Thứ Năm, 5 tháng 9, 2013

Vu_an_Huong_Cang

Vu_an_Huong_Cang

VỤ ÁN HƯƠNG CẢNG

MỤC LỤC

Lời giới thiệu

I- Hổ đói vồ mồi

II.Việc lén lút bị lôi ra ánh sáng

III.Tòa án và luật sư

IV. "Châu chấu đá voi"

V.Thoắt thả ra, lại bắt vào như chơi!

VI. Những đóa sen nơi viễn xứ

VII. Cuộc vượt biên thần kỳ!

Lời giới thiệu

Một nhà sử học tình cờ phát hiện ra 4 tập sách viết trên giấy học sinh, dài 125 trang, nhan đề "Vụ án Hương Cảng" của tác giả Lê Tư Lành – một trí thức say mê nghiên cứu Lịch sử Đảng, nay đã qua đời.

Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp gia đình luật sư Lô-dơ-by tại nhà khách Trung ương Đảng, Hà Nội, ngày 26/1/1960.

(ảnh tư liệu Bảo tàng Hồ Chí Minh, Phạm Yên chụp lại)

 

Trong một bức thư gửi cố Chủ tịch Quốc hội Trường Chinh, tác giả Lê Tư Lành cho biết, ông đã bỏ ra gần chục năm sưu tầm, nghiên cứu tài liệu, gặp gỡ phỏng vấn nhiều người có liên quan để ghi lại nội dung chi tiết về vụ án nổi tiếng thế giới, vụ cảnh sát Hương Cảng bắt giữ Tống Văn Sơ – Nguyễn ái Quốc vào giữa năm 1931. Và đến năm 1977 thì tác giả Lê Tư Lành hoàn thành 4 tập nói trên.

Qua 4 tập của tác giả Lê Tư Lành, lần đầu tiên, chúng ta thấy vụ án được ghi lại một cách đầy đủ nhất với nhiều tư liệu và tình tiết mới mẻ, hấp dẫn, có giá trị cao về mặt lịch sử.

Gần đây, nhà nữ sử học nổi tiếng L. Bon-Tơn cũng đã trao tặng nhà sử học Việt Nam nói trên mấy ngàn trang tư liệu về vụ án này vốn được lưu giữ tại "Tối cao Pháp viện" Hoàng gia Anh mà nữ sử học mới khai thác được.

Đối chiếu với những trang tư liệu đó, nội dung 4 tập của tác giả Lê Tư Lành đều chính xác. Nhận được tin nhà Sử học nọ phát hiện ra 4 tập viết tay của tác giả Lê Tư Lành, ông Pôl Toóc (Paul Tagg), cháu ngoại của Luật sư Lô-dơ-bi ân nhân số một đã bào chữa thành công cho Tống Văn Sơ – đã ngỏ ý thiết tha xin được chuyển giao 4 tập đó để sử dụng cho một cuốn sách lớn sẽ xuất bản về vụ án này. Nhà sử học đã vui vẻ chấp thuận, song, do mới gặp tai nạn giao thông, cho nên ông Pôl Toóc chưa sang Việt Nam nhận được.

Được sự đồng ý của nhà sử học và người thân của tác giả Lê Tư Lành, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc nội dung 4 tập sách trên nhân dịp kỷ niệm 115 ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Do khuôn khổ báo có hạn, chúng tôi xin biên tập, rút gọn từ 11 chương còn 6 chương và thay đổi một số phụ đề cho hợp với không khí hành văn hiện tại.

Trước khi đăng, chúng tôi cũng đã tới gặp bà Nguyễn Thị Tình, Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh, nhờ kiểm chứng toàn bộ nội dung, tư liệu… xin trân trọng cảm ơn bà Giám đốc và Bảo tàng Hồ Chí Minh.

I- Hổ đói vồ mồi

… Mùa thu năm 1929, đồng chí Nguyễn ái Quốc từ Xiêm về Hương Cảng để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Lần này, lãnh tụ lấy tên là Tống Văn Sơ. Sau ngày thành lập Đảng, đồng chí Tống đi công tác một số nơi rồi lại trở về Hương Cảng, trực tiếp chỉ đạo phong trào cách mạng Việt Nam.

Bấy giờ tổ chức cách mạng của ta  đang ở nhà số 186 đường Tam Lung, đất  Cửu Long thuộc Hương Cảng. Đồng chí Tống ở đó cùng với các đồng chí Hồ Tùng Mậu, chị Nguyễn Thị Minh Khai và một số đồng chí khác cho tới đầu tháng 6 năm 1931, mọi việc cách mạng đều hoạt động bình thường không có dấu hiệu gì đáng e ngại.

Bỗng vào sáng sớm ngày 6/6/1931 đồng chí Tống còn đang rửa mặt đánh răng và một đồng chí nữa đang quét nhà thì thấy cửa bị đẩy mạnh và một lũ lố nhố kéo vào. Đi đầu là mấy cảnh sát người Anh, theo sau là vài ba tên tay sai. Tên chỉ huy tay cầm súng, miệng hét:

- Giơ tay lên! Đứng nguyên tại chỗ!

Bọn mật thám lục soát khắp mọi nơi: Sàn, trần, tường. Chúng cắt cả những bánh xà phòng xem có giấu lựu đạn hay chất nổ trong đó không. Chúng thấy có nhiều gạo, muối, củi, hỏi sao có ít người mà mua nhiều thế. Đồng chí Tống đáp rằng: Tuy có mấy chú cháu nhưng vì bận làm ăn, ít có thì giờ, cho nên phải mua nhiều một lúc.

Chúng khám rất kỹ và khá lâu, không tìm được tài liệu gì bí mật, liền dẫn "hai chú cháu" xuống đường. (Trong bức điện số 46 ngày 2/8/1931 của Tổng lãnh sự Pháp tại Hồng Kông G. Dufaure de la Parade gửi Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Pháp tại Paris, cho rằng Nguyễn ái Quốc bị bắt và ra Tòa cùng với "cháu gái của ông ta là Li Sam tức Li Thị Tam. Theo một số tài liệu, thì "cháu gái" chính là Lý Phương Thuận lúc đó trên dưới 15 tuổi. Chú thích này là của PV).

Một chiếc xe bọc thép đã chờ sẵn gần đó. Bọn mật thám đẩy hai người lên xe, mỗi người một chỗ có mật thám kèm bên. Xe đóng kín cửa, tối om không biết chạy qua những đâu. Xe đỗ, lúc đó hai người mới biết nơi ấy là Sở Cảnh sát Hương Cảng. Chúng giam mỗi người một nơi cho tới ngày chúng đưa ra Tòa xét xử, bấy giờ hai chú cháu mới lại thấy nhau trên ghế bị cáo.

Trước đó, đồng chí Tống rất cảnh giác, việc thuê nhà cũng rất cẩn thận. Mỗi khi cần tìm một nơi để đặt Trụ sở, đồng chí Tống đưa ra mấy điều kiện:

Trước hết ngôi nhà định thuê đó phải ở góc phố để quan sát các mặt cho tiện. Được ngôi nhà ở góc phố rồi, phải cố thuê cho được phòng ở tầng gác thứ nhất trông ra mặt phố, vì ở vị trí đó mới có thể nhìn xa ra các mặt phố được và khi có việc biến thì chỉ xuống cầu thang là đến tầng dưới cùng rồi dùng cổng hậu mà thoát.

Nếu ở tầng gác quá cao, khi có việc biến xảy ra thì chạy không kịp. Được những điều kiện như thế rồi đồng chí Tống mới thuê. Khi dọn đến ở, đồng chí bảo căng một dây ở mặt trước phòng trông ra phố, trên đó phơi một cái khăn mặt làm ám hiệu.

Nếu thấy khăn phơi ở thế ngay ngắn, tức là trong Trụ sở không có chuyện gì; nếu khăn phơi ở thế không ngay ngắn, tức là có chuyện nguy hiểm, các đồng chí đến công tác không nên vào.

Và mỗi khi một đồng chí của ta muốn vào Trụ sở, người ấy phải giả làm khách qua đường đi ở hè phố bên kia, khi qua Trụ sở thì liếc mắt nhìn sang xem ám hiệu  có ở thế ngay ngắn mới được vào.

Mặc dù đã có những biện pháp giữ gìn bí mật và đề cao cảnh giác đến như vậy, đồng chí  Tống đã bị bắt một cách hết sức bất ngờ, không hiểu vì đâu bọn cảnh sát Anh ở Hương Cảng đã biết được địa chỉ đó.

Cho mãi đến những ngày gần đây điều bí ẩn này mới được đưa công khai trên báo. Theo bức điện đánh bằng mật mã của Toàn quyền Đông Dương René Robin đề ngày 6/5/1931, gửi Tô thuộc địa Pháp, chính quyền Đông Dương sở dĩ biết được địa chỉ của đồng chí Tống là do những vụ bắt bớ dây chuyền ở trong nước và nước ngoài, được Anh – Pháp chỉ huy.

Nguyên ngày 30/4/1931, mật thám Pháp ở Sài Gòn bắt một số người trong đó có Nguyễn  Thái là thư ký công đoàn Nam Kỳ và là xứ ủy Nam Kỳ. Khi khám xét, chúng thấy đồng chí Thái mang một bức thư của đồng chí Nguyễn ái Quốc viết tại Hương Cảng ngày 24/4/1931 gửi cho Ban chấp hành TW Đảng Cộng sản Đông Dương, báo tin sáu chiến sĩ cách mạng Việt Nam mới ở Liên Xô về Hương Cảng sắp sửa về nước để hoạt động.

Thế là nhờ có bức thư đó, thực dân Pháp ở Đông Dương đã biết được nơi hoạt động và cư ngụ của Nguyễn ái Quốc là Hương Cảng nhưng chưa biết đích xác  ở khu phố nào, số nhà bao nhiêu, chúng liền tăng cường sự  dò xét và giăng bẫy.

Nguyên  vào tháng 3/1931,  một ủy viên Quốc tế Cộng sản tên là Giô – dép  Duy–cơ-ru (Joseph Ducroux), người Pháp, lấy bí danh là Xéc-giơ Lơ-phơ-răng (Serge Lefranc) làm thanh tra Đệ tam Quốc tế đi kiểm tra phong trào ở vùng Đông Nam á.

Lúc bấy giờ, đồng chí Nguyễn Ái Quốc là một phái viên của Bộ Phương Đông của Quốc tế Cộng sản, phụ trách vụ Đông Nam á có trụ sở tại Hương Cảng. Đồng chí  Lơ-phơ-răng tìm gặp đồng chí Nguyễn, hai người làm việc với nhau, rồi theo sự chỉ dẫn của ông Nguyễn, Lơ-phơ-răng đến công tác ở Nam Kỳ rồi ra Bắc Kỳ và tiếp tục hành trình trong vùng Đông Nam á. 

Khi tới Tân-Gia-Ba ( Singapore) ngày 1/6/1931 thì Lơ-phơ-răng bị cảnh sát Anh ở đó bắt giữ. Bọn Mật thám Anh khám xét hành lý của Lơ-phơ-răng thì phát hiện ra những tài liệu tuyên truyền của Đảng Cộng sản Mã Lai (Malaixia).

Bọn chúng liền đưa ông ra Tòa án Tân-Gia-Ba xét xử về tội "Phá rối an ninh quốc gia" cộng với tội giả mạo căn cước, Tòa án Tân-Gia-Ba đã xử phạt Lơ-phơ-răng 8 tháng tù.

Song, điều tai hại nhất trong vụ này là mật thám Anh đã biết được địa chỉ của Nguyễn ái Quốc do Lơ-phơ-răng ghi trong đống giấy tờ của mình. Chính quyền Tân-Gia-Ba liền báo cho chính quyền Đông Dương địa chỉ của Nguyễn ái Quốc ở Hương Cảng.

Ngay lập tức, toàn quyền Đông Dương René Robin đã điện cho chính quyền Hương Cảng nhờ bắt hộ lãnh tụ Nguyễn ái Quốc, đồng thời, phái đến Hương Cảng một tên thanh tra mật thám của Sở Mật thám Đông Dương để cùng với lãnh sự Pháp tại Hương Cảng theo dõi vụ này.

Địa chỉ của ông Nguyễn đã biết, việc bố trí đã xong, cảnh sát Anh ở Hương Cảng liền tiến hành bắt ông Nguyễn vào sáng sớm 6/6/1931 như trên đã trình bày. Với những bằng chứng cụ thể đó, việc câu kết giữa hai đế quốc – thực dân Pháp – Anh trong việc truy bắt lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc là quá rõ ràng.

II.Việc lén lút bị lôi ra ánh sáng

Ngôi nhà luật sư Lô-dơ-bi, nơi Nguyễn ái Quốc ẩn náu năm 1933

ảnh tư liệu Bảo tàng HCM

 

Như ở kỳ 1 đã viết, Vụ bắt Tống Văn Sơ đích thị là do đế quốc Anh bắt. Hai thực dân cáo già này đã đồng lõa mưu mô bắt lén Tống Văn Sơn rồi sẽ đưa ngay xuống chiếc tàu thủy của Pháp đang cập bến Hương Cảng để đưa về Đông Dương giao cho chính quyền Đông Dương.

Chính quyền nơi đó sẽ thi hành ngay tức thì bản án tử hình mà chúng đã xét xử và kết án vắng mặt lãnh tụ Nguyễn ái Quốc tại Tòa án Vinh từ tháng 10/1929.

 Nhưng sự việc lại không chiều theo ý của chúng. Âm mưu đen tối và việc làm lén lút của chúng đã bị lôi ra ánh sáng. Quá trình diễn biến, xảy ra như thế nào?

Nguyên sáng ngày 6/6/1931, mật thám Anh ở Hương Cảng đến bắt Tống Văn Sơ mà không có công lệnh tức giấy phép của chính quyền cho đi bắt.

Bắt xong, chúng tạm giam tại trụ sở cảnh sát Hương Cảng để chờ đưa xuống tàu thủy của Pháp. Nhưng chỉ vài hôm sau, các đồng chí của ta ở Hương Cảng đã nhanh chóng tới nhờ luật sư Lô-dơ-bi bênh vực.

 Người trực tiếp lãnh nhiệm là Hồ Tùng Mậu. Trước đó, Hồ Tùng Mậu cũng đã bị chính quyền Hương Cảng bắt giam, song vì không có đủ chứng cứ nên bọn chúng phải thả.

Về phần luật sư Lô-dơ-bi, khi biết người bị bắt là Tống Văn Sơ – một lãnh tụ cách mạng An Nam thì ông luật sư bày tỏ lòng kính trọng và nhận lời ngay.

Trước đây, ông từng bênh vực cho một nhà cách mạng An Nam cũng bị Đế quốc Anh bắt trong trường hợp tương tự và đã thành công (Theo lời kể của luật sư Lô-dơ-bi khi sang thăm Việt Nam. Do đồng chí Trịnh Ngọc Thái phiên dịch và ghi lại). Vị đó đã không bị dẫn về Đông Dương, ông rất lấy làm tự hào.

Lần này, ông luật sư không những nhận lời mà còn sốt sắng bắt tay ngay vào việc. Ông liền tới Sở Cảnh sát để gặp ông Tống, nhưng bọn chúng không cho gặp. Mấy bữa sau ông lại đến nhưng vẫn không được gặp.

 Lần thứ 3, ngày 25/6/1931, sau khi tận dụng mọi mối quan hệ cá nhân và nghề nghiệp, ông luật sư đã được gặp mặt Tống Văn Sơ và hỏi những điều cần thiết tối thiểu để lập hồ sơ đưa vụ này ra Tòa án…

Đến lúc này, cả luật sư và ông Tống đều hình dung được mưu đồ và tính toán của mật thám Anh – Pháp.

Sở dĩ, chúng đột nhập, bắt khẩn cấp Tống Văn Sơ không có lệnh vì theo như chúng dự tính thì không cần giấy phép bởi nếu để lại bằng chứng trên giấy tờ sẽ không có lợi cho chúng sau này.

 Khi đã đưa được Tống Văn Sơ xuống tàu dẫn về Đông Dương thì mọi chuyện sẽ giữ được bí mật, dù cho luật sư hay ai tìm cách cứu cũng đã muộn, không thể xoay chuyển được nữa.

Luật sư Lô-dơ-bi, ảnh chụp năm 1957

Thế nhưng trong suốt thời gian kể từ khi Tống Văn Sơ bị bắt, việc luật sư Lô-dơ-bi liên tục đến Sở Cảnh sát để tìm gặp ông Tống, đã làm cho cảnh sát Anh hoàn toàn bất ngờ và lúng túng.

Họ không ngờ được rằng việc họ bắt lén, nhanh, gọn và êm ả như vậy lại sớm lọt đến tai vị luật sư danh tiếng này.

 Bây giờ phải xử trí sao đây? Để cho luật sư được tiếp xúc với khách hàng như luật pháp hiện hành của nước Anh quy định chăng?

Không được! Vì như vậy, vô hình chung họ tự vạch áo cho người xem lưng,  cụ thể là luật sư sẽ biết việc làm bất hợp pháp của họ là bắt người không có giấy phép.

 Trong trường hợp đó, luật sư sẽ can thiệp và họ sẽ không thực hiện được âm mưu dẫn độ ông Tống về Đông Dương.

 Âm mưu bị bại lộ, uy tín của chính quyền Anh ở Hương Cảng sẽ bị tổn thương. Chính bởi thế, chính quyền Hương Cảng một mặt cố ngăn chặn không cho luật sư Lô-dơ-bi tiếp cận sớm với ông Tống, mặt khác, họ gấp rút hợp pháp hóa việc bắt ông Tống bằng cách ký lệnh bắt Tống Văn Sơ vào ngày 11/6 và ngày 12/6 coi như bắt chính thức Tống Văn Sơ.

 Sau khi đã bịt kín "kẽ hở", cộng với nhiều tác động khác, cảnh sát Hương Cảng buộc phải để luật sư Lô-dơ-bi tiếp xúc với Tống Văn Sơ.

Chính quyền Hương Cảng cảm thấy mình bị đẩy từ thế chủ động sang thế bị động, đành phải chuẩn bị hồ sơ để đưa vụ việc ra xét xử công khai.

Dẫu biết thế, song, thực dân Pháp và nhà cầm quyền Hương Cảng chưa từ bỏ âm mưu của mình, chúng quyết tìm mọi cách để trục xuất bằng được Tống Văn Sơ – Nguyễn ái Quốc về Đông Dương để bọn thực dân tại đây hãm hại vị lãnh tụ của cách mạng Việt Nam.

III.Tòa án và luật sư

Trước khi trình bày những diễn biến của phiên tòa, xin được giới thiệu sơ qua cách tổ chức Tòa án ở Hương Cảng và lòng nhiệt thành cùng tài năng của các vị luật sư tham gia bào chữa cho Tống Văn Sơ.

Đường phố Hương Cảng năm 1931

Tòa án này là Tòa án địa phương (Local court), tức Tòa án Hương Cảng của Anh quốc. Trong phòng xử án, trên cao là bàn của chánh án và phó chánh án.

Phía trước, một bên là bàn của các ủy viên công tố- đại diện cho chính quyền buộc tội bị cáo; phía đối diện là bàn các luật sư biện hộ cho bị cáo. Xa xa, trước mặt quan tòa là vành móng ngựa cho bị cáo.

Vành móng ngựa thấp hơn bàn của ủy viên công tố, nhưng cao hơn bàn của luật sư. Hai bên phải trái thì dành cho đại diện các báo xuất bản bằng tiếng Anh. (Những báo viết bằng tiếng Trung Quốc không được phép dự). ở giữa phòng là chỗ dành cho quần chúng tới tham dự phiên tòa.

Việc bảo vệ rất cẩn mật. Quanh phòng đều có chấn song sắt; các cửa ra vào đều có lính người Anh canh gác, vòng ngoài có lính người ấn Độ bố phòng (vì ấn Độ lúc đó vẫn còn là thuộc địa của Anh nên người ấn phải đi lính cho chính quyền đô hộ).

Trong các phiên tòa, quan chức, nhân viên của Tòa án lại nhiều hơn quần chúng tới dự. Có thể nói về phía quần chúng thì thực sự không có ai tới dự vì thân nhân của bị cáo (Tống Văn Sơ) không có ai, còn bạn bè, đồng chí trong tổ chức cách mạng thì chẳng ai dại gì mà đến ngồi trước Tòa cho bọn mật thám nhận diện.

Theo thủ tục của Tòa án Hương Cảng bấy giờ, trong các phiên tòa này, chỉ có 4 người được quyền phát biểu ý kiến: Chánh án, phó chánh án, ủy viên công tố và luật sư biện hộ.

Luật sư Po-rít, người đã cùng luật sư Lô-dơ-bi giúp đỡ

đ/c Nguyễn ái Quốc trong vụ án Hương Cảng 1931-1933

(ảnh tư liệu Bảo tàng Hồ Chí Minh)

Còn bị cáo chính là người cần được phát biểu nhất cũng không có quyền nói. Nếu muốn có ý kiến, bị cáo phải ghi ý kiến của mình vào một tờ giấy nhỏ đưa cho luật sư, và luật sư căn cứ vào giấy đó mà phát biểu thay cho bị cáo.

Ngay cả luật sư Lô-dơ-bi là trưởng đoàn luật sư biện hộ trong vụ này muốn chỉ thị gì cho luật sư ủy nhiệm thì cũng phải ghi ra giấy đưa cho luật sư ủy nhiệm, chứ không được nói.

Về luật sư Lô-dơ-bi, ông là một người rất nổi tiếng tại Hương Cảng, làm chủ nhiệm công ty luật sư "Russ" quy tụ nhiều luật sư nổi tiếng giúp việc, nên ông có thế lực lớn trong giới luật gia.

Hơn nữa, ông đã tham gia dạy Luật học tại trường Đại học Hương Cảng. Nhiều người trong số các chánh án, phó chánh án, ủy viên công tố tại Tòa án Hương Cảng là học trò cũ của ông. Bởi thế uy tín của ông càng rộng lớn.

Ngay từ lần gặp đầu tiên vào ngày 25/6/1931, luật sư Lô-dơ-bi đã tỏ ra rất có thiện cảm và nói với Tống Văn Sơ rằng: "Bác sĩ Tôn Dật Tiên được một người Anh cứu thoát. Nay tôi cũng ra sức cứu ông, ông hãy tin ở tôi. Ông hãy nói cho tôi nghe những điều gì có thể giúp cho việc bênh vực ông. Tôi không hỏi ông nhiều, vì mỗi người cách mạng đều có bí mật riêng của họ".

Ông Tống nói không có tiền để trả cho phí tổn biện hộ. Luật sư Lô-dơ-bi đáp rằng: "Tôi biết ông là một lãnh tụ cách mạng Việt Nam. Tôi cãi hộ ông là vì danh dự chứ không nhất thiết chỉ vì tiền".

Tham gia tranh tụng tại phiên tòa còn có một số luật sư khác, trong đó có luật sư J.C Gien-kin là phó của luật sư Lô-dơ-bi. Vì trước Tòa, chỉ có một luật sư được phát biểu ý kiến nên luật sư Lô-dơ-bi đã chuẩn bị sẵn bài cãi rồi ủy nhiệm cho luật sư Gien-kin phát biểu.

Luật sư Lô-dơ-bi, người bênh vực Nguyễn Ái Quốc trong

vụ án Hương Cảng 1931-1933

(ảnh tư liệu Bảo tàng Hồ Chí Minh)

 

Luật sư Gien-kin là một trí thức rất thông minh và hùng biện, đồng thời hết lòng bào chữa cho Tống Văn Sơ. Ngay trong phiên tòa thứ nhất mở ngày 31/7/1931, chính quyền Hương Cảng đã không đưa ông Tống ra Tòa.

Luật sư Lô-dơ-bi chỉ thị cho luật sư Gien-kin phản đối và đòi hỏi Tòa phải đưa Tống Văn Sơ ra trước Tòa. Quả nhiên đến phiên thứ hai, chính quyền buộc phải đưa ông Tống ra hiện diện tại Tòa nhưng hai tay lại bị xích.

Thoạt nhìn thấy bị cáo vào phòng xử án trong tư thế như vậy, luật sư Lô-dơ-bi rất tức giận nhưng vì không được quyền nói nên ông liếc nhìn sang luật sư Gien-kin ra hiệu.

Vốn thông minh, nhanh nhạy, luật sư Gien-kin liền đứng ngay dậy chỉ vào đôi tay của ông Tống đang bị xích rồi hướng về phía quan tòa, giọng rất gắt gao rằng: Khi bị cáo ra tòa là đứng trước công lý, thân thể phải hoàn toàn tự do. Nay chưa biết bị cáo can vào tội gì, tại sao chính quyền lại đã dùng đến nhục hình xích tay trong phòng xử án.

Ông nói rất mạnh mẽ, đanh thép, trong khi đó, Tống Văn Sơ đứng trước vành móng ngựa giơ cao hai tay trước mặt quan tòa, lắc mạnh. Tiếng xích kêu loảng xoảng hòa cùng lời lẽ hùng biện của luật sư tạo nên một bầu không khí náo động trong phòng xử án.

Quan tòa đuối lý, sượng sùng, bèn vẫy tay bảo lính đưa bị cáo ra ngoài để tháo xích ra. Trong lúc đó, luật sư Gien-kin vẫn tiếp tục hùng biện cho đến khi ông Tống trở lại vành móng ngựa, hai tay tự do, lúc đó luật sư mới ngồi xuống.

Có một lần, quan tòa tỏ thái độ khiếm nhã đối với luật sư Gien-kin, ông đã tìm cách trả thù một cách "hợp pháp" và độc đáo. Nhân trong lúc biện hộ cho bị cáo, ông đã hùng biện trong nhiều giờ liên tục không ngưng nghỉ.

Quan tòa ngồi nghe đã rất mệt mỏi nhưng không có lý do gì để ngắt lời ông vì lý lẽ của ông đưa ra luôn mới mẻ không hề trùng lặp với những điều đã nói. Các vị quan tòa đành phải ngồi nghe cho hết. Sau "vụ" đó, không vị nào còn tỏ thái độ bất nhã với luật sư Gien-kin nữa.

Thế nhưng, đối chọi với các vị luật sư danh tiếng trên lại là cả một hệ thống pháp lý được sự hậu thuẫn của cả chính quyền Anh-Pháp với ý đồ đưa Nguyễn ái Quốc về Việt Nam để hành hình! Cuộc chiến không cân sức này sẽ ra sao? Tống Văn Sơ liệu có thoát khỏi bàn tay của hai chính quyền thực dân đầu sỏ?

IV. "Châu chấu đá voi"

Nhà giam của Sở Cảnh sát Hồng Kông, một trong những nơi giam giữ và thẩm vấn Tống Văn Sơ năm 1931

Quả vậy, ngay trong phiên xử thứ 2 (ngày 15/8/1931), viên chưởng lý đã tuyên bố ngày 12 tháng 8/1931, thống đốc Hương Cảng đã ký lệnh trục xuất Tống Văn Sơ về Đông Dương vào ngày 18/8/1931, tức 3 ngày sau đó.

Tình hình đã trở nên hết sức nguy hiểm cho tính mạng của Tống Văn Sơ – Nguyễn ái Quốc. Các luật sư đã ý thức rõ được điều đó nên đã đấu tranh một cách rất mạnh mẽ, tiếp đó, tùy diễn biến tình hình, lúc thì cương quyết, lúc uyển chuyển sao cho có thể vô hiệu hóa được lệnh trục xuất kia.

Trước hết, luật sư đã vạch trần âm mưu và sự cấu kết chặt chẽ của hai chính quyền Pháp – Anh, bằng cách đưa ra các bức điện mật của Toàn quyền Đông Dương với chính quyền Hương Cảng. Sau đó, luật sư nhấn mạnh: Việc chính quyền Hương Cảng ký lệnh trục xuất ông Tống và công bố lệnh đó ngay trong khi tòa án đang xét xử chưa xong là một vi phạm luật pháp nghiêm trọng.

Trong trường hợp này, tòa án đang họp, chưa có kết luận bị cáo phạm tội gì, đáng chịu hình phạt gì mà thống đốc đã ra lệnh trục xuất là không đúng pháp chế Anh quốc. Những luận điểm của luật sư tuy làm phật lòng chưởng lý, nhưng ông ta vẫn phải hứa rằng: Tôi cố gắng đảm bảo rằng, cho đến khi phiên tòa này (15/8) công bố việc phán xét, bị can vẫn sẽ còn có mặt tại đây!

Tại đây, có nghĩa là chưa bị trục xuất. Đó là thắng lợi bước đầu của Tống Văn Sơ và các luật sư. Phiên toà hôm đó (15/8) họp tới 6 giờ chiều vẫn chưa xong. Đây là ý định của các luật sư cố tình kéo dài thời gian cho qua ngày 18/8. Cuối cùng, toà phải họp phiên thứ 3 vào ngày 17/8, nghĩa là một ngày trước khi lệnh trục xuất của thống đốc Hồng Kông có hiệu lực.

Bước vào phiên xử thứ 3, các luật sư đưa ra nhiều lý lẽ nhằm kéo dài phiên xử cho hết buổi chiều ngày 17/8 để tòa không kết thúc được, cũng có nghĩa là sáng hôm sau, không thể trục xuất được Tống Văn Sơ. Các luật sư đã thành công trong việc dồn viên chưởng lý phải hứa trước tòa rằng:

- Nếu tòa chưa giải quyết xong trong ngày hôm nay (17/8) thì sẽ có biện pháp thay bằng một chiếc tàu khác chạy cùng đường sang Đông Dương là tàu Tướng Mét – dinh – gơ (Metjinger), nó sẽ rời Hương Cảng ngày 1/9/1931.

Đã là một bước thắng lợi lớn. Không dừng ở đó, luật sư đấu tranh phải ghi rõ việc đó như sau:

"Nếu việc xét xử không xong trong ngày hôm nay (thứ 2 ngày 17/8), dù kết quả thế nào chăng nữa, Tống Văn Sơ sẽ không bị trục xuất trước khi tàu nhổ neo ngày 1/9 hay vào khoảng thời gian đó".

Tuy nhiên, như đã biết, chính quyền Hương Cảng đã quyết chí bằng mọi cách phải trục xuất được Tống Văn Sơ về Đông Dương giao cho Pháp, cho nên, ngay trong buổi chiều 17/8, khi phiên tòa đang xét xử, thống đốc Hương Cảng biết rằng lệnh trục xuất thứ nhất do ông ấy ký sẽ không thể thực hiện kịp nên ông thống đốc đã cho ban hành ngay chiều hôm đó lệnh trục xuất thứ 2 buộc Tống Văn Sơ phải xuống tàu Mét – dinh – gơ vào ngày 1/9/1931 về Đông Dương.

Với sự nhanh trí, thông minh tuyệt vời, các luật sư đã vạch rõ tính bất hợp pháp và phi lý của lệnh trục xuất số 2 này. Thứ nhất, các luật sư phân tích rằng, về mặt pháp lý, không thể có hai lệnh trong cùng một thời gian đối với cùng một con người, về cùng một việc.

Lệnh trục xuất thứ hai chỉ được ban hành khi tòa án tuyên bố hủy lệnh thứ nhất. Sau đó Luật sư tiếp lời: Tôi xin khẳng định luôn rằng kể cả lệnh thứ 2 này của thống đốc Hương Cảng cũng không thể ban hành.

Vì sao ư? Vì theo như ông chưởng lý tuyên bố, lệnh thứ 2 này được thống đốc ký vào chiều ngày 15/8 và ban hành vào chiều 17/8. Các vị ở đây ai cũng biết chiều 15/8 là chiều thứ Bảy. Theo quy định tại Anh quốc và thuộc địa thì chế độ làm việc của các cơ quan công quyền được nghỉ vào chiếu thứ Bảy và Chủ nhật liền kề.

Tôi xin đảm bảo với các vị là người ta sẽ hoàn toàn mất công mà không tìm được dấu vết gì chứng tỏ Hội đồng hành chính họp chiều thứ Bảy ngày 15/8, và nếu có định họp về khuya đi nữa thì chắc chắn không đủ quorum (nguyên gốc tiếng Latin, thuật ngữ chỉ số thành viên cần thiết tham gia họp, biểu quyết).

Mặc dù biết rõ sự thật đúng như phân tích của luật sư, nhưng viên chưởng lý vẫn ngoan cố khăng khăng rằng Hội đồng hành chính có họp vào chiều 15/8 và quyết định, còn ông thống đốc chỉ việc ký vào lệnh trục xuất thứ 2 thôi.

Đến lúc này, luật sư thấy cần phải lột mặt nạ những kẻ gian dối: Vậy thì yêu cầu tòa cho mời ông thống đốc và các thành viên Hội đồng hành chính ra trước tòa để đối chất với luật sư, đồng thời phải công khai luôn biên bản cuộc họp hôm đó ghi ý kiến của từng người về việc trục xuất Tống Văn Sơ.

"Ngón đòn" này của luật sư Lô – dơ – bi và đồng nghiệp tỏ ra hiệu quả vô cùng vì đã dồn toà án và chính quyền vào nguy cơ bị lấm lưng, bởi lẽ thứ nhất, thực tế, không có cuộc họp nào của Hội đồng hành chính vào chiều thứ Bảy ngày 15/8 cả nên lấy đâu ra "biên bản" trình toà. Hơn nữa, thống đốc và các thành viên HĐHC mà phải ra toà "hầu kiện" thì bẽ bàng lắm lắm.

Lúc này, vị chánh án như gà mắc tóc. Rõ ràng tòa không thể bác bỏ yêu cầu hợp pháp của luật sư, song cũng không có lý gì bác bỏ yêu cầu đó. Cuối cùng thì vị chánh án cũng nghĩ ra được một "diệu kế" làm cho luật sư cũng vừa lòng, mà chính quyền thì đỡ bẽ mặt, ông ta tuyên bố toà "tạm nghỉ", sau đó, mời luật sư và chưởng lý vào phòng trong để thương lượng.

Sau một hồi "đàm phán", tòa án và viên chưởng lý đồng ý đảm bảo Tống Văn Sơ sẽ không bị trục xuất về Đông Dương vào ngày 1/9. Đây là một thắng lợi rực rỡ vì các luật sư và Tống Văn Sơ trước mắt chắc chắn sẽ có một khoảng thời gian trên dưới 10 ngày để chuẩn bị cho các bước tiếp theo.

Sau khi đã hạ "knock – out" đối thủ, trở lại phiên tòa, luật sư "khiêm nhường" nói rằng xin rút yêu cầu đòi thống đốc và các thành viên HĐHC.

Những âm mưu thâm độc của thực dân Pháp – Anh bước đầu đã bị các luật sư vạch trần, song chính quyền Pháp và Hương Cảng vẫn giữ chặt hai lý do để trục xuất Tống Văn Sơ.

Thật vậy, trong các phiên tòa tiếp theo, viên chưởng lý cho rằng có hai lý do để trục xuất Tống Văn Sơ:

1. Tống Văn Sơ chính là Lý Thuỵ, Nguyễn ái Quốc, một người cộng sản, tay sai của Liên Xô, phái viên của quốc tế cộng sản, sang hoạt động tuyên truyền cho chủ nghĩa cộng sản, làm nguy hại cho nền an ninh Hương Cảng.

2. Nguyễn ái Quốc bị nhà cầm quyền ở Đông Dương kết án tử hình vắng mặt năm 1929 hiện đang bị chính quyền Đông Dương truy nã, chính quyền Đông Dương nhờ chính quyền Hương Cảng bắt hộ để đưa về Đông Dương.

Luật sư biện hộ rằng: Phải khẳng định rằng không có một tài liệu, cơ sở vững chắc nào để kết luận Tống Văn Sơ là Nguyễn ái Quốc, một người cộng sản. Cũng không có bằng chứng nào chứng minh Tống Văn Sơ là tay sai của Liên Xô cũng như phái viên của quốc tế cộng sản.

Thời gian cư ngụ tại Hương Cảng, Tống Văn Sơ không hề vi phạm bất kỳ điều gì đối với quy định của pháp luật Anh quốc. Ngay khi khám xét, lục soát tại số nhà 186 đường Tam Lung nơi Tống Văn Sơ bị bắt giữ, cảnh sát cũng không hề thu được bất kỳ một tài liệu có liên quan đến cộng sản hay phản loạn gây nguy hại cho anh ninh Hương Cảng.

Về lý do thứ hai, sau khi nêu lên tất cả những đạo luật của Anh quốc về quyền trục xuất ban hành từ thế kỷ XIX cho tới thời gian đó, luật sư khẳng định rằng Tống Văn Sơ không thuộc bất kỳ đối tượng nào thuộc diện phải bị trục xuất.

Để minh chứng, luật sư phân tích tiếp: Trên thực tế, cho tới đầu thế kỷ XX này, không hề có một vụ trục xuất nào cả, kể cả vụ án lớn xảy ra năm 1858 khi vua nước Pháp sang thăm nước Anh bị mưu sát. Chính quyền Pháp lúc đó cũng đã yêu cầu chính quyền Anh trao cho họ một trong những can phạm vào vụ mưu sát này.

Song, Ngoại trưởng Anh lúc bấy giờ là Cla – ran – đơn (Clarandon) đã từ chối và nói rằng "hoàn toàn không có một lý do nào buộc Nghị viện Anh thông qua Luật trao trả phạm nhân cho nước ngoài về một vụ án chính trị".

Đến năm 1905, Nghị viện Anh đặt lại vấn đề trục xuất ngoại kiều, nhưng cấm không được trục xuất ngoại kiều nào về tội chính trị. Đầu năm 1914, ngay hôm sau khi tuyên bố tham gia chiến tranh thế giới thứ nhất, Nghị viện Anh đã thông qua đạo luật cho phép chính quyền có thể giao chính trị phạm đang lánh nạn ở nước Anh hay thuộc địa cho nước khác. Nhưng đạo luật này chỉ có giá trị thi hành trong thời gian nước Anh có chiến tranh.

Khi hết chiến tranh, đương nhiên đạo luật ấy tự nó không còn hiệu lực. Kể từ sau chiến tranh thế giới lần thứ I, nước Anh lại vẫn thi hành những đạo luật như trước cho đến bây giờ. Chính bởi thế, không tồn tại bất cứ lý do nào để trục xuất Tống Văn Sơ.

Những viện dẫn và lập luận của luật sư là hết sức chặt chẽ, đúng luật pháp Anh quốc, tuy nhiên, tại phiên tòa cuối cùng, phiên thứ 9 họp vào ngày 12/9/1931, vị chánh án đã tuyên bố thừa nhận 4 điểm:

1. Việc bắt là trái phép

2. Việc giam là trái phép.

3. Việc hỏi cung không đúng thủ tục.

4. Chính quyền đã làm giả mạo tờ cung.

Song điều quan trọng nhất là việc trục xuất thì vị chánh tòa tuyên bố: Việc chính quyền Hương Cảng trục xuất Tống Văn Sơ là hợp pháp!

Đây rõ ràng là kiểu "cả vú lấp miệng em"!

Sinh mạng của Tống Văn Sơ còn đang treo lơ lửng, chưa biết sẽ ra sao.

V.Thoắt thả ra, lại bắt vào như chơi!

Trước tình thế vô cùng nguy hiểm do sự cố chấp của chính quyền Hương Cảng, luật sư Lô-dơ-bi cùng với ông Tống bàn bạc với nhau không còn cách nào khác là phải đấu tranh sao cho Tống Văn Sơ được quyền chống án lên Cơ mật viện (còn gọi là Tối cao Pháp viện) tại Luân Đôn.

Ngục Víchtoria tại Hồng Kông nơi giam giữ Tống Văn Sơ

(ảnh lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh)

ý định đó đã vấp ngay phải khó khăn khi viên chưởng lý đặt ra hai điều kiện: Một là, vụ án phải được minh chứng như một vụ có tầm quan trọng đặc biệt đáng đệ đơn lên Cơ mật viện. Theo viên chưởng lý, vụ án này chưa đủ tầm quan trọng đặc biệt.

Hai là, đương sự phải tự chứng minh là đã bị tổn thất về một quyền công dân nào đó (some civil right) trị giá 5.000 đô-la trong vụ này.

Đặt ra 2 điều kiện này, viên chưởng lý tin chắc rằng Tống Văn Sơ sẽ không thể đáp ứng, nhất là điều kiện thứ 2, bởi vì, Tống Văn Sơ không phải là một công chức, lại càng không phải là một thương gia thì làm sao mà có tổn thất đến 5000 đô-la?

Song viên chưởng lý đã không thể ngờ được rằng, Tống Văn Sơ cùng luật sư Lô-dơ-bi đã bẻ gãy mưu đồ và sự cố chấp của chính quyền Hương Cảng. Luật sư Lô-dơ-bi phản biện: – Quyền chống án là một quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm. Đây là một vụ án có tầm quan trọng lớn lao và rộng khắp trong quần chúng.

Về phần Tống Văn Sơ, đương sự đã đệ đơn lên tòa nêu rõ ràng dân quyền (right civil) mà ông ta có quyền được hưởng là Tự do của ông ta bị xâm phạm bằng chứng là vị chánh tòa đã tuyên ông ta bị bắt sai, giam giữ sai, như thế ông ấy đã bị tước đoạt Tự do hơn 100 ngày. Chả lẽ sự mất Tự do hơn 100 ngày đó không trị giá hơn 5000 đô-la?

Sau lập luận đầy bất ngờ và xác đáng ấy, vị chánh án đành phải thừa nhận rằng vụ án này đủ điều kiện để đưa lên Cơ mật viện. Nhưng ông ta vẫn đặt ra thêm 3 điều kiện khác: 1.Phải nộp đơn chống án trong vòng 14 ngày; 2.Phải nộp đủ hồ sơ lên Cơ mật viện trong vòng 3 tháng; 3.Phải nộp số tiền 500 đô-la án phí trong vòng 1 tháng.

Luật sư Lô-dơ-bi "vui vẻ" nhận lời.

Điều kiện thứ nhất thì quá đơn giản. Điều kiện thứ ba thì luật sư Lô-dơ-bi giấu không cho Tống Văn Sơ biết vì luật sư hiểu Tống Văn Sơ chẳng đào đâu ra số tiền đó và luật sư đã tự bỏ tiền túi ra để nộp án phí.

Riêng điều kiện thứ hai, vì tài liệu phải in ty-pô và rất nhiều, nên luật sư Lô-dơ-bi phải mãi tới ngày 12/12 năm đó mới tập hợp xong và chuyển ngay lên Cơ mật viện.

Cơ mật viện là tòa án cao nhất ở nước Anh, có quyền chung thẩm. Viện này chỉ xét xử qua hồ sơ do các tòa án địa phương gửi lên. Hai bên nguyên và bị không cần hiện diện. Có hai vị luật sư đại diện cho hai bên: Luật sư Đê-nis Nâu-oen Pritt (Dennis Nowell Pritt) bênh vực cho Tống Văn Sơ, còn ngài Xta-pho-đơ Crips (Sir Stufford Cripps) thì bênh vực cho chính quyền Hương Cảng.

Luật sư Đ.N.Prit nguyên là nghị viên thuộc phái tả trong Nghị viện Anh, là một người có đầu óc tiến bộ, còn luật sư C.Crip là con trai Huân tước Pan-mơ (Lord Palmer). Khi Công đảng lên cầm quyền ở Anh quốc thì Huân tước Pan-mơ được làm Bộ trưởng Bộ thuộc địa.

Toà án Hồng Kông nơi diễn ra chín phiên toà xét xử Tống Văn Sơ (Nguyễn ái Quốc) từ ngày 31/7/1931 đến ngày 12/9/1931

Cả hai luật sư Prit và Crips đều là bạn của luật sư Lô-dơ-bi, nhưng Prit thân hơn nên luật sư Lô-dơ-bi đã gửi cho ông này một bức thư riêng giới thiệu về bản thân Tống Văn Sơ và tính chất quan trọng của vụ án này, cuối cùng, động viên bạn cố gắng bảo vệ sao cho được thắng lợi.Kèm theo, luật sư Lô-dơ-bi cũng gửi một tập hồ sơ cho Prit.

Sau khi nghiên cứu hồ sơ, thấy đúng như trong thư giới thiệu, Prit đã hứa sẽ làm hết sức mình và bắt tay vào kế hoạch chuẩn bị cho cuộc chiến vẻ vang này. Trong thâm tâm, luật sư Prit thấy rằng vụ này chỉ có thể giành được thắng lợi nếu có sự trợ giúp của vị luật sư đại diện cho chính quyền Hương Cảng.

Ông Prit liền không ngại ngần, tìm đến chơi nhà ngài Crips và dùng những lời lẽ tâm tình, nêu rõ về con người Tống Văn Sơ, đồng thời cũng phân tích rằng, nếu ngài Crips một mực bênh vực cho sự cố chấp của chính quyền Hương Cảng thì uy tín của ngài sẽ bị tổn thương nghiêm trọng.

Vì lúc đó chưa nghiên cứu hồ sơ nên ngài Crips cũng chỉ ậm ừ cho qua chuyện. Thế nhưng khi đọc hồ sơ xong thì ngài Crip đã tỏ thái độ rõ ràng là ủng hộ Tống Văn Sơ. Hai vị luật sư đã gặp lại nhau cùng bàn bạc thống nhất sẽ biện hộ để Vua Anh phóng thích Tống Văn Sơ.

Ngày 21/7/1932, tại tòa án trong cung điện Bớc-king-ham, có mặt Đức vua Anh, hầu tước chánh án đã phán quyết: 1. Bỏ việc chỉ định "tàu biển" trong lệnh trục xuất; 2. Trong bất cứ trường hợp nào cũng không giao người kháng án cho Pháp hoặc đến một lãnh thổ do Pháp bảo hộ hoặc xuống một tàu biển của Pháp; 3. Chính quyền Hương Cảng sẽ hết sức cố gắng để bảo đảm rằng người kháng án (tức Tống Văn Sơ-PV) sẽ đến được nơi muốn đến; 4. Chi 250 bảng Anh cho phí tổn của người kháng án.

Luật sư Crips còn thay mặt chính quyền Hương Cảng hứa giúp phương tiện cho nhà cách mạng An Nam! Ngoài ra, chính quyền Hương Cảng còn đưa cho Tống Văn Sơ 400 đô la tiền lộ phí.

Vậy là, cuộc chiến "châu chấu đá voi" đã giành được "đại thắng lợi". Âm mưu hãm hại của chính quyền Hương Cảng bị sụp đổ, chính nghĩa đã thắng! Đó là nhờ vào công lao của vị luật sư đầy nhiệt huyết với Tống Văn Sơ, cùng với sự giúp đỡ đắc lực của các vị luật sư Giên-kin, Prit và Crips… Báo chí Anh quốc lúc đó đã coi: "Việc nhà cách mạng An Nam được trắng án là một danh dự lớn cho luật sư Lô-dơ-bi và của công lý nước Anh".

Tin vui bay về Hương Cảng làm cho luật sư Lô-dơ-bi và gia đình ông vô cùng phấn khởi và ông đã báo tin ngay cho Tống Văn Sơ lúc đó đang nằm điều trị trong bệnh viện. Chả là, sau khi bị giam mấy tháng liền trong nhà tù thiếu thốn mọi điều kiện, ông Tống bị ốm nặng.

Luật sư Lô-dơ-bi đã hết lòng tranh đấu cho "người khách hàng đặc biệt" buộc nhà chức trách phải cho ông Tống vào viện điều trị. Tới đầu năm 1932 thì sức khỏe ông Tống dần bình phục. Và khi nhận được tin "đại thắng lợi", ông Tống hết sức vui mừng và cảm thấy khỏe khoắn lạ thường.

Bấy nhiêu lâu xa cách đồng chí, bạn bè, nhiều đêm, ông Tống cảm thấy vô cùng cô đơn, khắc khoải nơi đất khách; có lúc, ông hằng mong có đôi cánh để bay về ngay với đại gia đình vô sản.

Bởi thế, khi nhận được tin vui đại thắng, Tống Văn Sơ đã hết lòng cảm tạ luật sư Lô-dơ-bi và gia đình, cùng các vị luật sư khác rồi xin được rời ngay Hương Cảng dù gia đình luật sư Lô-dơ-bi hết lời khuyên nhủ nên ở lại chờ cho sức khỏe ổn định toàn phần và cũng để nhận được đầy đủ giấy tờ tùy thân từ Cơ mật viện gửi tới.

Nhân có một chiếc tàu thủy đi châu Âu cập bến Hương Cảng, Tống Văn Sơ bịn rịn chia tay ân nhân rồi xuống tàu, rời "cảng thơm", vượt trùng dương.

Con tàu rẽ sóng chạy về hướng đất Tân-gia-ba ( Singapore). Tống Văn Sơ đâu có ngờ rằng, mật thám đã dõi theo từng bước đi của ông và điện luôn cho cảnh sát Tân-gia-ba rằng, hễ thấy một người hình dạng như thế thì bắt lại.

Tàu vừa cập bến Tân-gia-ba, một đám cảnh sát đón bắt và áp giải Tống Văn Sơ xuống tàu Hồ San. Họ tuyên bố rằng, chính quyền Tân-gia-ba không phụ thuộc vào bất cứ lệnh nào của các chính quyền khác, bởi thế, cũng không bắt buộc phải thi hành việc đảm bảo của chính quyền Hương Cảng.

Và, cảnh sát Tân-gia-ba đã buộc ông Tống phải lên ngay tàu Hồ San, đưa trả lại cho chính quyền Hương Cảng. Trở lại nơi đã gây cho mình bao nhiêu oan trái, đắng cay, Tống Văn Sơ vừa mới đặt chân lên bờ liền bị cảnh sát Hương Cảng bắt.

Họ tuyên bố lý do là ông Tống vào Hương Cảng không có giấy phép nhập cảnh và họ đưa ông trở lại nơi nhà tù vừa mới giam ông trước đây không lâu!

Lại một lần nữa, tính mạng của lãnh tụ Nguyễn ái Quốc bị đe dọa nghiêm trọng. Làm thế nào để tự cứu mình đây?

VI. Những đóa sen nơi viễn xứ

Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng gia đình luật sư Lô-dơ-bi tập ảnh ghi lại những hình ảnh kỷ niệm về chuyến thăm Việt Nam.

Ngày 2/2/1960

(ảnh lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh)

Còn nhớ, khi đồng ý nhận lời bào chữa cho Tống Văn Sơ, luật sư Lô-dơ-bi đã phải quá tam ba bận tới nhà tù thì nhà chức trách mới cho ông gặp mặt khách hàng của mình.

Chỉ sau lần gặp mặt và trò chuyện ấy, luật sư hết sức cảm phục tinh thần, tài năng, đạo đức và sự lịch duyệt của Tống Văn Sơ.

Về mặt tuổi tác, luật sư Lô-dơ-bi hơn Tống Văn Sơ chừng gần chục tuổi. Tuy nhiên, tất cả những gì toát ra từ Tống Văn Sơ khiến cho luật sư vừa quý trọng, vừa gần gũi, thân thiết rất đáng tin cậy.

Sau buổi tiếp xúc ấy, về tới nhà, luật sư vẫn còn bâng khuâng ngẫm nghĩ về nhà cách mạng Tống Văn Sơ tới mức ông quên cả việc chào vợ như mọi khi, miệng cứ lẩm bẩm thán phục ông Tống.

Thấy lạ, bà vợ sinh nghi liền thắc mắc thì ông thuật lại việc ông vừa vào trại giam gặp mặt một khách hàng mới.

Ông không ngớt lời ngợi ca Tống Văn Sơ. Thấy vậy, bà vợ ngỏ ý cũng rất muốn được tiếp xúc, làm quen với nhân vật đã chiếm được cảm tình đặc biệt của ông chồng luật sư danh tiếng.

Lần gặp tiếp sau, ông luật sư đưa vợ đi theo và để cho bà chuyện trò cùng ông Tống chừng gần hai chục phút. Chỉ với ngần ấy thời gian, bà vợ còn cảm thấy quý trọng và cảm phục ông Tống hơn cả chồng mình.

Về tới nhà, bà thúc giục chồng biện hộ thế nào để chính quyền phải phóng thích ông Tống sớm chừng nào hay chừng ấy. Cho tới phiên toà thứ 9 (12/9/1931) ông Tống bị ốm nặng.

Vợ chồng luật sư Lô-dơ-bi đã tìm mọi cách để ông Tống được vào điều trị trong bệnh viện. Từ khi ông Tống nằm viện, vợ chồng luật sư Lô-dơ-bi càng tận tình chăm sóc ân cần, chu đáo hơn đối với ông Tống như người thân ruột thịt của mình.

Trang phục do gia đình luật sư Lô-dơ-bi chuẩn bị cho

Nguyễn ái Quốc cải trang để ra khỏi Hương Cảng

(ảnh tư liệu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh)

Đặc biệt, bà vợ vì có nhiều thời gian rảnh rỗi hơn chồng, nên đã thường xuyên vào thăm, chăm lo và chuyện trò cùng ông Tống. Mỗi lần vào thăm, bà thường mua hoa quả, bánh kẹo, sách báo, và điều làm cho ông Tống vô cùng cảm động là bao giờ bà vợ luật sư cũng không quên mang đến mấy bông sen-loại hoa mà ông Tống rất ưa thích.

Hương Cảng là một đảo thiếu vắng đầm, hồ, ao cho nên không thể có hoa sen. Tuy nhiên, người ta vẫn có thể đưa hoa sen từ nội địa Quảng Đông tới, bởi vậy, trên đất Hương Cảng, hoa sen rất khan hiếm và đắt đỏ…

Trở lại việc Tống Văn Sơ bị cảnh sát Hương Cảng thông đồng với cảnh sát Tân-gia-ba bắt đưa về nhà tù cũ. Trên đường vào nhà tù, Tống Văn Sơ đã suy nghĩ rất nhiều.

Ông hiểu được rằng, tụi mật thám Hương Cảng cố giữ kín chuyện bắt lại này chỉ chờ dịp có tàu là áp giải mình lên tàu về Đông Dương giao cho Pháp. Chính bởi thế, phải bằng mọi cách liên lạc được với luật sư Lô-dơ-bi càng sớm càng tốt.

Trong số lính gác tại nhà tù hầu như ai cũng có cảm tình với ông Tống, nhưng có một người đã được ông Tống cảm hoá, rất đáng tin cậy. Ông Tống liền viết mấy dòng ngắn ngủi và nhờ người lính gác này trao tận tay cho luật sư Lô-dơ-bi. Người lính gác đó ngay tức khắc chuyển thư tới địa chỉ cần tìm.

Vừa nhận được tin ông Tống bị bắt lại, luật sư Lô-dơ-bi rất bàng hoàng vừa giận, vừa lo: giận vì chính quyền Hương Cảng không giữ đúng lời hứa để ông Tống tự do muốn đi đâu thì đi; lo vì tính mạng ông Tống lần này khó mà bảo toàn.

Phải bằng mọi cách cứu ông Tống ra khỏi nhà tù rồi sẽ liệu tính sau. Trong vai trò luật sư, ông Lô-dơ-bi đã chính thức gặp nhà chức trách, phê phán họ kịch liệt khi chống lại lệnh tuyên án của Cơ mật viện, để cho cảnh sát bắt lại Tống Văn Sơ một cách trái phép.

Chính quyền Hương Cảng lúc đó biết không thể giam giữ Tống Văn Sơ, nên đã phải can thiệp để Sở cảnh sát Hương Cảng thả Tống Văn Sơ sau mấy ngày giam giữ.

Việc đòi tự do cho ông Tống đã thành công, song tính mạng của ông thì vẫn chưa có cách gì đảm bảo, bởi bọn mật thám ở vùng này đa số đã biết mặt Tống Văn Sơ, chúng đều đã được phát ảnh ông Tống để theo dõi, nay nếu để ông Tống đi lại ngoài phố, chắc chắn, bọn mật thám sẽ không tha và khi cần, bọn chúng sẵn sàng thủ tiêu ông Tống để lĩnh món phần thưởng 15 ngàn đô-la mà Toàn quyền Đông Dương đã treo thưởng.

Sau một thời gian bàn tính, ông bà Lô-dơ-bi quyết định giấu ông Tống vào ký túc xá Thanh niên Thiên chúa giáo Trung Hoa (Chinese Young Men Christian Association, viết tắt là CYMCA) tại Hương Cảng. Ký túc xá này dành riêng cho những người Trung Quốc theo đạo Thiên chúa giáo, là giáo sư, sinh viên, công chức.

Khu vực này là của Nhà Chung, cảnh sát Hương Cảng không được quyền vào. Nhờ mối quan hệ của mình, ông bà Lô-dơ-bi đã thu xếp cho ông Tống được ở riêng một phòng kín đáo; hàng ngày không được ra ngoài để tránh con mắt rình mò của mật thám.

Việc cơm nước, sinh hoạt hoàn toàn do bà Lô-dơ-bi lo chu tất. Được một thời gian, tuy chưa bị lộ, nhưng ông bà Lô-dơ-bi vẫn chưa yên tâm vì linh tính mách bảo nếu để ông Tống ở trong ký túc xá kia lâu, chắc chắn không chóng thì chầy, bọn mật thám sẽ đánh hơi thấy.

Bởi vậy, cả hai ông bà cùng suy tính rất nhiều phương án, và cuối cùng đã chọn phương án bất ngờ nhất: "Nơi chân đèn là nơi tối nhất". Theo hướng dẫn của bà Lô-dơ-bi, ông Tống tự lấy dây đo kích thước chiều cao, vòng bụng vòng ngực.

Sau đó, giao cho ông Long, một người Trung Quốc rất đáng tin cậy, đang làm chủ sự (chánh văn phòng) văn phòng của luật sư Lô-dơ-bi, đi chọn mua một bộ quần áo gồm một áo dài, tay rộng, cổ đứng, cài nách và một chiếc quần.

Bà Lô-dơ-bi gói vuông vắn phẳng phiu vào một tờ báo rồi trao cho một em bé bán báo bí mật đưa vào cho ông Tống, kèm theo là mẩu giấy viết mấy dòng dặn đến 5 giờ rưỡi chiều hôm đó, mặc bộ quần áo này ra cổng đi đến chỗ bãi đất có một chiếc ô tô đợi sẵn, lên xe.

 Đúng giờ hẹn, ông Tống trịnh trọng trong y phục "giáo sư" với bộ ria mới để làm tăng vẻ đạo mạo của nhà trí thức. Trên sân lúc này các giáo sư, sinh viên đang đứng chơi đông đảo.

Ông Tống điềm tĩnh, lịch sự chào hỏi các giáo sư cũ. Các vị này tưởng là "giáo sư mới" nên cũng chào lại ông Tống một cách lễ độ. Các sinh viên thấy vậy cũng cung kính chào "giáo sư" Tống.

Ông Tống khoan thai bước ra cổng và đi tới đúng điểm hẹn thì quả nhiên đã có một chiếc xe ô tô sang trọng đỗ ở đó. Bên cạnh xe ô tô có một người châu Âu, đứng tuổi, đang cầm một quyển sổ và cây bút tính toán gì đó. Khi thấy ông Tống lại gần, người đó bèn gọi to: – Này ông thầu khoán, ông lại đây tôi bàn việc xây ngôi nhà trên mảnh đất này.

Ông Tống nhập vai rất nhanh, lại gần và sánh vai cùng ông kiến trúc sư vừa đi vừa bàn bạc công việc xây dựng. Sau khi quan sát không có dấu hiệu gì khả nghi, "kiến trúc sư" mới ra hiệu cho ông "thầu khoán" lên xe.

Chiếc xe chạy vòng vèo hết phố nọ sang phố kia, khi đã chắc chắn không có "cái đuôi" nào, "kiến trúc sư" liền cho xe chạy thẳng về nhà mình. Vị kiến trúc sư đó chính là luật sư Lô-dơ-bi.

Bọn mật thám đã không thể ngờ được rằng, người mà chúng ngày đêm theo dõi, đang hiện diện giữa trung tâm Hương Cảng, sờ sờ ngay trước mắt mà chúng không mảy may hay biết.

Ông bà Lô-dơ-bi cho gọi bồi bếp và những người giúp việc trong gia đình lên và dặn dò kỹ lưỡng là gia đình mời một quý khách là người Trung Quốc tới chơi và ở lại nhà một thời gian, ai nấy đều phải phục vụ chu tất, tuyệt đối không được để lộ cho người ngoài hay. Mọi người đều răm rắp tuân theo.

Từ đó, ông Tống ở hẳn tại nhà ông bà Lô-dơ-bi. Hàng ngày, ông dậy sớm tập thể thao, đọc sách báo, dạy học cho con gái ông bà Lô-dơ-bi tên là Pa-tơ-ri-xi-a, lúc đó khoảng 5-6 tuổi.

Dạy học xong, ông Tống thường kể chuyện cổ tích cho Pa-tơ-ri-xi-a nghe. Cô bé đặc biệt yêu quý chú Tống, suốt ngày quanh quẩn, quấn quít bên chú…

Bọn mật thám vẫn lùng sục gắt gao. Để bảo toàn cho tính mạng ông Tống, ông bà Lô-dơ-bi đã phải di chuyển chỗ ở cho ông Tống tới 3-4 lần mà vẫn chưa an tâm.

Cuối cùng, để tránh tai họa có thể xảy ra bất cứ lúc nào, vợ chồng ông bà Lô-dơ-bi cùng bàn tính với ông Tống một kế hoạch rời khỏi Hương Cảng một cách "bất ngờ" nhất và "an toàn" nhất.

Muốn vậy, chỉ còn một cách duy nhất là ông Tống rời Hương Cảng với tư cách là "vị khách quý" của thống đốc Hương Cảng và phải được đảm bảo bởi chính ông thống đốc mà trước đó không lâu hạ bút ký lệnh trục xuất ông Tống, giao cho chính quyền Đông Dương! Liệu "kế hoạch không tưởng" này có thể thực hiện?

VII. Cuộc vượt biên thần kỳ!

Cố vấn Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Phạm Văn Đồng tiếp cô Pa – tơ – ri – xia Lô – dơ – bi chiều 8/6/1992 tại Hà Nội. (ảnh lưu tải Bảo tàng Hồ Chí Minh.)

Ai cũng biết, Hương Cảng là một hòn đảo bốn bề là biển cả. Lúc đó, ai ai đi khỏi đảo này đều phải dùng tàu thủy hay thuyền, xuồng, ngoài ra không còn đường nào khác.

Hơn nữa, tàu, thuyền dù cập bến hay rời bến, đều phải chịu sự quy định, giám sát của chính quyền địa phương.

Tại các bến ấy, cảnh sát, mật thám chìm nổi suốt ngày trà trộn theo dõi để phát hiện, bắt giữ những "phần tử"  có tên trong "sổ đen".

 Bởi thế, không thể nào đảm bảo được tính mạng, nếu ông Tống lên tàu tại bến chính quy. Ông bà luật sư  Lô-dơ-bi và ông Tống đều biết rất rõ điều đó.

Chính vì vậy, ba người đã vắt óc và cuối cùng ông Tống đã đề ra một kế hoạch mà ông bà luật sư rất tán đồng, cho là một kế hoạch táo bạo và thần kỳ, trong đó, "diễn viên chính" là ông Thống đốc Hương Cảng Uy – li – am Pin (William Peel).

Dạo ông Tống còn nằm trong bệnh viện, vào một buổi chiều thu khi mùa sen đã gần hết, bà Lô-dơ-bi, trước khi vào thăm ông Tống, đã ra chợ, đi hết hàng này, hàng khác cố tình mua cho được mấy bông hoa sen.

Bà đang tìm hỏi những người bán hoa thì gặp một bà bạn. Thấy bà Lô-dơ-bi lật đật lùng mua hoa sen thì lấy làm lạ, liền rảo bước tới gần gặng hỏi bà mua hoa sen để làm gì.

Không trả lời bạn, bà Lô-dơ-bi hỏi lại xem bà ấy có biết ở đâu còn hoa sen. Bà kia càng thấy lạ càng gặng hỏi vì người Âu châu nói chung không thích hoa sen lắm.

Bà Lô-dơ-bi  đành phải vắn tắt rằng mua sen để tặng một người bạn An Nam tuyệt vời, thông minh tài giỏi và lịch lãm, hiện đang nằm điều trị trong bệnh viện.

Người bạn gái kia tên thật là Xten-la Ben-xơn (Stella Benson), phu nhân của quan Phó thống đốc Hương Cảng, ngài Tô-ma Xac-thơn (Sir Thomas Sactherns); đồng thời là một văn sĩ nổi tiếng Anh quốc lúc đó với bút danh là Vớc-gi-ni-a U-ôn-phơ (Virginia Woolf).

"Linh cảm" nghề nghiệp mách bảo bà Ben-xơn về một nhân vật cho một đề tài hấp dẫn, vậy nên, nữ văn sĩ nằng nặc đòi bà Lô-dơ-bi tạo điều kiện cho tiếp xúc với ông Tống.

Thấy đây cũng là dịp tạo thêm tiếng nói ủng hộ ông Tống, bà Lô-dơ-bi đã dẫn nữ sĩ U-ôn-phơ tới thăm ông Tống tại bệnh viện. Buổi gặp mặt tuy ngắn ngủi nhưng đã để lại những cảm xúc mạnh mẽ trong tâm hồn nữ văn sĩ này.

Ngay tối hôm đó, trở về nhà riêng, nữ văn sĩ đã thực sự nổi giận với chồng – ông Phó thống đốc Xac-thơn.

Thoạt đầu, ông Phó thống đốc hết sức ngạc nhiên trước sự căm giận của vợ đối với chính quyền Hương Cảng trong việc hãm hại một con người tuyệt vời khiến cho ông ta ốm yếu đến thế.

Sau đó, bà vợ đã kể cho ông phó thống đốc nghe rằng bà vừa đi thăm và chuyện trò với ông Tống và hết lời ngợi ca người cách mạng An Nam này.

Mấy hôm sau, ông Phó thống đốc bảo vợ dẫn mình đi thăm ông Tống. Và bây giờ, đến lượt ông Phó thống đốc đi hết từ ngạc nhiên này tới ngạc nhiên khác: trước mắt ông là một người á châu mảnh dẻ, xanh xao, nhưng ở ông ta toát lên một điều gì đó khiến cho ông Phó thống đốc vô cùng khâm phục, từ giọng nói tiếng Anh rất chuẩn, tới phong thái bình dị mà không yếu hèn.

Kể từ buổi đó, hai ông bà Phó thống đốc và luật sư Lô-dơ-bi cùng vợ thường xuyên tới thăm ông Tống. Càng ngày, cả bốn người đều quý trọng và coi ông Tống như người thân trong gia đình…

Trở lại "kế hoạch không tưởng" mà Tống Văn Sơ và vợ chồng luật sư Lô-dơ-bi đặt ra. Sau khi đã thống nhất với Tống Văn Sơ, luật sư Lô-dơ-bi liền tìm đến nhà ông Phó thống đốc Xac-thơn và trình bày toàn bộ kế hoạch đó với vợ chồng ông Xac-thơn.

Nữ văn sĩ U-ôn-phơ vỗ tay tán thưởng còn ông Phó thống đốc thì cho đây là "đại diệu kế" và bản thân ông hứa sẽ lãnh nhiệm thuyết phục ông thống đốc tham gia vào "đại diệu kế" này.

Không để phí thời gian, ông Xac-thơn đã tới gặp Thống đốc Pin và dùng hết lời lẽ phác họa chân dung chân chính của ông Tống Văn Sơ, đồng thời, đem danh dự và uy tín của một Phó thống đốc để đảm bảo cho ông Tống trước ông Thống đốc Pin.

Kết quả, ông Thống đốc Pin đã vui lòng cho mượn chiếc ca-nô của riêng mình chuyên dùng vào công vụ của thống đốc.

Cuối tháng 1/1933, có một chiếc tàu thủy cập bến Hương Cảng sau đó sẽ đi áo Môn- Thượng Hải rồi sang Nhật Bản.

Luật sư Lô-dơ-bi đã mua 2 vé hạng nhất. Vào đêm 30 Tết năm Nhâm Thân, tức hạ tuần tháng 1/1933, chiếc tàu thuỷ đó nhổ neo rời Hương Cảng.

Ông Tống không lên tàu ở bến chính quy để cắt đứt tất cả những "cái đuôi" mật thám tại bến. Trước đó, Thống đốc Hương Cảng đã lệnh cho đội cận vệ lái chiếc ca-nô của riêng mình đến bến Tây Hoàng đón một "vị khách quý" của thống đốc và phải hộ tống vị đó lên con tàu thủy đang chạy, một cách tuyệt đối an toàn.

Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp gia đình Luật sư Lô – dơ – bi trước nhà sàn trong phủ Chủ tịch, tháng 1/1960

Đêm đó, tại nhà ông bà Lô-dơ-bi mọi người hầu như không ngủ ngoài cháu bé Pa-tơ-ri-xia. "Chú Tống" đến bên cạnh giường cháu bé, đứng lặng hồi lâu rồi hôn lên trán cháu và nhẹ nhàng quay ra phòng khách. Ông Tống xiết chặt tay ông bà Lô-dơ-bi hai ân nhân đã hết lòng, hết sức vì ông trong lúc lâm nguy; ông bà cũng quyến luyến không muốn rời xa "người em trai" của gia đình.

Cuối cùng, ông Tống trao lại cho ông bà một cuốn nhật ký ghi lại đầu đuôi vụ việc này, và hẹn khi nào trở lại thì sẽ xin được lấy lại. Ông bà nhận cuốn sách và cẩn thận cho vào két sắt. Rồi mọi người cùng ra bến Tây Hoàng, ở đó, chiếc ca-nô của ông thống đốc đang chờ sẵn.

Người ta thấy đi đầu là một người Trung Quốc trang phục hết sức sang trọng, tư thế đĩnh đạc. Đó chính là ông Tống. Bên cạnh là ông bà Lô-dơ-bi, tiếp theo là Long, cũng là một người Trung Quốc, trong vai thư ký riêng của vị "thương gia" giàu có. Sau cùng là một đoàn gia nhân tay xách va ly, đồ đạc.

Mấy bữa qua, bà Lô-dơ-bi đã cho sắm sửa đủ quần áo lễ phục, thường phục, y phục thể thao, mùa đông, mùa hè cho Tống Văn Sơ.

Trước khi xuống ca-nô, vị khách dừng lại chào từ biệt ông bà Lô-dơ-bi và không quên nhờ ông bà chuyển lời cảm ơn tới quan thống đốc Hương Cảng.

Những hoa tiêu và đội cận vệ dưới ca-nô nghe qua những lời đó thầm đoán vị khách này phải tầm cỡ thế nào mới được quan thống đốc trọng vọng đến như vậy.

Xuống ca-nô, vị khách lại chào từ biệt một lần nữa. Chiếc ca-nô cắm cờ lệnh của thống đốc quay mũi nhắm hướng con tàu thủy mới rời bến trước đó.

Vừa chạy, chiếc ca-nô vừa đánh tín hiệu cho chiếc tàu thủy còn đang trên hải phận Hương Cảng kia. Thuyền trưởng trên tàu thủy nhận được tín hiệu thì rất ngạc nhiên và quan sát qua ống nhòm thấy ca-nô treo cờ của quan thống đốc nên đã cho tàu dừng lại.

Chiếc ca-nô áp sát mạn tàu. Đội trưởng cận vệ truyền lệnh của thống đốc, viên thuyền trưởng đứng nghiêm chào và mời "vị khách quý" cùng viên thư ký lên tàu.

Vị khách chào từ biệt hoa tiêu và đội cận vệ và nhờ họ  gửi lời cám ơn tới quan thống đốc rồi sau đó, theo sự hướng dẫn của viên thuyền trưởng, vị khách và thư ký ung dung ngồi vào hai ghế hạng nhất, rút thuốc lá ra hút và đọc báo.

Vậy là, sau gần 20 tháng bị giam giữ, lùng sục gắt gao, trải qua bao gian nan hiểm nguy,  Tống Văn Sơ đã thoát khỏi âm mưu nham hiểm của kẻ thù bằng một cuộc vượt biển thần kỳ.

Vĩ Thanh

Sau khi Tống Văn Sơ thoát khỏi Hương Cảng, luật sư Lô-dơ-bi vẫn chưa cảm thấy yên tâm, ông liền nghĩ ra một "diệu kế" là tung tin Tống Văn Sơ tức lãnh tụ An Nam Nguyễn ái Quốc đã chết trong bệnh viện ở Hương  Cảng.

Báo chí bắt được tin đó đã  nhanh chóng cho đăng tải ngay. Chỉ mấy hôm sau  tờ báo của Đảng Cộng sản Liên Xô Pravda cũng đã đăng tin buồn và Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô đã tổ chức lễ truy điệu đồng chí Nguyễn ái Quốc tại trường Đại học Xta-lin.

Trong buổi lễ này, có một số chiến sĩ cách mạng của ta đang có mặt tại Mạc-tư-khoa cũng tới dự và khóc thương.

Mấy hôm sau nữa, tờ Nhân đạo, cơ quan Trung ương của Đảng  Cộng sản Pháp cũng đăng tin đồng chí Nguyễn ái Quốc đã mất tại Hương Cảng và TW ĐCS Pháp cũng làm lễ truy điệu trọng thể người đồng chí đã tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp.

Trong tập hồ sơ của sở mật thám Đông Dương lập về Nguyễn ái Quốc, ở trang cuối cùng họ đã ghi: "Nguyễn ái  Quốc đã chết trong nhà tù tại Hương Cảng".

"Diệu kế" của luật sư Lô-dơ-bi thật hữu hiệu, ngay đến cả tụi mật thám Pháp đã tin vào cái chết của Nguyễn ái Quốc và thôi truy lùng.

Cho tới hơn chục năm sau, vào đầu năm 1945, một thám tử của thực dân Pháp hoạt động ở Cao Bằng đã dò la được một tin tối quan trọng  liền điện ngay về "mẫu quốc" rằng độ này có một người tên là Hồ Chí Minh về đây hoạt động và theo một số tin tức thu thập được cho rằng ông Hồ Chí  Minh chính là Nguyễn ái Quốc  ngày trước.

Thám tử đó yêu cầu Pa-ri cho chỉ thị. Nhận được tin đó, tình báo Pháp tại Pa-ri đã điện trả lời  rằng Nguyễn ái Quốc đã chết tại Hương Cảng khoảng 1931- 1933 rồi, và coi tin kia là vô căn cứ.

Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, trịnh trọng khai sinh nước Việt Nam – Dân chủ Cộng hòa.

Một số "cáo già" thực dân  ở Pháp, khi nhìn ảnh Hồ Chí Minh vẫn bán tín bán nghi. Họ liền đem ảnh cho tên trùm mật thám Đông Dương là Ac-nu (Arnoux) xem.

Ac-nu chính là kẻ lập hồ sơ về Nguyễn ái Quốc, thuộc lòng về lai lịch và hình dạng Nguyễn ái  Quốc. Vừa thoáng nhìn ảnh Hồ Chí Minh, viên trùm mật thám đó đã thốt lên:  – Đây chính là Nguyễn ái  Quốc!

Sau khi thoát khỏi Hương Cảng, phần vì bận hoạt động cách mạng, phần vì tránh cho những ân nhân của mình bị chính phủ sở tại làm rầy rà, mãi tới năm 1956, Hồ Chủ tịch mới có dịp nối lại mối quan hệ với "cố nhân".

Dạo đó  có một đoàn nhà báo Anh trong đó có một đảng viên đảng Cộng sản Anh sang thăm nước ta và được Bác Hồ tiếp kiến.

Nhân dịp này, Bác đã nhờ người đảng viên đó gửi tận tay ông bà Lô-dơ-bi một bức thư mời ông bà và con gái sang thăm Việt Nam.

Người đảng viên đó trên đường về đã dừng lại Hương Cảng và trao cho ông bà Lô-dơ-bi bức thư ấy. Kèm theo bức thư, Bác đã gửi tặng ông bà Lô-dơ-bi một bức sơn mài chùa Một Cột và bức ảnh chân dung.

Ông bà đã treo bức chân dung Hồ Chủ tịch ngay trong phòng ngủ của mình. Bốn năm sau, dịp Tết Nguyên đán 1960, ông bà Lô-dơ-bi và con gái mới có điều kiện sang thăm Việt Nam và "vị khách hàng đặc biệt khi xưa".

Gia đình Luật sư Lô-dơ-bi không chỉ là ân nhân, khách quý của Tống Văn Sơ – Hồ Chí  Minh mà của toàn thể dân tộc Việt Nam.

Lê Tư Lành

Biên tập và giới thiệu: Mạnh Việt


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét