trong Ca-Tô Giáo Rô-ma, chứ không bôi nhọ thêm bất cứ chỗ nào, vì không còn chỗ đâu để mà bôi. TCN]

Bảo bôi nhọ đạo Công Giáo tức là gián tiếp công nhận đạo ấy đã nhọ rồi. Đạo Công giáo nhọ nhiều hay nhọ ít, hay đen kịt rồi, thần thánh hay phàm tục.

Bảo chúng tôi bôi nhọ đạo Công giáo, chúng tôi xin thưa, chúng tôi không có khả năng đó. Làm sao mà một người Việt Nam tầm thường như tôi lại có thể bôi nhọ được đạo Công giáo với khoảng 1 tỷ tín đồ, và tài sản thì lên đến cả nghìn tỷ đô la? Ngoài ra đó cũng không phải là chủ trương của chúng tôi.

Bôi nhọ đạo Công giáo chỉ có thể là những người Công giáo. Chúng tôi nghĩ là các linh mục hiếp dâm con nít, hiếp dâm nữ tu, hiếp dâm lẫn nhau, hiếp dâm tín đồ trong nhà thờ, như đã trình bày trong các bài “Lạm Dụng Tình Dục” và “Linh Mục Hiếp Dâm”, trang 843 và 882 v..v.., mới chính là những người “bôi nhọ” đạo công giáo". [Theo ý này thì lịch sử ô nhục và đẫm máu của Ca-Tô Giáo Rô-ma đã bôi nhọ Ca-Tô Giáo Rô-ma hơn gì hết. TCN]

Sau đây chúng ta sẽ đi vào phần dịch bài “Các Giáo Hoàng” của cựu nữ tu Mary Ann Collins để xem các giáo hoàng đó đã thực sự “bôi nhọ” Ca-tô Rô-ma Giáo như thế nào. Tác giả có một nguồn tài liệu rất phong phú khi viết cuốn “Lột Mặt Nạ Ca-Tô Giáo” [Unmasking Catholicism]. Quý độc giả có thể đọc toàn phần cuốn sách này trên Internet và download để làm tài liệu riêng:

[http://www.unmaskingcatholicism.com/Contents.shtml]

UnMask

Nữ tu Ca-Tô Mary Ann Collins khẳng định một điều khi viết cuốn "Lột Mặt Nạ Ca-Tô Giáo" [Unmasking Catholicism] là bà ta có vấn đề với hệ thống Ca-Tô chứ không phải với những người Ca-tô. Bà ta viết: “Tôi muốn nói rõ là vấn nạn của tôi là đối với hệ thống Ca-Tô – chứ không đối với các tín đồ. Tôi yêu các tín đồ.. Tôi đã từng là một người trong bọn họ..” [I want to make it clear that my problem is with the Catholic system—not the people. I love the people…I used to be one of them.] Hệ thống Ca-Tô có nghĩa là cấu trúc quyền lực của Ca Tô Giáo Rô-ma cùng những thủ đoạn mà Giáo hội nhốt tín đồ vào tù ngục tâm linh cùng những thủ đoạn ngụy tạo văn kiện, xuyên tạc lịch sử v..v.. để tạo quyền lực tâm linh cũng như vật chất trên đám tín đồ ngu dốt ở dưới.

*

UNMASKING CATHOLICISM

CHAPTER 10: THE POPES

By

Mary Ann Collins

Giáo hội Ca-Tô Rô-ma sơn phết một hình ảnh về một sự tiếp nối liên tục và thứ tự của những giáo hoàng đi theo những bước chân của Tông đồ Phê-rô. Nếu chỉ có một trong số những giáo hoàng này không phải là một giáo hoàng hợp lệ [xứng đáng với vai trò giáo hoàng], thì chuỗi nối tiếp các giáo hoàng này sẽ đứt đoạn. [có nghĩa là hình ảnh mà giáo hội sơn phết như trên chỉ là nói láo]

Thế nào là một giáo hoàng xứng đáng hợp lệ? Thánh Kinh nói gì về những điều kiện tối thiểu đòi hỏi đối với những vị lãnh đạo giáo hội? Giáo hoàng không chỉ là đứng đầu Giáo hội Ca-Tô, ông ta còn là Giám Mục thành Rô-ma. Do đó, ít nhất là ông ta phải hội đủ những điều kiện của một giám mục mà Thánh Kinh đòi hỏi.

Tông đồ Paul huấn thị cho các dân Timothy và Titus về những điều kiện cần thiết để có thể làm giám mục. Ông ta bảo họ:

“Người giám mục phải không có chỗ nào đáng chê trách, là chồng của một vợ, thận trọng, tỉnh táo, cư xử đúng đắn, hiếu khách, và đủ khả năng dạy dỗ; Không được nghiện rượu, không dùng bạo lực, không được hám lợi lộc bẩn thỉu; nhưng phải kiên nhẫn, không cãi cọ nhau, không tham lam.”

[A bishop then must be blameless, the husband of one wife, vigilant, sober, of good behaviour, given to hospitality, apt to teach; Not given to wine, no striker [not violent], not greedy of filthy lucre [money]; but patient, not a brawler, not covetous (1 Timothy 3:2-4)]

Bây giờ, chúng ta hãy xét đến một số giáo hoàng và so sánh đời sống của họ với những điều kiện mà Thánh Kinh đòi hỏi để có thể là giám mục. Trong quá trình này, chúng ta sẽ biết đến một số điều đau buồn. Tuy nhiên, chúng ta không nên lấy làm ngạc nhiên vì Giê-su đã bảo chúng ta là có những cỏ dại lẫn với lúa mạch (Matthew 13: 24-30). Ông ta cũng khuyến cáo chúng ta là sẽ có những con chó sói giữa những con cừu (Matthew 7:15). [Tín đồ Ca-Tô thường được gọi là con chiên hay con cừu, vậy những con chó sói giữa đàn chiên là những ai, chẳng cần phải nói ai cũng biết đó là các giám mục, linh mục hành nghề "buôn thần bán thánh". TCN]

Mọi giáo hội đều có những cỏ dại và chó sói. Tuy nhiên, giáo hội Ca-tô tuyên xưng là có một chuỗi các giáo hoàng tông truyền không đứt đoạn [như những vòng khoen nối nhau thành một chuỗi xích] kể từ Tông Đồ Peter. Lý do để tôi nói cho các bạn biết về những con “chó sói giáo hoàng” là để chứng tỏ rằng có một số giáo hoàng không xứng đáng ngay cả làm giám mục, khoan nói đến chuyện làm giáo hoàng. Và như vậy thì cái gọi là chuỗi xích tông truyền đã bị đứt đoạn.

Tôi xin lỗi vì đã đặt các bạn qua cuộc nghiên cứu này, nhưng tôi không thể nói lên quan điểm của tôi một cách đầy đủ mà không cho các bạn loại thông tin này. (Các bạn có thể đọc về các giáo hoàng này trên Internet)

Giáo hoàng Honorius trị vì từ năm 625 đến năm 638. Ông ta bị Công Đồng Hòa Hợp Tôn Giáo thứ sáu (680-681) kết án là kẻ lạc đạo. Ông ta cũng bị kết án như vậy bởi Giáo hoàng Leo II cũng như bởi mọi Giáo hoàng khác cho đến thế kỷ 11.

Năm 769, Giáo hoàng Stephen IV lên ngôi nhờ một đoàn quân đánh thắng vị Giáo hoàng tiền nhiệm. Stephen ra lệnh quất roi lên vị Giáo hoàng thù nghịch, móc mắt ông ta ra, đánh bể đầu gối ông ta, rồi cầm tù ông ta cho đến khi chết. Rồi Giáo hoàng Stephen kết án một người thứ hai

phải chết từ từ bằng cách mỗi ngày xẻo một ít thịt của ông ta cho đến khi chết.

Giáo hoàng Leo V chỉ trị vì có một tháng (Tháng 7, 903). Hồng Y Christopher bắt giam ông ta rồi lên làm Giáo hoàng. Rồi Christopher lại bị Hồng Y Sergius bắt giam. Sergius giết cả hai, Leo và Christopher trong khi họ đang bị giam trong tù. Ông ta cũng giết những Hồng Y nào chống đối ông ta.

Giáo hoàng John XII trị vì từ 955 đến 963. Ông ta là một tên tàn bạo. Ông ta quá trác táng đến độ những người đương thời nói rằng ông ta đã biến Dinh Lateran thành một cái Ổ Điếm. Ông ta nâng cốc rượu chúc mừng quỷ. Khi đánh bạc, ông ta cầu đến những Nam Thần và Nữ Thần trong dân gian. Ông ta bị giết bởi một người chồng ghen tuông khi bắt quả tang ông đang ăn nằm với vợ mình.

Trong thế kỷ 10, một người đàn bà giầu có quý phái tên là Marozia [Thật ra Marozia chỉ là một cô gái điếm xinh đẹp, theo giám mục Peter de Rosa trong cuốn Vicars of Christ: "A beautiful Whore". Chi tiết về Marozia tôi đã trình bày trong bài "ĐÂY !! NHỮNG 'ĐỨC THÁNH CHA'….] trong vòng 8 năm đã đưa 9 người lên ngôi vị giáo hoàng. Để có thể làm được điều này, cô ta cũng phải loại trừ những giáo hoàng đương vị. Hai giáo hoàng bị bóp cổ chết, một người bị úp gối đè lên mặt làm ngạt chết, và 4 người biến mất trong những hoàn cảnh bí mật. Một trong các giáo hoàng là con của Marozia với một giáo hoàng. [Trong cuốn Vicars of Christ, Peter de Rosa gọi những triều đại của các giáo hoàng này là "triều đại điếm trị" (Pornocracy). TCN]

Năm 1003, Giáo hoàng Silvester II bị Giáo hoàng kế vị, John XVII, giết. Bảy tháng sau, John bị đầu độc chết.

Giáo hoàng Benedict VIII trị vì từ 1012 đến 1024. Ông ta hối lộ để mua chức giáo hoàng. Ông ta có một lực lượng riêng “những người của giáo hoàng”, nổi tiếng về tra tấn, làm tàn tật và ám sát. Khi Benedict chết, em của hắn lên nắm quyền và trở thành Giáo hoàng John XIX. Hắn ta tự phong làm linh mục, rồi làm giám mục, và đội vương miện của giáo hoàng trong cùng một ngày. John chết trong những trường hợp đáng nghi ngờ.

Năm 1095, Giáo hoàng Urban II kêu gọi tổ chức cuộc Thập Ác Chinh để lấy lại Jerusalem (Thánh địa) từ người Hồi giáo. Đây là một cuộc “thánh chiến”. Giáo hoàng nói các Thập Ác Quân được tha mọi tội lỗi, và nếu họ chết ở trận địa họ sẽ là các thánh tử đạo. Khi những Thập Ác Quân tràn qua Âu Châu để đi tới Jerusalem, chúng tàn sát người Do Thái ở Âu Châu. Khi chúng tới Jerusalem, chúng thật là bạo tàn trong cuộc chinh phục thị trấn. Nhiều người Hồi giáo bị chặt đầu, một số bị tra tấn rồi thiêu sống. Đó là bắt đầu cuộc xung đột giữa khối Hồi giáo và Tây phương, kéo dài cho tới ngày nay. Những Giáo hoàng về sau kêu gọi tổ chức những cuộc Thập Ác Chinh khác. Mới đầu họ nhắm vào những người Hồi giáo, nhưng cuộc Thập Ác Chinh thứ tư (1198) là chống những người Ki Tô theo Chính Thống Giáo ở Constantinople.

Giáo hoàng Benedict IX trị vì từ 1032 đến 1044, và từ 1047 đến 1048. Ông ta mua chuộc để lên làm Giáo hoàng. Ông ta phung phí tài sản của triều chính Giáo hoàng vào những gái điếm và những cuộc tiệc tùng hoang tàng, và ông ta đã ra lệnh ám sát nhiều người. Dân chúng thành Rô-ma ghét thậm tệ Benedict đến độ, trong hai trường hợp, ông ta phải chạy trốn khỏi Rô-ma. Benedict bán chức Giáo hoàng cho Giáo hoàng Greory VI. Một điều kiện của sự mua bán này là ông ta được tiếp tục sống trong Dinh Lateran, với một mức lương bổng cao. Benedict kéo những gái điếm vào đầy Dinh Lateran.

Năm 1298, Giáo hoàng Boniface VIII ra lệnh giết mọi đàn ông, đàn bà, trẻ con và súc vật trong thành phố Palestina của nước Ý. Ông ta nổi tiếng về đích thân tra tấn, tàn sát, và hung ác.

Giáo hoàng Clement VI trị vì từ 1342 đến 1352. Ông ta ra lệnh tàn sát toàn thể một thành phố Ý. Ông ta sống rất mực xa hoa. Ông ta thú nhận công khai là đã bán những chức tước trong giáo hội và dùng sự đe dọa cũng như hối lộ để chiếm quyền lực. Clement mua một lâu đài của Pháp, nổi tiếng về những gái điếm ở trong đó.

Giáo hoàng Alexander VI (Giáo hoàng giòng họ Borgia) trị vì từ 1492 đến 1503. Ông ta được biết có những hành động sát nhân, hối lộ, và bán các chức vụ có quyền trong giáo hội Ca-tô. Ông ta thích sống xa hoa. Cuốn sách về kho tàng nghệ thuật của Vatican có hình ông ta mang bộ y phục có dát vàng và đeo nhiều đồ trang sức. Đó là những hạt trai, ngọc thạch, viên ngọc bích lớn, và các đồ trang sức khác. Cái mũ ba tầng (vương miện của giáo hoàng) là bằng vàng, với ba hàng với những đồ trang sức lớn. Alexander có bốn người con với những nhân tình của ông ta. Con ông ta, Cesare, được biết là thuộc loại có những mưu đồ giết người ngầm có thể làm tình tiết âm mưu trong một kịch bản. Theo cuốn “Tự điển Oxford về các giáo hoàng”, Cesare và Alexander giết người để tịch thu tài sản của họ. Giáo hoàng Alexander bị người ta ghét đến độ khi ông ta chết, những linh mục đến cầu nguyện cho ông ta bị các lính canh gác Dinh xua đuổi, và xác ông ta không có ai canh chừng.

Giáo hoàng Julius II trị vì từ 1503 đến 1513. Ông ta hối lộ để lên làm giáo hoàng. Ông ta là con người liều lĩnh và tàn bạo. Ông ta nổi tiếng là trác táng, say rượu, rất nóng giận, lừa dối và độc tài.

Giáo hoàng Leo X trị vì từ 1513 đến 1521. Ông ta pha trộn tín ngưỡng dân gian với Ki Tô Giáo. Ông ta cho diễn lại màn Chúa Ki Tô bị đóng đnh trên thập giá và huyền thoại cổ xưa. Ông ta trang trí Rô-ma với đầy những vật quý báu của giáo hội và tượng các thần Hi Lạp nam nữ. Ông ta đặt một bức tượng của chính ông ở thủ đô Rô-ma, và bắt dân chúng phải chào bức tượng đó.

Giáo hoàng Gregory VII trị vì từ 1073 đến 1085. Ông ta đòi hỏi các vua chúa phải hôn chân ông ta. Gregory và những Giáo hoàng nối tiếp ông ta dùng những tài liệu ngụy tạo để tạo thêm quyền lực của giáo hoàng. Một số tín đồ Ca-Tô Rô-ma toan tính phanh phui ra những sự ngụy tạo này, nhưng vì vậy họ bị vạ tuyệt thông. Tuy nhiên, giáo hội chính thống (orthodox) đã ghi lại tất cả và viết ra những thông tin chi tiết về những văn kiện ngụy tạo này. (Để biết thêm về điều này xin đọc Chương về "Những Tài Liệu Ngụy Tạo và Quyền Lực Giáo Hoàng”)

Mua bán chức vụ lan tràn trong giới giáo sĩ. Điều rất thông thường là các linh mục bỏ tiền ra để mua chức giám mục hay tu viện trưởng. Giáo hoàng Gregory VII nói là ông ta biết có hơn 40 người lên ngôi Giáo hoàng bằng cách mua chuộc.

Giáo hoàng Innocent III trị vì từ 1198 đến 1216. Ông ta nói Giáo hoàng là người cai trị thế giới và là cha của các vua chúa. Ông ta cho rằng mọi linh mục và giám mục đều phải tuân lệnh của Giáo hoàng ngay cả khi Giáo hoàng ra lệnh cho họ làm điều gì ác. Giáo hoàng Innocent muốn diệt trừ những người lạc đạo Albigensian sống ở Pháp. Ông ta bắt vua Pháp giết nhiều trăm ngàn công dân Pháp. Những người Albegensian và Ca-Tô sống trong cùng một vùng ở Pháp. Giáo hoàng Innocent ra lệnh giết tất cả mọi người trong vùng đó, kể cả những tín đồ Ca-Tô. Đó là cuộc Thập Ác Chinh Albegensian, hay cuộc tàn sát Albegensian. Giáo hoàng ban cho những quân Thập Ác Chinh Albegensian một sự giải tội đặc biệt, bảo đảm với họ rằng nếu họ chết ở chiến trường, họ sẽ được giải hết tội và sẽ được lên thiên đường.

Đôi khi có hai hoặc nhiều hơn người tự nhận là Giáo hoàng trong cùng một lúc. Tất cả những người này đều có những người theo. Cuối cùng thì một người được tuyên bố là Giáo hoàng, còn những người kia là ngụy giáo hoàng (antipope). Trong nhiều thế kỷ, những sách của Ca-Tô Rô-ma viết khác nhau về ai được coi là giáo hoàng thực sự. Tuy nhiên, ngày nay có nhiều sự đồng ý hơn về ai là Giáo hoàng và ai là ngụy Giáo hoàng. Theo Tự Điển Bách Khoa của Ca-Tô, có tới 30 ngụy Giáo hoàng. [Các bạn có thể đọc về điều này trên Internet]

Các bạn có muốn cho bất cứ người nào như trên làm chủ chăn của bạn không?

Không có người nào trong số này hội đủ tiêu chuẩn của Thánh Kinh để làm một giám mục khoan nói đến chuyện giáo hoàng. Có nhiều sự đứt đoạn trong chuỗi xích tông truyền do đó thật ra đó không phải là một chuỗi xích tông truyền. Do đó, kết quả là, từ 1074, những người này không phải là những Giáo hoàng hợp lệ xứng đáng.

Tôi ý thức được rằng một số cá nhân ( thí dụ như Tông đồ Paul) được gọi là sống độc thân. Tôi có thể hiểu vài biệt lệ. Nhưng trong gần 1000 năm, không có một giáo hoàng, hay hồng y, hay giám mục nào hội dủ điều kiện của Paul để làm giám mục.

Lord Acton là một sử gia trong thế kỷ 19. Ông ta nói: “Quyền lực đưa đến sự đồi bại, và quyền lực tuyệt đối thì đồi bại một cách tuyệt đối." Những giáo hoàng mà tôi mô tả ở trên chứng minh nguyên lý đó.

Vài Lời Kết Của Người Dịch: Tôi được Giáo sư Nguyễn Mạnh Quang forward cho một bài của giáo dân Nguyễn Học Tập, lấy trên luongtamconggiao.com, mà nội dung đưa ra vài lý luận để bào chữa cho Ca-Tô Giáo Rô-ma. Đọc bài của ông Nguyễn Học Tập tôi thấy thật tội nghiệp vì trong thời buổi này mà ông ta vẫn còn tin vào những chuyện trong Tân Ước như Giuda bán Chúa, Chúa trao chìa khóa thiên đường cho Phê-rô, Giêsu là đấng Thánh, là Thiên Chúa v..v.. Dựa vào một bài của Giáo sư Quang về Ca-Tô Giáo Rô –ma, ông Nguyễn Học Tập đưa ra vài lý luận bào chữa như sau: chúng ta phải phân biệt “chủ thể” [nghĩa là nhân sự] trong Ca-Tô Giáo Rô-ma, và “chủ đề" [nghĩa là giáo lý của Chúa Ki Tô]. Và ông ta viết:

Giáo Hội Công Giáo Roma được lãnh đạo bằng Hàng Giáo Phẩm, bằng những ” chủ thể ” con người. Hàng Giáo Phẩm đó cũng là những con người với nhân tính và những giới hạn như chúng ta.
Và đã là người, với nhân t&i acute;nh và giới hạn, cho nên những lỗi lầm, sai trái, lạm quyền khi có chức vị, lẫn lộn thần quyền và thế quyền, hành xử chức vị mình có thể đưa đến độc tài, độc đoán, độc ác, kể cả đê tiện là điều tự nhiên không thể tránh khỏi…

Phê bình Linh Mục, Giám Mục, Hồng Y và kể cả Giáo Hoàng là phê bình ” chống cha”, chớ không phải ” chống Chúa”.

Lý luận bào chữa này chỉ là ngụy biện vì theo giáo lý của Ca-Tô Giáo, Giáo hoàng là đại diện của Chúa trên trần [Vicar of Christ], nắm trong tay những chìa khóa của thiên đường, có quyền muốn cho ai lên thiên đường thì cho, muốn tuyệt thông ai thì tuyệt thông v..v.. Mặt khác, cũng theo giáo lý Ca-tô, hàng giáo phẩm đều là các “cha cũng như Chúa”, có quyền tha tội cho ai thì tha, cầm giữ ai thì cầm giữ, và còn có khả năng biến một mẩu bánh thành thân thể thực sự của Chúa. Vậy, nếu bảo rằng hàng giáo phẩm là những người thường với tất cả những giới hạn như mọi người, thì tất cả những lễ tiết, bí tích v..v.. trong Ca-Tô giáo thực sự chỉ là những trò lừa bịp trước đám tín đồ thấp kém. Đó là điều chúng tôi đã biết từ lâu và đã nhiều lần trình bày trong nhiều tác phẩm và trên Internet.

Ông Nguyễn Học Tập còn giảng từ “thánh thiện” trong Kinh Tin Kính của Ca-Tô Giáo Rô-ma như sau:

Từ ngữ “thánh thiện” được dùng trong tín điều để nói lên trong Giáo Hội có Chúa Giêsu hiện diện, Ngài là Đấng Thánh vì Ngài là Thiên Chúa. Sự luôn luôn hiện diện của Ngài trong Giáo Hội, để tiếp tục thánh hoá các tín hữu Ngài, được chính Ngài bảo đảm cho chúng ta trong Phúc Âm Thánh Matthêu:
– ” Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” ( Mt 28, 20).

Vậy thì tại sao Chúa Giê-su là đấng Thánh, là Thiên Chúa, luôn luôn hiện diện trong giáo hội mà lại không thể “thánh hóa” được các tín hữu của ngài, kể cả những người “đại diện cho Ngài” như Giáo hoàng và Hàng Giáo Phẩm, mà lại “tục hóa” họ thành những người còn tệ hơn cả phàm tục? Vậy Thầy có ở cùng anh em cho đến ngày tận thế thì cũng có ích gì, vì Thầy chẳng làm được cái chuyện gì ra cho ra trò. Mà thực ra Giêsu có phải là đấng Thánh hay Thiên Chúa hay không? Ông ta có thực sự là “thánh thiện” hay không? Chắc chắn là ông Nguyễn Học Tập chưa đọc Tân Ước vì thế nên không biết những điều viết trong Tân Ước về Giêsu. Xin ghi lại vài điều: Giêsu hỗn hào với cha mẹ, Giê-su nguyền rủa những người không tin ông ta là đồ rắn rết phải đầy xuống hỏa ngục cho ngọn lửa vĩnh hằng thiêu đốt, Giêsu đòi mang những kẻ thù của ông ta, những người không muốn ông ta ngự trị ra giết ngay trước mặt ông ta, Giêsu coi một người đàn bà phi Do Thái là đồ chó, Giê-su nguyền rủa một cây sung cho nó chết héo queo vì trái mùa không ra quả để cho ông ta ăn lúc đói, Giêsu đuổi 2 con quỷ trong người bị quỷ ám rồi cho chúng nhập vào một đàn cừu 2000 con và bắt đàn cừu nhào xuống sông chết đuối hết v..v.. và còn nhiều nữa. Đấng Thánh và Thiên Chúa của ông Nguyễn Học Tập thật là đặc biệt quá. Và chúng tôi xin xua tay “thank you very much” ! lời mời gọi của ông Nguyễn Học Tập: “ai muốn dự phần ơn cứu rỗi mà Ngài đem đến cho nhân loại đều được Giáo Hội giang tay đón nhận, kể cả anh em Giao Điểm, nếu anh em muốn."

Ông Nguyễn Học Tập còn thách đố Giáo sư Nguyễn Mạnh Quang và anh em trong Giao Điểm:

Người Công Giáo sẽ rất biết ơn ông Quang và anh em Giao Điểm chỉ dạy cho những sai trái của giáo lý Ki Tô giáo ( doctrina).

Điều này chúng tôi đã làm bao nhiêu năm nay rồi, chỉ có điều ông Nguyễn Học Tập không biết đến mà thôi. Nếu muốn biết, chỉ cần vào sachhiem.net hay giaodiemonline.com là có thể thấy tất cả những sai trái của giáo lý Ki Tô Giáo. Nhưng chúng tôi làm công việc này chỉ với mục đích giải hoặc chứ không phải để truy cầu sự biết ơn của bất cứ ai.

Unmasking Catholicism

Mary Ann Collins, a former Catholic nun

Chapter 10
The Popes

The Roman Catholic Church paints a picture of an orderly chain of succession of popes who followed in the footsteps of the Apostle Peter. If even one of these men was not a valid Pope, then the chain is broken.

What does it take to be a valid Pope? What does the Bible say are the minimum requirements for Church leaders? A Pope is not only the head of the Catholic Church, he is also the Bishop of Rome. Therefore, he must at least meet the Biblical requirements for being a bishop.

The Apostle Paul gave Timothy and Titus instructions regarding the necessary qualifications for bishops. He told them:

“A bishop then must be blameless, the husband of one wife, vigilant, sober, of good behaviour, given to hospitality, apt to teach; Not given to wine, no striker [not violent], not greedy of filthy lucre [money]; but patient, not a brawler, not covetous; (1 Timothy 3:2-4, emphasis added)

We are going to look at some popes and compare their lives with the Biblical qualifications for being a bishop. In the process, we will learn about some distressing things. However, we should not be surprised. Jesus told us that there would be tares among the wheat. (Matthew 13:24-30) He also warned us that there would be wolves among the sheep. (Matthew 7:15) So did the Apostle Paul. (Acts 20:29-30)

Every church has had its share of tares and wolves. However, the Catholic Church claims to have apostolic succession-an unbroken chain of valid popes that go all the way back to the Apostle Peter. My reason for telling you about these “wolf” popes is to demonstrate that some popes were not even valid bishops, let alone vaslid popes. And that breaks the “chain” of apostolic succession.

I apologize for putting you through this, but I can’t adequately make my point without giving you this information. (You can read about these popes online.)

Pope Honorius reigned from 625 to 638 A.D. He was condemned as a heretic by the Sixth Ecumenical Council (680-681). He was also condemned as a heretic by Pope Leo II, as well as by every other pope until the eleventh century.1

In 769, Pope Stephen IV came to power with the help of an army that conquered the previous Pope. Stephen gave orders for his papal rival to be flogged, have his eyes cut out, have his kneecaps broken, and be imprisoned until he died. Then Pope Stephen sentenced a second man to die a slow, agonizing death, by having pieces of his body cut off every day until he finally died.2

Pope Leo V only reigned for one month (July 903). Cardinal Christopher put Leo in prison and became Pope. Then Christopher was put in prison by Cardinal Sergius. Sergius killed Leo and Christopher while they were in prison. He also killed every cardinal who had opposed him.3

Pope John XII reigned from 955 to 963. He was a violent man. He was so lustful that people of his day said that he turned the Lateran Palace into a house of prostitution. He drank toasts to the devil. When gambling, he invoked pagan gods and goddesses. He was killed by a jealous husband while in the act of committing adultery with the man’s wife.4

In the tenth century, a wealthy Italian noblewoman named Marozia put nine popes into office in eight years. In order to do that, she also had to get rid of reigning popes. Two of them were strangled, one was suffocated, and four disappeared under mysterious circumstances. One of the popes was Marozia’s son; he was fathered by a Pope.5

In 1003, Pope Silvester II was murdered by his successor, Pope John XVII. Seven months later, John was poisoned.6

Pope Benedict VIII reigned from 1012 to 1024. He bought the papacy with bribery. He kept a private force of “pope's men” who were known for torture, maiming, and murder. When Benedict VIII died, his brother seized power and became Pope John XIX. He had himself ordained a priest, consecrated as a bishop, and crowned as pope, all in the same day. John died under suspicious circumstances.7

In 1095, Pope Urban II called for a Crusade to take Jerusalem (the “holy land”) back from the Muslims. This was a “holy war.” The Pope said that Crusaders would have full remission of their sins, and if they died in battle they would be martyrs. As the Crusaders went through Europe on their way to Jerusalem, they slaughtered European Jews. When they reached Jerusalem, they were brutal in their conquest of the city. Many Muslims were beheaded, but some were tortured and then burned to death. This began a conflict between Islam and the West that is still going on today. Later popes called for other Crusades. At first they targetted Muslims, but the Fourth Crusade (in 1198) was against Orthodox Christians in Constantinople.8

Pope Benedict IX reigned from 1032 to 1044, in 1045, and from 1047 to 1048. He became Pope through bribery. He squandered the wealth of the Papacy on prostitutes and lavish banquets, and he had people murdered. The citizens of Rome hated Benedict so much that, on two occasions, he had to flee from Rome. Benedict sold the papacy to Pope Gregory VI. As part of the deal, he continued to live in the Lateran Palace, with a generous income. Benedict filled the Lateran Palace with prostitutes.9

In 1298, Pope Boniface VIII ordered that every man, woman, child, and animal in the Italian town of Palestrina be slaughtered. He was known for torture, massacre, and ferocity.10

Pope Clement VI reigned from 1342 to 1352. He ordered the slaughter of an entire Italian town. He lived a life of luxury and extravagance. He openly admitted that he sold church offices and he used threats and bribery to gain power. Clement purchased a French palace, which became famous for its prostitutes.11

Pope Alexander VI (the Borgia Pope) reigned from 1492 to 1503. He was known for murder, bribery, and selling positions of authority in the Catholic Church. He enjoyed luxurious living. The art book “Treasures of the Vatican” shows a portrait of him wearing gold vestments that are covered with jewels. They look like pearls, emeralds, large rubies, and other jewels. His tiara (the papal crown) is gold, with three rows of large jewels on it. Alexander had four children by mistresses. His son Cesare was known for the kinds of murderous intrigues that make good opera plots. According to “The Oxford Dictionary of Popes,” Cesare and Alexander killed people and seized their property. Pope Alexander was so hated that when he died, the priests who came to say prayers for him were driven away by the palace guards, and his body was left unattended.12

Pope Julius II reigned from 1503 to 1513. He became Pope through bribery. He was ruthless and violent. He had a reputation for lust, drunkenness, rages, deception, and nepotism.13

Pope Leo X reigned from 1513 to 1521. He mixed paganism with Christianity. He had performances of Christ's crucifixion and ancient mythology. He filled Rome with splendid Church processions and statues of Greek gods and goddesses. He put a statue of himself in Rome's Capitol, to be saluted by the public.14

Pope Gregory VII reigned from 1073 to 1085. He required kings and emperors to kiss his foot. Gregory and his successors used forged documents in order to expand the power of the papacy. Some Roman Catholics tried to expose these forgeries, but they were excommunicated for it. However, the Orthodox Church kept records and wrote detailed information about the forgeries.15 (For more information about this, see the chapter, “Forged Documents and Papal Power.”)

Simony was rampant among clerics. It was commonplace for priests to pay money in order to become bishops and abbots. Pope Gregory VII said that he knew of more than 40 men who became Pope by means of bribery.16

Pope Innocent III reigned from 1198 to 1216. He said that the Pope is the ruler of the world and the father of princes and kings. He claimed that every priest and bishop must obey the Pope, even if the Pope commands something evil.

Pope Innocent wanted to get rid of the Albigensian heretics who lived in France. He forced the King of France to kill hundreds of thousands of French citizens. Albigensians and Catholics lived together in the same area in France. Pope Innocent commanded that every person in the region, including the Catholics, be killed. This was called the Albigensian Crusade, or the Albigensian Massacre. The Pope gave the Albigensian Crusaders a special indulgence that was supposed to guarantee that, if they died in battle, then their sins would be remitted, and they would go to Heaven.17

Sometimes two or more men would claim to be Pope at the same time. All of these claimants to the papacy had followers. Eventually, one contender would be declared to be Pope and the other would be declared to be an antipope. For centuries, Roman Catholic books differed as to which men they considered to be the genuine popes. However, today there is much more agreement about which men were popes and which men were antipopes. According to The Catholic Encyclopedia, there were 30 antipopes. (You can read about this online.)18

Would you want any of these men to be your pastor?

None of these men met the biblical requirements for being an ordinary bishop, let alone Pope. Therefore, they were not valid popes. There are so many breaks in the chain of apostolic succession that it is not a chain at all.

As a result, since 1074, no Pope has been able to meet the Apostle Paul’s requirement for bishops.

Now I realize that some individuals (such as the Apostle Paul) are called to be celibate. I could understand a few exceptions to the rule. But for nearly a thousand years, not one Pope or cardinal or bishop has ever been able to meet Paul’s qualifications for being a bishop.

Lord Acton was a nineteenth century historian. He said, “Power tends to corrupt, and absolute power corrupts absolutely.” The popes that I described demonstrate that principle.

 



 

NUMBERED NOTES:

NOTE 1

William Webster, The Church of Rome at the Bar of History, pages 63-71. Peter de Rosa, Vicars of Christ, 208-209. (De Rosa is a practicing Catholic and a former Catholic priest. While he was a priest, he did research in the Vatican Archives.) Hans Küng, The Catholic Church: A Short History, page 60. (Küng is a Catholic theologian.) Claudio Rendina, The Popes: Histories and Secrets, pages 112-114. J.N.D. Kelly, The Oxford Dictionary of Popes, pages 70-71. Richard P. McBrien, Lives of the Popes, pages 101-103.

NOTE 2

2. Malachi Martin, The Decline and Fall of the Roman Church, pages 85-89. (Martin was a Catholic priest and a Vatican insider. He did research in the Vatican Archives. His books are a plea for reform.) Claudio Rendina, pages 153-157. Richard P. McBrien, pages 124-125.
There is some confusion as to whether this Pope was Stephen III or Stephen IV. This is because an earlier Stephen (who would have been Stephen II) was elected Pope but he died before he was consecrated. (Richard P. McBrien, page 121.)

NOTE 3

Richard P. McBrien, pages 150-151, 435. Malachi Martin, page 123. Claudio Rendina, pages 215-217. J.N.D. Kelly, pages 118-120. (Martin and Kelly tell about the murders.)

NOTE 4

Russell Chamberlin, The Bad Popes, pages 40-61. Peter de Rosa, pages 211-215. Hans Küng, page 79. Richard P. McBrien, pages 157-159, 435. Claudio Rendina, pages 226-229. J.N.D. Kelly, pages 126-127.

NOTE 5

Russell Chamberlin, pages 25-39. Malachi Martin, page 119. Hans Küng, page 79. Richard P. McBrien, pages 153 (under “John X”), 154-155 (under “John XI”).

NOTE 6

Malachi Martin, page 131. Claudio Rendina, pages 243-247. (Martin tells about the murders.)

NOTE 7

Malachi Martin, pages 130-132. Claudio Rendina, pages 248-251. Richard P. McBrien, pages 168-170. (Martin gives detailed information about Benedict's cruelty.)

NOTE 8

Jonathan Riley-Smith, The Crusades: A History. Thomas Asbridge, The First Crusade: A New History: The Roots of Conflict Between Christianity and Islam. Jonathan Phillips, The Fourth Crusade and the Sack of Constantinople. Robert Chazan, European Jewry and the First Crusade. Carole Hillenbrand, The Crusades: Islamic Perspectives.

NOTE 9

Russell Chamberlin, pages 62-76. Malachi Martin, page 132. Peter de Rosa, pages 54-56. Claudio Rendina, pages 251-254. J.N.D. Kelly, pages 142-144. Richard P. McBrien, pages 170-172.

NOTE 10

Russell Chamberlin, pages 77-126. Malachi Martin, page 171-176. Claudio Rendina, pages 376-379. Paul Johnson, A History of Christianity, pages 191, 218-219. Richard P. McBrien, pages 229, 232, 435. (Chamberlin, Martin and Rendina tell about the destruction of Palestrina.)

NOTE 11

Peter de Rosa, pages 84-88. Richard P. McBrien, pages 240-242. Claudio Rendina, pages 376-379. (De Rosa tells about destroying a village.)

NOTE 12

Peter de Rosa, pages 103-110. Richard P. McBrien, pages 267-269, 437. Russell Chamberlin, pages 161-208. J.N.D. Kelly, pages 252-254. Hans Küng, pages 119-120. Claudio Rendina, pages 431-436. Paul Johnson, pages 280, 363. (McBrien, Kelly and de Rosa tell how Pope Alexander VI and his son Cesare murdered people and seized their property.)
In the Vatican, there is a portrait of Pope Alexander VI wearing gold vestments that are covered with jewels. There is a large, full-color picture in Albert Skira,
Treasures of the Vatican, page 86. There is a smaller full-color picture in the National Geographic book, Inside the Vatican, page 49. (Although it is smaller, you can still see the gold and jewels.) There is also a small black-and-white picture in Richard P. McBrien, Lives of the Popes. (Following page 392 there is a series of numbered pictures. The portrait of Alexander VI is Picture 10.)

NOTE 13

Peter de Rosa, pages 111-113. Paul Johnson, page 280. Claudio Rendina, pages 438-441. J.N.D. Kelly, pages 255-256. Richard P. McBrien, pages 270-272.

NOTE 14

Russell Chamberlin, pages 209-252. Malachi Martin, pages 202-203. Claudio Rendina, pages 441-446. J.N.D. Kelly, pages 256-258.

NOTE 15

Paul Johnson, pages 194-198, 161. Peter de Rosa, pages 57-66. Hans Küng, pages 85-92.

A scholarly article about this is online. William Webster, Forgeries and the Papacy: The Historical Influence and Use of Forgeries in Promotion of the Doctrine of the Papacy. The author is a former Catholic.

http://www.christiantruth.com/forgeries.html

NOTE 16

Malachi Martin, pages 141-142. Claudio Rendina, pages 309-316. (Page 314 gives information about his persecution of the Albigensians and other “heretics.”)

NOTE 17

Fox's Book of Martyrs, pages 45-47. J.A. Wylie, The History of Protestantism, book 1, pages 39-45. Paul Johnson, pages 199-201, 252. Peter de Rosa, pages 66-74, 152-155. Hans Küng, pages 87-103.

NOTE 18

Richard P. McBrien, pages 466-468. Antipope, The Catholic Encyclopedia, Volume I, 1907. (You can read this online if you search for “The Catholic Encyclopedia” + antipope.)

ĐÂY !! NHỮNG 'ĐỨC THÁNH CHA' ĐẠI DIỆN CỦA CHÚA KI-TÔ

 

TRÊN TRẦN VÀ LÀ CHỦ CHĂN CỦA GIÁO HỘI CA-TÔ

"THIÊN KHẢI, DUY NHẤT, THÁNH THIỆN, TÔNG TRUYỀN"

Sự Khác Biệt & Tình Trạng Ngày Nay

Trần Chung Ngọc

Bài Viết Này Để Tặng

[Mượn Lời Của Dr. Arthur Frederick Ide]

đăng ngày 20  tháng 5, 2007

-Những tín đồ Ca-tô Giáo Rô-ma thường đi xưng tội với các linh mục,
-Những người cũng phạm tội như họ và tuân phục một Giáo Hoàng,
-Người tự cho là không thể sai lầm, là nhất hạng, là tối cao
-Có quyền giữ trong tay Chìa khóa mở cửa thiên đường.
-Nhưng lịch sử đã chứng tỏ
-Thực sự chỉ mở những cánh cửa vào nhục dục, trụy lạc, và bạo lực.

-Dedicated To All Roman Catholics
-Who confess their sins to priests -Who do as they do, And
-Who believe in a Pope
-Who claims to be infallible Primary, and supreme
-Having the power to the keys to the kingdom of heaven
-Which hictory shows actually open the doors of sex, vice, and violence

 

By Dr. Arthur Frederick Ide

In "Unzipped: The Popes Bare All"

 

  

Vài Lời Nói Đầu: 

 

   Lời đề tặng của Tiến sĩ Arthur Frederick Ide ở trên đúng hay sai?  Hi vọng những tài liệu trong bài viết này sẽ cho chúng ta câu trả lời chính xác.  Ngày nay, viết về lịch sử các giáo hoàng không phải là điều cấm kỵ, và cũng không phải là chuyện khó khăn, vì chúng ta có đầy đủ tài liệu từ sách vở và trên Internet.  Bài viết này dựa trên một số tư liệu tiêu biểu chọn lọc ghi trong phần Tư Liệu Tham Khảo, ngoài những tài liệu trên Internet. 

 

   Để loại bỏ những lời chụp mũ vu vơ là người viết bài này "chống Công giáo" hay "làm tay sai cho Cộng sản", tôi xin quý độc giả ghi nhận một điểm, và tôi xin nhấn mạnh điểm này:  Tất cả tài liệu dùng trong bài viết này là của những bậc lãnh đạo trong Công giáo như Peter de Rosa, Malachi Martin, Joseph McCabe, hay của các giáo sư đại học, học giả Ki Tô Giáo như Dr. Rappoport, Dr. Ide v..v…  Không có một tài liệu nào của Phật Giáo hay của Cộng Sản.  Bài viết này chỉ có tính cách nghiên cứu lịch sử, những trang sử mà tôi nghĩ rằng trong thời đại ngày nay, các tín đồ Công Giáo Việt Nam cũng như những người ngoại đạo cần phải biết rõ về một tôn giáo chiếm 7% dân số Việt Nam, chứ tuyệt đối không nằm trong sự tranh chấp tôn giáo hay ý thức hệ.  Trong thời đại ngày nay và trong chiều hướng đang đi lên của Việt Nam hội nhập vào cộng đồng thế giới tiến bộ, việc nghiên cứu lịch sử thế giới, nhất là về tôn giáo, để mở mang dân trí người dân là một việc cấp bách không thể thiếu sót.

   Lịch sử đơn thuần chỉ là những sự kiện trong dân gian được ghi lại như chúng là như vậy.  Còn diễn giải lịch sử ra sao lại là một chuyện khác.

 

*

 

   Tín đồ Ca-Tô giáo Việt Nam gọi giáo hoàng của họ là "đức thánh cha".  Trong ngôn ngữ Việt Nam, chữ "đức" chỉ một bậc đạo cao đức trọng, thí dụ như Đức Phật, Đức Khổng Tử, Đức Đạt Lai Lạt Ma v..v…, và chữ "thánh" chỉ những cá nhân có tư cách xuất phàm đặc biệt hơn người thường.  Người Ca Tô giáo đã lạm dụng cả hai từ "Đức" và "Thánh" và gọi giáo hoàng,  giám mục và linh mục của họ là "Đức Thánh Cha", "Đức giám mục" và "Đức cha" tuy rằng trong số này không thiếu gì những người vô đạo đức, phạm đủ mọi tội ác, và có cả những Việt gian như Trần Lục, Nguyễn Bá Tòng, Lê Hữu Từ, Phạm Ngọc Chi, Hoàng Quỳnh v..v.. Vậy trước hết chúng ta hãy tìm hiểu từ "thánh" trong Ca Tô giáo Rô-ma (Roman Catholicism), rồi xét qua lịch sử một số "Đức Thánh Cha" và từ đó sẽ thấy những cái "đức" và chức "thánh" của Ca Tô Giáo Rô-ma có khớp hay không?

 

   Quan niệm "thánh" của các tín đồ Ca Tô Việt Nam thật không ai có thể hiểu nổi.  Theo giáo hội dạy thì một đứa con nít mới sinh ra được một tuần, bị bố mẹ vác đi "rửa cái tội không hề có" [theo Giám mục John Shelby Spong] của nó là đứa bé đương nhiên ở trong "hội thánh" rồi. Các giáo hội Ki Tô Giáo tự nhận là các "hội thánh" tuy rằng trên thực tế đều là các "hội phàm", rất phàm, phàm hơn cả phàm tục, xét đến lịch sử, cấu trúc, và những hoạt động rất thế tục của chính các giáo hội và những bậc lãnh đạo trong giáo hội. Một giáo hội đã phạm 7 núi tội ác đối với nhân loại mà số nạn nhân lên tới trên dưới 200 triệu như giáo hội Ca Tô Rô-ma, đến nỗi ngày 12 tháng 3 năm 2000, tại "thánh đường" Phê-rô ở Vatican, Giáo hoàng John Paul II cùng với 5 hồng y và 2 tổng giám mục, đã phải công khai cáo thú 7 núi tội ác cùng thế giới,  thì khó có thể quan niệm đó là một "hội thánh", thánh theo nghĩa người Việt Nam thường hiểu. 

 

    Một quan niệm về "thánh" rất tức cười là của ông Nguyễn Kim Khanh, nguyên là thẩm phán ở Phan Thiết trước đây, một trí thức Ca Tô, lấy bút hiệu là Phan Thiết, viết trong cuốn Đất Việt.., trang 358:

 

   ..những ai giữ nghĩa cùng Chúa cho đến hơi thở cuối cùng (bất kể là trong đời đã làm những điều đồi bại đến đâu, độc ác đến đâu, ăn gian nói dối đến đâu v..v.. TCN) đều có quyền chia động từ "là thánh": tôi là thánh, anh là thánh, chúng ta là thánh.. [Vậy thì chuyện Vatican "phong thánh" cho 117 Việt gian và cho cả ngàn "thánh" Công giáo khác là chuyện dư thừa, có phải không?]

 

   Ông Phan Thiết viết như vậy có nghĩa là khi một tín đồ Ca Tô trí thức như Phan Thiết, sau khi "thở hắt ra hơi thở giữ nghĩa cùng Chúa cuối cùng", thì có quyền nhỏm giậy như quỷ nhập tràng và lẩm bẩm chia động từ "tôi là thánh" và chia luôn cho các người khác: "anh là thánh", "chúng ta là thánh", bất kể "anh" là ai, và "chúng ta" là ai.  Nhưng trên thế gian chẳng làm gì có động từ "là thánh", vì "là" (to be) là một động từ, còn "thánh" là một tĩnh từ (holy) hoặc danh từ (saint).  Đầu óc những người nghiện đạo nặng thật là không làm sao có thể diễn tả nổi. Cứ chia một véc-bờ là thành thánh thì đó chỉ có những người có đầu óc như Nguyễn Kim Khanh mới có thể quan niệm nổi.  Nhưng vấn đề ở đây là ông ta viết mà không hiểu là mình viết cái gì.  Hiển nhiên là Việt Nam có khá nhiều thánh thật như Thánh Gióng, Đức Thánh Trần, và cũng hiển nhiên các bậc Thánh này chẳng cần biết đến Chúa là ai, khoan kể là ở trên đời này chẳng làm gì có Chúa để mà giữ nghĩa, như nền học thuật về Ki Tô Giáo trong vòng 200 năm nay đã khẳng định.  Thật vậy, sau khi duyệt qua những công cuộc khảo cứu về nhân vật Giê-su trong 2 thế kỷ nay, học giả Russell Shorto đã viết trong cuốn Sự Thật Trong Phúc Âm  (Gospel Truth), trang 14, như sau:

 

Các học giả đã biết rõ sự thật từ nhiều thập niên nay – rằng Giê-su chẳng gì khác hơn là một người thường sống với một ảo tưởng  – họ đã dạy điều này cho nhiều thế hệ các linh mục và mục sư.  Nhưng những vị này vẫn giữ kín không cho đám con chiên biết vì sợ gây ra những phản ứng xúc động dữ dội trong đám tín đồ. Do đó, những người còn sống trong bóng tối là những tín đồ Ki Tô bình thường.

   (Scholars have known the truth – that Jesus was nothing more than a man with a vision – for decades; they have taught it to generations of priests and ministers, who do not pass it along to their flocks because they fear a backlash of anger.  So the only ones left in the dark are ordinary Christians.)

 

    Chúng ta nên để ý, đây là kết luận của hằng hà sa số những công cuộc nghiên cứu về con người Giê-su lịch sử trong vòng 200 năm nay, không liên quan gì đến đức tin của những người Ki Tô Giáo về một Giê-su mà họ gọi là Chúa.  Nhưng Mục sư Ernie Bringas đã nhận định: ""Chúa" Giê-su chỉ có trong đầu óc khuyết tật (astrolabe mind) [nghĩa là đầu óc thuộc thế kỷ 17, có một điểm mù tôn giáo hay trí thức (a religious or intellectual blind spot)] của một số người."  Ngoài những nghiên cứu của các học giả, còn có những khám phá trong ngành khảo cổ, đã tìm thấy ở Jerusalem 9 cái tiểu quách  chứa xương cốt của Giê-su và gia đình trên có ghi tên đầy đủ, gồm có "Giê-su: Con của Joseph"; Mary [mẹ của Giê-su], Mary Magdalene [vợ của Giê-su], và Judah [Con trai của Giê-su] (Xin đọc tờ Time, số ngày 12 tháng 3, 2007, trang 56). Cuốn phim về sự khám phá này trong ngành khảo cổ, The Lost Tomb of Jesus, của đạo diễn James Cameron, đã được trình chiếu trên đài Discovery, Mỹ, tối chủ nhật 4 tháng 3, 2007.  Khám phá này đã loại bỏ truyền thuyết Giê-su đã sống lại, bay lên trời, và sẽ trở lại phán xét nhân loại, căn bản đức tin trong Ki Tô Giáo.  Nhưng trong phần bình luận sau cuốn phim, một ông linh mục đã khẳng định là "đức tin là về sự huyền bí, chứ không phải về khoa ! học" [Faith deals with mystery and not science].   Tuyệt đại đa số các tín đồ Ca Tô không bao giờ biết đến nền học thuật về Ki Tô Giáo trong 200 năm gần đây.  Giáo hội thường dấu kín những khám phá "động trời" về Ki Tô Giáo, và nếu không còn dấu kín được thì hầu hết những khám phá khoa học trái với niềm tin trong Ki Tô Giáo đều bị các giáo hội Ki Tô bác bỏ và bắt các tín đồ phải tin vào những lời giải thích quanh co thiếu cơ sở của các "bề trên" như ông linh mục trên.

  

   Ông Phan Thiết không giải thích thế nào là "giữ nghĩa cùng Chúa".  Theo tôi hiểu thì chữ "nghĩa" ở trên là cái "nghĩa" của tôi tớ đối với chủ, vì các tín đồ Ki Tô Giáo thường hãnh diện tự nhận là những "tôi tớ hầu việc Chúa" trong tâm cảnh "phúc cho những kẻ không thấy mà tin".  Ngoài những "thánh" tôi tớ như trên, theo định nghĩa của Phan Thiết, còn có những thánh đặc biệt phải được "tòa thánh", hay là, theo nhận định của Hồng y Silvio Oddi,  cái "Xưởng sản xuất thánh" (saint factory), gồm một tập đoàn những người rất thế tục, chưa là thánh, phong thánh thì mới được gọi là "thánh". Bởi vậy, không có tôn giáo nào có nhiều và đủ các loại thánh như Ca Tô giáo Rô-ma.  Nghiên cứu về các "thánh" trong Ca Tô giáo Rô-ma, chúng ta có cảm tưởng đi vào một mê hồn trận, vì nếu đầu óc không tỉnh táo thì có thể tẩu hỏa nhập ma, không biết từ "thánh" có ý nghĩa gì. 

 

   Thật vậy, trước hết, trong Thánh Kinh cũng có đầy thánh, có nhiều thánh chẳng ai biết gốc tích ra sao, ví dụ như các thánh viết bốn phúc âm Matthew, Mark, Luke và John.    Để độc giả có một ý niệm về thế nào là thánh trong Ca Tô giáo, trước hết tôi xin kể sơ lược về vài thánh trong thánh kinh.

 

    Abraham, thánh tổ phụ của các đạo Chúa, lấy em ruột làm vợ rồi dâng vợ cho các vua Ai Cập Pharaoh và Abimelech để đổi lấy trâu bò đồng ruộng, rồi lại ra tay định giết đứa con ruột của mình là Issac (Sáng Thế 20, 21); thánh Lot, dâng hai đứa con gái còn trinh cho bọn cướp muốn làm gì thì làm (bọn cướp từ chối), sau lại ngủ với cả hai đứa con gái ruột của mình làm cho cả hai đều mang thai (Sáng Thế 19);  thánh Moses, sản phẩm của một cuộc loạn luân (Exodus 6: bố của Moses lấy cô ruột sinh ra Moses và Aaron), nghe lệnh Chúa, giết người không gớm tay, cùng ra lệnh cho quân dưới trướng phải giết sạch đàn ông, đàn bà và con nít trong một thị trấn, chỉ để lại gái trinh và dâng cho Chúa một phần là 32 trinh nữ (Numbers 31); thánh David đã có nhiều vợ nhưng còn cướp vợ của Uriah là Bethsheba bằng cách gửi Uriah ra tiền tuyến kèm theo mật lệnh cho vị chỉ huy tiền tuyến là Joab phải làm sao để Uriah không được sống sót (2 Samuel 11: 24,26,27); và ngay cả Chúa Giê-su, Chúa của các thánh,  cũng là người hỗn hào với cha mẹ (Luke 2: 48-50, John 2: 1-4), xấc láo gọi người đàn bà không phải dân Do Thái là chó (Matthew 15: 21-28), tàn nhẫn ác độc bắt 2000 con heo vô tội đâm đầu x! uống sông chết đuối (Matthew 8: 28-34), nguyền rủa cây sung cho nó chết héo chỉ vì nó không ra quả khi trái mùa (Matthew 21: 18-21) v..v.. như đã được viết rõ trong Tân ước. Đó là tên một số thánh quen thuộc, còn biết bao thánh khác trong thánh kinh cũng như ở ngoài đời lòng dạ độc ác, hành động bạo tàn, phi luân v..v.., đếm thật không xuể.

 

   Ở ngoài đời thì cứ lên làm giáo hoàng, bất kể là lên như thế nào, là tự động thành "đức thánh cha", chưa kể nhiều tội đồ của nhiều dân tộc khác cũng trở thành thánh Ca Tô qua cái "xưởng sản xuất thánh: Vatican" (Hồng y Silvio Oddi: Vatican has become a saint factory).   Người ta đã ước tính là trong Ca Tô giáo có cả đến vài ngàn thánh và á thánh.  Lẽ dĩ nhiên trong số này có 117 Việt Gian, một số Hán gian, Nhật gian và đủ mọi quốc tịch gian.  Vì vậy không có cách nào có thể biết rõ về các thánh này.  Chúng ta chỉ có thể kết luận, các thánh Ca Tô giáo là những sản phẩm hữu danh vô thực của một cái xưởng sản xuất thánh: Vatican, đúng như Hồng Y Silvio Oddi đã nhận định, mà mục đích "phong thánh" của giáo hội là để giam đám tín đồ thấp kém ở trong vòng mê tín dị đoan vào những vai trò, phép lạ, thường là ngụy tạo, của các "thánh" Ca Tô giáo trong khi tuyệt đại đa số tín đồ không đủ trình độ để hiểu thế nào là "thánh". Nhận định của Hồng Y Silvio Oddi chắc chắn không phải là một lời khen tặng mà hàm ý các thánh sản xuất bừa bãi từ cái xưởng Vatican này đều thuộc loại tạp nham, không có mấy giá trị.  Trong bài này tôi xin tự hạn viết về một loại thánh đặc biệt trong Ca Tô giáo, những người mà các tín đồ Ca Tô giáo Việt Nam gọi là "Đức Thánh Cha", để cho chúng ta và các tín đồ Ca Tô giáo hiểu thêm về những người mà họ coi là "thánh" và từ đó hiểu rõ từ "thánh" trong Ca ! Tô giáo có ý nghĩa gì..

 

    Tín đồ Ca Tô giáo ở Việt Nam gọi giáo hoàng của họ là "đức thánh cha", tin rằng giáo hoàng đương nhiên phải là bậc thánh thiện (holy), vì giáo hội dạy rằng, giáo hoàng được chọn là do kết quả hướng dẫn của thánh linh cho các hồng y, những người có quyền chọn lựa, quyết định ai là giáo hoàng. Vả chăng Giáo hội cũng bắt các tín đồ Ca Tô giáo nói chung, Ca Tô giáo Việt Nam nói riêng, phải tin rằng giáo hoàng là "đại diện của Chúa" (Vicar of Christ) trên trần, nắm trong tay chìa khóa của thiên đường (mù), có quyền cho họ lên thiên đường hay tuyệt thông họ.  Tất cả những niềm tin này đều do các "bề trên" của họ cấy vào đầu óc từ khi còn nhỏ. 

 

    Tại sao họ có thể tin vào những điều lừa dối rất  trắng trợn này.  Trách nhiệm chính là do các "bề trên" của họ, những người đã nhốt họ vào vòng mê tín qua một chính sách nhồi sọ tinh vi để dễ bề ngự trị trên họ.  Có thể nói rằng, các tín đồ tin là vì trong đầu óc họ hầu như có một cái "gen" để tin vào bất cứ điều gì, và lẽ dĩ nhiên, vì chính sách của giáo hội, họ không bao giờ được dạy hay được quyền biết gì về lịch sử các giáo hoàng trong giáo hội của họ.  Lịch sử các giáo hoàng Ca Tô đã viết rõ: có những giáo hoàng do vua chúa chỉ định, có những giáo hoàng giết nhau để lên làm giáo hoàng, có những giáo hoàng do những cô gái điếm dựng lên, có những giáo hoàng là trẻ vị thành niên mới có 12 tuổi, có những giáo hoàng là con hoang của một giáo hoàng, hay là con của giáo hoàng loạn luân mà sinh ra  v..v.. Những sự kiện này sẽ được chứng tỏ rõ ràng qua một số tài liệu sau đây.

 

Những Dối Trá và Huyền Thoại Của Thánh Kinh

   Trước hết, tôi xin trích dẫn một đoạn trong cuốn Những Dối Trá và Huyền Thoại Của Thánh Kinh của Lloyd M. Graham.  Đây chỉ là một đoạn tóm tắt một số sự kiện liên quan đến chế độ giáo hoàng.  Chi tiết về những sự kiện này sẽ được bổ túc qua những tài liệu của các vị có thẩm quyền trong giáo hội Ca Tô.

 

   Chúng tôi thừa nhận rằng điều mà chúng tôi trình bày ở đây là chủ ý đưa ra hình ảnh một mặt, mặt đen tối và ô nhục.  Lý do để đưa ra mặt này là vì hàng triệu linh hồn bị lạc dẫn đang sơn phết mặt kia và đưa cao nó lên như là mặt duy nhất cho thế giới những kẻ nhẹ dạ, cả tin.  Chúng tôi nghĩ rằng chúng ta cần phải biết cả hai mặt, không chỉ vì lợi ích của sự thật mà còn là cho những người đang sống trong sự nô lệ tâm linh cho một quyền lực lừa đảo.  Đối với những người này, một ngàn năm tội ác và đồi bại được làm nhẹ đi qua lời giải thích hời hợt là "chỉ có vài giáo hoàng xấu".  Nếu những người giải thích như vậy mà lương thiện, họ phải thừa nhận rằng thật ra chỉ có vài giáo hoàng tốt.

   Chúng tôi đã nói về sự bất lương của học thuật Công giáo.  Không ở đâu rõ ràng bằng luận điệu bào chữa, che đậy cho các giáo hoàng đồi bại. 

   Những tội ác của các giáo hoàng là do những người khác làm và "không thể tránh được", sự thiêu sống những kẻ dị giáo là một "điều cần thiết của thời đại",  những sự trụy lạc của giáo hoàng chỉ là "yêu thích sự vui vẻ lành mạnh".  Những hồ sơ ghi chép sự việc đương thời đã hoàn toàn phủ bác những luận điệu trên, và những điều ghi chép này không phải là do những kẻ thù của giáo hội viết, mà phần lớn là do những sử gia của chính giáo hội gồm có những giáo hoàng và hồng y: giáo hoàng Victor II, Pius II, hồng y Baronius, giám mục Liutprand, linh mục Salvianus, và các sử gia như Milman, Gerbert, Burchard, Guicciardini, Vacandard, Draper, và nhiều người khác.  Đây chính là những người có đầy đủ thẩm quyền đưa ra cái mặt đen tối và ô nhục của giáo hội.  Những gì mà chúng tôi trình bày ở đây chỉ là lượm lặt trong thời gian 1500 năm, nhưng chúng tôi nghĩ rằng cũng đủ để bác bỏ mọi điều tự nhận của giáo hội, cho rằng giáo hoàng đã được thánh linh tuyển chọn và hướng dẫn..

   Trong "thời đại tăm tối" (the dark ages) những giáo hoàng được thánh linh hướng dẫn này đã giết nhau với nhịp độ 10 giáo hoàng bị giết trong vòng 12 năm (891-903) và 40 trong vòng hơn 100 năm.  Giáo hoàng Sergius III là một kẻ giết nhiều người; theo hồng y Baronius và Vulgarius, ông ta đã giết hai vị giáo hoàng tiền nhiệm.  Năm 708, Toto, một nhà quý tộc đứng đầu một đám thuộc hạ ô hợp, đã vận động để cho anh hắn được bầu làm giáo hoàng.  Đó là giáo hoàng Constantine II, người sau đó bị Christopher, thủ tướng của ông ta, móc mắt ra.  Rồi Christopher cùng con của hắn âm mưu chống giáo hoàng Gregory và cũng cho người móc mắt Gregory.  Hai đứa cháu của giáo hoàng Leo III là Pascal và Campulus đều là linh mục.  Chúng toa rập với nhau mưu đồ thay thế Leo III, thuê một đám giết mướn để giết Leo III khi ông ta đi dạo phố.  Việc không thành, chúng đích thân ra tay, kéo Leo III vào một tu viện và giết ông ta tại đó.  Chắc độc giả cho rằng đó là chuyện thuần túy giả tưởng, chỉ để phỉ báng.  Nhưng không phải vậy, đó là dựa theo những hồ sơ ghi lại sự việc của nhà viết tiểu sử các giáo hoàng.

   Đó chỉ là chuyện thường tình của thời đại.  Giáo hoàng Leo V bị một người cũng tên là Christopher hạ bệ, rồi đến lượt tên này cũng bị hạ bệ và cái tên sát nhân giết mấy giáo hoàng tiền nhiệm đã nói ở trên, Sergius III, lên thay. Trong thời đại này, không phải là Thánh Linh tuyển chọn giáo hoàng mà là, theo Hồng y Baronius, những cô gái điếm (scortas).  Đó là "luật lệ của những cô gái điếm hạng sang" (rule of the courtesans), đôi khi còn được gọi là "chế độ điếm trị" (Pornocracy), hay là triều đại của các cô gái điếm (reign of the whores).  Trong số điếm này có một người mà Baronius gọi là "con điếm vô liêm sỉ", Theodora, và đứa con gái vô liêm sỉ không kém là Marozia.  Cả hai mẹ con đều có con với giáo hoàng Sergius III, và cả hai đều đưa những đứa con hoang của mình lên ngai giáo hoàng – John XI và John XII.  John XI bị cầm tù và John XII đã "biến dinh Lateran (nơi giáo hoàng ở, trong Vatican. TCN) thành một ổ điếm".  Không có một tội ác nào mà John XII không làm – giết người, khai gian, thông dâm, loạn luân với hai em, đâm chém và thiến kẻ thù v! ..v.. Hắn ta chết trong tay của một người chồng bị xúc phạm (vì bị bắt quả tang đang thông dâm với vợ người này.)

   Theo sử liệu, hồng y Francone cho người thắt cổ giáo hoàng Benedict VI, sau đó lên làm giáo hoàng Boniface VII, "một con quỷ khủng khiếp vượt mọi con người về tội ác", theo sử gia Gerbert.  Hắn ta cũng chẳng tệ hơn gì giáo hoàng Boniface VIII.. Thật vậy!  Để chiếm được cái mũ tiara (mũ ba tầng của giáo hoàng. TCN) hắn đã thủ tiêu giáo hoàng dở hơi Celestine V.  Nhưng hắn cũng chẳng hưởng được sự chiến thắng lâu dài vì ngay sau đó hắn bị những người La Mã truất phế.  Trong triều đại của một giáo hoàng kế vị, Clement V, sau khi chết hắn còn bị mang ra xét xử  và được xem là phạm mọi tội ác, kể cả tội hành dâm với đồng nam (pederasty) và giết người.  Và khi Clement chết thì người kế vị hắn, John XXII, phanh phui ra rằng Clement đã quá nhân từ (Tác giả chơi chữ: "Clement had been so very clement" vì clement có nghĩa là nhân từ) nên đã cho người cháu một số tiền tương đương với 5 triệu dô-la, tiền của giáo hoàng.  Vào thời gian này, triều đình của giáo hoàng được chuyển đến Avignon, và thánh Phê-rô nay cùng lúc có hai người kế thừa, một người ở Avignon và một người ở Rô-Ma.  Nhưng vậy mà cũng chưa đủ vì có khi có tới ba giáo hoàng cùng một lúc – Gregory XII, Alexander V, và John XXIII.  Về sau John XXIII bị từ khước, tên thánh bị hủy bỏ, và gần đây tên nà! y (John XXIII) được giáo hoàng kế vị Pius XII lấy lại.

   Sự đồi bại của John XXIII lên đến độ mà Sigmund ở Hung Gia Lợi phải triệu tập một hội đồng điều tra hắn ta.  Kết quả của cuộc điều ta là đưa ra năm mươi bốn (54) khoản mô tả John XXIII là "độc ác, không tôn trọng những điều thiêng liêng, không trong trắng, nói láo, không tuân theo luật lệ và đầy những thói xấu."  Khi còn là hồng y, John XXIII đã là người "vô nhân đạo, bất công và tàn bạo."  Khi lên làm giáo hoàng, ông ta là "kẻ đàn áp người nghèo, khủng bố công lý; là cột trụ của tội ác, hình tượng của những kẻ buôn bán chức tước và thánh tích; ham mê trò quỷ thuật, cặn bã của thói xấu, đắm mình trong nhục dục; là tấm gương của sự ô nhục, một kẻ phát minh ra những tội ác."  Hắn giữ chắc ngôi vị giáo hoàng bằng "bạo lực và gian lận và bán chứng thư xá tội, chức vụ, bí tích và những đồ ăn cướp được."  Hắn "xúc phạm thánh thần, thông dâm, giết ngưòi, hiếp dâm và ăn cắp."..  Một vài những giáo hoàng như vậy vô đạo đức, tục tĩu đến độ phải đi đày.  Ít nhất là có hai giáo hoàng bị móc mắt và cắt lưỡi, rồi buộc vào đuôi lừa kéo lê ngoài đường phố.  Một số khác bị khinh ghét đến độ người ta quật xác chúng lên và ném xuống sông Tiber.  Sau một ngàn bốn trăm năm dưới quyền lực của Ki Tô Giáo, đạo đức xuống thấp đến độ giáo hoàng Pius II than rằng "hiếm mà có một ông hoàng ở Ý không phải là đ! ứa con hoang."  Lời tuyên bố này cũng áp dụng cho những ông hoàng của giáo hội (the princes of the church: nghĩa là những giáo hoàng, hồng y, giám mục v..v..) như là của chính quyền dân sự.

   Tệ hại như vậy nhưng sự tệ hại hơn còn chưa tới – với giòng họ Borgias, đặc biệt là Rodrigo.  Trong những giáo hoàng xấu xa độc ác thì hắn xứng đáng đứng đầu.  Bằng cách hối lộ 15 hồng y với số tiền tương đương với 3 triệu đô-la, hắn chiếm được sự tuyển lựa một con người tệ hại nhất trong lịch sử – chính hắn, lên làm giáo hoàng với tên Alexander VI.  Sử gia Guicciardini mô tả hắn như sau: "..có những thói quen cực kỳ tục tĩu, vô liêm sỉ và không có một ý thức nào về sự thật, nuốt lời, không có tình cảm tôn giáo, tham lam vô độ, nhiệt tình tham vọng, độc ác quá sự độc ác của những giống người man rợ, tham muốn đưa con lên địa vị cao bằng mọi thủ đoạn: hắn có nhiều con, và một trong những đứa này – cũng đáng ghê tởm như  cha của nó."  Đó là con người nổi tiếng, Cesare Borgia, người đã giết người anh rể là John, và hai hồng y khác để chiếm được cái áo hồng y..

   Khi còn là hồng y, cái kẻ chơi bời phóng đãng và sát nhân này đã biến chỗ ở của mình trong Vatican thành một ổ điếm.  Theo sử gia đương thời là Burchard, hắn đắm mình trong những cuộc hoan lạc trong những phòng của hắn, ngay trên phòng của giáo hoàng, và những cô gái điếm hạng sang "nhảy múa trần truồng trước những tôi tớ của Chúa [các hồng y, giám mục, linh mục] và vị đại diện của Chúa (giáo hoàng. TCN)."..  Đó là sự hoan lạc được giải thích như là "lòng yêu thích sự vui vẻ lành mạnh."

   Đó là những ông hoàng của giáo hội trong những ngày đó.  Trong thời Trung Cổ, tập thể các hồng y cũng đồi bại như là một tập thể mà người ta có thể kiếm được trong suốt giòng lịch sửChiếm được một ngôi vị hồng y chỉ là vấn đề có tiền và ảnh hưởng quen thuộc.  Đức tính, sự hiểu biết, và khả năng không dự phần nào trong đó.  Thật vậy, những đứa trẻ mười bốn mười lăm tuổi đôi khi cũng được đưa lên ngôi vị hồng y.  Giáo hoàng Paul III cho hai đứa cháu (gọi Paul III bằng ông) làm hồng y.. Paul IV cũng cho một đứa cháu gọi Paul IV bằng bác lên làm hồng y tuy chính ông ta nói "cánh tay của nó ngập máu đến tận khuỷu tay."

   Vậy mà đó là những người, với sự trợ giúp của Thánh Linh, tuyển chọn giáo hoàng..

   Tại sao cái lịch sử ô nhục này không được tín đồ biết đến như là lịch sử các giáo hoàng mà họ cho là tốt?  Tại sao các tín đồ Công giáo  không được dạy rằng chính những con người như trên đã đưa đến sự cải cách chứ không phải là do "con quỷ Luther đó."?  Giáo phái Tin Lành nổi giậy không chỉ vì Luther mà vì sự phản đối tội ác và sự đồi bại của giáo hội Công giáo trong nhiều thế kỷ.  Tên Sa-Tăng Phê-rô đã xúc phạm đến toàn thể Âu Châu..

  [Lloyd M. Graham, Deceptions and Myths of the Bible, pp. 463-468:  What we offer here is admittedly and intentionally a one-sided picture, the dark and shameful side.  Our reason for so presenting it is that millions of misguided souls are painting the other side and holding it up to a credulous world as the only side.  We think both sides should be known, not only in the interest of truth but also for those who are living in spiritual bondage to a fraudulent authority.  For these, a thousand years of crime and corruption are glossed over with the statement, "There were a few bad popes."  Were their informers honest they would admit there were a few good.

   We have spoken of the dishonesty of Catholic scholarship.  Nowhere it is more evident than in its whitewash of wicked popes.  Their crimes were all done by others and "unavoidable," their burning of heretics, a "necessity of the times," their debaucheries, but "love of godd cheer.". Contemporary records completely refute these claims, and the records were not written by the Church's enemies, but mainly by its own historians, popes and cardinals: Victor II, Pius II, Cardinal Baronius, Bishop Liutprand, Father Salvianus, and historians, Milman, Gerbert, Burchard, Guicciardini, Vacandard, Draper, and others.  These are the authority for the dark and shameful side.  What we offer here is but a hop, skip and jump over some 1500 years, but sufficient, we think, to disprove any claim to divine selection and guidance.

   During the Dark Ages these divinely guided popes murdered one another at such a rate there were ten in twelve years (891-903) and forty in little more than one hundred.  Sergius III was a wholesaler; according to Cardinal Baronius and also Vulgarius, he murdered his two predecessors.  In 708 Toto, a noble at the head of a rabble following, had his brother apointed pope.  This was Constantine II whose eyes were put out by Christopher, his chief official.  Then Christopher and his son plotted against Pope Gregory for they too had their eyes put out.  The two nephews of Leo III, Pascal and Campulus, themselves clerics, conspired to replace Leo and set a band of paid assassins upon him as he rode through the streets.  When the hirelings failed, the two nephews dragged the pope into a monastery and complete the work.  Pure fiction, downright slander, you say.  But no, it is from the record of the papal biographer.

   This was the order of the day.  Pope Leo the V was deposed by another Christopher, who was in turn deposed and succeeded by the aforesaid criminal Sergius III, who murdered his predecessors.  At this time it was not the Holy Ghost that selected the popes but what cardinal Baronius called scortas, whores.  This was the "rule of the courtesans," sometimes called Pornocracy, or reign of the whores.  Among them was one Baronius called the "shameless whore," Theodora, and her equally shameless daughter Marozia.  Both had sons by Sergius III, and both put their illegitimates on the papal throne - John XI and John XII.  The first was imprisoned, the second "turned the Lateran Palace into a brothel."  There was no crime he didn't commit - murder, perjury, adultery, incest with his two sisters, bleeding and castrating his enemies, etc.  He died, we are told, at the hand of an outraged husband.

   According to the record, Cardinal Francone had Benedict VI strangled, after which he became Boniface VII, "a horrid monster surpassing all other mortals in wickedness," according to Gerbert.  He was no worse however than Boniface VIII..  Yes indeed!  To gain his tiara he had the halfwit Celestine V disposed of.  He did not long enjoy his victory for soon he was driven out by the Romans.  Under a successor, Clement V, he was tried posthumously and found guilty of every crime including pederasty and murder.  And when Clement died, his successor, John XXII, revealed that Clement had been so very clement he had given his nephew the equivalent of five million dollars of papal money.  It was at this time the papal court was moved to Avignon, and now St. Peter had two successors, one at Avignon and one at Rome.  But even this was not enough; there were at one time three - Grogory XII, Alexander V, and John XXIII.  Later, John XXIII was repudiated, the title was annulled and recently assumed by the successor of Pius XII.

   So corrupt was the latter, Sigmund of Hungary called a council to investigate him.  The result was fifty-four articles described him as "wicked, irreverend, unchaste, a liar, disobedient and infected with many vices."  As a cardinal he had been "inhuman, unjust and cruel."  As pope he was "an oppressor of the poor, persecutor of justice, pillar of the wicked, statue of the simoniacs, addicted to magic, the dregs of vice..wholly given to sleep and carnal desires, a mirror of infamy, a profound inventor of wickedness."  He secured the Papacy by "violence and fraud and sold indulgences, benefices, sacraments and bulls."  He practiced "sacrilege, adultery, murder, rape and theft.".. Some of these popes so outraged decency they were exiled.  At least two of them had their eyes and tongue cut out, then were dragged through the streets tied to the tail of an ass.  Still others were so despised their corpses were exhumed and thrown into the Tiber.  After fourteen hundred years of Christianity morals had sunk so low that Pius II tells us: "scarcely a prince in Italy had been born in wedlock."  A statement as applicable to the princes of the church as of the states.

   Bad as all this was, the worst was yet to come - the Borgias, particularly Rodrigo.  Of all the wicked popes he deserves the crown.  By bribing fifteen cardinals with the equivalent of three million dollars he secured the election of one of the worst men in history - himself, Alexander VI.  Guicciardini, the historian, describes him thus: "..private habits of the utmost obscenity, no shame or sense of truth, no fidelity to his engagements, no religious sentiments, insatiable avarice, unbridled ambition, cruelty beyond the cruelty of barbarous races, burning desire to elevate his sons by any means: of whom there were many, and among them one - not any less detestable than his father."  This was the notorious Cesare Borgia who to gain a cardinalate murdered his brother John, his sister's husband, and two cardinals..

   While still a cardinal this rake and murderer turned his quarters in the Vatican into a brothel.  According to Burchard, the papal historian at the time, he indulged in nightly revels in his rooms above the pope's, and courtesans "danced naked before the servants of the Lord and the Vicar of Christ."  And his sister, Lucrezia, distributed prized to those who "had a carnal intercourse with courtesans the largest number of times."  This is the gaiety explained as "love of dood cheer."

   Such were the Princes of the Church in those days.  During the Middle Ages the College of cardinals was as corrupt a body as could be found in all history.  Securing a cardinalate was but a matter of money and influence.  Neither character, learning nor aptitude played any part in it.  Indeed boys of fouteen and fifteen were sometimes invested with the office.  Paul III appointed two of his teen-age grand children to this high office.. Paul IV made his nephew a cardinal, though, as he said, "his arm is dyed in blood to the elbow."

   Yet these were the men who, with the help of the Holy Ghost, selected the popes..

   Now why isn't this disgraceful record known as well as that of the the good popes?  Why aren't Catholics told it was such men as these that caused the Reformation and not "that devil Luther?"  Protestantism sprang not from Luther exclusively but from centuries of protestation against the crime and corruption of the Catholic Church.  Satan Peter had outraged all Europe..]

 

   Trên đây chỉ là sơ lược về những sự đồi bại cùng cực của một số không nhỏ "đức thánh cha" của giáo dân Việt Nam, những "đại diện của Chúa" trên trần, những người được Thánh Linh nhập vào tập đoàn hồng y trong sự tuyển chọn, trong lịch sử Ca Tô giáo Rô-ma.  Tôi chưa hề nói đến những hoạt động lừa đảo, gian dối, thế tục, thực dân của "hội thánh" liên hệ đến những vấn đề chính trị, xã hội, kinh tế, văn hóa v..v.. trên khắp thế giới. Những vấn đề này cần riêng một cuốn sách mới có thể tạm gọi là đầy đủ.

 

   Để bổ túc cho đoạn trên của Lloyd Graham, sau đây là vài đoạn điển hình trong chương nói về Các Triều Đại Giáo Hoàng Do Điếm Trị (Papal Pornocracy) mà Hoàng Thiên đã dịch với đầu đề không được sát nghĩa cho lắm: Triều Đại Dâm Loạn Của Các Giáo Hoàng, và đăng trong Tuyển Tập I: Tại Sao Không Theo Đạo Chúa, trang 134-173, cùng với nguyên bản tiếng Anh, do Ban Nghiên Cứu Đạo Giáo ở Texas xuất bản và phát hành năm 1994.  Chương này lấy ở trong cuốn Những Đại Diện Của Ki-Tô: Cái mặt Đen Tối Của Cung Đình Giáo Hoàng (Vicars of Christ: The Dark Side of the Papacy) của nguyên Tổng Giám Mục Peter de Rosa, Giáo sư Siêu Hình Học và Đạo Đức Học tại Trường Dòng Westminster và Khoa Trưởng khoa Thần Học, đại học Corpus Christi, Luân Đôn. 

 

Các Triều Đại Giáo Hoàng Do Điếm Trị: [Papal Pornocracy] 

 

   Cách La Mã 15 dặm, trên vùng đồi núi Alban, có nhóm Conti nổi tiếng trong thế kỷ 10, những Công Tước họ Alberic ở Tusculum.  Những lãnh chúa này nắm toàn quyển kiểm soát những cuộc tuyển chọn giáo hoàng.  Bảy giáo hoàng xuất thân từ dòng họ này, có ba vị kế tiếp nhau, và hầu như không có trường hợp ngoại lệ nào, họ đều cùng nhau hình thành "Một La Mã Ô Nhục" (A Rome of Shame).

   Lịch sử đã làm nổ tung cái huyền thoại trong dân gian là chỉ có Borgia là một giáo hoàng xấu.  Thực ra, không bao lâu sau thời Charlemagne, trong hơn một thế kỷ rưỡi, toàn thể tập đoàn giáo hoàng đều thối nát (the whole batch [of popes] was rotten)Họ là tông đồ của Quỷ Sứ, Ma Vương hơn là tông đồ của Đấng Ki Tô [They were less disciples of Christ than of Belial, the Prince of Darkness]Rất nhiều giáo hoàng là những tên dâm ô trụy lạc, sát nhân, gian dâm, hiếu chiến, bạo chúa, mua bán chức tước và sẵn sàng bán cả thánh thần.  Hầu hết bọn chúng đều mê tiền bạc và mưu đồ xấu xa hơn là đạo giáo [They were nearly all wrapped up in money and intrigue than in religion]..

   Trước hết, chúng ta hãy xét đến danh sách những giáo hoàng từ năm 880.  Trong 150 năm tiếp theo có 35 giáo hoàng, mỗi ông trị vì trung bình là 4 năm.  Trong thời kỳ đầu, những cuộc chuyển nhiệm quyền hành đều như nhau: những giáo hoàng được chọn vì họ là những người già cả hay bệnh tật.  Nhưng trong hai thế kỷ 9 và 10, nhiều giáo hoàng mới ngoài 20 tuổi, một số còn là vị thành niên.  Một vài vị trong nhóm đó chỉ trị vì có 20 ngày, một tháng, hay 3 tháng. Sáu vị bị truất phế, một số bị sát hại [Six of them were dethroned, a number were murdered]..

   Khi một giáo hoàng bỗng dưng biến mất, thế thì ông ta đã bị cắt cổ hay đã bị đạp xuống sông Tiber?  Hay đã bị treo cổ trong ngục tù? Hay đang ngủ luôn trong nhà điếm? [Was he sleeping it off in a brothel?]  Hay đã bị cắt tai và mũi như Stephen năm 930 mà sau đó – dĩ nhiên – không còn dám chường mặt ra trước công chúng nữa?  Hay đã trốn mất, như Benedict V năm 964, sau khi cưỡng hiếp một bé gái, đã chạy trốn về Constantinople với tất cả tài sản trong thánh đường Peter?  Sử gia sùng tín của giáo hội, Gerbert, đã gọi Benedict là "kẻ đồi bại nhất trong những quái vật vô Thượng đế" [the most iniquitous of all the monsters of ungodliness].  Giáo hoàng này sau cùng đã bị một người chồng ghen tuông đâm chết.  Thân xác của y, với hàng trăm vết đâm, bị kéo lê qua những đường phố, trước khi bị đạp vào một hầm chứa phân.

   Không còn nghi ngờ gì nữa, những giáo hoàng này đã tạo nên một tập đoàn lãnh đạo, tu sĩ hay giáo dân, đê tiện nhất trong lịch sử [Without question, these pontiffs constitue the most despicable body of leaders, clerical or lay, in history]  Nói trắng ra, chúng là những tên man rợ.

   Một giáo hoàng, Stephen VII, đã hoàn toàn điên khùng.  Hằn cho đào mả một giáo hoàng tiền nhiệm, Formosus, đã chết được 9 tháng.  Trong cái được gọi là Hội Nghị Tử Thi (cadaveric Synod), hắn cho cái thây ma đã thúi rữa mặc đủ lễ phục của giáo hoàng, đặt ngồi trên ngai ở điện Lateran và đích thân thẩm vấn xác chết.  Formosus bị cáo buộc là đã lên làm giáo hoàng với những lý do ngụy tạo, đã làm giám mục ở một nơi khác, do đó không được làm giáo hoàng ở La Mã.  Theo Stephen, điều này đã khiến cho những hành động của Formosus vô giá trị, đặc biệt là những cuộc tấn phong.  Sau khi buộc tội, cái thây ma bị kết án là một ngụy giáo hoàng (antipope), bị lột hết quần áo, sau khi đã bị chặt đứt hai ngón tay mà khi còn sống đã dùng để ban phúc nhân danh tông đồ của Chúa, rồi bị ném xuống sông Tiber.  Rồi cái thây được vớt lên bởi những kẻ ủng hộ Formosus và được chôn cất kín đáo.  Sau cùng, cái thây ma được đưa về ngôi mộ của ông ta ở trong thánh đường Phê-rô.  Còn Stephen thì bị treo cổ sau đó ít lâu.

   Giáo hoàng làm tàn phế người rồi cũng bị người làm tàn phế lại, giết hại người rồi cũng bị người giết lại.  Đời sống của họ không có gì giống như là trong các Phúc Âm.  Họ có nhiều điểm giống như là các trẻ con nhà giàu hiện đại, thường trở thành du đãng, nghiện ngập, la cà những quán cà phê ven biển hay những hộp đêm, hơn là như các giáo hoàng.  Một số lên làm giáo hoàng là nhờ cha mẹ có nhiều tham vọng, một số nhờ gươm giáo, một số nhờ ảnh hưởng của các cô nhân tình đẹp đẽ quý phái trong thời đại được biết là "triều đại của những gái điếm" (The Reign of the harlots).

   Nổi bật trong đám gái điếm hạng sang (courtesans) là Marozia thuộc dòng họ Theophylact.  Theo giám mục Liutprand ở Cremona, sống cùng thời với Marozia,  thì Marozia đã được mẹ là Theodora huấn luyện kỹ (well coached).  Theodora có một đứa con gái thứ hai với giáo hoàng John X (914-929), cũng tên là Theodora… [Theodora, who had a second daughter, also named Theodora, by pope John X]  Trong vòng chưa đầy một thập niên, mấy mẹ con Theodora đã dựng lên – cũng như phế bỏ tùy hứng – không dưới 8 giáo hoàng. [In less than one decade, they created – and, when it suited them, destroyed – no less than eight popes]

 

Cô Gái Điếm Xinh Đẹp

 

   Marozia đầu tiên dấn thân vào những quan hệ tình ái trong cung đình giáo hoàng là với giáo hoàng Sergius III (904-911).  Trước đó, Sergius đã bị giáo hoàng Leo V ngăn chận con đường lên làm giáo hoàng.  Giáo hoàng Leo V chỉ trị vì được có một tháng rồi bị bắt cầm tù bởi một kẻ thoán vị, Hồng y Christopher.  Sergius giết tốt cả hai.

   Sergius lại quật mồ của giáo hoàng Formosus, đã chết được 10 năm, và lại kết án cái thây ma một lần nữa.  Sergius, trước đó được Formosus tấn phong, thực sự nên tự coi mình là bất hợp lệ, nhưng y không cần để ý đến những lý sự cùn thần học, xa lạ với bản chất của hắn.  Hắn cho người chặt đầu cái thây ma của Formosus, chặt thêm 3 ngón tay của Formosus trước khi ném thây xuống sông Tiber.  Khi cái thây ma không đầu bị vướng vào  cái lưới đánh cá của một ngư phủ, một lần nữa cái thây ma đó lại được "sống một cuộc đời êm đẹp", đem trở về ngôi mộ ở thánh đường Phê-rô.

   Khi Marozia trở thành tình nhân của Sergius, lúc đó đã 45 tuổi, thì nàng mới có 15 tuổi.  Nàng có một đứa con trai với Sergius mà nàng rất lo cho sự nghiệp của nó.  Sergius chết sau đó 5 năm,  sau một triều đại giáo hoàng kéo dài 7 năm  đẫm máu, đầy những mưu đồ xấu xa và ái ân cuồng nhiệt. [Sergius was to die five years later after a seven-year pontificate crammed with blood, intrigue and passion.]

   Marozia không bao giờ quên được mối tình khi còn trẻ.  Ăn nằm với một giáo hoàng đã đưa nàng đến những dự tính và những khoái cảm mà ngay cả 3 cuộc hôn nhân sau, cùng vô số những cuộc lăng nhăng tình ái khác, cũng không xóa nhòa được.  Lần đầu tiên giáo hoàng Sergius quyến rũ nàng là ở điện Lateran. [The first time Pope Sergius had seduced her was in the Lateran Palace].  Họ thường gặp nhau vì suốt thời thơ ấu nàng sống ở đó khi cha nàng là Nghị Viên Trưởng của thành La Mã.  Rồi trong một lúc nào đó, Sergius bỗng chợt nhận ra rằng cô bé dễ thương ngày xưa đã nẩy nở thành một thiếu nữ kiều diễm.  Về phần Marozia, không phải là nàng kiếm khoái lạc trong vòng tay của giáo hoàng, mà là quyền lực.

   Mẹ nàng, Theodora, đã từng lập lên và phế bỏ 2 giáo hoàng, khi mụ ta bất chấp giáo luật, đã đưa gã nhân tình yêu chuộng  từ giám mục lên đến tổng giám mục và sau cùng lên ghế của Phê-rô làm giáo hoàng John X…

   Đúng vào thời điểm này, dòng họ Alberic ở Tuscany, xuất thân từ miền Bắc, nhập cuộc.  Giáo hoàng John X đề nghị cùng vợ Theodora là một cuộc hôn nhân giữa Marozia và Alberic có thể có lợi cho mọi người.  Marozia củng nhận thấy Alberic là một ngôi sao đang lên, và từ cuộc hôn nhân, Alberic Con ra đời.  Alberic Cha, có lẽ do vợ giật dây, định cướp quyền ở La Mã nên bị giết.  Giáo hoàng John bắt người góa phụ trẻ phải chứng kiến cái thây của chồng bị băm vằm cắt xẻo.  Đây là một sai lầm tai hại.  Một người đàn bà đã ăn nằm với giáo hoàng Sergius phải biết thế nào là trả thù.

   Khi Theodora chết năm 928, Marozia cho người bắt giáo hoàng John cầm tù trước khi ra lệnh hành quyết hắn bằng cách làm cho ngạt thở [thường là úp đè một cái gối lên mặt].  Con trai đầu của Marozia nay đã 17 tuổi.  Chẳng bao lâu nữa y sẽ có đủ kinh nghiệm để nắm lấy chức giáo hoàng.  Y đã được huấn luyện cho chức vụ này bằng một cuộc sống trụy lạc và hoàn toàn đồi bại. [He had been groomed for it by a sensous and totally immoral life.]  Một vài giáo hoàng sau John X, mỗi người chỉ trị vì trong một thời gian ngắn, và người nào cũng biến mất  trong những trường hợp bí mật. [each of them disappearing in mysterious circumstances].  Bây giờ, con trai của Marozia và giáo hoàng Sergius lên làm giáo hoàng John XI.

   Marozia lấy người chồng thứ hai là Guy.  Sau khi Guy chết, Marozia lấy luôn người anh cùng cha khác mẹ của Guy là Vua Hugo ở Provence.  Hugo đã có vợ nhưng vợ y đã bị dẹp bỏ dễ dàng. Thật may mắn cho Marozia có con làm giáo hoàng: vì hắn có quyền dẹp bỏ mọi điều gây trở ngại cho cặp Marozia-Hugo, như là loạn luân chẳng hạn. John XI đã đứng ra làm chủ lễ trong đám cưới của mẹ hắn ở La Mã vào mùa xuân năm 932.

   Rồi thì tất cả đã tan vỡ vì đứa con thứ hai của Marozia, đứa con đầy ghen tị của Alberic, nay đã 18 tuổi.  Hắn đã cướp quyền kiểm soát La Mã để tự ý lựa chọn Giáo hoàng.  Hugo phải bỏ vợ chạy trốn trong nhục nhã.  Alberic bắt Giáo hoàng John XI, người anh cùng mẹ khác cha và con của Giáo hoàng Sergius, tống giam chung thân trong điện Lateran – nơi mà John XI chết sau đó 4 năm – và, tàn bạo hơn cả, hắn đã hạ ngục luôn cả mẹ hắn.

   Dù đã quá tuổi xuân thì, Mazoria vẫn còn là một người đàn bà diễm lệ khi nàng bước bước chân đầu tiên vào ngục Hadrian's Mausolem, thường được biết dưới tên Lâu Đài Sant'Angelo.  Nàng sống trong cái nơi khủng khiếp đó bên bờ sông Tiber, hơn 50 năm, không một ngày được ân giảm.

   Năm nàng 60 tuổi, ở trong ngục nàng nghe tin Alberic đã chết năm 40 tuổi và con hắn, tức cháu nội của nàng, tên là Octavian, đã tự phong là Giáo hoàng của giáo hội.  Là Giáo hoàng đầu tiên đổi tên mình, tự đặt là John XII.  Đó là vào mùa Đông năm 955.

   Có lẽ tuổi trẻ của Giáo hoàng mới này có thể giải thích phần nào tác phong vô đạo đức tôn giáo của hắn, vì hắn lên làm Giáo hoàng khi mới có 16 tuổi. Tất cả các tu viện đều cầu nguyện ngày đêm cho hắn chết đi.

   Người ta nói rằng, hắn đã phát minh ra những tội lỗi chưa từng có từ thời khai sinh lập địa, kể cả việc ăn nằm với chính mẹ hắn. [He had invented sins, they said, not known since the beginning of the world, including sleeping with his mother]  Hắn có một hậu cung chứa gái ngay trong điện Lateran.  Hắn dùng tiền cúng của người hành hương để cờ bạc.  Hắn thưởng cho những người con gái ngủ với hắn ngay cả những ly đựng rượu lễ bằng vàng của thánh đường Phê-Rô. Đặc biệt là phụ nữ thường được khuyên là đừng có vào điện Lateran nếu coi trọng danh tiết. [Women in particular were warned not to enter St John Lateran if they prized their honour]. 

   Chưa từng có một Giáo hoàng nào đã "về với Chúa" trong một vị thế xấu hổ hơn.  Một đêm nọ, một người chồng ghen tuông, một trong số nhiều ông chồng, đã bắt được quả tang [in flagrante delicto] "Đức Thánh Cha" đang ăn nằm với vợ mình và đã tặng cho y một lễ nghi cuối cùng là giáng một búa vào gáy.  [One night, a jealous husband, one of many, caught his Holiness with his wife in flagrante delicto and gave him the last rites with one hammer blow in the back of the head].  Y chết khi mới có 24 tuổi.  Người dân La Mã, nổi tiếng về đầu óc tiếu lâm, nói đấy là cao điểm  sự nghiệp của y.  Ít nhất là y cũng may mắn được chết trên giường, dù đó là giường của người khác…

 

   Giáo hoàng mà được chết trên giường, dù là giường của vợ người, quả là điều may mắn.  Vì như Malachi Martin đã viết, Ibid., p.3:

 

    Từ cái chết của Tông đồ Simon Peter [Nền thần học của Giáo hội dựng lên làm giáo hoàng thứ nhất tuy rằng ngày nay nhiều học giả đã phủ bác điều này] vào năm 67 cho đến năm 312, có 39 giáo hoàng, kế vị Peter làm giám mục thành La Mã.  Không một người nào trong số 18 giáo hoàng đầu tiên chết ở trên giường.  Tất cả đều chết bất đắc kỳ tử.  Khi còn sống, mỗi vị trong số 31 Giáo hoàng đầu tiên đều sử dụng quyền của cái vương quốc tâm linh đó, và dạy những gì mà vị tiền nhiệm của họ đã dạy:  Hãy đóng trụ trong vương quốc tinh thần của Thượng đế.  Hãy chờ đợi sự trở lại của Giê-su, ngày tận thế, và sự chiến thắng chung cùng của luật Thượng đế.

   (Malachi Martin: p.3:  Between the death of Simon Peter the Apostle in A.D. 67, and the year 312, there were 39 popes, successors to Peter as bishops of Rome.  Not one of the first 18 popes died in his bed.  All perished violently.  While he lived, each of the first 31 popes wielded the authority of that spiritual kingdom, and taught what his predecessor had taught before him:  Abide in the kingdom of God's spirit.  Wait for the return of Jesus, the final end of this visible world, and the ultimate triumph of God's rule.)

 

   Hiển nhiên là trong 2000 năm qua Giê-su không hề trở lại và ngày nay chẳng có mấy ai còn tin là ông ta sẽ trở lại để mà trông ngóng.  Thay đổi chiến thuật mị dân, Ki Tô Giáo dạy cứ tin ở Giê-su thì sau khi chết sẽ được Giê-su cứu rỗi, cho phần hồn nhập với phần xác, và cho lên thiên đường hưởng nhan thánh Chúa. Chẳng hiểu "hưởng nhan thánh Chúa" thì hay ho ở chỗ nào và có gì là vinh dự.  Nhưng thực tế là, bộ xương cứu thế của Giê-su vẫn còn ở Jerusalem và Giáo Hoàng John Paul II đã khẳng định là chẳng có chỗ nào là thiên đường ở trên các tầng mây. 

 

   Chuyện về các giáo hoàng trong mọi thời đại đó không kể sao cho đầy đủ.  Vậy tôi xin cắt nhắn và chỉ nhắc đến một tài liệu của Hồng Y Baronius, viết trong cùng Chương này của Peter de Rosa]:

 

   Thực là dễ hiểu nếu Hồng Y Baronius đã phải bối rối thế nào khi ông viết về những biến cố mà ông ta đã ghi lại với một sự thành thực đáng kể.  Ông ta gọi những Giáo hoàng của thời kỳ này là "những kẻ xâm lăng Tòa Thánh, là những kẻ phản đạo hơn là những tông đồ [non apostolicos sed apostaticos]

   Ông ta thú nhận là đã rất lo lắng và xúc động khi phải viết về những giáo hoàng này.  Ngồi trên cái ngai của Thánh Phê-rô không phải là những con người mà là những con quỷ đội lốt người. [On the chair of St Peter sat not men but monsters in the shape of men].  "Những tên khoác lác tự phụ trong những bộ áo láng của Giáo hoàng có đầy những dục vọng xác thịt và những xảo trá dưới mọi hình thức của ác ôn đã cai trị La Mã và biến cái ngai của Thánh Phê-rô thành ổ điếm cho những tì thiếp và nhân tình của chúng."

 

  Tôi nghĩ từng ấy tài liệu cũng đủ cho chúng ta thấy thực chất những "Đức Thánh Cha" của Ca-Tô Giáo Rô Ma ra sao, và chúng ta đã có thể có một nhận định chính xác về lời đề tặng của Dr. Arthur Frederick Ide ở trên.  Có bao giờ các "bề trên" trong giáo hội dạy cho tín đồ biết những sự kiện lịch sử thực sự về một số "Đức Thánh Cha" của họ cũng như về lịch sử thực sự của Giáo hội từ ngày đầu đến ngày cuối?  Tôi nghĩ không bao giờ. Vì dấu kín những chuyện nhơ bẩn của các vị chủ chăn và của hàng giáo phẩm cũng như lịch sử tàn bạo của Giáo hội là sách lược của Giáo hội, được duy trì bởi sự bất lương trí thức của các "bề trên", những vị đáng lẽ ra phải có  nhiệm vụ giáo dục mở mang đầu óc của các tín đồ.

 

   Theo một tài liệu của Linh mục John Shuster trên Internet thì trong lịch sử Ca-Tô Giáo Rô-ma có tới 39 Giáo hoàng có vợ, ngày nay trên thế giới có trên 110000 linh mục có vợ nhưng nhiều vị vẫn âm thầm hành nghề linh mục, một phần ba số linh mục ở Mỹ có vợ và số linh mục lập gia đình vẫn tiếp tục gia tăng [Hiện tượng truyền giống song song với truyền giáo]

   (“39 Popes Were Married!” was written and recorded by Father John Shuster.  In the past 25 years, over 110,000 Roman Catholic priests, worldwide, have married and many have discreetly continued to practice their priesthood. One out of every three Roman Catholic priests in the United States today is a married priest, and the number of priests getting married continues to grow.)

   Có thể có những tín đồ Ca Tô, tin theo lời chống đỡ của giáo hội, cho rằng đây chỉ là những chuyện dính líu đến một số giáo hoàng, hồng y xấu xa trong quá khứ và đó là những chuyện đã qua.  Không hẳn vậy, những chuyện đồi bại, ác độc không chỉ giới hạn trong giới giáo hoàng hay hồng y mà còn lan tràn trong mọi giới lãnh đạo Công giáo gồm cả các Tổng Giám Mục, Giám Mục và Linh mục, và kéo dài cho đến tận ngày nay.  Độc giả có thể đọc những chuyện này trong nhiều tác phẩm đã xuất bản, đặc biệt là chương I trong cuốn Những Chuyện Tình Ái của Vatican hay Những Tình Nhân Yêu Chuộng của Các Giáo Hoàng [The Love Affairs of the Vatican or The Favorites of the Popes] của Dr. Angelo S. Rappoport.

 

   Độc giả cũng có thể đọc những cuốn sau đây: Những Giáo Hoàng Xấu Xa (The Bad Popes) của E. R. Chamberlin;  Vạch Trần Những Sự Thực về Các Giáo Hoàng: Một Nghiên Cứu Thẳng Thắn về Vấn Đề Nhục Dục và Đồi Bại trong cung đình Vatican (Unzipped: The Popes Bare All, A Frank Study of Sex and Corruption in the Vatican) của Dr. Arthur Frederick Ide.

 

   Tôi không muốn đi sâu vào những vấn đề này.  Những tài liệu nêu trên chỉ có mục đích giúp những tín đồ Ca-Tô Việt Nam hiểu rõ thêm về những "đức thánh cha" của họ đồng thời chứng minh rằng: không có cách nào chúng ta có thể coi Ca Tô giáo như là một "hội thánh" vì giáo hội Ca Tô đã phạm quá nhiều tội ác đối với nhân loại, và vì nhiều bậc lãnh đạo trong Ca Tô giáo, kể cả một số người được phong làm Thánh Ca Tô giáo, xưa cũng như nay, không đủ tiêu chuẩn đạo đức và trí tuệ để theo kịp những người dân bình thường lành thiện, khoan nói đến những bậc thánh nhân theo sự hiểu và định nghĩa của những người Á Đông về thánh nhân..

 

   Một luận điệu mà các giáo dân thường dùng để bảo vệ "Hội Thánh" của họ là:  Những Giáo hoàng đồi bại cũng như những Linh mục loạn dâm cũng chỉ là những con người, không tránh được những cám dỗ thế tục.  Không phải!  Tuyệt đối không phải!  Tại sao?  Vì Giáo hoàng không phải là người như mọi người mà là "đại diện của Chúa" trên trần, nắm trong tay chìa khóa cửa thiên đường, có quyền tuyệt thông tín đồ, muốn cho ai lên thiên đường thì cho.  Linh mục cũng vậy, họ không phải là người mà là "Chúa thứ hai", có quyền tha tội cho ai thì người ấy được tha, cầm giữ ai thì người ấy bị cầm giữ.  Đó là giáo lý cốt tủy để tạo quyền lực cho Giáo hoàng và các linh mục.  Bảo họ cũng chỉ là người như mọi người có nghĩa là phủ nhận tất cả những quyền lực thần thánh mà Giáo hội đã tạo ra cho họ.  Cho nên luận điệu trên thực chất vô giá trị, chẳng qua chỉ là một luận điệu chống đỡ yếu ớt để vớt vát mặt mũi của cái gọi là "hội thánh Ca-Tô".

 

   Nhưng cái gì gọi là "hội thánh"? 

 

Giám mục John Shelby Spong đã đặt vấn đề với từ "hội thánh" trong Kinh Tin Kính của Ca Tô Giáo Rô Ma như sau:

 

   Kinh Tin Kính kết bằng một đoạn hiến dâng cho Thánh Linh, cái mà người ta nói rằng đã tạo nên giáo hội trong ngày hạ trần của ông ta (được quy định vào ngày chủ nhật thứ bảy sau ngày chủ nhật Phục Sinh. TCN), và được cho là vẫn tiếp tục chứa đầy giáo hội với "sự hiện diện của Thiên chúa".  Thứ nhất, chúng ta cần ghi nhận rằng, tất cả những biểu tượng về ngày hạ trần của Thánh Linh đều bắt nguồn từ cùng một quan niệm về ba tầng trời (theo thánh kinh: thiên đường ở trên các tầng mây, mặt đất phẳng dẹt, đứng yên và là trung tâm của vũ trụ, và hỏa ngục ở dưới mặt đất. TCN) trong đó người ta nói rằng Giê-su đã bay lên trời (thiên đường).  Giả định đằng sau câu chuyện gửi Thánh Linh hạ trần là cho rằng trái đất là trung tâm của vũ trụ và Thiên chúa sống ở trên trời có thể đổ xuống những ân sủng.  Thứ nhì, Kinh Kinh Tín khẳng định là  thánh linh này sẽ được phân phát trong các "hội thánh", liên tục tiếp sinh khí cho "giáo hội Ca Tô thánh thiện."  Nhưng trong lịch sử giáo hội, giáo hội cũng có những giai đoạn khủng khiếp ghi dấu bởi những cái gọi là "thánh chiến", "chiến tranh thiêng liêng của các thập tự quân", những tòa hình án xử dị giáo, chính sách vô nhân đạo chống Do-Thái, và sự công khai giết những người khác giống, kỳ thị phái n�! � và chống những người có khuynh hướng đồng giống luyến ái.  Trong những giai đoạn này, bạo lực quá mức đã được những người tự gọi mình là tín đồ Ki-Tô dùng thả giàn trên cả những dân của Thiên chúa cũng như những tạo vật của Thiên chúa.  Những sự khủng khiếp như vậy đã giáng xuống đầu nhân loại nhân danh một Thiên chúa của tình yêu thương.  Trong những giai đoạn này thì hội thánh ở đâu?  Chúng ta tính sao với những sự kiện lịch sử này mỗi khi chúng ta đọc câu trên  trong Kinh Tin Kính?

   [John Shelby Spong, Why Christianity Must Change or Die, pp. 16-17: This creed concludes with a paragraph dedicated to the Holy Spirit, who was said to have created the church at Pentecost and who, it is suggested, continues to fill the church with "God presence".  First, we need to note that all of these Pentecost symbols come out of the same three-tired skies into which Jesus was said to have ascended.  The assumption lying behind the story of the sending of the Holy Spirit is that the earth is the center of the universe and that onto it the heavenly gifts of the God who lives above the sky can be poured.  Second, the creed asserts that this spirit will issue in the communion of saints, which will continually renew the "holy Catholic church."..   But the church has also had in its history some rather dreadful moments marked by such things as "holy wars", "sacred crusades", inquisitions, inhumane anti-Semitism, and an overt, killing racism, sexism, and homophobia.  In these episodes incredible violence has been unleashed upon both God's people and God's creation by those who counted themselves as believers.  These horrors have even been inflicted in the name of the God of love.  Where was the communion of saints during those episodes?  What do we do with this known history when we recite these words in this creed?]

 

   Chúng ta thấy rằng, những tín đồ Ca Tô giáo quả là đáng thương vì bị đưa vào một cấu trúc quyền lực giả tạo mà họ tin rằng đó là một "hội thánh".. Chúng ta không thể và không nên trách họ. Đầu óc họ bị nhào nặn từ khi mới sinh ra đời và có thể khả năng hiểu biết của họ không cho phép họ biết rằng mình đã bị lừa dối bởi những lời nói láo vĩ đại.  Vì đã được nhào nặn trong một khuôn đúc đức tin không cần biết không cần hiểu cho nên họ không thể tin được và không thể chấp nhận những gì không phù hợp với đức tin của họ, bất kể là những điều này đúng với sự thật như thế nào. Điều duy nhất mà chúng ta có thể làm được ngày nay là giúp họ hiểu rõ thêm về chính tôn giáo của họ được chừng nào hay chừng ấy.  Vấn đề chính là chỉ có chính họ mới giúp được họ mà thôi.  Điều này tùy thuộc nhiều vào căn trí của mỗi người.

 

Tài Liệu Tham Khảo.-

 

Ambrosini, Maria Luisa & Willis, Maria, The Secret Archives of the Vatican, Barnes & Noble Books, New York, 1996

Binns, L. Elliott, The Decline and Fall of the Medieval Papacy, Barnes & Nobles Books, New York, 1995.

Bunson, Matthew, The Pope Encyclopedia, Crown Trade, New York, 1995

Chamberlin, E. R., The Bad Popes, Signet Book, New York, 1969

Farquhar, Michael , The Treasury of Royal Scandals:  The Shocking True Stories of History's Wickedest, Weirdest, Most Wanton Kings, Queens, Tsars, Popes, and Emperors, Penguin Books, NY., 2001

Graham, Lloyd M., Deceptions and Myths of the Bible, The Citadel Press Book, New York, 1995.

Ide, Arthur Frederick, Unzipped: The Popes Bare All, A Frank Study of Sex & Corruption in the Vatican, AA Press, TX, 1987.

Martin, Malachi, The Decline and Fall of the Roman Church, Bantam Books, New York, 1983

McCabe, Joseph, The"Black International" Series, Edited by E. Haldeman-Julius [Một tập 20 cuốn sách mỏng, mỗi cuốn độ trên dưới 30 trang, viết về mọi mặt của Công giáo mà Linh mục Joseph McCabe gọi là "Xã hội đen quốc tế" (The Black International)]

Peter de Rosa, Vicars of Christ: The Dark Side of the Papacy, Crown Publishers, New York, 1988

Rappoport, Angelo S., The Love Affairs of the Vatican, Barnes & Noble Books, New York, 1995

Wills, Gary, Why I Am A Catholic, Houghton Mifflin Co., New York, 2002

Groupe "Les Millénaires", Le Vatican Mis À Nu [Via Col Vento In Vaticano = Cuốn Theo Chiều Gió Trong Vatican], Bản dịch sang tiếng Pháp của Pierre-Emmanuel Dauzat, NXB Robert Laffont, Paris, 2000

 THÂM CUNG BÍ SỬ

Trần văn Kha

10  tháng 9, 2007

 

ThamcungBS1

 

Đức Ông LUIGI MARINELLI: "Tôi chỉ kể lại những điều tôi đã sống trong 35 năm ở giữa triều đình. Quỷ có mặt ở đó, nó làm việc trong lòng Giáo Hội. Ngay như GH Paul VI đã có lần nói: "Mùi vị của Satan đã vào trong Vatican".


Tranh giành quyền hành trong Triều Đình
(Curée à la curie)

(Chú thích của người dịch: Vấn đề này viết bằng tiếng Anh trong báo "The Register" đã được dịch ra tiếng Việt cùng với nguyên văn tiếng Anh, ở các trang từ 258 đến 265.
Bài này dịch ra từ tiếng Pháp, báo "L'Express" tuần lễ 12 đến 18 tháng 8, 1999, với những chi tiết đặc biệt. Quý vị sẽ có dịp nhận thấy, Tòa Thánh không có gì thánh thiện, giống y hệt "triều đình của một thể chế quân chủ tuyệt đối", mà ở đó người ta tranh giành nhau quyền hành một cách đê tiện, làm cho Giáo hoàng Paul VI phải bảo: "Mùi vị của Satan đã vào trong Vatican".
Giáo hoàng không kiểm soát gì cả. Trái lại, người cai quản ngôi nhà giáo hoàng có thể dẫn dắt Ngài, như dắt ngựa, bằng hai sợi dây cương. Ngài đau yếu và bất lực. Đọc bản tin này chúng tôi bàng hoàng sửng sốt, và thầm kính phục Bộ Thông Tin Tuyên Truyền của Tòa Thánh. Bộ này đã có thể biến một giáo hoàng bệnh hoạn, bất lực, thành một vị Thánh sống, mà tín đồ đến khúm núm lễ lạy, để được ban phép lành).

—————————————–

Bản dịch: Trong một quyển sách gây tai tiếng, một cựu giám mục tố cáo những tranh chấp quyền hành làm rung động Tòa Thánh. Một thứ không khí cuối triều đại xung quanh Jean-Paul II
(Bài của đặc phái viên Jean-Michel Demetz)

Vào lúc khởi đầu, hay gần lúc đó, có một cái thư. Đúng hơn là một trát đòi ra hầu tòa. Trát tòa có đ! óng dấu Tòa Thánh La-mã, chính trát tòa này đã gây nên nhiều nhức nhối khủng khiếp. Viết bằng tiếng La-tinh, ngôn ngữ chính thức của Vatican, trát tòa ra lệnh cho Luigi Marinelli, 72 tuổi, một giám mục đã hồi hưu của Thánh Hội Những Giáo Hội Đông, phải ra trình diện, ngày 16 tháng Bảy vừa qua (1999), với những quan tòa được biết đến nhiều trong việc tuyên bố hủy bỏ những đám cưới của những người quyền thế trên thế giới. Đức Ông phải giải thích về một quyển sách mà các quan tòa của Vatican đòi thu hồi về từ các hiệu sách, "để không gây nên những thiệt hại nặng nề hơn".
Cho đến lúc này, tác phẩm mang tên
"Cuốn Theo Chiều Gió ở Vatican" (Via col vento in Vaticano, "Autant en emporte le vent au Vatican") chỉ được phổ biến hạn chế trong vòng thân hữu, bây giờ được người ta tranh nhau mua. "Sách cấm, là sách ưa thích": trong một khẩu hiệu đẹp, người chủ bút gốc Milan Lorenzo Ruggiero (nhà xuất bản Kaos) đã nói lên tất cả. Sự sai lầm trầm trọng của tòa án Vatican trở thành một cách quảng cáo hữu hiệu nhất: đó là phép lạ làm cho nhà xuất bản in ra thêm nhiều bản. "Đức ông Gorge tối tăm" trở thành miếng mồi của giới truyền thông. Vấn đề được đưa lên tới Hạ Viện mà tại đó một nghị viên cộng sản đã lên tiếng đòi hỏi chính phủ giải thích về hành động đe dọa đối với một công dân Ý và với một tác phẩm xuất bản ở Ý, mà theo nguyên tắc vượt ra khỏi luật lệ của Vatican. Đó là chuyện Peppone chạy tới cứu nguy cho Don Camillo!
Trong lòng triều đình, chính phủ của Giáo Hội Gia-t�! �, ngư�! �i ta nhận lấy cú đấm và người ta nói đến chuyện thanh toán cá nhân. Tuy nhiên, trong những hành lang vô tận của các lâu đài giáo hoàng, người ta công khai chế giễu những hình ảnh không mấy tốt đẹp của các vị hồng y, với tên tuổi ngụy trang nhưng dễ nhận ra. Người ta cười, nhưng một đôi khi run sợ.
Bởi vì đó là tác phẩm đầu tiên. Marinelli và những tác giả khác, dấu tên – họ ký bút hiệu I Millenari – đến từ bên trong một guồng máy nổi tiếng với sự mờ ảo kinh khủng. Bằng chứng là họ biết rõ guồng máy. Được viết bởi nhiều người, quyển sách đó là một vụ kết tội mà người ta đọc với những trình độ khác nhau. Từ một quyển sách ít nhân từ đó, người ta có thể ghi nhớ những mẩu chuyện tình dục. Chuyện một giám mục bị các nhân viên Tòa Thánh đòi phải trả lời về vụ ông ta vui chơi, ở gần Circo Massimo, với một người trẻ tuổi "mặc quần áo Adam hay gần thế" (ở truồng). Cũng trong chương đó về đồng giống luyến ái, được trình bày như là một dụng cụ để thăng cấp cấp tốc (để cho một người cao cấp làm tình?), người ta biết một thư ký riêng, được giáo hoàng Paul VI che chở, có triển vọng thăng chức hồng y. Nhưng thảm thương cho ông ta, người trẻ tuổi nhiều tham vọng bị bắt ở biên thùy Thụy Sĩ với một va-li đầy nhóc tiền mà ông ta đem đi cất dấu. Thế là hết mũ đỏ! Ở chỗ xa hơn, người ta đọc chuyện "một giám mục tên tuổi, rất khắt khe về đạo đức với những người khác", đã "thú nhận đồng giống luyến ái" để không phải vi phạm luật cấm đụn! g đến ! đàn bà.

Hơn là những chuyện khôi hài, nhiều khi hóm hỉnh, những chuyện đó trong thực tế không cho biết cái gì mới hơn những điều mà người ta đã biết, hay nghi hoặc, nhưng sự lột trần cơ cấu quyền hành nội bộ làm cho người ta thích thú. Với những chuyện nổi bật làm cho nhớ đến người trẻ Luther bị choáng váng khi khám phá ra những thú vui của La-mã thời Phục Hưng, đây là một thành phố mới của Borgia (dâm loạn) vừa thành hình.

Xung quanh một giáo hoàng không còn kiểm soát gì cả, là những cuộc chạy đua dữ dội để tranh giành chức vụ, những cuộc tranh đấu của các phe nhóm mà tất cả những thủ đoạn đê tiện đều được chấp nhận, những việc này đã được mô tả không e dè. Tòa Thánh Vatican giống như một chuyện cờ bạc về quyền hành. Tranh giành quyền hành trong giáo hoàng triều: đó là sách phúc âm mới của các giám mục, nếu người ta tin vào những tác giả của sách.

Những người này nhớ lại lời ước nguyện của họ đòi hỏi phải có sự cải cách cần thiết. "Đã đến lúc Giáo Hội phải lên tiếng xin lỗi Đấng Christ vì các quan chức của họ đã phạm phải không biết bao nhiêu điều bất trung và phản bội. (…) Quyển sách này là một con dao mổ đâm vào vết thương sâu và mưng mủ". Tất cả những căn bản quyền hành thế tục của Vatican đều bị tố cáo. Đường lối chính trị của Tòa Thánh? "Một sự giả đạo đức thuần túy được hợp thức hóa". Quần thần bao quanh Jean-Paul II?

"Những giám mục Ba-lan bám chặt vào đòn bẩy quyền hành với một tinh thần ngạo mạn nhất và chìm đắm trong những sự ! gửi g�! �m và những lời ca tụng của những kẻ nịnh hót muốn làm vừa lòng giáo hoàng". Việc phong chức cho các giám mục? Là một hội chợ mà ở đó "những người bảo trợ và được bảo trợ" gặp nhau. Sự tranh giành? "Ai khéo uốn lưỡi, không cần biết người ấy suy nghĩ và suy nghĩ như thế nào, người ấy thành công". Trong bản chất, đó là quang cảnh triều đình của một thể chế quân chủ tuyệt đối cuối cùng ở Âu Châu mà những người Saint-Simon La-mã mô tả tỉ mỉ với ác ý. Một triều đình mà ở đó "người cai quản ngôi nhà giáo hoàng, nếu ông ta biết cách, có thể dẫn dắt giáo hoàng theo như ý muốn, như người cầm dây cương dắt ngựa". (Saint-Simon sinh ra ỏ Paris, 1675-1755, đã kể trong sách "Mémoires" hàng ngàn biến cố trong đời sống triều đình).

Đức ông Marinelli bình luận, "sách này là một hành động yêu thương Giáo Hội". Trong một căn nhà nhỏ, mà ở sân thượng người đã xây một nhà nguyện để vinh danh Padre Pio (một tu sĩ dòng Capucin với những dấu sẹo, được phong chuẩn thánh trong tháng Năm vừa qua), mà người biết rõ, giám mục trong chiếc áo chùng thâm không rời bỏ sự khiêm nhượng cố hữu một đôi khi nhuốm vẻ khôi hài. "Tôi chỉ kể lại những điều tôi đã sống trong 35 năm ở giữa triều đình. Quỷ có mặt ở đó, nó làm việc trong lòng Giáo Hội. Ngay như Paul VI đã có lần nói: "Mùi vị của Satan đã vào trong Vatican". Quyển sách này muốn tố cáo sự tham lam quyền hành quá độ tràn lan ở trong triều, tổ chức kim tự tháp của Giáo Hội và sự xâm nhập của phái Tam Điểm". Một điều tố cáo cuối cùng, điều này có thể làm cho b! uồn cư! ời, nếu người ta không nhớ lại những giao thiệp thân hữu lạ lùng của người cựu bộ trưởng tài chánh Vatican, tổng giám mục Paul Marcinkus, đã bị cho nghỉ việc cách đây mười năm, sau khi chuyện tai tiếng tài chánh có dính dáng tới Mafia và chi nhánh P2 của Tam Điểm được tiết lộ. Một vấn đề đen tối không giải quyết, giống như tất cả những chuyện bí mật xảy ra trong lòng Quốc Gia nhỏ: cái chết của vị chỉ huy lính gác Thụy sĩ, Alois Estermann, vợ của ông ta và viên cai Cédric Tornay, ngày 4 tháng 5, 1998, vấn đề được xếp lại vào tháng Hai vừa qua (luận cứ chính thức "một cơn điên" của anh này…); việc kết tội cho vay lãi, bắt chẹt để đòi tiền và gia nhập một hiệp hội của hồng y-tổng giám mục thành phố Naples, nhưng vẫn được giáo hoàng giữ lại trong chức vụ.

ThamcungBS2
Tổng giám mục Paul Marcinkus
http://www.amnistia.net/news/articles/argsal/banqdieu/banqdieu_833.htm
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_I06/206_td-marcinkus.htm
http://www.pagina12.com.ar/1999/99-08/99-08-22/pag25.htm



Một truyền thống không thay đổi. Những bức tường cao bao quanh Vatican không để lọt ra ngoài một sự thật có thể gây phiền muộn cho tín đồ. Chỉ vì không tôn trọng luật về im lặng mà Marinelli bây giờ bị đưa ra tòa, và cả hăm dọa nữa. Có một điều lạ lùng, những báo hằng ngày của Ý không nhắc lại lời kêu gọi cải cách của Đức Ông, mà chỉ thích bàn đến những chuyện có những chi tiết đồi bại nhất. "Đó là chuyện bình thường, người chủ bút Lorenzo Ruggiero đã giải thích. Với hãng Fiat, Vatican trở thành một trong những đề tài cấm kỵ ở Ý. Chính vì sự từ chối của các nhà xuất bản khác mà con người tả
phái này, chống tu sĩ, đã chấp nhận phát hành sách của Đức Ông.
Giống như những nhà nghiên cứu về Kremlin thời trước, những người nghiên cứu về Vatican, với khả năng đáng nghi ngờ, tự hỏi. "Cuốn theo chiều gió ở Vatican" phải chăng là dấu hiệu tranh chấp nối ngôi? Đó có phải là tác phẩm của những người bảo thủ liên hệ với Opus Dei, rất hoạt động ở La-mã (những cuộc tấn công vào con "mực ma tam điểm"), hay của những người tiến bộ (lời kêu gọi hỗn láo để thành lập một Solidarnosc tu sĩ, một nghiệp đoàn của những nhân viên Giáo Hội)? Hay sách đó chỉ chứng nhận một sự khó chịu thực sự của một tổ chức trở về già?

Một cơ quan hiển nhiên đã bị chặn đứng
Sau hết, những hồng y Bernard Gantin và Joseph Ratzinger đã, tiếp theo sau quyển sách, đến lượt họ tố cáo tinh thần "tham lam chức vụ" của các ! giám mục. Và trước khi chết, vào tháng Sáu vừa qua, giáo chủ Anh quốc, hồng y Basil Hume, đã chỉ trích dữ dội sự tập trung cực độ của La-mã, đặc biệt là trong việc chọn lựa các giám mục, và sự xóa bỏ những Giáo Hội quốc gia. (Không cho độc lập, bắt buộc phải lệ thuộc La-mã).

http://www.traditioninaction.org/bkreviews/A_005br_GoneWithWind.htm
http://www.geocities.com/marcelorius/vaticano.html


ThamcungBS3

Tác phẩm CUỐN THEO CHIỀU GIÓ Ở VATICAN

(Via col vento in Vaticano)

Nhưng có phải là đã quá trễ để cải tổ một cơ quan hiển nhiên đã bị chặn đứng? "Không bao giờ được tiết lộ, bí mật thứ ba của Fatima (1), lời tâm sự này được Đức Bà Đồng Trinh nói với những trẻ mục đồng Bồ, đã gây nên, Đức Ông Marinelli thì thầm, sự chia rẽ giữa các giám mục và hồng y, trước mắt một giáo hoàng đau yếu và bất lực. Chúng ta ở chỗ đó". Đó là số phận của Giáo Hội La-mã. Jean-Paul II đã ám chỉ tới, một lần, ở bên Đức. Để tránh số phận đó, Ngài đã nói, chỉ có một giải pháp: cầu nguyện, cầu nguyện".

ThamcungBS4
http://www.rense.com/general6/maf.htm

Jean-Michel Demetz
Curée à la curie
Dans un livre qui fait scandale, un ancien prélat dénonce les jeux du pouvoir agitant la cité pontificale.
Atmosphère de fin de règne autour de Jean-Paul II.

De notre envoyé spécial
(L'Express No 2510, Semaine du 12 au 18 Aout 1999)
Au commencement, ou presque, il y a une lettre. Une citation à comparaitre, plus précisément. Frappée du sceau du tribunal de la rote romaine, c'est elle qui a déclenché un charivari d'enfer. Rédigé en latin, la langue officielle du Vatican, ce decretum turni ordonnait à Luigi Marinelli, 72 ans, un prélat retraité de la Congrégation pour les Eglises orientales, de se présenter, le 15 juillet dernier, devant des juges surtout connus pour pro-noncer la nullité des mariages des puissants de ce monde. Le monsignore devait s'expliquer sur un livre dont les magistrats du Vatican demandaient le retrait (sequestratio) des librair! ies, "ne damna graviora forte provocentur", afin d'éviter des dom-mages plus graves".
Jusqu'àlors confiné à une diffusion confidentielle, l'ouvrage incriminé, Via col vento in Vaticano ("Autant en emporte le vent au Vatican"), s'arrache aussitôt. "Un livre interdit, c'est un livre désiré": en une jolie formule, son éditeur, le Milanais Lorenzo Ruggiero (éditions Kaos), résume tout. La bévue de la juridiction vaticane a fourni la plus efficace des publicités; c'est le miracle de la multiplication des exemplaires. "Mgr Gorge profonde" devient la proie des médias. L'affaire remonte jusqu'à la Chambre des députés, où un élu communiste interpelle le gouvernement sur cet acte d'intimidation à l'encontre d'un citoyen italien et d'un ouvrage publié en Italie, qui échappe donc, en principe, aux lois du Vatican. C'est Peppone volant au secours de Don Camillo!
Au sein de la curie, le gouvernement de l'Eglise catholique, on encaisse le coup et on évoque un règlement de comptes personnel. Cependant, dans les interminables couloirs des palais pontificaux, on se gausse des portraits peu charitables de cardinaux, à l'identité certs maquillée mais aisément recon-naissable. On rit, mais parfois aussi on tremble.
Car c'est une première. Marinelli et les autres auteurs, restés anonymes – ils ont signé I Millenari – viennent de l'intérieur d'une machine réputée pour sa formidable opacité. A l'évidence, ils en connaissent les rouages. Ecrit à plusieurs mains, le livre est une charge qui se lit à différents degrés. De ce bréviaire peu édifiant, on peut retenir les anecdotes salaces.. Celle de ce prélat alors qu'il s'ébattait, près du Circo Massimo, avec un jeune homme en "tenue d'Adam ou presque". Dans le même chapitre sur l'homosexualité, présentée comme un instrument de promotion accélérée, on apprend qu'un secrétaire particulier, protégé du pape Paul VI, était ainsi promis à la pourpre cardinalice. Hélas pour lu! i, le jeu! ne ambitieux se fit arrêter à la frontière suisse avec une valise bourrée d'argent qu'il allait mettre à l'abri. Adieu, barrette! Plus loin, on lit qu'"un prélat bien connu, d'une haute intransigeance morale pour les autres", aurait fait voeu d'homosexualité" pour ne pas transgresser l'interdit sur le corps de la femme.
Plus que ces historiettes, souvent malicieuses, qui, en réalité, n'apprennent rien que l'on ne sache ou soupconne déjà, c'est la mise à nu des mécanismes du pouvoir interne qui fascine. Avec des accents qui rappellent le jeune Luther découvrant, atterré, les plaisirs de la Rome de la Renaissance, c'est une nouvelle cité des Borgia qui se fait jour. Autour d'un pape ne contrôlant rien, ce sont la course infernale aux postes, la lutte de clans où tous les coups bas sont permis qui sont crument dépeintes. Le Vatican comme un enjeu de pouvoir. Curée à la curie: voilà le nouvel évangile des prélats, à en croire les auteurs du livre.
Ces derniers appellent de leurx voeux l'indispensable réforme. "Le temps est venu pour l'Eglise de demander pardon au Christ pour tant d'infidélité et tant de trahisons. (…) Ce livre est un bistouri plongé dans une plaie profonde et purulente". Tous les fondements du pouvoir temporel du Vatican sont dénoncés. La diplomatie du Saint-Siège? "Un concentré d'hypocrisie institu-tionnalisée". L'entourage de Jean-Paul II? "Les prélats polonais s'accrochent aux leviers du pouvoir avec la plus grande impertinence et baignent dans les recommandations et lou-anges de la part de courtisans désireux de plaire au pape". La nomination des évêques? Une foire où croisent "protecteurs et protégés". La Curie? "Celui qui sait manier la langue, peu importe s'il pense et comment, celui-là fait carrière". Au fond, c'est le spectacle de cour de la dernière monarchie absolue d'Europe que ces Saint-Simon romains peignent avec une minutie maligne. Une cour où "le préfet de la maison ponti-ficale, s! 'il sait! s'y prendre, guide le pape à sa guise comme les rênes un cheval".
"Ce livre est un acte d'amour envers l'Eglise", commente Mgr Marinelli. Dans son petit appartement, sur la terrasse duquel il a bâti une chapelle en l'honneur de Padre Pio (le moine capucin aux stigmates, béatifié en mai dernier), qu'il a bien connu, le prélat dans san robe noire ne se départit pas d'une humilité affectée où transparait parfois l'ironie. "Je raconte seulement ce que j'ai vécu trente-cinq ans durant au sein de la curie. Le démon est là, il travaille au sein de l'Eglise. Paul VI lui-même l'a dit un jour: "Le fumet de Satan est entré dans le Vatican". Ce livre veut dénoncer le carriérisme effréné régnant à la curie, l'organisation pyramidale de l'Eglise et l'infiltration de la franc-maconnerie". Une dernière accusation qui pourrait faire sourire si on ne se rappelait les étranges accointances de l'ancien argentier du Vatican, l'archevêque Paul Marcinkus, mis à l'écart il y a dix ans, après les révélations sur un scandale financier où étaient mêlées la Mafia et la loge maconnique P2. Sombre affaire restée irrésolue, comme tous les épisodes mystérieux survenus au sein du petit Etat: la mort du com-mandant de la garde suisse Alois Estermann, de son épouse et du vice-caporal Cédric Tornay, le 4 mai 1998, affaire classée en février dernier (version officielle: "un coup de folie" de ce dernier…); l'inculpation pour usure, extorsion de fonds et association de malfaiteurs du cardinal-archevêque de Naples, pourtant maintenu à son poste par le pape.
La tradition reste immuable. Les hautes murailles qui entou-rent le Vatican ne sauraient laisser filtrer une vérité suscep-tible de troubler les fidèles. C'est pour ne pas avoir respecté cette loi du silence que Marinelli est aujourd'hui poursuivi, et même intimidé. Curieusement, les quotidiens italiens n'ont guère relayé son appel à la réforme, préférant s'arrêter sur les anecdotes les plus! croustil! lantes. "C'est normal, explique son éditeur, Lorenzo Ruggiero. Avec Fiat, la Vatican reste l'un des sujets tabous en Italie". C'est d'ailleurs après le refus d'autres maisons d'édition que cet homme de gauche, anticlérical, a accepté de publier le monsignore.

Comme les kremlinologues d'antan, les vaticanologues à la fiabilité aussi incertaine, s'interrogent. "Autant en emporte le vent au Vatican" s'inscrit-il déjà dans la lutte de succession? Est-il l'oeuvre de conservateurs liés à l'Opus Dei, actif à Rome (les attaques contre la "pieuvre maconnique"), ou de progres-sistes (l'appel insolent à un Solidarnosc ecclésiastique, un syndicat des gens d'Eglise)? Témoigne-t-il seulement du ma-laise avéré d'une institution vieillissante?

Une institution à l'évidence bloquée
Après tout, les cardinaux Bernard Gantin et Joseph Ratzinger ont, à la suite du livre, à leur tour dénoncé "le carriérisme" des prélats. Et avant de mourir, en juin dernier, le primat d'Angleterre, le cardinal Basil Hume, critiquait violemment l'extrême centralisation romaine, notamment dans le choix des évêques, et l'effacement des Eglises nationales. Mais n'est-il pas trop tard pour réformer une institution à l'évidence bloquée? "Jamais révélé, le troisième secret de Fatima, cette confidence faite par la Vierge à des bergers portugais, évoque, murmure Mgr Marinelli, des dissensions entre évêques et cardinaux sous les yeux d'un pape malade et impuissant. Nous y voilà". Ainsi en irait-il du destin de l'Eglise de Rome. Jean-Paul II y a fait allusion, une seule fois, en Allemagne. "Pour l'éviter, a-t-il dit, il n'y a qu'une seule solution: la prière, la prière".

Jean-Michel Demetz

 

Nguồn: Sách ” Đức Tin Và Lý Trí ” , trang 729-738. Tác giả Trần văn Kha, nhà xuất bản Văn Nghệ, P.O Box 2301, Westminter , CA. 92683, USA.
——————————————–
(1) Tài liệu của Avro Manhattan, "Vietnam why did we go", trang 28.


– Bi mật thứ nhất là hình ảnh của hỏa ngục. (John Paul II đã bác bỏ hỏa ngục).

– Bí mật thứ hai, Nga Sô-viết sẽ cải đạo theo Giáo Hội Gia-tô La-mã. (Dân Nga đã không cải đạo, mà còn chống, trang 257).

– Bí mật thứ ba không được tiết lộ trước năm 1960. (Bây giờ là năm 2000, nhưng bí mật này vẫn không được tiết lộ, chắc chắn chỉ vì một lý do, "nó không giống ai". Tiết lộ ra thì vỡ nợ).


Via col vento in Vaticano
recensione di Stefano Bolognini al libro Via col vento in Vaticano (1999) di I Millenari (Pseud.) inserita il 24/10/2005
Denuncia di un gruppo di cardinali delle rilassatezze, degli agi, dei raggiri, degli ozi, dell’ambizione, dell’arrivismo, della corruzione, degli intrighi, degli inganni, dei tradimenti e dei privilegi che si godono, o si mettono in pratica, in Vaticano.
L’intenzione degli autori, di cui si è fatto portavoce Monsignor Luigi Marinelli, è quella di riportare la Chiesa sulla “retta via”.
Contiene un capitolo sull’omosessualità che
racconta quanto possa essere utile prestarsi ai “vizi” del cardinale o del vescovo giusto per far carriera ecclesiastica.
Il testo per oltre trecento pagine si limita a narrare gli intrighi di Palazzo e a denunciare quanto la stupidità sia, in Vaticano, una sorta di lasciapassare per i posti più in vista nella gerarchia ecclesiastica.
Via col vento in Vaticano poteva essere un testo epocale, ma, purtroppo, si limita a proporre quanto è già di dominio pubblico senza offrire il supporto di prove documentabili.
La Sacra Rota il 27 gennaio 1999 ha comunque ordinato il sequestro del libro e ne ha vietata la traduzione (per quanto consente la giurisdizione vaticana…).

Voto:
La ! riproduzione di questo testo è vietata senza la previa approvazione dell’autore.

Scheda dell’opera
Tutte le recensioni di Stefano Bolognini
Segnala a un amico

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét