Thứ Ba, 3 tháng 9, 2013

ThuTimHieuTenHoNguoiKhmerNamBo.html

ThuTimHieuTenHoNguoiKhmerNamBo.html

THỬ TÌM HIỂU TÊN HỌ NGƯỜI KHMER NAM BỘ

Tác giả: Goldfish

Thực hiện ebook: Goldfish

Ngày hoàn thành: 19/11/2007

http://www.thuvien-ebook.com

(Đua bò vùng Bảy Núi – An Giang)

Nguyễn Long Thao trong thảo tính danh học Việt Nam (website Dũng Lạc) cho biết: "Trước thời Nguyễn, những người giúp vua giữ vững ngoại biên gọi là tông phiên, được vua ban quốc tính. Những người này bỏ tên họ cũ, mang tên họ nhà vua như danh tướng Trần Bình Trọng vốn có họ Lê, thuộc dòng dõi Lê Đại Hành, sau nhờ công lớn, được đổi sang họ Trần là họ nhà vua. Sang đời Nguyễn, người mang quốc tính lại được đặt tên họ mình sau tên họ nhà vua như trường hợp nhân vật lịch sử Nguyễn Huỳnh Đức. Điều đáng chú ý là chỉ con trai được kế thừa quốc tính. Con gái, bị coi là nữ nhân ngoại tộc, không được mang quốc tính. Con trai cụ Nguyễn Huỳnh Đức là ông Nguyễn Huỳnh Nhiên, con gái cụ là bà Huỳnh Thị Hương và Huỳnh Thị Tài".

Dưới triều Nguyễn, một công thần người Khmer cũng được vua Gia Long ban quốc tính là Nguyễn Văn Tồn. Ông cũng được mang họ nhà vua nhưng có lẽ Văn không phải là tên họ của vị tướng này?  

 

(Nghề làm đồ gốm truyền thống của người Khmer ở Tri Tôn – An Giang)

Nhiều người cho rằng người Khmer vốn không có họ, theo Nguyễn Thanh Luân trong bài Văn hoá gia đình người Khơme ở Trà Vinh (www.vae.org.vn) thì: "Quan niệm dòng họ của người Khơme khác hẳn với các tộc người khác trong vùng, không hẳn là phụ hệ hay mẫu hệ. Trong cách tính dòng họ, một cá nhân không coi mình thuộc dòng họ bên cha hay bên mẹ. Do đó, ở người Khơme không có khái niệm về tộc hay họ tính theo một phía cha hoặc mẹ, trong quan hệ họ hàng không có sự phân biệt giữa bên cha và bên mẹ, không có khái niệm về bên nội và bên ngoại.

Tuy nhiên, do sự áp đặt cưỡng bức của chính quyền phong kiến thực dân, mặt khác, do chịu ảnh hưởng của hai tộc Việt, Hoa là những cư dân theo chế độ phụ hệ, nên người Khơme thường đặt tên con theo họ cha khi làm giấy khai sinh và kê khai hộ khẩu công dân. Nhưng trong quan hệ xã hội truyền thống của người Khơme thể hiện trong quan hệ dòng họ, hôn nhân và gia đình thì tên họ chỉ đơn thuần là một hình thức pháp lý, chưa theo phụ hệ như người Việt, người Hoa hoặc mẫu hệ như người Chăm".

Trong bài Người Khmer có họ từ khi nào? (Website SoctrangOnline)  tác giả Khoa Nam cho rằng: "Dưới triều Nguyễn, tổng số người Việt gốc Miên chưa tới 150.000 người, nhưng vẫn được coi là một sắc dân có đủ quyền lợi như người Việt. Vua Gia Long đặt 5 nhánh họ: KIM, THẠCH, SƠN, LÂM, DANH để người Khmer đặt tên con cháu hầu dễ tra tầm gia phả. Trước đây người Khmer không có họ, người cha đặt họ cho con bằng tên của mình và đứa con sau này lấy tên của nó làm họ cho con nó. Năm họ trên đây được người Khmer gìn giữ cho đến ngày nay. Sau này người Khmer còn có thêm họ CHÂU do họ CHAU của Cao Miên mà ra. (Lê Hương)

Trong quyển sách "Người việt Gốc Miên" thì nhà khảo cứu Lê Hương đã cho biết nguồn gốc "họ" của người Khmer do đâu mà có! Như vậy theo ông, họ người Khmer là do Vua Gia Long đặt ra từ 5 chữ "KIM, THẠCH, SƠN, LÂM, DANH" và sau này có thêm họ "CHÂU" là từ họ "CHAU" bên Cao Miên mà ra. Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Đình Đầu thì người Khmer không phải chỉ có 6 họ như trên mà họ người Khmer trong sổ bộ triều đình có là: 1. Hoa, 2. Đôn, 3. Thạch, 4. Cần, 5. Tầm, 6. Hòa, 7. Sơn, 8. Giáp, 9. Nam, 10. Tham, 11. Sa, 12. Ngãi, 13. Trà, 14. Trác, 15. Côn, 16. Lộc, 17. Thuận, 18. Nhượng, 19. Mậu, 20. Dương".

(Đua ghe ngo ở Bạc Liêu)

Có 2 tên họ đều được Lê Hương và Nguyễn Đình Đầu nêu ra trong danh sách của mình. Đó là Thạch và Sơn. Như vậy, tổng số tên họ của người Khmer của hai ông là 24. Xin viết lại theo thứ tự ABC, tạm gọi là Danh sách 1:

Cần, Côn, Châu, Danh, Đôn, Dương, Giáp, Hoa, Hoà, Kim, Lâm, Lộc, Mậu, Nam, Ngãi, Nhượng, Sa, Sơn, Tầm, Thạch, Tham, Thuận, Trà, Trắc.

Tên họ của người Khmer không chỉ có vua Gia Long đặt cho. Trong bài Đôi nét về người Khmer Nam Bộ (website Đại học An Giang) tác giả Trịnh Phước Nguyên viết: "Các vị vua nhà Nguyễn từ Gia Long đến Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, …đã đặt cho người Khmer Nam Bộ phải mang dòng họ như: Thạch, Lâm, Sơn, Kim, Danh… Chẳng hạn như tại huyện Tri Tôn, Tịnh Biên, Huệ Đức, Châu Thành năm 1839, vua Minh Mạng ra sắc chỉ cho người Khmer ở An Giang và Hà Tiên đặt cho họ tên giống như người Hoa sở tại. Do vậy, hệ thống họ tên của người Khmer ở Tri Tôn, Châu Thành, tỉnh An Giang ngoài những gia đình có họ lại còn phổ biến các họ "Chau" và "Néang".

Theo Khoa Nam trong bài đã dẫn thì "Đối với bản tổng kết của nhà giáo Nguyễn Đình Đầu thì số liệu có lẽ là xác thực vì đó là những con số do ông biên dịch lại từ hệ thống "Châu Bản Địa Bạ" triều Nguyễn. Còn đối với số liệu của Lê Hương thì có thể đây là nguồn tài liệu cũ chưa được cập nhật (1969 đến nay) chăng?"

Trong các tên họ nêu trên, chúng ta đã không thấy tên họ Thị. Tên họ này, được ông Nguyễn Văn Huy ghi nhận trong bài Cộng đồng người Khmer tại miền Nam (website e-ThongLuan): "Các quan chức Pháp rất coi thường người Khmer vì cho rằng không có kiến thức, trừ những người đã có chức phận từ thời nhà Nguyễn. Tên họ những người Khmer bị đặt một cách tùy tiện như Danh cho đàn ông và Thị cho đàn bà". Ta sẽ thấy tên họ Thị cũng được ghi nhận trong Danh sách 2. Điều này có thể do một số người con của các bà do người Pháp đặt cho họ Thị này mang họ mẹ chăng? 

Theo Nguyễn Long Thao trong bài đã dẫn (1), thì tên họ người Khmer gồm có, tạm gọi là Danh sách 2:

Bàn, Binh, Chanh, Chau (Chao, Châu), Chiêm, Danh, Dương, Ðào, Ðiều, Ðoàn, Ðỗ, Hoàng (Huỳnh), Hứa, Kỳ, Kim, Khan, Khum, Khưu, La, Lâm, Lê, Lý, Liêu, Lộc, Lục, Lưu, Mai, Néang (Neong, Nương), Nuth, Ngô, Nguyễn, Panth, Pem, Phạm, Sơn, Tăng, Tô, Từ, Tưng, Thạch, Thị, Thuận, Trà, Trần, U, Uônth, Xanh, Xath, Xum.

Danh sách 2 có đến 49 tên họ (không kể 5 tên họ được ghi trong dấu ngoặc). Trong danh sách này ta không thấy 14 tên họ được liệt kê trong Danh sách 1. Đó là: Cần, Côn, Đôn, Giáp, Hoa, Hoà, Mậu, Nam, Ngãi, Nhượng, Sa, Tầm, Tham, Trắc. Nếu thêm 14 tên họ này vào Danh sách 2 ta sẽ có Danh sách 3:

1. Bàn, 2. Binh, 3. Chanh, 4. Cần, 5. Côn, 6. Chau (Chao, Châu), 7. Chiêm, 8. Danh, 9. Dương, 10. Ðào, 11. Ðiều, 12. Ðoàn, 13. Ðỗ, 14. Đôn, 15. Giáp, 15. Hoa, 16. Hoà, 17. Hoàng (Huỳnh), 18. Hứa, 19. Kỳ, 20. Kim, 21. Khan, 22. Khum, 23. 24. Khưu, 25. La, 26. Lâm, 27. Lê, 28. Lý, 29. Liêu, 30. Lộc, 31. Lục, 32. Lưu, 33. 34. Mai, 35. Mậu, 36. Nam, 37. Néang (Neong, Nương), 38. Ngãi, 39. Nuth, 40. Ngô, 41. Nguyễn, 42. Nhượng, 43. Panth, 44. Pem, 45. Phạm, 46. Sa, 46. Sơn, 47. Tăng, 48. Tầm, 49. Tô, 50. Từ, 51. Tưng, 52. Thạch, 53. Tham, 54. Thị, 55. Thuận, 56. Trà, 57. Trắc, 58. Trần, 59. U, 60. Uônth, 61. Xanh, 62. Xath, 63. Xum.

Cũng xin nói thêm là trong bài Bàn về cái tên người Việt một cái đăng trên diễn đàn Trái tim Việt Nam Online, thành viên culan ghi lại nhận định của Lê Trung Hoa cho rằng người Khmer có 48 họ: "Chiêm, Danh, Khum, Néang, Nath, Path, Pem, Tưng, Thạch, Thuận, Trà, U, Xanh, Xath, Xum…" So sánh số liệu ít ỏi này với Danh sách 3 ta thấy (chữ đầu là của Lê Trung Hoa, chữ sau ghi trong Danh sách 3): Nath và Nuth có lẽ chỉ là một, Path và Panth cũng vậy; sự khác biệt có thể là do cách viết hoặc sơ suất trong lúc đánh máy? Nếu như vậy, ta không tìm được  thêm tên họ của người Khmer!

Bảng 3 được xem là dài nhất với 63 tên họ.(2) Nếu kể luôn các tên họ ghi trong dấu ngoặc thì tổng số là 68. Liệu có phải đây là con số cuối cùng chăng? Và liệu các tên họ của người Khmer Nam Bộ ghi trong bảng này có hoàn toàn xác thực không? Tôi chỉ là người góp nhặt tài liệu và xắp xếp lại. Đúng sai thế nào, mong các bạn chỉ cho. Cám ơn.

Goldfish, 19/11/2007

————————-

(1) Bài này có lẽ được viết sau tháng 8 năm 2001. Trong phần chú thích, một trong các tài liệu được tác giả trích dẫn là Tìm Hiểu Nguồn Gốc Và Sự Phát Triển Một Số Dòng Họ Tiêu Biểu Của Người Việt Nam. Tập San Thế Kỷ 21, số 148, tháng 8 năm 2001, California, tr. 20-21.

(2) Trong bài Bàn về cái tên người Việt một cái đăng trên diễn đàn Trái tim Việt Nam Online, thành viên culan ghi lại nhận định của Lê Trung Hoa cho rằng người Khmer có 48 họ: "Chiêm, Danh, Khum, Néang, Nath, Path, Pem, Tưng, Thạch, Thuận, Trà, U, Xanh, Xath, Xum…". So sánh số liệu ít ỏi này với Danh sách 3 ta thấy (chữ đầu là của Lê Trung Hoa, chữ sau ghi trong Danh sách 3): Nath và Nuth có lẽ chỉ là một, Path và Panth cũng vậy; sự khác biệt có thể là do cách viết hoặc sơ suất trong lúc đánh máy? Nếu như vậy, ta không tìm được thêm tên họ nào mới của người Khmer để bổ xung cho Danh sách 3. Thật đáng tiếc!


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét