Thứ Hai, 16 tháng 9, 2013

Nhen Ao.html

Nhen Ao.html

Thông tin ebook

Tên truyện : Nhện Ảo

Tác giả : Nguyễn Ngọc Thuần

Thể loại : Văn học trong nước

Nhà xuất bản : Kim Đồng

Tủ sách : Tuổi Mới Lớn

Ngày xuất bản : Quý II/2005

Số trang : 132

Kích thước : 11,3 x 17,6 cm

Trọng lương : 110 g

Số quyển / 1 bộ : 1

Hình thức bìa : Bìa mềm

Giá bìa : 6.000 VNĐ

———————————-

Nguồn : http://www.nxbkimdong.com.vn

Chuyển sang ebook (TVE) : santseiya

Ngày hoàn thành : 24/06/2008

Nơi hoàn thành : Hà Nội

http://www.thuvien-ebook.com

Mục Lục

Giới thiệu

Biển đã bắt đầu từ nơi không nhìn thấy

Người gieo hạt

Ngày của ngoại

Đường lên phương Bắc

Lập lòe vó ngựa

Quanh co vẫn chuyện bông hồng

Trầu không

Mùa thu trên ngón tay

Ánh sáng trong đêm cồn cát

Con chim sâu bé nhỏ

Mùa sen

Nhện ảo

Giới thiệu

Tuổi mới lớn nhiều mộng mơ. Tuổi mới lớn đôi khi giận hờn nhau một cách vu vơ. Rồi lại thấy buồn khi nghĩ về những kỷ niệm đẹp đã qua…

Sự giận hờn này trở thành đề tài của câu chuyện rất dễ thương – "Nhện ảo" – trong tập truyện cùng tên. Những cảm xúc vui – buồn, những hành động – tâm lý đặc trưng của tuổi mới lớn được Nguyễn Ngọc Thuần miêu tả thật nhẹ nhàng nhưng cuốn hút.

Biển đã bắt đầu từ nơi không nhìn thấy

1.

Buổi chiều trên sông nhẹ nhàng quá, những con đò nghếch mõm trôi dọc ngang như những nụ cười người ta thả xuống nước. Chiều trên sông cứ chìm dần. Toàn khoe với tôi:

- Hôm qua, tao vừa cứu người đấy. Một thằng nhóc. Nó tưởng sông là đồ chơi và nó nhảy xuống bán đồ hàng – Giọng nó không dấu được vẻ kiêu hãnh – Mày biết không, mẹ nói, tao chính là người hùng. Tuyệt!

- Rồi mày muốn hôm nay có thêm một thằng bé nữa chứ gì!

- Đừng có nói cái kiểu ác độc đó. Nhưng khi cứu được thằng bé, tự dưng tao thấy mình thật sự vĩ đại. Đừng cười nhé, tao cũng muốn mình vĩ đại lắm!

Ừ nhỉ! Nếu tôi cứu được một thằng bé, có lẽ tôi cũng sẽ nghĩ như Toàn. Tôi cần phải cứu một ai đó, nhất định phải vậy. Những ngày qua buồn quá chừng, ảm đạm, không có gì đáng nhớ.

- Bữa giờ, mày có viết thư cho mẹ mày không?

- Không – Giọng Toàn buồn hẳn – Mỗi lần nghĩ đến chuyện đó, tự dưng tao thấy tủi thân.

Trên sông, những chiếc ghe dần dần biến đi, chừa lại một khoảng trắng. Tôi cứ phân vân không biết nếu tôi trắng như cái dòng sông này thì tôi có thay đổi gì không; hoặc nếu tôi cứ chảy đi như thế, chảy mãi, liệu tôi có cạn không?

- Hôm trước, mẹ tao về – Toàn nói bâng quơ – Mẹ cho tao cái áo mới, chờ ngày nhập học. Bà ấy xanh kinh khủng. Tao không ngờ lại có thể xanh đến thế. Đây là chiếc áo đầu tiên mà mẹ cho tao.

- Thế mày có nói gì không?

- Không. Tao bỏ ra nhà sau. Tao luôn ngại mỗi khi gặp mẹ.

Chúng tôi chơi thân với nhau, nhưng thú thật, để nói những chuyện như vầy quả là hiếm hoi. Có lẽ tại Toàn chẳng muốn thổ lộ về mình.

Buồn quá. Tôi ước chi mình có con đò để chống sang bên kia bờ. Giờ này, chiều đang xuống. Thật chậm và trải rộng. Nếu so với những chiều ở nơi khác, tôi nghĩ, chiều ở đây dài nhất. Chiều không vội vàng.

2.

Tôi gặp mẹ Toàn một vài lần vào mỗi độ xuân về, khuôn mặt bà buồn thăm thẳm dưới đôi lông mày rậm. Mắt sâu, lại sâu thêm bởi những nét chì. Bà đẹp lạ lùng, sang trọng; mọi thứ ở bà dường như được nhân lên, cao vợi, xa cách. Bà ngồi uống trà, đôi tay trắng và dài để hờ trên mặt bàn đẹp như một vật trang sức. Tôi hay liếc nhìn vào đôi tay đó để thấy sự xa cách giữa tôi và bà, giữa bà và Toàn, giữa bà và cái thế giới xung quanh này. Hình như bà có thể làm được tất cả những gì mình muốn, tôi tin vậy. Rồi bà đi. Đi đâu? Chưa bao giờ tôi hỏi Toàn. Tôi sợ nó phải thở dài não ruột khi nghe tôi hỏi, hoặc cả hai chúng tôi đóng băng trong cái khoảng không gian im lặng, đáng sợ. Lâu lâu bà lại xuất hiện, xa cách hơn. Mỗi lần đến, một đẹp hơn.

Nhớ có lần tôi gặp bà đi về trên con đường ruộng. Bà mặc một chiếc áo dài màu hồng. Giữa đồng lúa xanh vào một buổi chiều, cái sắc màu ấy bỗng rực rỡ, mê muội. Tôi muốn khóc thét lên khi bà chạm vào vai tôi. Tôi rụt lại, co rúm. Tôi thấy mình côi cút, đáng thương và nhếch nhác. Người tôi đầy bùn. Tôi còn nhìn thấy sự nghèo nàn lam lũ của mình hiện lên không cách chi xóa nhòa.

- Có phải cháu là bạn của thằng Toàn? – Bà hỏi tôi.

Tôi chỉ gật đầu rồi cắm cúi đi.

- Cháu này! – Bà nắm chặt vai tôi hơn. Mùi nước hoa thơm ngát dễ chịu như đẩy tôi xuống bùn. Dìm tôi xuống. – Thằng Toàn có than phiền điều gì với cháu không, hoặc nó ước muốn một cái gì đó? – Tôi thấy mình tự tin dần, ngước nhìn vào đôi mắt bà. Lần đầu tiên tôi nhìn bà gần như vậy.

- Nó ước có một chiếc xe đạp và một bầy vịt – Tôi rụt rè nói – Bầy vịt thì nó có thể kiếm, nhưng xe đạp thì không.

Bà cúi xuống nhìn sát vào mặt tôi:

- Thế cháu có muốn gì không?

Tôi rùng mình vì một người lạ hỏi đến cái điều "thầm kín" mà tôi e ấp trong lòng. Tôi cũng ước ao có một chiếc xe đạp, nhưng chẳng lẽ lại nói với bà. Tôi sợ hãi điều đó. Tôi sợ bà cho rằng ước muốn của tôi tầm thường. Với một con người như bà, chắc nó phải cao lắm, vòi vọi.

- Cháu không có ước muốn gì sao? – Bà nhắc lại.

Nếu bà là một bà tiên, có lẽ tôi sẽ nói hết mà không giấu giếm gì về mình. Nhưng không, bà chỉ là một người đàn bà xa xôi. Tôi chạy ù về nhà. Bà nói với theo:

- Cảm ơn cháu nhé, về chuyện chiếc xe…

Đôi khi, tôi cứ hay nghĩ ngợi đâu đâu, thầm ước giá như thế này, thế kia. Nhìn người mẹ lam lũ của mình, tim tôi như thắt lại. Mẹ tôi chưa từng đi xa, chưa từng biết Vũng Tàu, chưa từng thấy biển. Tôi cũng vậy. Cả đời mẹ cứ quẩn quanh ở đây và sinh con. Và lam lũ, lam lũ… Rồi đến tôi. Tôi được đi học, dĩ nhiên rồi sẽ được đi xa hơn mẹ, được thấy biển. Nhưng hình như tôi cũng sẽ chẳng bao giờ đi xa được. Hoặc nếu có đi xa rồi cũng lại quay về. Tôi vẫn tin, một đứa trẻ sinh ra từ con sông, tâm hồn nó suốt đời ở đó.

3.

Dạo này, chẳng hiểu sao, Toàn cứ hay rủ tôi ra sông nhìn những chiếc ghe đi lại. Trong mỗi chiếc ghe, tôi như nhìn thấy sự thảnh thơi nằm im trong đó. Thật sự thảnh thơi. Chúng lướt trên mặt nước đằm đằm êm ái đến nỗi không để lại một dấu hiệu lăn tăn nào. Tôi cũng hay ao ước điên rồ, giá như có một thằng bé nào đó rơi tõm xuống nước để tôi được làm người hùng. Tôi muốn cứu vớt một ai đó. Giữa tôi và Toàn, ai sẽ giành được làm người hùng trong buổi chiều như vầy? Nhưng chẳng bao giờ có một thằng bé rơi. Từ vụ việc lần trước, các bà mẹ giữ rịt con mình.

- Tao là một đứa trẻ bị bỏ rơi, và bố đã vớt tao. Vậy mà không ai phong danh hiệu người hùng cho bố! – Toàn nói ngậm ngùi.

- Vậy thì mày hãy tự phong cho bố mày. Mày hãy chạy về nhà và nói: bố, con xin tuyên dương công trạng…

Nói rồi, hai đứa cười ha hả, nhảy ùm xuống sông. Mặt nước ấm áp dễ chịu, như một lòng mẹ vĩ đại, sau bao năm tháng lớn lên, tôi vẫn là một bào thai khi hòa mình vào nơi này. Tôi lại còn muốn lặn xuống tận đáy để nhìn thấy mặt đất. Toàn nói:

- Tao sẽ cho mày cơ hội làm người hùng nhé!

Nói rồi, nó ngoác miệng kêu "kíu tui, kíu tui…". Vừa bải hải la, nó vừa chuồi mình bơi vụt sang bên kia bờ. Bỗng dưng, tôi nghe âm thanh điệp trùng: "Con sông là nơi tôi ở". Khi tôi bơi, âm điệu đó cứ róc rách chảy mãi.

Mày bơi nhanh như thế, làm sao tao "kíu" mày, thằng khốn? Làm sao tao có thể trở thành người hùng?

Tôi lao lên, tôi không cưỡng lại được mãnh lực mới, tôi thấy con sông lùi lại phía sau nhỏ bé, cù lần, ngốc nghếch.

4.

 Như gã khổng lồ nằm dài vắt lên bầu trời những vũng đen, buổi chiều đã tắt. Tôi và Toàn đếm được đúng năm ngôi sao vừa mọc. Tôi chẳng mê chuyện đếm sao, nhưng giây phút chập choạng đặc biệt như hôm nay, tôi chẳng thể làm gì hơn. Tôi đếm đi đếm lại, càng đếm chúng càng mọc ra dần, chi chít. Chúng như cái đẹp ẩn kín và bóng đêm đồng lõa với chúng.

- Một ngày nào đó tao sẽ cho mày chiếc xe đạp – Toàn nói sau khi chán chê trò đếm đếm kia – Tao sẽ cho mày bầy vịt của tao.

- Mày đi thật à?

Tôi hỏi mà thấy lòng mình run bắn. Tôi sợ mất bạn. Tôi chỉ có một người bạn thôi. Vậy mà tôi đã hùng dũng đi qua cái tuổi 18; giống như con đường dài 18 năm và một người bạn đồng hành; như Lucky Luke và con ngựa, vậy mà con ngựa cũng bỏ đi nốt. Tôi phải cuốc bộ ra khỏi cái hoang mạc yên tĩnh này.

- Mẹ muốn tao về sống với mẹ. Mẹ sợ cứ phải ân hận mãi vì cái lỗi ngày xưa. Bố tao cũng muốn vậy, nhưng vì một lẽ khác. Cả hai sợ tao chìm khi ở nơi này. Lần này thì đến hai người vớt và họ đã thỏa thuận như vậy.

- Thế còn gia đình mẹ mày?

- Chẳng sao cả. Tao sẽ làm quen với những đứa em.

- Mày còn giận mẹ không?

- Tao cũng không biết. Vì tao vẫn mong có mẹ mà.

- Tao thấy bố với mẹ mày nên lấy nhau thì hay nhất.

- Ừ! – Hai đứa phì cười – Nhưng bố tao là một ông nhà quê. Cả hai đứa mình nữa. Bố tao sẽ đau khổ vì phải mang giày mất thôi. Chừng nào tao đi đừng tiễn nhé, tao sẽ khóc đấy.

5.

 Trong lá thư Toàn gửi cho tôi, nó có trích một câu thơ của ai đó:

"… Tâm hồn tôi thuộc về một nơi mà tôi không nhìn thấy

Nơi ấy mặt trời thô thiển và gió sần sùi

Chúng quét qua mỗi đêm làm tim tôi nhức nhối…".

Tôi đã đọc lá thư đến ngàn lần. Tôi sợ nhìn chiếc xe đạp của Toàn nằm kia, và cả bầy vịt nữa. Chúng cứ kêu réo suốt ngày đêm trong tâm tưởng tôi 18 tuổi. Tôi đạp xe lên đồi mà không có người bạn thân phía sau. Bỗng dưng, tôi thấy Toàn cũng như mẹ Toàn, họ thuộc về một thế giới khác, bỗng dưng bay ngang bầu trời của tôi thôi. Sự ra đi của Toàn như nhắc cho tôi nhớ về sự nghèo nàn của mình. Như lũ vịt, tôi đứng bên đây bờ mương. Cả bố Toàn cũng vậy. Chúng tôi cùng nhìn về một phía, nơi mà chúng tôi không nhìn thấy, nơi đó có phải là tâm hồn tôi?

Một lần khác, Toàn viết: "Tao đã nhìn thấy biển rồi, biển mênh mông lắm, không thể bơi sang bên kia bờ…".

Người gieo hạt

Bên khóm lay-ơn, con bé lết sàn sạt làm dậy tung cả vạt bụi lớn. Thoắt một cái, không còn thấy gì. Phía bên kia bụi cây lại giơ lên cái đuôi gà. Tôi vòng sang, nó lại mất hút.

- Anh Toàn ơi! – Tiếng nó gọi – Anh thấy giống này thế nào? Hoa đẹp lắm đó.

Một phút sau, nó lết ra từ nhánh rậm rạp, tay cầm một loài hoa đỏ, mắt ngời sáng.

- Em cá với anh, cả vùng này không một nhà nào có.

Thả nhẹ người xuống mỏm đất, con bé đưa cái hoa cho tôi, rồi ngồi chờ đợi. Cái đuôi gà phía sau không còn ngúc ngoắc nữa. Tôi lặng im nhìn giọt mồ hôi trên má nó đang chảy xuống, lòng rối bời.

- Sao? Anh thấy thế nào?

- Ừ! Đẹp lắm.

Đáng lý ra tôi không nên đến đây nhờ vả bé Hằng. Nhưng chẳng hiểu sao lại dại dột đến. Tối nay sinh nhật của "nàng". Tôi nghĩ nếu bỏ công tìm một loài hoa mới thì "nàng" sẽ xúc động hơn. Và cái ý nghĩ lãng nhách quái quỷ đó đã khiến tôi làm theo lời chỉ dẫn của thằng Hùng mà không suy tính gì.

Con bé lại tiếp tục nói:

- Đây là loài hoa mới, em tự lai. Nhiều người đến mua nhưng em không bán. Em phải trồng bên trong, sợ người ta thấy, chôm[1] mất. Em đã mất nhiều giống hoa quý lắm rồi.

Đóa hoa trên tay tôi tỏa hương dìu dịu.

- Tại sao em cho anh?

- Em cũng chẳng biết. Có lẽ tại cái mặt anh rầu rầu.

Tôi thở dài ngao ngán:

- Bé Hằng ơi, anh không nghĩ sự thể lại như thế này. Anh sẽ không tặng ai cả, mà đem về nhà cắm vào bình.

- Thế anh không đi dự sinh nhật nữa à?

- Có chứ! Nhưng chỉ cần một bó hoa bình thường thôi. Chẳng hạn… vạn thọ.

Con bé cười khoái trá:

- Ừ hé! Cho đáng đời mấy cô nàng xí xọn.

Nắng buổi chiều không còn oi bức. Tôi và bé Hằng cùng vào nhà. Nhìn nó lết sàn sạt dưới đất, tự dưng tôi thấy bất nhẫn.

- Anh cõng em vào nhà nhé!

Con bé cười khùng khục:

- Thôi! Cám ơn…

Cái giọng nó đẩy dài, nghe hài hước kinh khủng:

- Anh có biết em thích gì không? Em thích có một khu vườn thật rộng và trồng nhiều hoa. Rộng đến nỗi em phải lắp những ròng rọc mới có thể đi hết.

- Nếu có khu vườn như vậy hẳn vui lắm!

- Tất nhiên rồi. Em hay nằm mơ thấy khu vườn đó. Ngoại em nói, những giấc mơ luôn báo hiệu một điều gì. Ngoại em chẳng bao giờ ra vườn. Ngoại thích đọc sách. Ngoại nói, trong sách cũng có hoa. Có khi lại nói, trong sách có cả một khu vườn. Ngoại em bị liệt. Những người bị liệt thường hay buồn lắm, tại họ không đi được. Cũng may, ngoại còn có cả một khu vườn của mình. Mẹ em nói vậy.

Buổi sinh nhật không vui như tôi nghĩ. Có lẽ tại không quên được chuyện bé Hằng. Tôi không quên bàn tay nhỏ nhắn của nó chống xuống đất rồi rướn người lên như một con cóc. Nó kể tôi nghe về những ước mơ, dự định như kể về một món ăn ngon. Kể thân thiện như quen nhau từ lâu lắm. Tôi kể chuyện này cho thằng Hùng nghe, nó xồ lên:

- Tưởng gì! Gặp ai con bé chẳng kể như vậy. Con đó nhiều chuyện lắm, không phải nó ưu ái cho riêng mày đâu. Tao rành nó từ hồi nó còn bé tí, lúc nó bị sốt bại liệt năm hai ba tuổi gì đó. Mẹ nó khóc dữ lắm, thề không bao giờ sinh con nữa. Bố nó rất thương nó, ai mà nói nó tàn tật là ông ấy đánh ngay. Hồi nhỏ tao đã từng bị đánh một lần. Ông tát vào mặt tao đúng năm cái như trời giáng. Mẹ tao phải chạy ra van xin, ông mới tha. Còn nói, đáng lý phải tát đúng một chục. Ông ấy là vậy, nóng nảy nhưng nói vậy thôi, hôm sau ghé nhà cho tao chai dầu, lại xin tao tha thứ. Hồi chiến tranh, ông ấy là thương phế binh:

- Trời! Cả một gia đình thương tật.

- Ừ! Nhưng chẳng sao. Ông ấy yêu đời như quỷ. Cả vùng này, đàn ông chạy theo không kịp. Vườn nhà ông ấy đầy cây trái, nghe đâu một mùa thu mấy chục triệu. Ông ấy đã từng là nhân vật điển hình trên ti vi đó. Thắt cả cà vạt nữa cơ. Ông ấy có một câu nói nổi tiếng khắp vùng (khi người ta hỏi ông suy nghĩ gì). "Nếu đừng ai nhìn chân trái của tôi thì sẽ không bao giờ thấy, tôi là thương phế binh".

- Tuyệt nhỉ!

- Ừ! Ông ấy không bao giờ nhìn vào chân trái.

- Ừ! Ông ấy nhìn vào chân phải.

Buổi tiệc tàn. Bỗng dưng tôi thấy mình chẳng hề "mết"[2] nàng cái gì cả, chẳng qua chỉ là một chút ngông cuồng tưởng tượng mà thôi. Tôi lầm lũi đi về. Gió buổi tối thật trong lành, trong đến nỗi tôi nghĩ nếu "a" lên một tiếng, gió sẽ cuốn lời tôi đi. Những lời nói của người này được cuốn sang nhà người khác, cuốn qua cuốn lại, thế là ai cũng nghe được tiếng nói của nhau, dẫu là thầm thầm khe khẽ. Tôi vẫn lầm lũi đi, những rặng cây tiếp nối nhau như một cánh cổng. Chúng cứ mở ra, mở ra dần. Cuối con đường là nhà tôi. Tôi còn suy nghĩ tiếp, sau cánh cửa mở ra là mẹ tôi. Bố tôi nằm trong góc tối ngáy khò khò, choàng tỉnh hỏi tôi đi sinh nhật vui không. Tôi ậm ừ rồi lách mình vào. Chẳng biết đêm về có gió đông không mà đất trời đổi khác quá.

- Bé Hằng ơi! Đã tới sinh nhật của em chưa?

- Em chẳng biết. Bố em nói, thời chiến tranh, chẳng có ma nào làm sinh nhật. Lãng mạn lắm thì vác súng lên đồi ngắm sao. Bố nói, ngày nào cũng đẹp như ngày nào.

Gió trong vườn mát rượi. Tôi ngồi bệt xuống đất trong cái mùi nắng trưa ủ dưới khóm lá, nghe hanh hao nồng nồng như mùi tỏi. Bé Hằng vẫn liền tay xúc đất vào túi ni lông để ươm cây.

Bố đã giao cái vườn này cho em rồi. Bao nhiêu "huê lợi" em sẽ dành để nuôi một đàn thỏ. Em thích thả chúng đầy nhung nhúc trong vườn. Nhưng lúc đó chắc em phải làm một cái hàng rào đay bao quanh.

- Ừ! Anh sẽ đến làm giúp em!

- Anh hứa đấy nhé! Thích thật. Em chẳng bao giờ tin mình có một đàn thỏ. Chúng sẽ chạy túa đi mỗi khi em ra vườn. Ôi! Chẳng thể nào tưởng tượng được. Chúng ăn nhiều không anh? Em sẽ trồng vạt cỏ bên kia giả làm cái đồi. Cần phải có một con suối cho nó nữa. Nhưng cũng chẳng cần. Em sẽ mua vài cái đĩa nhựa, đổ nước vào rồi đặt khắp vườn là xong. Tha hồ mà có một vạn con suối. Lúc đó em sẽ nhờ ai đó cõng ngoại ra vườn, cho ngoại xem. Bảo đảm ngoại sẽ thấy khu vườn này đẹp hơn trong sách. Trong sách làm gì có mùi hương – Cô bé cười khanh khách – Em biết ngay mà, ngoại sẽ đuối lý cho xem. Bố đã nói với em rồi, khu vườn này chỉ cần ba năm nữa sẽ màu mỡ lắm vì em đã biết cách "xử lý". Bố nói thời chiến tranh, bố chỉ có một nhúm đất trong ba lô. Bố trồng cây kiểng đấy. Cứ nghỉ chân thì bố lấy ra, khi hành quân thì lại cất vào, mang đi. Vậy mà bố "xử lý" chỉ trong ba năm đã màu mỡ không thua gì đất phù sa. Vào mùa xuân nọ, cây ra được hai bông hoa, bố mừng đến phát khóc. Bố cứ nghĩ nó chưa kịp ra hoa thì bố đã chết rồi. Trên đồi, bom đạn vẫn rơi hàng ngày mà. Sau mùa xuân đó, bông hoa không bao giờ nở nữa. Nó đã trúng đạn vào một ngày tháng giêng. Nắm đất ngày xưa bố đã đem về rải khắp khu vườn này. Bố nói, đó là bố may mắn. Rất nhiều người bạn của bố không về nữa. Họ đã nằm lại cùng nắm đất của mình. Thay vì người ta rưới nắm đất lên khu vườn như bố, thì đồng đội lại rưới lên thi thể người đã chết. Bố nói, đó là những câu chuyện mà em cần phải nghe.

- Bố em bao nhiêu tuổi?

Bé Hằng ngẩng lên rồi lại lắc đầu:

- Em chẳng biết nữa, nhưng còn trẻ chán. Mẹ nói, có thể cưới thêm cho bố một bà vợ nữa. Mẹ đùa thôi. Còn lâu mẹ cưới cho bố. Em cũng chẳng bao giờ cho. Mẹ đẹp như tiên ấy. Nhưng mẹ lúc nào cũng nói, mẹ già rồi, xấu rồi. Bố hay nói, già thì già chứ, bố thích bà già. Ờ mà này, có thật anh thích những bông hoa không? Bất ngờ bé Hằng chuyển giọng đột ngột rồi nhìn xoáy vào tôi. Chẳng hiểu sao, bỗng dưng tôi thấy lúng túng. Có thật tôi thích những bông hoa cô bé trồng không nhỉ? Đã lâu rồi tôi không nghĩ về một bông hoa nào. Không phải vì tôi không yêu mến chúng, mà vì tôi quên lãng. Cũng đôi lúc tôi nghĩ về một khu vườn đâu đó, nơi mà tôi đã từng trồng trọt tuổi thơ mình và lớn lên. Càng lớn tôi càng quên khu vườn cho đến một hôm chợt gặp bé Hằng.

- Anh có yêu những bông hoa không?

Tiếng bé Hằng lại cứ lồng lộng trong gió, một cơn gió thanh thản đến nỗi tôi nghĩ, tôi chỉ cần "a" lên một tiếng thì những lời nói theo đó mà bay đi…

Ngày của ngoại

Năm nay là năm đặc biệt nhất: ngoại tôi tròn bảy mươi tuổi. Mẹ tôi nói, người già sống bảy mươi không nhiều. Hiếm lắm. Lật sách xem tướng ra, thấy ghi "người nào nhân trung dài thì thọ". Chẳng biết đúng sai nhưng cũng hy vọng là thế. Hy vọng cái nhân trung của ngoại dài dài.

Để chào mừng sự kiện trọng đại này, chúng tôi quyết định tổ chức mừng "sinh nhật" cho ngoại. Và cũng để cho mọi thứ "linh đình" thêm, cả bọn không ai bảo ai đồng loạt dọn sạch khu vườn trước đó hai hôm. Anh Hai nói: "Mình phải tổ chức làm sao trông như một buổi dã ngoại. Cái gu của ngoại là phong cảnh, tổ chức trong nhà thì sẽ không hay". Thằng Toàn khỏe mạnh giành phần tưới cây cảnh. Con Lan khéo tay chỉnh sửa khu vườn. Đồng thời, nó cũng "mồm mép" nhất nên kiêm thêm nhiệm vụ cản chân ngoại trong nhà. Tất cả mọi việc đều tuyệt mật, bất ngờ, bí ẩn.

Trước đó hai hôm chúng tôi còn chuẩn bị sẵn những món quà. Con Lan nói: "Em sẽ têm trầu cho ngoại". Có nghĩa là đêm đó nó thức suốt khiến chúng tôi thức theo, thức để xem nó cuốn cuốn gói gói như làm chả giò. Nhưng theo lời nó thì đó là trầu têm cánh phượng. Vậy đó! Nói chung tôi chẳng hiểu gì nhiều. Cũng chẳng thấy cánh phượng đâu. Mất toi một đêm cắt cắt cuốn cuốn. Nhưng vì là ngày của ngoại, nên vui.

Món quà của anh Hai là chiếc áo bà ba. Anh đi làm có tiền mà nên sang lắm, chảnh lắm, không ai bì được. Anh còn đặt một ổ bánh kem hình tổ ong, trên đó có một dòng chữ "Mừng ngoại yêu – 70 xuân", trông oách. Lại thêm hình bướm, hình nơ tua thật… xuân. Chỉ có một điều cả bọn phân vân: chuyện đèn cầy[3] ấy mà! Khi cắm 70 cây đèn cầy lên ổ bánh thì chẳng thấy bánh đâu nên cả bọn quyết định cắm riêng trên bàn.

Còn phải kể món chè đậu xanh thơm phức. Món mặn thì bạn thằng Toàn tiếp tế, sẽ đem đến sau. Trái cây có chôm chôm, cóc, ổi. Phần anh Hai: một chai bia Sài Gòn. Chúng tôi đều biết anh chẳng bao giờ uống bia, nhưng ngày của ngoại cần phải cho ngoại biết anh đã lớn, đã chững chạc. Chúng tôi còn bàn có nên mua thuốc lá không, vì thông thường khi uống bia người ta đều hút thuốc cả. Vừa phì phèo khói, vừa búng tàn. Nhưng vì anh Hai chưa hút bao giờ nên sợ lúc đó bỗng ho một cái thì thật lố bịch, đành thôi. Có một điều cả bọn thỏa thuận thấy không thể thiếu trong ngày trọng đại này là anh phải có một cô bạn gái. Lục soát trong đám bạn của con Lan chúng tôi chọn được con Phượng. Con nhỏ vừa xinh, vừa thùy mị, lại vừa ngoại chưa biết mặt. Nó sẽ đảm nhận vai trò này.

Ba giờ chiều, trời mát hẳn, đám bạn đã đến ngồi chùm nhum trong vườn. Chúng sắp xếp mọi thứ lại một lần nữa, mỗi đứa một cách. Nói chung, đứa thì xếp chỗ này, đứa thì bê đi chỗ khác, náo loạn cả lên. Ba giờ mười lăm, "bạn gái" anh Hai vẫn chưa đến. Con Lan được cử xách xe đạp đi tìm. Chạy bở hơi tai, đến nhà thấy nó đang ngồi xem ti vi. Tức điên:

- Trời đất! Mày có biết cả nhà đang chờ không?

Nó õng ẹo:

- Thôi! Kỳ lắm!

- Cha chả! Hay nhỉ! Có gì mà kỳ! – Con Lan tức mình quát ầm – Tao có bắt mày… "ôm" anh Hai tao đâu! Mày chỉ ngồi và cười, hiểu chưa! Chỉ cười… chỉ cười…

- Ừ! Mày hứa đó nha! Tao không có "ôm" đâu đó!

Ba giờ rưỡi mọi việc xong xuôi, thằng Toàn cõng ngoại ra vườn. Ngoại tôi không đi được đã hai năm nay. Thông thường ngoại ngồi trên xe lăn. Nhưng hôm nay là ngày trọng đại mà, cần phải âu yếm hơn một chút.

- Mừng sinh nhật ngoại. Chúc mừng! – Cả bọn nghiêm trang nói.

Anh Hai bật nắp bia điệu nghệ. Rồi đứng thẳng người, dóng giả:

- Thắp đèn!

Con Lan – bộ phận ánh sáng – lóng cóng cả lên. Nó cứ bật quẹt mãi một hồi mới cháy. Khi 70 ngọn nến sáng lên thì ngoại khóc. Điều này không có trong "kịch bản" khiến cả bọn bối rối.

- Ngoại – Toàn choàng tay sang – sao kỳ vậy ngoại?

Ngoại tôi vội vã lấy ống tay áo lên chậm mắt.

- Ngoại vui, ngoại vui mà.

Cả bọn chỉ chờ có thế, nhảy cỡn:

- Vậy chứ! Ngoại đừng khóc. Hôm nay là ngày sinh nhật của ngoại mà!

Anh Hai nói:

- Bây giờ đến tiết mục thổi đèn cầy. Nhưng trước đó, ngoại phải ước một điều gì đi! Không cần ngoại phải nói lớn. Cứ lầm rầm, lầm rầm là được!

- Ngoại ấy à! Thôi! Ngoại có đủ rồi! – Ngoại nói.

Nước mắt lại trào ra. Khuôn mặt ngoại đỏ au làm mái tóc trắng trên đầu tương phản rõ rệt. Anh Hai nói:

- Năm nay ngoại 70. Tức là trước đây năm mươi năm, ngoại là một cô gái. Ngoại hẳn phải là một cô gái đẹp. Vậy sau đây con xin hát bài Những cô gái đẹp.

Âm nhạc nổi lên trong lùm cây và từ từ đi ra. Thằng quỉ, vừa lùn vừa xấu nhưng đàn cực hay. Nó là thằng Tí xóm trên, con bà Tư Bún. Nhất định nó phải có gen trội rồi. Anh Hai nói:

- Mày hạ thấp "tông" xuống! Cao như thế làm sao tao hát?

Theo sự sắp xếp thì nó phải đàn tông "la". Nhưng chẳng hiểu thế nào, có lẽ hồi hộp, lại thành tông "đô". Tệ thế! Anh Hai nhắc:

- Tông la! Tông la!

- Thì từ từ chứ! – Nó làu bàu.

Âm nhạc lại nổi lên lần nữa. Không phải trong lùm cây mà ngay tại bàn. Anh Hai hát:

Có những cô gái đẹp

Đôi mắt lá khoai í a…

Miệng cười, môi đỏ

Buổi sáng hôm nay, cô đi đâu?

Cả bọn hét: "Hôm nay cô đi đâu? Đi đâu?". Anh Hai hát tiếp:

Có những cô gái đẹp

Nụ cười răng đen í a…

Những nụ cười răng đen

Mà này, hôm nay mấy lần cô cười

(Phụ họa: Cô cười mấy lần? Mấy lần?).

Điệp khúc:

Những cô gái răng đen

Những cô gái răng đen xinh nhất làng

Bởi vì cô xinh nhất làng nên bầu trời không xanh bằng?

Xanh bằng…

Nhạc đánh phùm chấm dứt trong tiếng vỗ tay huyên náo. Mọi người cười nói một hồi, chợt nhớ ra ngoại chưa thổi đèn cầy.

Anh Hai giục:

- Ngoại thổi đèn đi!

Ngoại chúm môi thổi tắt được bảy cây đã hết hơi. Cả bọn bụm miệng không dám cười. Người già mà, hơi đâu cho nhiều. Đợt thứ hai, tắt thêm sáu bảy cây nữa. Nhắm bộ không ổn, cả bọn quyết định thổi phụ rồi ồ ra cười ngất. Món chè được bưng ra nghi ngút khói. Để tưởng nhớ cái ngày cách đây bảy mươi năm nên cả bọn đã dồn hết công sức vào món này, từ khâu lựa chọn đậu, nhặt sâu, đến ngâm, vớt ráo… đều kỹ lưỡng. Đậu lại được ninh nhuyễn ra như cháo hầm. Lúc đầu đáng lý nấu chè trôi nước nhưng rất may, anh Hai chợt nhớ ra ngoại không thể ăn món đó. Nó rất dai, mà răng ngoại thì không có. Rồi cả bọn chợt nghĩ, tại sao trước đây không làm sinh nhật cho ngoại nhỉ? 70 năm rồi chứ ít đâu. Lúc ngoại còn ăn được bất cứ món gì, còn đi lại được. Một phần cũng tại cú ngã năm kia quá nặng nề, nếu không cũng không đến nỗi nào. Mẹ nói, qua trận này ngoại sống trăm tuổi. Đó cũng là giấc mơ của cả nhà.

Hồng múc chè ra thoăn thoắt. Con Lan bảo: "Con đố ngoại, ai nấu?". Rồi liếc sang cái mặt "háo hức thèm khát" của thằng Ti – trưởng ban âm nhạc. Vậy mà nó dám nói, đời tôi chỉ có cây đàn. Phải rồi, cây đàn đã được nó "âu yếm" vứt ngoài bãi cỏ vì có nồi chè đó thôi.

Ngoại nói:

- Ngoại không biết! Nhưng nghe mùi thấy khéo lắm!

Con Lan cười tươi như hoa:

- Con đó! Con bắt chước ngoại.

Cái giọng "nhão nhớt" của nó nghe nữ tính dễ sợ. Trưởng ban âm nhạc nói:

- Con cũng đố ngoại, ai sáng tác bài "Những cô gái đẹp"

Rồi không đợi ngoại trả lời, nó nói luôn:

- Con đó! Con cũng bắt chước ngoại!

Cả bọn lại ồ cười. Ngoại nói:

- Ngày xưa, ngoại không có xinh đẹp đâu. Ngoại lam lũ lắm, ông ngoại các con một hôm bảo: "Cô Sáu! Tôi thấy cô chăm làm, tôi ưng lắm! Nếu cô ưng tôi, tôi sẽ bán sào ruộng nhờ người mai mối". Thế là ngoại về làm dâu ông bà.

Toàn thích chí, hóa ra hậu đậu:

- Thế ngoại có ưng ông ngoại không?

- Cha mày! Nếu không có ông dạm hỏi, ngoại đã ế từ lâu. Ngoại đã nói rồi, ngoại không xinh đẹp. Với lại ngày xưa người ta không hề nói: "Này cô em xinh đẹp, cô đi đâu?". Mà nói: "Cô Sáu, cô đi đâu vậy?".

Trưởng ban âm nhạc chống chế:

- Như vậy không hát được, ngoại ơi! Vào nhạc khó lắm!

Sau dăm câu đối đáp, nồi chè đã được vét cạn. Anh Hai cũng đã uống xong chai bia, mặt đỏ gay. Anh khều Toàn:

- Tao muốn ói quá, làm sao bây giờ!

Toàn trợn mắt:

- Anh nói thiệt hay giỡn vậy! Ráng chút đi!

- Không, tao ói thiệt mà! Ngay bàn bây giờ!

Toàn vội dìu anh ra vườn, làm một phát là xong, tỉnh táo đi vào như đóng kịch. Toàn nói: "Còn tặng quà cho ngoại nữa! Anh mà nằm bẹp, ngoại đánh giá chết!".

Những món quà được chuyền tay. Nơ xanh, đỏ rối cả mắt. Chiếc áo anh Hai tặng ngoại thật vừa, lại trang nhã. Anh nói:

- Đây là tiền lương tháng đầu tiên của con đó ngoại!

Ngoại khóc hu hu, nói:

- Ngoại vui lắm, vui lắm. Không ngờ các cháu của ngoại lớn nhanh như vậy.

Chớp được tiếng "lớn nhanh đến vậy", anh Hai liền nói:

- Chết! Con quên giới thiệu, đây là bạn gái của con.

Phượng đỏ mặt, hét toáng:

- Không phải đâu ngoại! Con là bạn con Lan. Nó cứ bắt con làm bồ của ảnh, kỳ quá hà…

Mọi người cười ồ. Trưởng ban âm nhạc cầm đàn hát:

Nếu mùa xuân có trở lại

Xin đến sớm một chút

Mai đã vàng rồi

Những cội mai không chờ lâu được đâu

Sắc màu lúc này là đẹp nhất

Nếu ngày mai có đến sớm

Xin nương nhẹ cành đào

Một mùa xuân chỉ có một lần

Uổng lắm! Uổng lắm!

Ngoài hiên cỏ xanh non nhưng chắc gì

Cũng may, đàn bò thì chậm chạp

Cuối vụ hè thu, mẹ gieo hạt

Bên con đường bụi đỏ, luống hoa vàng…

Anh Hai ghé vào tai Toàn, nói nhỏ:

- Tao lại muốn ói nữa rồi. Muốn dễ sợ.

Ngoài vườn nắng sắp tắt trên những ngọn cây. Gió thổi suốt nghe u u lạ. Cũng giờ này, cơn gió này ngoài đồng cỏ may sẽ bay rợp. Chúng xoay tròn như một vòng hoa lớn trên không trung. Anh Hai thường nói với tôi, đó là vòng hoa đưa tiễn một ngày đẹp trời. Lại nói, trong nhiều năm, có khi một đời, người ta mới được chiêm ngưỡng một lần như vậy…

Đường lên phương Bắc

Năm đó, tôi 10 tuổi. Nhà tôi ở trong rừng và tôi cũng có thể gọi rừng là nhà. Còn cái nhà, thực ra chỉ là cái chòi, chòi lá tránh mưa và đêm về ngủ qua quít. Bố tôi đốn củi làm than. Mẹ tôi đắp đất làm lò. Công việc nặng nhọc và cần nhiều sức lực.

Trong ký ức của tôi, mẹ là người thắp lửa cho những chiếc lò, còn bố thì đốn củi và làm những chiếc xe gỗ cho tôi.

Theo như những gì tôi có thể nhớ được, nhà tôi di dời khoảng chục lần, phụ thuộc vào vùng rừng có nhiều củi hay không, bố tôi cất nhà ở đó. Mỗi lần di chuyển, tôi đều đòi mang chiếc xe gỗ của mình nhưng bố bỏ lại vì có quá nhiều vật dụng cần thiết hơn. Bố nói:

- Không sao cả, rồi bố sẽ làm những chiếc xe khác cho con. Bố thích làm những công việc như vậy mà!

Và bố luôn giữ đúng lời hứa. Cả ngày, tôi chơi đùa với chiếc xe gỗ, hốt đất, bẻ lá rồi chất đầy lên nó kéo đi. Tôi cũng tập làm những lò than nho nhỏ và mẹ đùa, đó là những lò than đẹp nhất mà mẹ được thấy.

Những lò than của tôi thường phải dập tắt nửa chừng vì đốt quá nhiều lửa, tôi vụng về, tôi có quá nhiều trò chơi khác mà trò thú vị nhất là thổi kèn lá, bố dạy tôi. Không chỉ vậy, bố và tôi còn có một thỏa thuận rằng, mỗi khi muốn gọi bố vào ăn cơm, tôi chỉ việc thổi nó lên bằng ba hồi dài và hai tiếng tít tít ngắn. Khi nghe "nhạc hiệu" đó, bố sẽ nói: "A! Con trai bố gọi rồi!" và chúng tôi nhìn nhau cười nắc nẻ. Trò chơi thổi kèn lá còn một thú vị khác, khi nghe, bố biết rằng tôi vẫn an toàn ở một góc khuất nào đó của khu rừng. Trước kia, khi tôi chưa biết trò thổi kèn lá, bố hay dừng tay giữa chừng công việc, hỏi vọng:

- Con trai! Con ở đâu vậy?

Tôi la lớn:

- Con ở đây đây! Con vẫn còn nguyên!

Bố không nói gì, tiếp tục công việc. Có một lần vì mải chơi, tôi đã đi quá xa nên khi bố gọi tôi không thể nghe và nói: "Con vẫn còn nguyên". Mẹ và bố tôi hộc tốc đi tìm. Sau vụ đó, bố dạy tôi thổi kèn lá. Mẹ tôi nói, mỗi lần nghe "tí te tí tò" bố vui lắm. Nói, chờ tôi lớn lên sẽ làm cho một ống sáo trúc và dạy cho thổi bài Đường lên phương bắc. Bài này ông nội dạy bố khi bố còn là một chàng trai. Bố nói, trên đời này chỉ có bài đó là hay nhất. Khi thổi, cảm giác như thú rừng phải bỏ chạy vì hoảng sợ, nhưng con người nghe thấy lại "hùng tráng" lên. Tôi chưa nghe bố thổi lần nào vì bố muốn dành cho tôi một bất ngờ là món quà năm tôi 18 tuổi. Năm đó, tôi sẽ đi núi một mình, vừa đốn củi vừa ngâm nga bài Đường lên phương bắc. Bố nói, không gì thích thú bằng khi chính mình nghe tiếng hát của mình ngân lên trong đầu.

Năm đó, tôi vẫn còn 10 tuổi, chưa biết gì về thế giới xung quanh, ngoài khu rừng và những câu chuyện qua lời bố kể. Bố nói, dưới đồng bằng có nhiều căn nhà sơn màu, và người ta chạy những chiếc xe sắt. Cũng có những chiếc xe gỗ như xe của tôi nhưng chỉ để trâu bò kéo. Người ta đi lại vội vã và mặc luôn cả áo hoa khi đi ngủ.

Có một lần tôi hỏi bố: "Tại sao bầu trời xanh thế?". Bố suy nghĩ một lúc lâu rồi nói: "Thế mới tài!". Hai bố con nhìn nhau cười ồ lên. Bố tôi không biết thật. Bố nói, bố không được đi học. Bố không biết cách đặt tên mình trên giấy như những người ở đồng bằng. Ở đó, họ có thể nói chuyện với nhau bằng cách viết ra. Họ có thế giới những lời nhắn nhủ cho nhau mà không cần gặp mặt, trong những chiếc túi nho nhỏ gọi là lá thư. Giống như tôi và bố trong trò thổi kèn lá, bố biết tôi vẫn còn nguyên mà không cần gặp mặt. Điều đó có nghĩa là trong khu rừng tôi ở đầy ắp những lá thư. Chúng treo khắp trên cây và tôi ngủ dưới những lá thư đó. Mỗi ngày tôi gửi cho bố vô số nhưng bố nói, chỉ có bố và mẹ hiểu những lá thư của tôi thôi. Tôi cần học cách làm ra những lá thư mà mọi người đều hiểu nếu như họ biết đọc. Mà những người ở dưới đồng bằng ai cũng biết đọc cả. Họ có thể hiểu người xưa nói gì, nhắn nhủ gì, mà những chiếc kèn lá không nói được. Chúng là những trang sách nhỏ, khu rừng nhỏ của gia đình tôi. Trang sách kia là trang sách lớn, thâu tóm mọi núi đồi và đồng bằng.

Năm đó tôi vừa tròn 10 tuổi. Tôi chưa hề biết rằng tương lai đã kéo tôi xa khỏi bố cũng như xích lại gần hơn như thế nào. Bố lớn hơn tôi tưởng, hơn những trang sách tôi đọc, vì đơn giản, bố là bố của tôi.

Huống gì tôi còn rất nhỏ, và bố cõng tôi xuống đồng bằng đi học. Tôi vẫn mang núi đồi trên mình nên tôi sợ sự trống trải lắm. Tôi đã quen cái nhìn của núi đồi, những cái nhìn gần thấy những vật gần. Tôi giật mình khi thấy trọn vẹn khu rừng tôi ở, ngọn núi tôi ở. Càng dấn sâu vào cánh đồng bao nhiêu nó càng nhỏ dần và biến mất. Giống như chúng không có thật, chỉ là ngọn núi trong tâm tưởng của tôi. Đêm tôi nằm quay đầu về núi vì sợ rằng nếu như không làm vậy, chúng sẽ biến mất. Cô giáo nói:

- Đó là hướng bắc. Nếu con quay mặt về hướng bắc, hướng nam sẽ ở sau lưng con.

Với tôi không phải thế, dù tôi có quay về hướng nam hay bất cứ hướng nào phương bắc vẫn trước mặt. Từ rất nhỏ, tôi đã biết thế giới này chỉ có một phương, phương bắc, nơi tôi vẫn còn nguyên, nơi bố sẽ dạy bài Đường lên phương bắc khi tôi 18 tuổi.

Trên đường xuống đồng bằng, bố nói:

- Ở nhà, cô giáo vẫn có những chiếc lá cho con thổi!

- Nhưng bố sẽ không nghe thấy! – Tôi nói – Bố không nghe thấy làm sao bố biết con vẫn còn nguyên?

- Con đừng lo – Bố nói – Những tiếng động trên người con, bố đều nghe hết.

Tôi nín thinh. Tôi sợ, sợ lắm hình ảnh bố thả tôi giữa những con chữ rồi bỏ đi. Tôi phải lần từng con một cho đến hồi có thể viết cho bố lá thư như bố muốn, viết tên bố, tên mẹ, tên tôi. Lúc ấy tôi mới được về nhà, về phương bắc, có mẹ canh chừng giấc ngủ cho tôi lúc tôi còn là một đứa bé đỏ hỏn ốm yếu và hen suyễn. Bố thổi kèn lá bài Đường lên phương bắc để lấy lại lòng can đảm khi đưa tôi xuống đồng bằng tìm thầy thuốc. Bỏ mặc những lò than biến thành tro không người đánh thức.

Bố nói:

- Con đừng lo. Bố gửi con lại nhà cô. Nhà cô có nhiều thứ nhà mình không có. Mỗi tháng bố sẽ ghé thăm con một lần. Bố sẽ làm cho con chiếc xe gỗ đẹp nhất mà bố chưa từng làm. Rồi con sẽ thấy khi lớn lên, không chiếc xe nào đẹp bằng nó.

Năm đó tôi vừa tròn 10 tuổi. Người tôi đầy vết xước. Tôi có những chiếc sẹo to, những vết sẹo gai cào không thuốc bôi. Khi nhìn vết sẹo, lũ bạn trố mắt kinh hãi mà tưởng tượng núi đồi nơi tôi ở. Ở đồng bằng không có gì chạm đến chúng nên tất nhiên, chúng không có dấu vết của người anh hùng. Vậy thì cớ gì tôi không phơi bày bằng cách xắn tay áo cao.

- Mày đã chạm tay vào những con rắn bao giờ chưa? – Chúng hỏi.

- Rồi, cả những con voi!

- Chúng làm gì?

- Uống nước.

- Chúng nhìn thấy mày không?

- Không! Mắt chúng ti hí.

- Hay nhỉ! Thế khi uống nước chúng có mở mắt không?

- Không. Chúng nhắm mắt. Chúng là con voi thì chúng sợ con gì cơ chứ.

- Mày thật giống người rừng. Nhất là cái mũi. Tao cũng thích làm người rừng. Khi ở rừng, mày có hú không? Hú hú… á!

- Tại sao tao phải hú?

- Vậy mà tao cứ tưởng người rừng thì phải hú!

Khi 10 tuổi người ta nói như vậy. Người ta còn nói:

- Tại sao mày đi học, ngu thế. Ở trên rừng sướng hơn!

- Tao đi học để viết thư cho bố!

- Bố mày thích đọc thư lắm à?

Ừ! Nhưng chỉ thích thư của tao thôi. Bố tao còn nói khi tao 18 tuổi sẽ dạy cho bài Đường lên phương bắc. Bài hát đó làm bố tao dũng cảm.

-  Hay nhỉ! Khi nào thuộc, mày chỉ tao nhé! Tao cũng thích anh hùng. Bài hát đó chắc là câu thần chú. Khi gặp con cọp, hát lên, nó chạy te.

Khi 10 tuổi, người ta thường mơ như vậy. Người ta mơ nhiều lắm nhưng không mơ đi học. Học hành như chiếc gai nhọn cào xước mình, để lại những vết sẹo. Như cô giáo đó, nhìn cô tôi sợ vì cô có nghìn cái sẹo mà tôi không có. Những cái sẹo đó bố muốn tôi có bằng cách học những con chữ. Có chữ rồi, bố sẽ nhìn tôi khiếp sợ. Mẹ cũng vậy, cả nhà sẽ khiếp sợ nhìn tôi.

Khi cõng tôi trên vai xuống đồng bằng, bố nói:

- Từ đây đến đó xa lắm, con phải tự chăm sóc mình. Khi bố 10 tuổi, bố đã biết nấu cơm. Bố nấu khéo lắm. Khi thằng bé biết tự chăm sóc mình, nó trở thành người đàn ông. Bố dám cá trong đám bạn của con, sẽ không có đứa nào trở thành đàn ông sớm bằng con. Khi con trở thành đàn ông, chúng vẫn còn "bú tí". Chúng là con thỏ mà con là con cọp vậy. Nhớ lời bố nhé, con là con cọp. Con cọp phải gầm, phải đi xa, vẫy vùng.

Đó là lời bố tôi nói. Và tôi đã gào thét suốt cuộc đời bằng câu hát đó, bài ca của những con cọp, của bố hiển hiện trong tôi. Tôi dám kiêu hãnh mà nói rằng, ngày đầu tiên đi học tôi không khóc, không sợ hãi bi lụy nép vào lòng mẹ. Bước vào lớp một, tôi đã 10 tuổi. Tôi quá lớn so với bạn cùng lớp, nhưng điều đó không hề gây trở ngại trong tôi, thiếu điều còn thích thú vì so với những đứa khác, tôi gần bố hơn chúng những 4 năm trước khi bước vào cuộc du hành đơn độc này. Tôi là con cọp. Tôi đi tìm núi đồi cho mình. Đêm tôi nằm quay đầu về núi, về phương bắc mù mịt và nhớ. Tôi khoe những vết thương của mình. Tôi nói những chiếc gai nhọn nhất của đỉnh núi cao nhất tôi đã từng đạp. Thế giới trước mắt tôi chỉ có một phương, phương bắc. Nơi đó bố cõng tôi xuống đồng bằng. Bố nói với tôi, này con, hãy làm cho bố sợ con đi. Bố thích điều đó. Không có gì hạnh phúc bằng sợ con mình. Suốt cuộc đời bố chỉ biết đốn củi và làm những chiếc xe gỗ. Bố làm những chiếc xe đẹp nhất và bố đi chân không. Bố dạy tôi cách đi chân không làm sao tránh được nhiều gai nhất. Bố dạy tôi thổi kèn lá để biết tôi còn nguyên. Những tiếng động trên người tôi bố đều nghe thấy. Bố tôi thất học. Bố không biết vì sao bầu trời lại xanh, đám mây lại trắng, con đường lại dài.

Hôm nay là ngày đầu tiên tôi bước vào đại học. Một ngày khai trường đầu tiên không có bố. Tôi biết trên vai tôi là núi. Dưới da tôi là núi. Tôi đã 18 tuổi. Tôi chưa kịp học bài Đường lên phương bắc thì bố tôi đã mất rồi. Ông vĩnh viễn giữ trong thân thể ông bài ca hùng tráng, bài ca về lòng dũng cảm. Ông chưa trao tôi bài hát đó hay đã trao rồi, tôi cũng không biết nữa. Nhưng tôi biết một điều chắc chắn rằng nó sẽ vang mãi trong tôi như một bài đưa tiễn quá khứ, một cái rùng mình tuổi thơ, không phải trong giấc ngủ, không chỉ trong giấc ngủ mà đang thức cùng tôi trong những ngày mà tôi sẽ đi, trong những con đường mà tôi sẽ đến, suốt cuộc hành trình.

Một hôm nào đó, một giây nào đó, ký ức tôi lung linh hình ảnh bố từ một nơi rất xa, một vùng đồi núi hiểm trở đã đi vào đời sống tôi. Ông mặc chiếc áo kẻ ô phẳng phiu nhất, đi chân không từ núi xuống đồng bằng vào mỗi cuối tuần. Từ đó ông rẽ vào bưu điện để nhận những lá thư tôi gửi. Lặng lẽ, ông mở nó ra, xé nó ra, vụng về. Ông xem từng con chữ, lấy tay chạm vào nó, ông ép nó vào khuôn mặt đầy râu của ông. Rồi lặng lẽ như lúc mở ra, ông xếp nó lại, nhét vào bao thư. Ông ngồi trầm ngâm một lúc, khẽ mỉm cười rồi đi về núi. Ông nói với mẹ tôi: "Con mình vừa gửi thư về". Mẹ tôi hỏi: "Thư đâu?". Ông trao thư cho mẹ. Bà lại cẩn thận mở nó ra, khen: "Con mình viết chữ đẹp quá! Những chữ tròn, thật tròn, những cái móc thật bén. Chỉ tiếc rằng không biết nó viết cái gì. Sao ông không nhờ ai đó ở bưu điện đọc giùm!". Như mọi lần, bố nói: "Bà này hay. Chuyện bố con tôi chẳng lẽ bày ra cho người ta đọc vanh vách. Nó là con tôi. Nó viết gì, tôi đều biết cả!". Rồi ông lấy lại thư xếp vào trong tủ cùng với những lá thư trước, những lá thư được bóc ra nhìn ngắm chạm mặt rồi cất vào; không thiếu một lá, ngay cả những lá đầu tiên nét chữ còn non nớt…

Lập lòe vó ngựa

Nhà có bốn người thì ba người biết đánh xe ngựa, đó là cậu Bình, bà ngoại và Toàn (cũng lõm bõm từ vài mùa trước), chỉ có mẹ là không biết gì. Hồi nhỏ, mẹ bị ngựa đá một cú suýt chết rồi sợ luôn đến già. Thấy ngựa là cạch.

Ngày xưa, tàu ngựa của ông ngoại Toàn có cả thảy năm con. Đây là cái thú phong lưu của ông, tuy ông chỉ là một người đánh xe ngựa. Hàng ngày, từ chợ nhỏ, ông rước khách lên chợ tỉnh rồi từ chợ tỉnh vòng một vòng xuống chợ nhỏ, chỉ có vậy, nhưng cũng đủ loanh quanh hết một đời. Bà ngoại Toàn bán rau quả. Ngày ngày theo xe ông dăm lần, riết quen, điều khiển xe ngựa còn khéo hơn ông. Lại biết chiều chuộng chúng, biết nương nhẹ, chẳng cần ra roi nên chúng quyến luyến lắm. Có một thời điểm lúc ông ngoại Toàn bị ốm, bà phải đi thay. Chuyện này có vẻ lạ, người ta rất ngạc nhiên khi thấy một bà già đầu trắng như tuyết, thắng ngựa vào xe không thua gì đàn ông, nhưng lâu quen dần, người ta còn nghiệm ra, bà đánh xe có vẻ an toàn hơn ông. Bà lại biết gợi chuyện, biết kiên nhẫn chờ đợi khách, dù chỉ một người.

Bây giờ, nhà còn một con ngựa giao cho cậu Bình. Ngoài những buổi đi học, Toàn theo phụ… vận chuyển những đồ lặt vặt hoặc đi cắt cỏ. Con ngựa đó kén lắm, phải là cỏ tươi mới ăn. Vì là giống cái nên nó được đặt một cái tên rất nữ tính, con Hồng. Ngoài những việc đã nói, Toàn có một cái thú giống ông, đó là cưỡi ngựa chạy long rong quanh huyện. Chiều mát, gió thổi, cởi trần, ngồi trên mình ngựa thì còn gì thú bằng. Toàn hay tưởng tượng mình là tráng sĩ đi cứu công chúa, nàng ngồi "một bên" dựa vào cánh tay "săn chắc" của Toàn và ngủ. Ôi! Mới lãng mạn làm sao.

Cậu Toàn, tính người hùng hổ, khi ngựa nổi chứng thì ra roi không thương tiếc. Từ nhỏ, Toàn đã sợ cậu. Lúc hai, ba tuổi gì đó, cậu xách Toàn đặt lên bàn tay to bè của mình, bặm môi, hét: "Đứng im". Toàn đứng im thin thít cho đến hồi tè ra cả quần. Cậu cười hô hố rồi đặt lên xe ngựa bảo: "Ngồi im". Cậu ra roi cho ngựa chạy tốc mù, Toàn cũng không dám nói gì, chỉ khóc ré lên khi về nhà gặp mẹ. Mẹ hay mắng cậu nhưng cậu cứ căng lên: "Đàn ông phải thế, cho quen đi". Ngoại Toàn cũng đồng tình. Bà là tay cự phách trên xe ngựa mà, mấy trò "tốc mù" kia chỉ là tép riu. Toàn thuộc về phe mẹ, yếu ớt, sợ ngựa. Nhưng Toàn cũng khác mẹ, sợ đấy nhưng cũng thích đấy, 13 tuổi đã gạt qua nỗi sợ mà tập cưỡi ngựa. Cậu Bình bảo: "Dễ ợt! Té trăm lần thì thành". Toàn nghe ê ẩm cả người. Những ngày gian nan rồi cũng qua, khi cưỡi được rồi thì không rời được nữa, lại vênh váo ra mặt.

Từ ngày ngoại mất, cậu Bình thay ông đánh xe. Cậu nói, chừng nào có tiền sẽ mua thêm một con ngựa, cậu trực chợ nhỏ, Toàn trực chợ tỉnh, cậu cháu luân chuyển vét sạch khách, không chừa một ai. Cái lý lẽ này xem chừng thú vị.

Quê Toàn còn nghèo, phương tiện vận chuyển chính vẫn là xe ngựa. Có người đi xe còn quy trả bằng thóc, gạo, có khi cả cám. Cậu Bình nhận hết, cám cho heo, thóc gạo cho người. Nhiều khi còn đùa: "Sao không ai quy ra cóc ổi nhỉ?". Tính cậu là vậy, có khi hung tợn, mặt sì sì, đen thui như mặt sắt; có khi cà rỡn, mà khi cà rỡn thì không ai có thể nhịn cười được với cậu. Tuổi thơ của Toàn trôi qua hai trạng thái nóng lạnh đó, khi cậu vui thì đến gần, khi cậu buồn thì chuồn ngay.

Rồi một ngày chẳng biết từ đâu, huyện nghèo bỗng xuất hiện một chiếc xe lam nổ tạch tạch. Nó khuấy động cái không gian vốn im lìm quen thuộc hàng ngày. Cái thùng của nó đã to lại chạy nhanh, ai mà chẳng khoái. Dần dần, người ta đi xe lam nhiều hơn xe ngựa. Có hôm, cậu Bình ngồi chờ cả buổi chẳng chở được ai. Rồi lại xuất hiện thêm chiếc Đa-su, thế là thành ngựa toi. Cậu Toàn thất nghiệp, đánh xe vào vùng sâu hơn. Như một trò đuổi bắt, nơi nào xe lam bò đến thì cậu bỏ đi, càng ngày càng xa dần. Níu kéo thêm một thời gian nữa, cậu cũng phải bỏ nghề đánh xe ngựa, cưới vợ và chuyển sang buôn bán.

Huyện nghèo, nay đã lên thị trấn, nhanh đến chóng mặt. Người đông dần và nhộn nhịp suốt ngày. Nhiều khi, Toàn cứ ngẩn ngơ bâng khuâng nhớ về ngày trước, ở đây đã từng có một chuyến xe ngựa chạy đi chạy về suốt một đời của ngoại, rồi một phần đời của cậu. Ở đây đã từng nhiều lần, Toàn cưỡi ngựa mặt vênh lên như cưỡi một chiếc xe máy 81 mới cáu. Bây giờ, người ta chạy xe "cá nhân" vòng vèo trên mặt đường, chẳng cần lọc cọc lạch cạch như ngày xưa. Con ngựa trở nên rảnh rỗi, đứng bơ vơ trong chuồng chẳng biết làm gì ngoài gặm cỏ hoặc khua vó cho khuây khỏa.

Ngày ngày, vào những buổi chiều, hai cậu cháu thắng nó vào xe rồi chạy vòng vèo trong xóm như một trò giải trí, nghe tiếng vó gõ lộc cộc vui tai. Trẻ con bu nghẹt sau đuôi. Chúng chạm một ngón tay vào đuôi ngựa rồi cười hí hí. Riết rồi thành lệ, chiều nào chúng cũng bồng bế nhau ngồi chờ.

Rồi cái trò chơi đó đến một hôm cũng phải dừng lại, ông chủ tiệm chụp hình nghệ thuật "Đỉnh cao" dưới thị trấn đến gạ mua con Hồng về làm cảnh. Người ta chụp với cây kiểng, cầu thang, cảnh giả mãi rồi cũng chán, con ngựa bỗng trở nên một thứ mốt mới, sống động hơn. Cả nhà bàn cãi với nhau, phân vân mãi. Dù sao, con Hồng cũng gắn bó với gia đình bao nhiêu năm tháng rồi. Cuối cùng ngoại Toàn đồng ý bán để nó sống một đời sống khác có ý nghĩa hơn. Không còn chở người thì nó làm cái hoa cái nhụy cho người ta nựng nịu, chụp hình, cũng là một cách có ích vậy. Lâu lâu, nhớ con ngựa, hai cậu cháu lại xuống thị trấn thăm, thấy nó đứng ngúc ngoắc bên tấm phông đầy thác ghềnh, cổ đeo lục lạc, lưng đeo yên "vàng", bờm tết nơ mà thương vô hạn. Cái bọn con gái làm duyên làm dáng vò đầu cưỡi cổ, có đứa còn lì lợm trèo lên lưng nó, đội nón cao bồi rồi toét miệng cười. Ông thợ chụp hình loay hoay đưa thêm khẩu Ru-lô. Thấy Toàn, con Hồng chồm dậy, đưa cái vó đã trở nên vô dụng lên mừng rỡ. Nó hí một tiếng dài làm bọn con gái hoảng kinh. Toàn chạy vội đến: "Hồng! Hồng! Ngoan nào!". Nó lúc lắc cái đầu rồi dụi vào người Toàn. Khuôn mặt buồn thiểu não giữa những nơ và tua. Từ ngày về với ông thợ chụp ảnh, nó có được chạy nhảy bao giờ đâu. Quá lắm thì loanh quanh gốc cột cho đỡ cuồng chân, gặm nhấm nỗi buồn trong từng chiếc vó, âm thầm nhớ từng âm thanh lộc cộc vỉa hè xưa.

Một lần khác, Toàn dẫn ngoại xuống, bà cũng muốn thăm con Hồng, bà nhớ nó. Ông chủ chụp hình được dịp than phiền: "Dạo này nó quấy quá, chẳng chịu cho ai cưỡi, cứ lồng lên, mất khách. Hình như nó khoái chạy rong hơn ngồi một chỗ. Đúng là ngựa. Có lẽ tôi phải trả lại cho bà thôi. Lời lỗ bao nhiêu, tôi bù".

Ngoại Toàn lặng người đi. Bà than phiền dạo này nó ốm quá, thịt nhão nhoẹt. Bà bảo Toàn dẫn nó ra ngoài sân, xem từng chiếc vó một, những chiếc đinh rỉ sét bong ra vì không được chăm sóc. Ngày trước, ngoại Toàn rất chu đáo chuyện này. Cuối cùng bà gật đầu: "Thôi được rồi! Tôi cũng đã có ý định đem nó về!".

Con ngựa như chỉ chờ có thế, chợt hí lên. Toàn nhảy phắt lên người nó, thoắt một cái đã ra đến đường. Như nhớ lộ trình cũ, cái lộ trình mà ngày xưa ngoại đã đưa nó đi về, nó phi nước kiệu, vui sướng lắm. Từng chiếc vó khua vang như gợi nhắc từng khúc nhạc mà nó tưởng chừng như đã lãng quên từ một dạo nào xa lắm, lúc những chiếc xe lam chưa xuất hiện; từ sáng tinh mơ, nó chở rau cải qua các ngõ làng. Nó đã chọn lấy đường dài như một lẽ sống; và từ đó cũng chính là ký ức nòi giống của một con ngựa mà Toàn có thế cảm nhận được, không gì khác hơn.

Rồi như một tráng sĩ, Toàn cởi phăng áo, quay quay nó trên tay. Gió thổi, cởi trần, ngồi trên mình ngựa, và trước mặt là bầu trời, đường dài và tiếng vó… Toàn cứ thấy mình lịm dần đi như lạc vào một cõi mơ…

Toàn hát:

Này là ngựa chứng

Ta ban cho ngươi năm vạn dặm đường

Và một gánh nặng trên vai

Là Ta đó…

Này là ngựa chứng

Nỗi phiền muộn của ngươi

Không khác gì niềm vui sướng

Và ta hiểu đường dài

Chính là tình yêu của mi…

Ta còn hiểu trong từng vó một

Này là con ngựa yêu

Ta ban cho ngươi sức mạnh của sự lên đường…

Quanh co vẫn chuyện bông hồng

Vài cái ngõ quanh co hẹp chừng ba mét đường đất, vài con vịt xiêm chạy nhảy…

Đó là làng tôi.

Một khu vườn nhỏ, vài bông hoa nhỏ, vài cái chum cáu đen tàn tạ nhưng đẹp lạ lùng…

Đó là nhà tôi.

Một ông ngoại và một bà ngoại, tuổi đã xế chiều nhai trầu bỏm bẻm, cả ông và bà và thói quen khạc nhổ bừa bãi trong vườn, chỉ trừ trong nhà ra thôi, nơi nào cũng có cốt trầu; một bà mẹ chân đen thô nần, một ông bố hiền lành nhưng nóng nảy, một kiểu Trương Phi khi xung trận nhưng lại là một ông lão ngây người khi được nghe một bản dạ cổ…

Đó là gia đình tôi.

Như một hình ảnh quen thuộc, quen nhìn, quen mắt, quen đến đỗi tôi có thể nhắm mắt lại mà mô tả từng chi tiết một. Tôi có thể ngủ một giấc bình yên chỉ vì trong trí nhớ phảng phất một chút hình ảnh ấy. Tôi không chờ đợi một hình ảnh nào khác hơn.

Nhà đối diện có một đứa con gái, sắc từ vệt lông mày sắc ra. Đó là lời mẹ tôi. Nó là bạn tôi nên tôi biết, dễ thương lắm. Dễ thương không chịu nổi. Đó là lời tôi. Nói thầm thôi, chả dại gì nói lớn, cái bọn chung lớp ấy à, chúng chỉ lăm le chờ đợi những câu nói dại miệng như thế để rồi càn quấy, để rồi thỉnh thoảng làm như vẻ "tâm lý" thì thào bỏ đi nhường chỗ cho "hai đứa" một cách ồn ào, trắng trợn, lại kèm theo những nụ cười hí hí…

Để rồi ngay cả cái thằng được ưu ái là tôi cũng phải đỏ mặt như gấc chín, mà đỏ như gấc chín thì tức là quê, là có tịch thì rục rịch, rục rịch thì có nghĩa đã có ý gì rồi, có ý, tức là có mưu đồ; mà mỗi khi có mưu đồ thì có nghĩa là thằng này thấy vậy chứ mà… ghê lắm. Đó là lời của chúng nó.

Cái trường lèo tèo dăm chục học sinh, một vài thầy cô, toàn những thầy cô già, già đến nỗi học sinh có thể gọi bằng cha, bằng mẹ, bằng ông. Đi học léng phéng là bị mắng vốn đến tận cửa, chỉ cần đi ngang cửa ới một tiếng từ ngoài đường: chị Sáu ơi, thằng con của chị dạo này không chịu học hành gì cả… thế là toi xương với cái máu Trương Phi của ông bố. Rồi mạnh cô cô đi, cũng chẳng cần phải trịnh trọng gì, quen rồi, thông báo học hành con cái đều bằng cách ấy, như báo một cái tin: "Ruộng bể bờ rồi anh Bảy ơi…".

Với một nhúm người như vậy thì chỉ cần chúng nó dại miệng hoặc thì thào là cũng đủ đến tai cô giáo, thì cũng có nghĩa là đến tai phụ huynh Trương Phi nhà tôi. Hỏng, hỏng bét. Mà tôi cũng có mến mộ gì đâu cái con nhỏ láng giềng dữ như chằn tinh đó.

Nhưng cái sự đời là vậy. Tới cái tuổi nào đó thì người ta cứ vậy, thích mai mối cho người này, thích gắp bỏ cho người kia một chút gì. Mà cái chút gì luôn luôn là chuyện yêu đương. Tôi gán nhỏ láng giềng cho thằng ngồi kế tôi, điệu nghệ cũng không thua gì người lớn tuổi.

"Con nhỏ ấy ngoan hiền nết na lắm, làm ruộng thì cực khéo nhé, không chê vào đâu được, có mà tốt số ba đời nghe cưng".

Đó là tôi chôm cái kiểu nói của mẹ tôi. Mẹ thì cứ vậy, đã khen ai thì khen từ tóc đến răng, khen từ con mắt đến hàng lông mày. Chưa kể còn khen gia đình nó tốt và học thức. Khổ nỗi, bố của cô láng giềng chỉ học đến lớp 9, nhưng thú thật cả làng tôi, lớp 9 đúng là học thức lắm rồi.

- Bây giờ lớp nhỏ nó lên, chứ ngày xưa cực khổ lấy đâu mà hành với học.

Đó là lời mẹ tôi.

Thằng bạn nối khố của tôi có mà giãy nảy: "Mày có điên không đó?" nhưng mặt cũng nghệt ra gọi là suy tư. Mặt nghệt ra không kém phần sung sướng.

Thú thật thì bồ bịch cái gì đâu, để ý cái gì đâu, nhưng nghe ai đó ghép đôi cũng thấy mình sang sang, cũng thấy mình trầm trọng.

Rồi hú hí nhau cười cười, thằng này thấy vậy mà cũng… ghê.

Đó là chuyện của Lan, người láng giềng. Tôi hay nhìn Lan rồi tưởng tượng, nếu Lan mà có chồng chắc tếu lắm. Lan sẽ gọi chồng bằng: "Mình ơi!". Ối giời, chịu không nổi. Đã vậy cái thằng mình ơi đó ngày ngày cũng kêu vợ bằng "Mình ơi, mình ơi mình". Rồi Lan sẽ sinh ra một đàn con, một lũ nhốn nháo. Chúng lỳ như quỷ sứ, suốt ngày cứ trốn đi chơi và lăn lê bò toài. Chúng trốn đi chơi để rồi cô tôi, lúc này đã già lắm rồi chống gậy đi ngang ngõ nói vô: "Có con Lan ở nhà không, dạo này con mày hư lắm đó nghen, không chịu học hành…". Lan sẽ đon đả chạy ra: "Cô đó hả, thật khổ thân cho em, tối nay ông của em sẽ cho chúng nó cứ là ê mông…".

Đó là những lúc mơ màng nghĩ vậy, nghĩ tung hoành, nghĩ mặc sức. Mà tôi dám chắc, bọn trong lớp cũng nghĩ như tôi thôi. Bọn chúng thì tôi đi trong ruột.

Từ dạo trường tôi nâng cấp lên thành trường điểm, thì thầy cô ở các nơi cũng xuất hiện. Bộ phái về. Những thầy cô cũ đã nghỉ hưu. Thực ra thầy cô đó đã đến tuổi nghỉ hưu lâu lắm rồi nhưng chẳng qua chưa có ai thế. Xem như cũng xóa bớt cái tai nạn bị mắng vốn tại nhà.

Thi thoảng, cả bọn tổ chức ghé thăm thầy cô cũ, rồi bình bầu xét nét, rồi rút ra kết luận, hóa ra những thầy cô cũ thật là tình cảm, thật là hóm hỉnh, thật là biết pha trò. Đôi lúc cũng cảm thấy buồn buồn, khi mình nhận ra điều này thì cũng là lúc không còn được học thầy cô ấy nữa.

Nhà thầy Hoàng là nơi chúng tôi hay đến nhất. Cả bọn hái ổi và cáp đôi[4] nhau. Sau một vòng thì con Lan bồ đến… bảy đứa. Nó giãy nảy lên như bị kiến cắn. "Tui nói cho các người biết nhé, bồ của tui nếu mà có thì phải đẹp trai lắm, mấy ông không đủ tiêu chuẩn đâu!".

Thế đấy, cũng cao vọng, cũng kiêu kỳ chua ngoa không kém ai. Nhưng cái câu nói này cũng làm cho chúng tôi sực nhớ về nước da của mình. Đen thui thủi.

Từ ngày học trường điểm, bọn thị trấn cũng xuất hiện theo, chúng trắng trẻo và sạch sẽ. Chúng ăn nói cũng văn vẻ kiêu kỳ. Chúng học giỏi. Chúng lại biết hát, hát rất đúng tông. Có đứa lại còn biết chơi ghi ta. Chúng làm ai cũng phải mê tít và ngưỡng mộ, huống gì con Lan.

Một hôm, tích cóp, cả nhóm nhà quê cũng kéo ra chợ huyện mua được cây đàn. Báo hại, cả đám chùm nhum tập gảy gọi là ráo riết. Thằng Phong nhỉ tài hoa nhất bọn được giao phó cho nhiệm vụ hàng đầu ấy. Cuối cùng kỳ cục, nó cũng tưng tưng được điệu boléro; nhạc kiểu gì cũng cứ chơi boléro. Đó là nhiệt tình. Bằng không ấy à, nó bảo không biết chơi bài này thì coi như đi tong nhiệt huyết xướng ca của cả bọn. Nên chẳng biết từ lúc nào, thằng nào muốn độc diễn thì phải học tủ cho được một bài boléro.

Những ngày mưa, tụ tập tại nhà con Lan, hát đến lả cả người. Mà cái con Lan đó cũng ngộ, bài gì nó cũng biết, giọng cứ như là suối reo, lúc réo rắt, lúc dồn dập, lúc lại lơi lả… đến tài.

Mẹ tôi nghe nó hát một lần thì mê tít, đồn ầm cả xóm. Từ đầu trên xóm dưới ai cũng thỏa thuận là con Lan hát hay. Có người còn dự báo trước sau gì nó cũng sẽ thành ca sĩ, hát trên truyền hình. Thế là nó đi thi hát cho trường xã, trường huyện. Thi đâu đậu đó. Có giấy khen hẳn hoi. Nghĩ cũng vinh cho cả nhóm. Vinh cho cả làng. Hỏi ai, hỏi con Lan tiếng hát măng non phải không? Nó là bạn thân của bọn mình chứ đâu! Thế đấy. Cũng kiêu kỳ chứ thua kém gì. Nếu nó có nổi tiếng thì nó cũng là con Lan, nó là con Lan bạn mình chứ ai.

Thế rồi cả bọn tụ lại tập bài hát mới, tập làm sao thành tủ thì thôi. Đời mà, làm cái gì cũng phải phong phú chứ. Cái bài "Bụi phấn" hát nhẵn đi rồi. Thi xã "Bụi phấn", thi huyện cũng "Bụi phấn", đến mà ngộ độc vì bụi. Thằng Phong nhỉ dạo này cũng lên tay, có thể giựt disco, slow rock… le lói tiềm năng lắm. Nó được thằng kiêu ngạo dưới thị xã chỉ cho vài chiêu nhạc lý nên sáng ra. Tập được cả bài Hương thầm theo đúng bài bản. Ngày nào cũng "Khung cửa sổ, hai nhà cuối phố…". Chẳng hiểu cái ông nhạc sĩ, ổng ăn cái gì mà viết hay quá! Đi đâu cũng khung cửa sổ, ngồi rảnh một chút là khung cửa sổ

Con Lan từ dạo hát bài "Khung cửa sổ…" thì nổi tiếng, thầy cô khen nức nở, vào ra là giọng ca vàng của trường tôi đó nghe. Vừa học giỏi, lại vừa hát hay. Sinh hoạt lớp bao giờ cũng có một tiết mục nho nhỏ trước khi vào việc. Thằng Phong nhỉ cũng lên từ dạo ấy, vênh lắm. Thứ bảy nào cũng xách kè kè cây đàn. Đời tôi chỉ có cây đàn.

Thế rồi chuyện gì đến cũng sẽ đến, trường tôi lập ban văn nghệ lấy tên là "Mầm xanh". Cái đám thị xã túa vào nhưng giọng ca thì thua đứt con Lan. Nài nỉ lắm, cô chủ nhiệm mới cho tôi vào đội trống. Cái gì chứ ba cái vụ đánh đánh chặt chặt tôi có thừa sức khỏe. Cũng nhờ một quá khứ xèng xèng gảy đàn, tôi mới phát hiện mình cũng có năng khiếu về âm nhạc. Năng khiếu chẳng qua là đặt đúng chỗ thôi. Cái ước muốn ca sĩ cũng phần nào nguôi ngoại trong tôi.

Bây giờ ấy à, tôi nghe nhạc bằng những phách mạnh không à! Thỉnh thoảng lại đan xen bằng nhịp chỏi. Thằng nào đang run rẩy nghe tôi đập trống thì tức khắc sung[5] lên ngay, hát một bài là y như rằng nhỏ nhẹ xin hát tiếp.

Cả xã có cái gì giải trí đâu, nên mấy cái trò văn nghệ văn gừng xem như số một, và bọn tôi cũng thơm lây. Trường liên tục tổ chức những đêm văn nghệ. Rồi cắm trại hè, tổ chức đêm hái hoa dân chủ. Tôi học thêm mấy món ảo thuật từ một thằng dưới thị xã nhưng… thật thà. Mấy thằng dưới thị xã không thật thà, còn lâu chúng chỉ cho tôi. Chúng khư khư ấy chứ. Nhờ mấy vụ ảo thuật mà tôi cũng nổi tiếng không thua gì con Lan. Nhưng mà cũng khổ nỗi, biến khăn tay thành ly nước, biến cây chổi thành bông hồng, rồi biến quân bài thành con gà… diễn mãi cũng đâm chán. Lại cực nhọc. Nhất là con gà "đạo cụ". Nhiều lúc nhét nó vào trong ngăn giả quá mạnh tay thì y như rằng nó bỏ ăn cả tuần. Bởi con gà là con gà, nó được sinh ra đâu phải để biến thành bông hồng. Chưa kể khi diễn xong, tôi phải nhét nó vào một bụi rậm nào đó, chờ xong mọi việc mới đem về. Chúng nó mà biết ấy à, nó chôm mất thì xem như phí đời. Tôi có vận dụng 12 thần công lực cũng không biến bông hồng ra nó nổi.

Tôi còn nhớ có lần khi lên sân khấu, vừa mới cầm cây chổi là đã nghe bọn chúng bên dưới gào lên: "Thành con gà chứ gì". Thật là… hết cả hứng thú!

Những buổi chiều, tôi hay ngồi một mình suy tư làm cách nào để nghĩ ra những trò mới. Tôi muốn làm một cú kinh thiên động địa. Nhưng nghĩ mãi chẳng cách gì ra được. Từ đó, tôi không bao giờ tham gia ảo thuật nữa, tôi thề.

Cũng may dạo ấy đã qua mùa hội diễn nên tạm thời nguôi ngoai phần nào. Tôi lại chuyển sang chăm sóc mấy cây hoa trước cổng sau những giờ học hành căng thẳng. Tôi đã bắt đầu yêu hoa. Chẳng hiểu vì cái quái gì. Dạo trước tôi nhớ mình không thích cho lắm. Nhưng mặc, sở thích ấy mà. Tôi hay mường tượng cảnh về già, mình sẽ trồng hoa để tiêu khiển, hưởng thú điền viên. Thì cũng giống nội tôi thôi, có bao giờ yêu hoa đâu, thế mà hai năm nay cũng nức nở xuýt xoa mỗi khi cây ngọc lan thoảng hương. Tôi và nội ngày ngày ra chăm bón, bắt sâu. Vườn hoa bỗng chốc rực rỡ một cách kỳ lạ. Mỗi bông hoa như một nụ cười trên cái nền màu sắc, trên cái nền của dậy hương. Chúng là gì, tôi không hiểu nổi, nhưng từ chúng, những niềm rung cảm mới cứ lan tỏa dần đến choáng ngợp.

Tôi bỗng nhận ra một điều rằng, khi tặng ai đó một đóa hoa thì cũng có nghĩa như vừa mang đến cho họ một cái nhìn tươi đẹp nhất. Một cái nhìn bằng màu.

Thỉnh thoảng bọn con gái trong lớp hay chạy đến nhà tôi, xin giống cây này, xin giống cây kia, có cả bọn con gái kiêu kỳ dưới thị trấn. Chúng cười và bảo: "Xin chào nhà ảo thuật!". Chúng gợi nhắc đến cái ước mơ thầm kín của tôi. Nhưng đôi lúc tôi lại nghĩ ngợi, một vườn hoa chẳng phải là một cú phù phép vĩ đại đó sao. Nó lớn hơn cả những trò vặt vãnh mà tôi đã làm. Bởi đơn giản rằng, khi tôi đem tặng một bông hoa thì cũng đồng nghĩa tôi đang làm lớn thêm cho một tâm hồn bằng phép màu dung dị đó.

Tết này nghe đâu trường tổ chức văn nghệ. Bọn thị trấn chơi xôm lắm, chúng lòe có cả biểu diễn thời trang. Thế là tôi quyết định bán phứt con gà "đạo cụ" để chạy xuống thị trấn tậu cho bằng được cuốn ảo thuật vừa mới ra lò. Trong đó có trò rùng rợn nhất là "mổ trái tim lấy ra bông hồng". Với cái trò này thì xem như mất toi mấy chục bông hồng đẹp nhất của nội. Nhưng thử tưởng tượng mà xem, từ trái tim này, một rừng bông hồng đã được sinh ra. Một trái tim chứa đầy bông hồng nó sẽ nói hộ cho những điều mà tôi muốn nói. Nhưng tôi muốn nói với ai đây? Thôi thì xem như tôi nói với… người đời. Trong những người đời có láng giềng tôi…

Trầu không

Chiều 30 đi nhẹ ra vườn, hỏi giàn trầu chợt nhớ câu hát thuở nhỏ. "Trầu trầu trầu, mày ngủ ở đâu…". Trầu không ba lá, ngắt lá cuối, ngoại dặn. Khi hái phải biết cưng như trứng mỏng, tưới bằng vòi sen. Đúng là người già. Hái lá này, mến lá kia. Một đời ngoại, muốn ăn hết chục vạn lá trầu có được đâu. Cái món thanh cao này rồi cũng chẳng còn.

Mẹ chuẩn bị làm lễ đóng giếng, nhấp nhỏm: "Đứa nào chưa tắm thì tắm đi. Nếu không, sang năm mới được tắm đấy". Tục lệ ông bà mình vậy, thương từ cái vạt thương ra; cái giếng cũng phải có ngày yên tĩnh nên phong thần. Thần giếng. Mẹ nói người xưa làm sao thì mẹ làm vậy.

Năm nào cũng thế, mẹ nuôi con heo chờ 29 tết anh Hai về làm thịt. Anh đi làm xa, phong trần lắm. Mặt đen, râu rậm. Mổ heo, áo phanh ngực như tráng sĩ, nhìn cứ thấy mến mến, lại xa xa. Ngoại nói, đàn ông càng già càng mọc vảy mọc vây, vẫy vùng như hổ báo. Đêm chạm tay vào người anh thấy rắn như đanh, chắc vảy mọc cũng nhiều nhiều. Anh nói: "Nếu sống tới trăm tuổi thì tao sẽ mổ được tám chục con heo cho chúng mày ăn". Hy vọng sáu chục con đã là quá sức rồi. Mẹ đi ngang không dám nhìn vào, nuôi nó lành thịt lành da nên mến, nhìn không nỡ.

Năm nay, con heo cứ còi còi, đứng xa nhìn ngỡ con… chó. Anh Hai diễn trò "lương sơn bạc" với dao phay một đường quyền, thật ghê rợn nhưng cũng hấp dẫn. "Bắc nồi cháo lên thì vừa" – anh nói. Mẹ ra vườn với mâm chè xôi. Hình như mẹ gặp cái gì cũng cúng: cúng bốn phương, cúng đất đai, cúng hoa màu, cúng giếng; trước đó thì cúng ruộng, cúng ông táo, cúng đình. Một đời, chắc mẹ lạy hơn ba vạn cái. Tưởng nói nhỏ nhau nghe, hóa ra mẹ nghe thật, mắng: "Chúng mày cứ hiện đại cho lắm vào rồi không biết đến tổ tiên gì". Ngoại chỉ chờ có thế, tiếp: "Ừ, phải đó, mai anh em chúng mày lên chùa cho tao". Không đi ngoại giận, khi giận thì quay vào vách, không nói năng, lại còn tuyệt thực, sợ lắm. Ngoại cứ lấy thân thể mình ra như một thứ vũ khí đạn dược, ai mà chẳng sợ. Mẹ cũng vậy. "Khi nào già sẽ học cách của ngoại" – mẹ nói. Mẹ mà già gì, tóc đen nhánh, mắt đen nhánh, nhìn nét lắm! Mẹ cười kiểu xưa xưa, dạng nép dưới hoa dưới nhụy, bây giờ chẳng còn. "Con gái ngày nay, cười hô hố, ghê lắm ngoại ơi!". Ngoại gật gù, mỏng mảnh: "Ừ, phải đấy!". Nhìn cái dáng lơ thơ tơ liễu của ngoại, chợt phì cười. Cái dáng này mà tuyệt thực thì…

Đóng cửa giếng rồi nhé, đứa nào xách nước là mẹ chặt tay. Mẹ phán một câu xanh dờn nhưng mặt thì cứ tươi như thiếu nữ. Trên bếp, nồi thịt kho hả cái họng no tròn, nghi ngút khói. Một năm hả họng được ba ngày Tết rồi cất vào trong chạn. Những chén kiểu xa xưa, mẹ lôi ra chùi. Khéo, cẩn thận, bể thì ngoại giận, quay vào vách thì coi như toi ba ngày xuân. Ăn bằng cái thứ "tinh túy" đó chẳng sang thêm được bao nhiêu, chỉ thêm mệt. Nhưng ngoại bắt phải lấy ra, xuân mà. Ông ngoại chúng mày có được ăn bằng chén kiểu bao giờ đâu. Chân tay ông cứ thô vụng, lóng ngóng. Cầm cái gì thì cái đó phải nặng, không thì vuột. Ngoại sắm cho ông cái tô đất dày, thế là vĩnh cửu. Thật tội! Một đời ăn sóng nằm gió, chém cây cây ngã, lên núi núi bằng, vậy mà về già cũng biết trồng hoa hồng, hưởng cái thú tiêu diêu, phong lưu lắm.

Năm giờ chiều, cúng tất niên, mẹ nói, năm nay khởi hành hướng bắc thì thượng kiết. Phúc, lộc, thọ mẹ rước về trên tờ giấy to. Tự tay dán lên vách kỹ càng, rách thì xui, ba cái thứ đó không vào nhà coi như vô phước.

Tôi ra vườn thăm hỏi lá trầu, chờ ngoại ra bôi vôi. Giao thừa thì hái lá làm lộc. Trầu vàng cánh mỏng áp lên mặt vừa mát vừa thơm. Ăn một miếng tươi thì cay nồng lên mũi. Những năm trước, khi còn khỏe, ngoại thường gánh trầu ra chợ, cứ một liễn 20 lá chụm đầu cột bằng dây chuối tươi. Bán trầu thì ít mà thương cái hương vị thì nhiều. Sau này, đến phiên mẹ, nuôi một đàn con lớn lên cũng ăn nhờ từ trầu. Mẹ bắc thang chót vót lên cao, lia từng lá, thả rơi cho nằm xanh gốc, rồi gom lại phân loại lớn nhỏ, trầu mặt, trầu ruột, trầu dôi, lụm cụm cả đêm. Cái không khí u buồn đèn dầu, cái lọ mọ đêm khuya đếm nhặt từng lá mới thương làm sao. Sáng, một gánh nhẹ tênh ra chợ chẳng hề nghĩ ngợi gì. Tôi lần theo vết mẹ trong mịt mù ký ức để rồi tự hỏi: những lá trầu ngày xưa đâu rồi? Anh chị em tôi vô phước mỗi người ngậm một lá để rồi lớn lên không quên được nữa. Kẻ đi người ở, riêng mẹ vẫn vậy. Tóc búi củ hành rồi đến củ tỏi, thưa dần…

Chiều 30 Tết, mẹ gánh về một xấp vàng mã, xếp lên bàn thờ. Đây là vải hoa sọc điều mẹ sắm cho tổ tiên, cũng là sắm cho tấm lòng mình. Buổi tối, hóa vàng trong cái chậu sứ, khói nghi ngút bay.

Năm đó, anh Hai đem về xấp lụa. Mẹ chạm tay vào xuýt xoa. Thời con gái, mẹ cũng có một xấp như vậy vào ngày cưới, cắt may phải lên tận chợ huyện, mắc gấp mấy cũng phải bấm bụng, sợ mấy ông thợ vườn làm hỏng. Một lần mặc áo lụa thì nhớ một đời, nhớ đến già, đến chết, quên gì được. Xong ngày cưới, cất mãi, cất mãi… cho đến lúc rỗi việc đồng áng, mở ra xem thì ôi thôi, mối mọt cắn lỗ chỗ. Lọ mọ cả đêm chằm lại rồi cất, như giấu kín đi cái dĩ vãng lụa là một lần của mình.

Tấm lụa anh Hai đem về cũng chung một phận. Mẹ già rồi, bận lụa làm gì nữa, phí đi. Để chừa cho con Ba, xem như món quà để kiếm tấm chồng. Vả lại mẹ cũng chẳng có thói quen đó. Ngày thường nâu sồng vá víu, bỗng khoác lụa vào người nó ngượng ngập, nó nhí nhảnh se sua một cách kỳ cục, khó coi, không được. Nhưng mẹ vui lắm. Lụa của con trai mình mà. Cái mặt giang hồ vậy chứ cũng tình cảm, biết thương mẹ, quý lắm…

Đêm 30 trịnh trọng trải chiếu hoa trên cái sân vuông. Trẻ con nằm bò trên đó được phát cho cái bánh, loại bánh cây nhà lá vườn ngọt ngắt, màu lòe loẹt. Thế cũng là hoa tay lắm rồi. Còn cốm thì được đóng hộc từ ba hôm trước, vuông vắn phẳng phiu, nơ tua đầy đủ. Một hộc cốm là một hộc nghĩa tình làng xóm từ khâu lượm vỏ trấu, thắng đường, phụ giúp nhau.

Giao thừa, mẹ vấn khăn đi chùa, dáng mỏng. Hai anh em theo sau. Vì là ngày xuân nên đi khẽ lắm, khoan thai, chẳng vội vàng gì. Lại biết chúc tụng những lời ngọt ngào. Hai anh em nhớ vào lạy Phật nghe chưa, cầu ngoại sống trăm tuổi. Trăm năm thì hiếm, bảy mươi thôi, đủ vừa. Ngoại ở nhà đã nói rồi. Mà có phải bảy mươi đâu, năm mươi sáu tuổi, ông ngoại đã mất, mặt già choắt, đầy rẫy nếp nhăn. Sống đến bảy mươi chắc cả nhà chẳng ai nhận ra. May mà cuối đời biết trồng hoa hồng, lãng mạn. Thiệt là…

Trong chùa, khói bảng lảng sương. Lại lệ mệ bày lên bàn thiên mấy liễn trầu cúng đường của ngoại. Một năm, ngoại cúng một lần vào tối 30 nên trầu ngon lắm. Năm đó ngoại yếu, không đi chùa được nữa, mẹ phải đem thay và khấn lời của ngoại. Một đời sáu mươi tuổi, ngoại đi chùa hết bốn mươi năm nên quen hết, không sợ một ông Phật nào. Tôi đi lần đầu, sợ run. Tôi sợ cái vẻ trang nghiêm kia. Mới hay, sự im lặng cũng là một quyền lực tối thượng.

Còn tôi, cái kẻ ôm đồm, lộn xộn lại mơ mộng nhiều. Tôi tưởng rằng trái tim tôi có sức chứa vĩ đại, tôi chứa quê nhà, những người thân yêu và cuộc đời tôi. Tôi còn dành một phần cho những lá trầu. Tôi đã hứa với ngoại một cách văng mạng rằng, sáu mươi tuổi tôi sẽ ăn trầu như ngoại, tôi ăn và tôi nhớ về ngoại đã từng như tôi. Tôi sẽ trồng một vườn trầu, rồi nhân nó lên thành vô hạn, mà mỗi nhánh mỗi gốc rễ vươn ra từ cái thân trầu của ngoại từ bốn mươi năm trước.

Năm nay, 30 Tết, tôi ra vườn và hổ thẹn mà đánh thức một gốc trầu không còn. Còn chăng chỉ là câu hát rồ dại ấu thơ tỏa bóng trong tôi:

Trầu trầu trầu trầu

mày ngủ ở đâu

gọi bà tao với…

Mùa thu trên ngón tay

1.

Trong buổi dã ngoại miền biển họp mặt đầu năm học, Hạnh đã kể về một vở kịch trong đó cô vừa là tác giả, đạo diễn lẫn diễn viên chính: "Một cô gái xinh đẹp được các chàng trai trong lớp cảm mến. Trong các chàng trai lại có một chàng trai cảm mến nhiều hơn cả, có biệt tài đan nhẫn cỏ và đính lên nó những bông hoa tuyệt đẹp như những viên kim cương. Anh nhút nhát nhưng là kẻ biết trân trọng những tình cảm vu vơ của tuổi học trò. Những người bạn trai biết được nên tạo cơ hội bằng cách bảo cô bé nhắm mắt lại và anh đeo chiếc nhẫn cỏ vào tay cô. Trò chơi này cứ diễn đi diễn lại nhiều lần cho đến khi cô bước vào đại học mới giật mình tự hỏi ai đã đeo cho cô chiếc nhẫn tuyệt đẹp đó. Cô giật mình cũng phải thôi, cơ hội để có những chiếc nhẫn đã không còn. Trong liên hoan chia tay cuối năm, cô rụt rè hỏi mọi người về người bạn mà cô đã đối xử một cách vô tình. Đổi lại, cô nhận được câu hỏi tại sao cô không hé mắt? Khi tặng chiếc nhẫn cỏ, tác giả của nó mong cô hé mắt biết bao nhiêu. Vở kịch đã đóng lại trong sự tiếc nuối vô hạn…".

Cả lớp vỗ tay tán thưởng và đồng lòng bình bầu người kể chuyện duyên dáng nhất là Hạnh. Thằng Toàn nói: "Chúa ơi! Tại sao hồi nào tới giờ tôi không tặng cho Hạnh một món quà như vậy nhỉ?" Chúng tôi cười ồ lên. Con Hoa nói:

- Tao nghĩ cái thằng nhút nhát kia hơi cù lần. Nếu tao là nó, tao sẽ banh mắt con nhỏ kia ra. Tao còn… móc mắt nó ra nữa là khác.

- Nhưng nếu thế, hết chuyện còn gì? – Một người lên tiếng – Cậu phải nhớ, trong tình yêu phải có cao trào, thế mới đẹp, mới đáng yêu, nhưng nếu con nhỏ kia… mở mắt thì sao nhỉ?

- Eo ôi – Bọn con gái hét lớn – Chúng nó sẽ yêu nhau mất. Còn gì là tuổi học trò.

- Tao kịch liệt phản đối chuyện mở mắt…

- Tao cũng vậy!

Cuối cùng chúng tôi đi đến kết luận: nhắm mắt là hợp lý hơn cả. Khi nhắm mắt, chúng ta vẫn giữ được… tình bạn cao cả và trong sáng.

2.

Chiều quét nhẹ trên biển một vết son dài. Mọi người tụm năm tụm ba thành từng nhóm riêng ngắm mặt trời lặn. Thằng Toàn ôm đàn hát, lâu lâu ngả sang giọng anh Lam Trường, lâu lâu "độn" thêm giọng chị Phương Thanh, nghe thật kỳ quái. Ngồi mãi một hồi, cuồng chân, tôi đi dọc theo biển, sóng vỗ cồn cào. Hạnh chạy theo, giọng trong vắt và âm ấm: "Chờ Hạnh với!". Tôi định nói tại sao Hạnh lại kể câu chuyện đó, có phải Hạnh muốn tất cả chúng tôi cần phải nhắm mắt lại? Nhưng cuối cùng, tôi chỉ nói một câu quá ư… lãng mạn: "Biển đẹp quá!" Đi dạo trên bờ biển, Hạnh tiết lộ cho tôi biết người chị của cô chính là cô gái trong vở kịch. Hạnh dựa vào đó, viết nên.

- Nhưng đó không phải là sự thật – Hạnh nói – Chị ấy luôn biết ai đã tặng quà cho mình.

- Thật à? Chuyện đó xảy ra như thế nào?

- Cái anh chàng đó, Hạnh vẫn còn nhớ. Anh ta đến nhà hai lần, lần nào đến cũng ngồi yên rồi về. Hết trung học, anh đăng ký đi bộ đội, sang Campuchia.

- Thế anh ấy có biết, chị của Hạnh biết anh ta không?

- Cũng không biết nữa. Có lẽ anh ta không hay chuyện này. Hôm ra đi, anh ta có tặng cho chị Hạnh quyển sổ, dặn nhớ viết thư. Nhưng rồi anh ta bặt tin. Rồi giấy báo tử gởi về nhà. Hồi đó Hạnh còn nhỏ. Hạnh chỉ nhớ anh ta có một đôi mắt sáng, trán cao và tất cả con người anh ta toát lên vẻ hiền hậu. Bốn năm sau, người ta mới hay tin anh ta còn sống và trở về nhà. Anh bị một vết thương nặng trên trán. Anh không còn biết gì về mình. Một đơn vị đã nhặt được anh ở cánh rừng…

- Anh ta mất trí à?

- Cũng gần như vậy. Những năm tháng sau này, anh vẫn ngồi đan những chiếc nhẫn cỏ nhưng hoàn toàn không nhận ra người ngày xưa anh từng trao tặng…

3.

Mặt trời đã lặn. Chúng tôi quay về trại. Thằng Toàn đang hát một bài buồn và mọi người ngồi im nghe. Tự dưng tôi thấy một nỗi sợ hãi lạ lùng khi chợt nhìn những người trẻ tuổi im lặng, như thể sự im lặng không dành cho họ. Những giây phút như vậy như có một lứa tuổi khác đang nằm bên dưới khuôn mặt đó, cử chỉ đó. Họ đang suy nghĩ điều gì? Chỉ còn năm nay, chúng tôi sẽ ra trường, mỗi người sẽ kiếm một thế giới riêng cho mình. Tức là chúng tôi sẽ làm những phép cộng. Tôi cộng cuộc sống vào đời tôi, một đời sống thực thụ chứ không mơ mộng ở giảng đường. Đồng thời, tôi cũng làm những phép trừ. Tôi trừ thằng Toàn vì nó về Hà Nội. Tôi trừ con bé Lan vì nó về Đắc Lắc. Tôi trừ thằng Tí, thằng Dũng vì tụi nó về Cần Thơ. Tôi trừ hết, chỉ còn mình tôi ở lại Sài Gòn. Những cuộc gặp gỡ cộng và trừ đã để lại trong tôi những nỗi buồn quay quắt. Thằng Toàn lại hát: "Tôi như con kiến xanh trên giậu bìm leo, một hôm hỏi giếng sâu bầu trời như thế nào. Tôi như giấc mơ riêng lạc vào cơn gió hỏi đường về trên nếp mắt. Thế nào là một ngày thức dậy?… Bây giờ là mùa đông rồi nên thu sau đứng đợi trong lớp vỏ rêu khô. Bây giờ là mùa thu rồi…". Thằng Hoàng la lên: "Thôi đừng hát nữa, tao sợ cái kiểu như vầy lắm!" Rồi như lỡ lời, nó bỏ ra biển. Đôi vai to rộng của một người lớn lên từ vườn ruộng nhô lên trên đốm sáng sót lại từ bầu trời lù mù. Không ai nói gì, tôi lặng lẽ đi theo nó. Dọc theo mép nước, thằng Hoàng hai chân thả xuôi, hai tay chống ra sau như một xác chết trôi. Tôi ngồi xu! ống bên cạnh nó và im lặng. Tôi chờ nó nói trước nhưng cuối cùng tôi phải lên tiếng:

- Sao vậy?

- Chẳng sao cả!

- Thế sao mày lại gắt gỏng?

- Thế mày bảo tao phải làm thế nào? Chẳng có gì vui. Ngày mai tao về quê.

- Tao không hiểu. Mày nói lại coi!

- Tao bỏ học.

- Là sao?

- Vẫn là tiền thôi. Tao rất tiếc, nhưng hết cách rồi. Nhà tao ở quê đã cạn tiền. Hôm nay tao vào đây là để chia tay lớp mình. Nhưng đừng cho ai biết trước khi tao đi. Tao sợ những cuộc chia tay bịn rịn, phiền lắm.

- Tao biết lòng mày hơi yếu nhưng chẳng sao – Tôi nói – Khóc một lần cũng chẳng chết. Không ai có nhiều chuyện buồn để mà khóc hoài.

- Thôi! Không cần đâu. Khi tao đi, mày nói với nhỏ Hạnh, tao giống như cái thằng trong vở kịch đó – Giọng Hoàng nhỏ hẳn.

4.

 "Mùa thu đã vắt kiệt trong tôi bằng tiếng ve cuối. Bằng những cơn gió mà tôi không hiểu từ đâu thổi. Bằng cái nắm tay vội vã trong từng ngón tay. Và bằng cái nhìn sau lưng ấm áp…".

Tôi không ngủ được, trở dậy bảo thằng Toàn:

- Mày ngừng hát, được không? Tự dưng tao thấy ngột ngạt quá. Cả buồn nữa. Chắc tại chuyện thằng Hoàng. Ngày mai nó về cuốc đất rồi kìa. Nó bỏ học, hiểu chưa?

Tôi và thằng Toàn bỗng dưng lặng phắc.

Trong bóng tối, thằng Hoàng khóc. Đầu tiên tôi không nhận ra điều này. Sau, vai nó run dần bên cánh tay của tôi từng đợt khẽ khẽ, nhỏ nhỏ, ngượng ngập. Nó nghiêng người sang hướng khác để khỏi chạm vào tôi. Tôi tưởng tượng ra hình ảnh của nó trong bóng tối. Một thằng sinh viên vạm vỡ, khỏe mạnh, mặt ngầu, tính bộc trực mà cũng có thể khóc. Tôi lại hình dung đến điều nó khóc rồi tự bào chữa. Quê nó ruộng đất thênh thang, chỉ thiếu người làm. Nó chỉ cần làm tốt một đám ruộng là đủ nuôi mẹ, chỉ cần thêm một đám nữa là đủ nuôi vợ, thêm một đám nữa, nuôi con. Thế là sống nhàn, sống khỏe. Khóc làm quái gì! Tôi nghĩ miên man rồi ngủ thiếp đi lúc nào không hay. Biển đêm sóng vỗ thật dữ dội, nó gào thét từ phía mạn Bắc như một cái loa phóng thanh. Hơi nước phả vào trong lều lạnh ngắt khiến tôi giật mình thức dậy. Ai bảo trong mơ không có tiếng sóng. Sóng phủ người tôi như một mẻ lưới ngon, từ đầu đến chân người tôi vẩy trắng. Đã 3 giờ sáng. Tôi chồm dậy. Thằng Hoàng đã biến mất. Chỗ nằm vẫn còn ấm chứng tỏ nó vừa ra đi – một cuộc ra đi sớm để tránh cái nhìn bịn rịn của bạn bè, để tránh một nỗi buồn dễ chạm phải. Tôi vụt chạy ra biển. Biển vắng tanh. Tôi chưa kịp khuyên Hoàng điều gì, thật vô tâm! Những giọt nước mắt trong đêm của nó khiến tôi ân hận. Dọc theo bờ biển, tôi đi miết, vừa đi vừa nghĩ ngợi, vừa nghe tiếng sóng. 5 giờ sáng, tôi mới gặp Hoàng nằm vắt vẻo trên bờ cát và ngủ. Tôi ngồi bên nó im lặng ngắm mặt trời mọc, bàng hoàng vì một dáng vẻ thanh bình. Ánh sáng mới sinh trên mặt biển yếu ớt nh�! � những sợi tơ lấp lóa đỏ hồng. Thằng Hoàng cựa mình ngồi dậy. Nó nói:

- Mọi người về hết rồi à?

- Không, tụi nó còn đang ngủ mơ. Tao thức là vì cứ "ám ảnh" bởi ai đó len lén bỏ đi khi mọi người đang ngủ. Ra đi… mãi mãi! Thật là tiểu thuyết! Cuối năm nay, nhất định phải bắt nhỏ Hạnh dựng vở kịch bi đát, thêm vào chi tiết "ra đi" này.

- Mày chưa nói với Hạnh chuyện tao về quê chứ?

- Tất nhiên là chưa. Vẫn trong vòng bí mật. Nhưng tao tiết lộ cho mày một điều, vở kịch hoàn toàn không phải như vậy.

- Nghĩa là…?

- Cô gái vẫn nhắm mắt. Nhưng điều đó không có nghĩa là cô không biết ai đã đặt chiếc nhẫn cỏ vào tay cô. Trong tâm hồn mỗi con người đều có một con mắt. Chúng mở suốt ngày đêm và âm thầm thông báo.

Thằng Hoàng đứng dậy:

- Thôi, đừng nói lung tung. Tụi mình về đi!

- Về đâu?

- Về chỗ trại, chứ về đâu?

- Làm gì – tôi cảm thấy nhẹ nhõm.

- Chẳng làm gì cả. Tao chỉ ngồi chờ nhỏ Hạnh ngủ dậy, vậy thôi.

- Rồi mày sẽ nói gì? Chẳng lẽ bảo đây, kem đánh răng đây, bàn chải đây, em hãy đánh răng đi! Đánh răng xong chúng mình sẽ nói chuyện "bóng gió".

- Vớ vẩn! Về! – Hoàng bỏ đi trước.

Những sợi tơ màu hồng trên biển không còn nữa. Chúng trở nên rực rỡ và lém lỉnh. Ước muốn chờ nàng dậy đã không thực hiện vì mọi người đã dậy rồi. Khuôn mặt Hoàng có vẻ hồng hào. Nó phụ chúng tôi thu dọn lên đường trở về thành phố. Chẳng có cuộc chia tay lâm li nào xảy ra. Cũng chẳng có chiếc nhẫn nào được trao. Không phải tương lai chỉ có một con đường nên cũng chẳng cần nhỏ giọt nước mắt nào cho một lộ trình ngoài dự định. Tôi nói lúc chia tay Hoàng:

- Mày sẽ quay lại trường?

- Tao sẽ quay lại – Hoàng nói – Nhất định phải học.

- Mày còn cả một "tương lai" rực rỡ trong lớp nữa đó – tôi dặn thêm.

- Ừ, tao biết – Hoàng ghé tai tôi. Hy vọng nó đừng mở mắt. Nếu nó mở mắt, tao không biết phải làm gì…

- Thì lúc đó mày… nhắm mắt lại!

Hoàng cười phá lên:

- Cha mày! Nhưng tao thích nó nhắm mắt kia. Khi nhắm mắt, nhìn "đê mê điên dại" lắm.

Chúng tôi lên xe về thành phố, về với trường đại học. Thiếu thằng Hoàng, Toàn ôm đàn hát:

"Để cụ thể bầu trời, những đám mây mọc ra từ phía cuối. Để cụ thể con đường, những hàng cây xanh ngắt mới chen. Để cụ thể yêu em, ta không cần phải làm gì nhọc sức hơn một vì sao. Thở dài và chớp tắt. Để cụ thể hôm nay, tôi đạp xe suốt những ngày dài cùng mơ mộng thầm kín. Tôi tạm hiểu một ngày như những vòm cây vừa chia đôi. Nửa cho tôi và nửa cho những niềm hy vọng…"

9-2001

Ánh sáng trong đêm cồn cát

Huyện nghèo. Trẻ con nhếch nhác. Người lớn oằn lưng dưới gánh thóc tươi. Mùa hè nắng cháy, không nói gì. Mùa đông vẫn nắng, khô, lạnh và gió. Cứ một mùa gió, cát dời lên đồi như từng mảng da bị bóc lớp. Cát không chảy xuôi, ai bảo thế là sai, cát chảy ngược. Qua mùa gió, đàn bà moi cát ra khỏi nhà như xua đuổi lũ ma tà ám chướng. Đàn ông gánh lúa bên kia đồi về bóng đổ dưới chân một khoảnh sâu sâu như lún xuống dưới lớp cát mặt. Bóng đổ nhưng không mát là vậy. Nhưng dù sao, ngoài bóng mình chẳng có nơi nào mát bằng trong trùng trùng ngút trắng này.

Huyện nghèo nhưng không nghèo nghĩa tình, cấp cho cái giường tre, một cái gối và chẳng cần mền. Ở đây, ngày và đêm hầm hập. Một con gà lơ đễnh có thể cháy thui như được vùi trong tro nóng. Huyện lại "cấp thêm" cô Hai, ngày ngày gánh cho một "cặp" nước. Thầy giáo mà! Ở đây cần và quý lắm. Chả ma nào về. Kẻ liều, về được dăm hôm, biến toi. Thử thách lòng kiên nhẫn bằng cái nắng, là vậy. Thôi thì hy vọng, vài ba tháng thầy mới nản chí, cũng là tốt rồi. Trẻ con học được vài ba chữ cho mát cái thân, cũng là cách trốn nắng.

Tôi ở hai ngày thì rộp da. Mặt mốc trắng như bạch tạng. Cô Hai cho cái khăn, quàng lên như thiếu nữ. Ráng đi thầy! Câu nói đó được nói đi nói lại với nhiều người khác, trước tôi. Và bây giờ, lại nói tiếp. Trẻ con ở đây, học mười chỉ biết một. Vẫn chưa đủ, vài ba tháng không học thì quên tuốt. Nhìn đâu đâu cũng thấy cát, không thấy chữ. Đêm sâu trên đồi lại có gió, thì cứ ngỡ như cát trôi dưới chân mình. Căn nhà ọp ẹp thở hắt phà cái mồm lửa qua một ngày nắng xói cứ hầm hập nóng. Trẻ con ngồi hai hàng, đã là kỳ công vận động đến gãy lưỡi. Học đi, ráng học cho mát thân. Cô Hà đêm nào cũng nhai nhải cái điệu ru buồn vào tai lũ trẻ, cái điệu ru mà cô chả khi nào ru được mình. Cô thất học, nếu học được thì cũng đã mát cái thân rồi. Nhưng đêm nào khi bọn trẻ tụ họp, cô cũng lõm bõm ê a theo để làm gương. Cô thì gương gì, chỉ là ráng khuyến khích cho chúng khỏi buồn ngủ, cháu đừng cười. Chẳng ai cười cô. Tuổi 20, tôi tưởng mình lớn hóa ra dễ xúc động những chuyện như vậy. Cứ mui mủi trong lòng. Đêm không ngủ được vì nửa thương ở đây, nửa nhớ nhà. Ở quê xa, giờ này mẹ tôi đang ngồi dưới ánh đèn sáng dịu đọc tiểu thuyết châu Phi. Rồi mẹ chua xót, ôi cái miền đất sao mà cằn khô đến vậy!

Lèo tèo dăm hôm đầu rồi lớp cũng đông dần. Ông chủ tịch xã phát cho cái roi, nói đứa nào lì, thầy cứ đánh thẳng tay cho tôi. Đừng ngại ngần gì cả! Đánh mạnh thì chúng mới nhớ, cơ hội mở mang cái trí tuệ ở vùng này không nhiều đâu. Cái roi được treo lên vách như một thứ quyền lực của tri thức. Sĩ số lớp lên đến con số 29 thì dừng lại. Thằng bé số 29 mắt đen tròn và cứng đầu. Vậy mà, đêm nào cũng vậy, cứ trần truồng trùng trục ngủ khoanh một khoanh dưới cánh tay tôi. Con chẳng thích về nhà, ở với thầy thích hơn. Bà mẹ không la một tiếng, còn rối rít cám ơn, vừa cám ơn thầy vừa cám ơn con mình. Giỏi lắm! Biết quí thầy thì sẽ biết quí chữ. Chẳng mấy chốc mày sẽ làm ông giáo về dạy lại cái làng này. Xã sẽ làm cho mày một cái roi, oách nhé! Nghe vui vui. Bài học đầu tiên cho lũ trẻ là mỗi đứa tự kể về mẹ. Chẳng có giáo án nào soạn thế nhưng ngẫu hứng thì cứ việc làm. Thầy mà! Thầy là cha, mẹ, tiên, phật… như lời cô Hai. Cả lớp kể xong chỉ có một thằng lầm lũi nhất định không nói. Hăm he hằm hè, cuối cùng nó mở miệng: con không có mẹ! Bố kể, mẹ con mặt hiền, tóc dài mướt. Mẹ con gánh nước giỏi lắm! Đứng bóng, đi một mạch qua đồi cát ông Chín không nóng chân. Tôi lạnh mình vì ý nghĩ vừa tra tấn thằng bé bằng một đòn quan tâm đê tiện. Cuối buổi học, thằng bé đứng khóc ti tỉ vì bị lũ bạn ghẹo cái trò "mẹ con gánh nước giỏi lắm". Ở đây, đàn bà nào cũng thạo chuyện đó, không riêng gì mẹ thằng bé. Học được ba hôm, xã chuyển xuống cho thầy cái ghế có chỗ dựa, ngồi cho êm lưng. Cũng là cách xã quan tâm đến th�! �y giáo, thầy không nhận, chúng tôi buồn, chúng tôi giận. Vào ra, một tiếng là thầy, hai tiếng là thầy, thật cảm động. Tôi viết thư cho mẹ: "Mẹ ơi, con chỉ định đi vài tháng gọi là cho vui lúc ra trường rồi về, nhưng bây giờ muốn về cũng không được. Chẳng đành lòng. Thương lắm". Mẹ thở dài. Chẳng biết tại sao, khi nhận thư, tôi cứ mường tượng ra mẹ đang làm cái gì đó – thở dài: "Ở đó có nóng như châu Phi không con?"

Đêm, cát dưới chân nhà lướt đi như sóng dậy, như tung hoành trong cõi không. Thằng bé khó ngủ, đổ mồ hôi hột. Mẹ con nói, gió như vầy là có rồng đi. Rồng không đi trên trời, rồng đi dưới chân, sau một đêm cát gần như lấp ngôi nhà ông Bảy dưới chân đồi. Ông là nhà giáo, nhà giáo già. Một đời tung hoành ở chỗ khác, cuối đời nghèo túng về làng, sức yếu, bệnh tật không giúp được gì bọn trẻ, uất ức, nhiều mặc cảm. "Khi tôi chết, cả làng này không được đưa tôi đi, cứ bỏ tôi ở đây cho cát vùi". Cái lý lẽ đòi được ở dưới chân đồi cát cũng vì vậy. Tôi hay ghé thăm thầy, bóp dầu cho cái chân già. "Giá tao đừng có cái chân này thì không có gì cuốn tao đi được" – Thầy nói, gần như khóc. Tôi im lặng. Buồn lắm. Cái làng này, nhiều người tài giỏi bỏ đi, không riêng gì thầy.

Thằng bé khó ngủ, đem bài ra đọc. Mẹ già như chuối chín cây… câu này tôi dạy riêng lớp, trừ thằng bé mất mẹ. Tôi sợ nó. Tôi sợ mình vô tình gợi nên một nỗi đau bên bờ cát trắng, cái nỗi đau đi qua một lèo không kịp nóng chân, bây giờ thì chẳng nóng được nữa rồi. Một hồi sau, thằng bé ngủ. Miệng há tròn như một chữ O. Tôi băng đường sang nhà thầy Bảy với nỗi lo vu vơ: gió quá, gió thế này không thể yên được rồi. Đến nơi, nhà thầy đông nghẹt người làng. Bên trong, tiếng thầy gào thét điên loạn. "Chúng mày thổi đi, thổi nữa đi, thổi như thế không thể chôn sống tao được". Tít tít trên cao, cát mù bay như mưa từng vốc. Cô Hai bảo tôi, cháu vào nói thầy Bảy đi, cả làng này, thầy nể cháu nhiều nhất. Tôi lẳng lặng vào nhà, xốc thầy lên vai rồi đi thẳng về làng. "Mày thả tao ra! Mày sợ tao chết à! Đáng lý tao phải chết trước khi về đây mới phải!".

Tôi cứ đi. Trên vai tôi là một người thầy. Tôi cũng đã từng có rất nhiều người thầy đi qua cuộc đời tôi, nhưng chưa hề một ai vật vã cho quá khứ xa xưa đến vậy. Tôi còn trẻ, quá khứ của tôi chẳng có gì nhiều, khiến tôi sợ. Tôi sợ một ngày nào đó, một sai phạm nào đó, chính tôi sẽ phải vật vã cho quá khứ của mình mà chẳng hề có một đồi cát nào để chôn. Tôi viết thư về cho mẹ, kể hết. Mẹ khóc. Mẹ khóc không phải vì thầy mà vì tôi. Mẹ sợ tôi không bao giờ trở về. Đã hai năm rồi tôi không về và những lời hứa cứ sai dần, cho đến lúc nỗi sợ của mẹ lớn mãi như một đồi cát vô hình lấp kín mẹ.

Mùa hè tưởng không dứt, cũng trôi qua. Bọn trẻ đã đọc được sách, còn làm cả tập làm văn tả cảnh. Bài viết cứ nhắc đi nhắc lại một màu cát trắng ngút ngàn; cát đêm rồi cát ngày, cả trong giấc mơ cũng một màu như vậy. Giống như khi tách chúng ra khỏi đụn cát kia chúng không còn gì. Đây là một đoạn văn lạ, chỉ mình tôi hiểu: "Đêm qua, con rồng đã ăn thịt ngôi nhà thầy Bảy, chỉ chừa cái mái nhà. Mẹ em vui mừng bảo, vậy là thầy hết chỗ để về, để chết. Bố em nói, thầy Bảy là người đáng thương. Em sợ thầy lắm. Thầy luôn thách con rồng".

Cuối cùng cô Hai cũng học được chữ. Tưởng chỉ làm gương lũ nhỏ, thế mà thành chuyện. Đêm đêm, cô đọc bài ra rả như trẻ con. Lại còn thách đố: "Tụi mầy viết được chữ khúc khuỷu không?". Chúng cười khúc khích, vừa chụm lưng nhau vừa tranh viết. Chúng viết luôn cả tên bố, tên mẹ, tên con. Chúng viết tên đồi cát bằng con chữ thô mộc. Nhưng tôi "thề" với chúng rằng, đó là những con chữ đẹp nhất mà tôi được thấy. Tôi gửi những bài văn của chúng về cho mẹ xem. Mẹ viết, sao mẹ cứ thấy sợ. Chẳng lẽ một đời người, người ta cứ sống trên những đụn cát như vậy à? Tôi cười xòa rồi quên. Những đêm trăng, tôi cõng thầy Bảy về ngôi nhà cũ cho thầy xem lại cái nấm mồ mà thầy định chôn mình. Thầy đứng nhìn rồi bùi ngùi: "Giá như cả làng đừng đối xử với tao như vầy, tao thấy nhẹ nhàng hơn".

Tôi cõng thầy Bảy về. Đêm đó, con rồng cát phủ kín ngôi nhà, sáng ra không tìm thấy vết. Thằng Tí vỗ tay hoan hô, thầy Bảy không còn chỗ về nữa rồi.

Cách một tuần, mẹ lại gửi thơ lên: "Mẹ nhớ con quá. Con không về thăm mẹ thì mẹ chết. Mẹ tự sát. Mẹ treo cổ". Tôi chỉ cười xòa, viết cho mẹ: "Mẹ làm sao chết được. Không có con chữ thì bọn trẻ sẽ chết vì dốt nát, chết trong lòng cát này mà không thấy chân trời nào…". Mẹ im bặt. Những lá thư sau không thấy mẹ treo cổ nữa nhưng giọng văn rên rỉ thì vẫn còn: "Mẹ nhớ con, nhớ lắm! À! Thầy Bảy thế nào rồi?". Tôi giấu mẹ. Tôi giấu vẻ suy sụp của thầy vào mỗi buổi chiều ngồi bên cửa sổ nhìn về phía căn nhà cũ: "Cát đã lấp hết chưa? Cát lấp thì tao chết, tao mở mắt, tao muốn cái làng này phải nguyền rủa tao kia…".

Tôi không cõng thầy đi nữa. Biết cõng đi đâu khi cái nấm mồ kia đã vùi dưới lòng cát rồi. Vả lại, thầy cũng quá yếu. Cái tuổi 66 đi một bước bằng thọ chín bước. Nhìn ngắm nỗi gì?

Những ngày tháng sau, thầy có vẻ nguôi ngoai. Nhìn cái cách bọn trẻ chụm đầu nghe thầy đọc Lục Vân Tiên, thì biết. Mừng thì mừng đó, nhưng lại càng sợ hơn, thầy đã có dấu hiệu lẫn lộn. Đôi lúc, Từ Hải đi thi gặp… Kiều Nguyệt Nga. Cô Hai lẳng lặng xuống chợ huyện đặt một cái hòm cho ngày đại sự. Đêm đêm, cả làng kéo đến đông nghẹt. Người ta muốn chứng kiến giây phút chia ly với một người thầy. Cô Hai nói: "Thôi, thế cũng đủ. Làng này vô phước không gặp thầy lúc còn trẻ thì cuối đời cũng học được vài ba câu Kiều, vài ba câu Lục Vân Tiên, xem như mãn nguyện lắm". Thầy hỏi: "Căn nhà cũ bị chôn rồi, đúng không?". Tôi gật đầu mà nghe như có bão đi qua tai. Thầy nói, vậy thì thầy cũng sắp chết rồi. Chừng nào thầy chết, nhớ bảo thằng Tí đọc cho thầy nghe vài câu Kiều. Đoạn nào hả thầy? Đoạn nào cũng được! Ừ! Thôi thì bắt đầu từ đoạn: "Chở che đùm bọc thiếu gì? Trăm năm danh tiết cũng vì đêm nay…".

Con chim sâu bé nhỏ

Hàng năm như thường lệ vào mùa có gió nồm, chị lại ẵm tôi ra bến sông chờ bố vào những buổi chiều. Và cái thông lệ đó đã trở thành sự chờ đợi, trông ngóng suốt bốn mùa của tôi. Lúc đó, tôi còn quá nhỏ để hiểu những uẩn khúc trong gia đình cũng như sự khó xử của mẹ. Mẹ vĩnh viễn không bao giờ nói với chúng tôi. Tôi cũng không biết chị nghĩ gì vào những buổi chiều trên bến sông chờ bố. Chỉ biết, chị ẵm tôi một bên nách, nách kia cắp chiếc nón lá như người lớn; còn mẹ đứng bên cửa sổ trông ra. Mẹ im lặng nhưng biết chúng tôi chờ đợi điều gì, chỉ khác, không bao giờ tỏ rõ sự chờ đợi đó. Mẹ làm ngơ. Thật tuyệt vời khi bố không bao giờ biết mẹ cần bố. Chị em tôi luôn nói với nhau như vậy.

Trên sông lác đác những chiếc ghe giương đôi mắt trơ tráo. Tôi hay đem những con mắt đó vào giấc mơ của mình. Những con mắt không bao giờ nhìn về một hướng mà lang bạt khắp vùng sông nước, như bố. Vào mùa gió nồm, chúng tụ tập dưới những gốc cây già bên bến sông, đâu mắt vào nhau và tản cư khi ánh sáng bao trùm xuống phía đông.

- Bố không về! Chị đã nói rồi.

- Nhưng ngày mai bố sẽ về. Bố đã nợ em món quà vào mùa gió nồm trước.

- Chị biết! Bố cũng biết nhưng bố không bao giờ nhớ đâu!

Năm đó, có một người đàn ông lạ bước vào nhà tôi. Ông có một hàm râu đáng thân thiện, những sợi râu mạch lạc, ba chòm, cạo đi lại xanh ươm vào mỗi sáng hôm sau.

- Ông ấy là dân thương hồ – Chị nói.

- Ai chẳng biết – Tôi nói.

Nhưng tôi không hiểu chị muốn dành cho mẹ câu nói này. Dân thương hồ sẽ không quay lại và chị đã lầm. Ông ấy đã ghé lại vào mùa mưa sau. Mẹ im lặng lút cút bên chiếc võng mắc xéo cột nhà. Mẹ chải tóc và mắt ghim lên vách. Đôi tay trắng tươi của mẹ bỗng trở nên xanh xao lạ lùng dưới những lọn tóc đen mướt. Mẹ đã run. Tôi dám chắc như vậy. Mẹ không bao giờ giấu được điều gì với chúng tôi khi tay mẹ không chiều mẹ. Mẹ nói gì đó với người đàn ông, để rồi lúc ông ra đi, mẹ lạc thần nhìn qua cửa sổ. Đêm, mẹ vặn đèn như muốn soi khuôn mặt mình cho một khuôn mặt nào đó trên tường, đăm đăm nhìn.

Năm đó bố về khá muộn. Nửa đêm, bố gõ cồm cộp lên vách tre, nói: "Anh đây!" và mẹ bật khóc. Tôi chạy vội ra mở cửa. Khuôn mặt bố trắng bệch, gương mặt của kẻ vụng trộm. Bố đảo mắt khắp nhà rồi ngồi xuống bệ cửa, vẫn không hết xanh. Tôi nhìn chòm râu của bố, thấy thương vô hạn, một chòm râu lưa thưa như đám ruộng cằn cỗi. Chúng mọc mệt mỏi và nhợt nhạt. Những mảng trắng xen kẽ chen dày trên cái nền đen. Râu của bố là râu một chòm. Bố nói: "Mẹ đâu rồi?". Tôi muốn khóc khi nhìn sâu vào chòm râu ấy. "Bố không hỏi con ư?". "Có chứ! Bố nhìn con tức là bố đã hỏi rồi". Tôi đưa bố vào nhà. Mắt mẹ đã ráo hoảnh. Mẹ thu mình trong góc tối căn phòng và tóc mẹ dài thâm u. Tôi nhớ rõ ràng trước đó mẹ đã khóc!

- Anh định ghé sớm hơn! – Bố nói – nhưng…

- Chẳng sao cả! – Mẹ cắt ngang – Dạo này nóng quá! Đã qua mùa gió nồm rồi chẳng biết bao giờ đến mùa gió nồm sau!

Bố thu mình trên chiếc võng rồi nhìn khắp nhà, xa lạ. Trên vách, bóng mẹ như vệt đen vô nghĩa. Tôi không tài nào nhận ra chính xác chỗ nào là cái đầu của mẹ. Nó như một khối vuông. Rồi bố rời mắt khỏi bóng mẹ. Tôi dõi theo cái nhìn của bố. Một vài bông hoa héo khô trên tấm lịch bạc màu. Gió thổi suốt khiến chúng như lay động. Bố hỏi: "Con học hành thế nào rồi?". Tôi đem cuốn vở tập làm văn ra đọc cho bố nghe bài viết mới nhất, bài được cô giáo khen có hồn và u buồn:

"Vào mùa gió nồm, bố về. Bố ngủ trong ghe suốt thời gian xa xôi. Những chiếc ghe có hai con mắt trên cái mũi của nó, bằng hai vệt sơn. Những con mắt không bao giờ chớp. Vào mùa gió nồm bố về. Mắt bố hõm sâu đen đúa. Quầng mắt bố đen đúa vì bố suy nghĩ nhiều. Bố không bao giờ biết, cuối mùa gió nồm tôi đứng trên bến chờ…".

Tôi dừng lại vì phát hiện bố đã ngủ. Chẳng bao giờ bố nghe trọn những gì tôi đã đọc. Hình như bố có những bận tâm khác, nhưng bố muốn cho chúng tôi biết: bố quan tâm đến chúng tôi, vậy thôi. Chưa bao giờ bố nói với tôi về những món quà đã hứa. Bố ngủ trên chiếc võng vào những hôm ghé nhà quá mỏi mệt. Có lẽ, chiếc võng cho bố cảm giác rằng mình đang bềnh bồng trên sóng nước. Tôi lặng đứng nhìn, không thể tưởng tượng giấc ngủ có thể cuốn hút bố đến vậy. Tôi bật khóc. Trong ký ức của tôi, bố như giấc ngủ vừa mệt mỏi vừa xa lạ và những cọng râu tua tủa mọc trong đêm. Mẹ xuất hiện như cái bóng giải thoát tôi khỏi bài tập làm văn. Mẹ nắm chặt tay tôi kéo ra ngoài hiên bằng những ngón mạnh mẽ và lạnh. Mẹ nói.

"Đọc cho mẹ nghe đi! Mẹ thích nghe lần nữa".

Tôi chẳng bao giờ hiểu lòng mẹ trong những đêm như vậy. Như có lớp sương mù ẩn náu trên khuôn mặt, mẹ hiện ra hư ảo, giọng nói nhẹ hẫng và đôi chút van xin. Tôi nói: "Cô giáo đã hỏi về gia đình mình rất nhiều khi chấm bài cho con. Cô hỏi tại sao bố chỉ về vào cuối mùa gió nồm. Và con đã trả lời: bấy nhiêu đó là đủ rồi!".

Trong bóng tối, tôi nhìn sâu vào khuôn mặt không mắt, không mũi, không miệng của mẹ và một mối liên tưởng trên vách: mẹ chỉ là chiếc bóng, còn bản thân mẹ biến đi. Tôi luôn giấu kín điều này cũng như giấu cô giáo rằng mẹ đã khóc như thế nào khi bố gõ cửa vào những đêm khuya. Mẹ vấn tóc trong bóng tối và cài tóc bằng một chiếc đũa. Mẹ chờ bố bằng cách vừa đứng bên cửa sổ vừa lơ là.

Buổi sáng. Bố dậy bỡ ngỡ nhìn khắp căn nhà một lần nữa bằng con mắt xa lạ. Rồi bố nhìn tôi:

- Đừng cho ai biết bố về nhé!

- Tại sao vậy bố?

- Ừ, bố thích vậy!

Tôi muốn khóc vô hạn. Tôi nói:

- Con sẽ nói với mọi người, bố chẳng bao giờ về!

Năm đó, tôi mười hai tuổi. Có những khao khát vượt khỏi ngôi nhà heo hút bên sông, có những bến bờ khác không lau sậy mọc; ở đó, tôi trồng trọt mình như một vụ mùa. Tôi muốn thoát khỏi bố và vận hành theo cách riêng. Nhưng tôi vẫn đau đáu món quà bố hứa đựng trong chiếc lồng, một con chim sâu nhỏ. Nó đã kêu gào trong những giấc ngủ của tôi, thứ âm thanh của sự vọng tưởng. Nó vỗ cánh và bay vút khi mùa gió nồm đã đi qua. Kỳ lạ hơn, nó đã cho tôi một cảm giác e ngại trong suốt, rằng cuối mùa gió nồm những con chim sâu lại hiện về.

Đầu mưa, người đàn ông râu ba chòm ghé lại. Đôi mắt rực lửa, liều lĩnh và nhiều khao khát. Ông ẵm tôi lên ghe bằng cánh tay rắn chắc vạm vỡ và giọng nói ồm ồm. Ông đá vào mông tôi bằng một cử chỉ âu yếm lạ lùng. Ông nựng vào má tôi bằng đôi tay gọng kìm, khiến tôi la oai oái. Tôi rất mến ông nhưng khi nhìn hàm râu lại chợt nhớ bố vô hạn. Hình như dưới những cọng râu ngăn ngắn kia là khuôn mặt bố nhòa nhoẹt yếu đuối, đôi mắt mờ đục vụng trộm và bố vào nhà bằng cửa sau. Bố nghe một nửa đoạn văn của tôi như một sự hành hạ hoặc dửng dưng. Nhưng tôi vẫn cứ đọc, và bố nằm im vờ nghe. Giấc ngủ đã đóng lại màn kịch đó như một cái gì đầy nhược điểm.

- Cháu có nhớ bố không? – Người đàn ông râu ba chòm hỏi.

- Cháu luôn nhớ.

- Mùa mưa năm sau, chú sẽ tặng cháu con chim sâu.

- Tại sao chú biết chuyện này?

- Chú đã nhìn thấy trong mắt của cháu.

- Cháu chỉ thích người tặng là bố cháu thôi!

Trên bến. Dân tứ xứ tụ tập trong những mái che tạm. Họ mang những thùng bịt lưới chứa đầy rắn, đặt ngổn ngang. Những con rắn nằm không buồn động đậy, một vài con được bắt ra ngo ngoe trên tay người mua bán. Tôi đi dọc lẫn lộn trong họ, tìm bố. Chị nói, bố chẳng về. Bố đã đi rồi. Bố là dân thương hồ. Dân thương hồ không quay về. Mỗi một bến bãi là một nỗi mệt mỏi dừng chân, lấy lại sức rồi đi tiếp. Đừng bao giờ tìm bố trên bến, hãy tìm trên con đường. Tôi nói với mẹ: "Bố không về nữa, có phải như thế không?". Mẹ tránh nhìn vào mắt tôi. Chẳng biết từ lúc nào, trong mẹ đã có cử chỉ đó. Mẹ nhìn chỗ khác, nước da cứ tái xanh khi nghe tôi hỏi. Chị bực bội:

- Ai cho bố cái quyền khước từ nhà mình? – Chị đổ rá gạo như muốn quăng nó vào đáy nồi – Mẹ thử nghĩ xem! Một năm, bố ghé nhà này như tạt ngang cái chợ để mua rượu.

- Sao con lại nói như thế về bố!

Chị im lặng. Trong ký ức của tôi, mẹ yêu bố bằng tình yêu xa xỉ từng mảng lớn tuổi xuân của mình. Mỗi mùa gió, mẹ trông đợi như tôi đã từng trông đợi một món quà không có thật. Một ảo ảnh lóa mắt, không thể hiểu được nó là cái gì, tại sao nó đến vào cuối mùa gió nồm mà không là một dịp nào khác. Nó như một thứ hạnh phúc được rót từng giọt bủn xỉn và rót trong tuyệt vọng của sự chờ đợi. Nhưng mẹ luôn chuẩn bị cho mình một tư thế để hiểu điều đó như một nhịp điệu của sự hợp lý. Mẹ thấy mình hoàn toàn có lý lẽ.

Người đàn ông râu ba chòm đã dừng lại vào một ngày nọ, cất căn nhà ván nhỏ bên kia sông, mái lá phủ bạt. Mùa gió, lá phần phật vặn mình như có bão. Buổi sáng ông đi ngang nhà tôi bằng nụ cười ấm áp và mơ hồ.

- Chú Hùng ơi! Chú không có con nít à?

- Không, chú có một đời vợ nhưng không con, còn vợ cũng chết nốt.

Đó là câu chuyện dối gạt đầu tiên mà tôi biết từ chú. Người ta nói, vợ chú đã theo một thương hồ khác từ rất lâu, khoảng mười năm. Cô ta có những lựa chọn khôn ngoan và nhỏ nhen. Người ta cũng nói, mắt cô sắc lắm, một vệt tăm tắp đều. Con mắt đó nhìn bốn phía rộng khắp như mắt ghe. Người ta không thể cầm chân con mắt đó khi nó tự nhận mình là con chim bị giam hãm. Nó cần có bầu trời theo cách riêng.

Tôi về nhà và bắt gặp những rẻo nhăn nhúm trên trán mẹ như sự tiếc nuối kỳ quặc. Đã bao nhiêu năm rồi nhỉ, từ ngày bố về lần cuối? Bố về trong một tối muộn, bằng cửa sau? Chị nói với tôi, đừng bao giờ hỏi bố đã đi đâu trước mùa gió nồm vì ngay cả mẹ cũng không biết điều đó. Ngày nào bố còn ghé lại thì có nghĩa rằng còn nợ nần căn nhà này. Bố chưa tìm ra lý lẽ để thuyết phục sự ra đi của mình.

Lúc đó, tôi còn quá nhỏ để hiểu sự việc, tại sao mẹ không lấy chú Hùng. Tôi và chị đã từng chứng kiến sự thất vọng của chú qua cái cửa sổ nhỏ. Mẹ chỉ im lặng và im lặng trước mọi chuyện. Nhưng mẹ không thể giấu chúng tôi rằng, chú Hùng đã xen quá nhiều, quá sâu nặng vào gia đình tôi. Hay mẹ muốn trói bố bằng chính sự đau khổ đó và bố sẽ không thể ra đi khi chính mình gây nên một lỗi lầm cho mẹ. Chị nói, mẹ là hòn vọng phu nhưng khác hơn, không hóa đá vì mẹ biết bố chẳng bao giờ về.

Một mùa gió trôi qua ảm đạm. Trên sông, mưa ghim mình và mất tăm dưới những bóng vỡ. Đứng bên cửa sổ, nhìn sang bên kia nhòe nhoẹt như sương khói. Tôi lần đường ra bờ sông. Mẹ hỏi:

- Con đi đâu đó?

- Con sang nhà chú Hùng. Con muốn hỏi chú cuối mùa mưa này liệu chú có tặng con con chim sâu?

Nước sông ấm áp dễ chịu. Mẹ đứng bên bờ nói với theo:

- Cẩn thận nghe con!

- Được rồi, mẹ yên tâm. Con sông này không giết được con đâu!

Tôi thả ngửa lượn lờ giữa hai làn nước, nước từ trời đổ xuống và nước từ dưới sông dâng lên. Từ trên nhà sàn thấy tôi, chú Hùng nhảy xuống sông bằng một cú chuồi mình. Chú trườn tới bên tôi rồi hét lớn:

- Thằng kia! Mày làm gì ở đây?

Tôi ôm lấy cổ chú cười khằng khặc:

- Chú hãy nhìn xem cháu giống cái gì?

Chú tạt nước vào mặt tôi:

- Cháu rất giống con cá thòi lòi nhưng là con cá thòi lòi đẹp nhất.

Tôi càng ôm chặt cổ chú hơn và nhắm mắt lại, cảm giác nhẹ nhõm trôi tuột kéo tôi đi một đường vòng.

"Bố cháu không về nữa rồi!". Tôi định nói với chú nhưng có một điều gì đó chặn lại. Hình như khi dõi theo mặt sông, niềm hy vọng của tôi vẫn còn lớn lắm. Chúng vô tận và chúng là kho tàng lớn nhất đời tôi. Cả mẹ và tôi cần phải tốn rất nhiều thời gian để tập quên điều đó. Tôi nói:

- Cháu đã nghĩ lại rồi, về món quà ấy mà! Tại sao người tặng nó phải là bố mà không là chú.

Chú cười ngặt nghẽo trên hàm râu xanh mướt.

Tôi về. Mẹ vẫn còn đứng chờ. Trên bờ sông mưa tạnh, dáng mẹ như một cái cây vươn lên nhưng cành nhánh thì thu về. Mẹ không tỏa bóng. Nhưng tôi cũng chẳng cần điều đó. Mỗi cái cây cho một bóng mát riêng không ngoài sự mong đợi. Cũng như bố, tôi không còn mong đợi gì nhiều hơn những điều tôi đã có. Trên mặt sông này, vào cuối mùa gió nồm xa xưa, bố đã trôi về như một món quà. Và cũng trên mặt nước này, bố đã ra đi. Tôi thương bố vì bố không giải thích, không viện ra một lý lẽ bào chữa nào. Đã nhiều lần tôi tự hỏi: bố có hạnh phúc trên mặt sông xa xôi kia không? Đã nhiều lần, tôi quá giang ghe bạn dọc ngang khắp miền sông nước tìm bố để hỏi một câu nhưng không gặp. Người ta nói: "Bố mày đã biến khỏi dòng sông này rồi! Không có con sông nào làm bố mày lạc đâu". Tôi đã qua lứa tuổi chờ đợi món quà làm con chim sâu nhỏ, nhưng tôi vẫn cứ muốn hỏi món quà xa xưa, bố có nhớ? Chúng được đặt trong chiếc lồng và không ngừng nhảy múa trong tôi. Chúng đã gào thét suốt tuổi thơ tôi trên bức tường tráng lệ mà tôi đã đi qua và soi bóng. Tôi đã nhìn thấy một ký ức khép hờ hững và một chiếc lồng rỗng không. Cả mẹ nữa, mẹ đã đi qua bức tường và soi bóng tuổi xuân mình. Tóc mẹ đã thôi dài, những cọng râu mệt mỏi của bố đã thôi mọc, chỉ còn lại một ký ức lê thê… Nó dài mãi, đâm chồi tỏa xuống.

Tôi về. Con sông lở và bồi, nạo vét bên đây, xanh tốt bên kia – cái trò mòn mỏi không bao giờ cạn. Tôi trở về cứ thấy xanh rì những cảm xúc mọc lên vươn đầy lá non. Gặp mẹ bên cửa sổ. Mẹ không bao giờ dám hỏi tôi có gặp bố không, bố sống thế nào, bố có hạnh phúc? Vì mắt tôi vương đầy nỗi buồn. Tôi chênh vênh như một đứa trẻ lạ lẫm trong thân xác một cậu con trai đã lớn. Tôi muốn nói: con sẽ đi tìm bố vào một dịp khác mẹ ạ! Con nghĩ rằng bố rất cần con lúc này. Bố đã quá già rồi, một chuyến theo sông đã là một cái gì khó lòng thực hiện, nhưng rồi lòng cứ chần chừ…

Mùa sen

Lâu lâu, Huệ hay nghĩ ngợi trong đầu những ý nghĩ như vầy: Huệ ngồi kiệu, hai tên nô tì khiêng. Thỉnh thoảng chúng lại có khuôn mặt na ná như thằng Dũng còi và thằng Hùng mập. Thấy kỳ kỳ nhưng cũng chẳng bận tâm lắm. Nếu là hai thằng quỉ đó cũng được chứ sao, chúng là nô tì của mình. Chúng khiêng mình đi vòng vèo trong vườn thượng uyển. Đôi khi Huệ – cô nương kiều diễm – lại nảy ra ý định ngao du vùng đồi. Mỗi một khung cảnh làm nàng xao xuyến.

- Ngừng kiệu, hai thằng nô tì kia! – Huệ ra lệnh.

Một tên vội vã chạy đến vén rèm.

- Quí cô nương muốn đi dạo à? Thằng nô tì Dũng còi cung kính. Nhìn cái mặt nó rất ư là nịnh nọt quý cô nương Huệ.

- Ta muốn đi một vòng! – Huệ nói.

- Dạ, xin mời.

Huệ quát lên:

- Không được nhìn ta, tên kia!

Huệ điểm mặt thằng Dũng còi. Chắc chắn nó luôn luôn nhìn lén Huệ. Trong lớp chẳng phải Huệ hay linh cảm như thế sao. Đương nhiên đây chỉ là cách nói, thực ra cũng không đau khổ là mấy những chuyện như vầy.

Chuyện dung nhan, nói chung là Huệ rất hãnh diện về nó. Của trời cho, niềm kiêu hãnh nằm trên cái mũi. Trong gương, nó thanh tú dễ sợ: cao ráo, mạch lạc chứ không xóa nhòa trong cái tổng thể vừa má vừa môi như con Loan.

Gương mặt người giống như câu văn, trong nhật ký Huệ viết như vậy, và cái mũi đương nhiên là dấu chấm than vi diệu đó. Chẳng có câu văn nào hay hơn câu văn có dấu chấm than. Câu văn tình cảm mà.

Mỗi sáng soi gương chăm chút dấu than, Huệ thấy nó màu hồng phấn. Đây là màu tuyệt diệu của hoa sen.

Dừng lại ở đây một chút, cái đoạn Huệ bước xuống kiệu. Thằng Dũng còi chạy theo sau rắc hoa vàng theo mỗi bước giai nhân. Một hình ảnh rất tuyệt diệu trong nhạc Đoàn Chuẩn. Hoa vàng ở đây được hiểu là hoa sen. Huệ nghĩ vậy. Huệ thích hoa sen, cho rằng nó là loài hoa đẹp nhất. Còn thằng Hùng mập thì vẩy nước hoa vào Huệ. Nước hoa cũng được trích từ hoa sen.

Huệ chỉ có một phân vân nhỏ, phải làm gì với những hoa sen đó. Ví dụ một thúng đi, một thúng hoa sen, Huệ đi khoảng vài chục mét là hết chứ mấy, hoa đâu mà rắc cho nổi. Cứ cho là mỗi bước đi sẽ được rắc một hoa. Như thế không ổn rồi. Chẳng lẽ những bước chân sau không có hoa nào. Chưa kể không được thẩm mỹ cho lắm, Huệ là giai nhân nhưng chạy theo sau lại là thằng Hùng mập ú cắp cái thúng, dù là thúng hoa sen đi nữa thì cũng chẳng ra cái quái gì. Rồi còn phải kể đến hành động rắc hoa khó ưa của nó, phải nói là chọi hoa vào chân giai nhân thì đúng hơn.

Huệ bỏ ý định rắc hoa vàng. Đó là tổn thất lớn cho những giá trị cảm xúc. Cảm xúc được hiểu như một cái gì không thực hiện được. Sau một vòng suy nghĩ, Huệ chỉ còn lại cái mũi thôi, mũi giai nhân hồng tươi cánh sen. Thơ của Huệ.

Buổi sáng, Huệ trở dậy nhìn con mèo co mình trên gối. Giấc mơ chấm dứt bao giờ cũng vậy, ở đoạn rắc hoa vàng và nhìn thấy con mèo. Dạo này nó mập ra trông thấy, cưng quá mà. Có lúc Huệ còn thấy "con ranh " đó hưởng thụ ghê. Sáng nào nó cũng chễm chệ trên gối hình trái tim của Huệ. Lúc trước nó đâu có hư như vậy. Bỗng dưng Huệ nghĩ đến những đứa con, nếu Huệ mà là người mẹ chắc con của Huệ cũng y như con mèo, hư đốn, và nằm kềnh, ngày nào cũng phải la nó một trận, nhưng động một chút là nó bỏ cơm lên lầu học bài. Đêm đêm thì giành gối trái tim. Vậy đó, những ý nghĩ lãng nhách buổi sáng.

7 giờ, Huệ lang thang ra quán bà Tám. Huệ hưởng thụ cảm giác mùa hè. Từ mùa thi trước, Huệ không còn thời gian ăn chè theo đúng nghĩa mình muốn, đó là: vừa ăn chè vừa nhâm nhi hình ảnh hoa sen.

Nhà Huệ không trồng hoa sen, không có hồ. Một thiệt thòi. Sinh nhật lũ bạn đến tặng toàn hoa sen. Dĩ nhiên Huệ thích lắm. Nhưng lắm lúc lại chợt nghĩ, nếu thích một món khác chắc sẽ hay hơn, những món quà sinh nhật sẽ được giữ lại chứ không úa tàn và vứt đi sau một vài hôm ngâm nước. Huệ sẽ có kỷ niệm về chúng nó, những thằng bạn quỷ quái. Những con bạn tinh ranh.

Huệ còn nghĩ đến một chuyện khác, biết đâu sau này thằng Hùng mập bỗng dưng lăn đùng ra nổi tiếng, thành ca sĩ chẳng hạn, nó lăn đùng ra hát cực hay. Sự đời nhiều người như thế, đang hát như bò rống bỗng chốc giọng thanh hẳn, bị một chứng bệnh nào đó về thanh quản chẳng hạn. Điều đó chẳng tốt sao, những món quà. Huệ sẽ là người cất giữ những món quà lúc nó còn là thằng nhảm nhí, nó đi rắc hoa vàng sau mỗi bước chân Huệ.

Mới vừa nghĩ đến đó thì thằng Hùng mập đã dẫn xác đến rồi. Càng ngày nó càng mập khủng khiếp. Có lẽ chỉ chừng một gian ngắn nữa Huệ sẽ không còn nhận ra, nó biến thành thùng phi.

- Ra sớm thế à! Chẳng lẽ chỉ trong một đêm mà thèm chè đến nỗi như vậy sao?

Giấc mơ hoa vàng không cách chi xuất hiện được nữa, Huệ trở lại đúng nguyên hình yêu tinh, cong cớn:

- Chứ ông ra đây làm gì?

- Tui đi tập thể dục.

- Vậy à! Tội thật, tập thể dục một cách nặng nề thế hả?

- Ừ, kệ tui. Một ngày nào đó bà sẽ thấy tui mi nhon không chịu nổi cho mà xem.

Buổi sáng xem như được bắt đầu như vậy, một cuộc khẩu chiến. Lắm lúc Huệ hay nghĩ: khi soi gương, phải dịu dàng vào, con ranh kia. Con gái mà không dịu dàng thì chẳng ra cái gì hết. Trên báo chí người ta vẫn dạy những phương cách quyến rũ, trong đó yếu tố dịu dàng bao giờ cũng được đặt lên hàng đầu. Tất nhiên Huệ chẳng bao giờ có ý nghĩ cần phải quyến rũ làm gì cái đám nhộn nhạo ấy, nhưng hình như vẫn có một điều gì khiến Huệ thấy mình cần phải làm vậy. Huệ sợ mình trơ trẽn. Có một cuốn sách viết như vầy, nếu muốn trở thành một con người trơ trẽn thì bạn hãy làm như sau… Điểm lại chợt giật mình, Huệ có đầy đủ các yếu tố để trở thành trơ trẽn. Khiếp thật!

- Thôi, tui không cãi với ông nữa! – Huệ đổi giọng – Sao ông với tui cứ hay gây nhau dữ vậy? Kể từ nay đừng có như thế nữa nhé!

Nói vậy nghe có được không! Thằng Hùng mập nở nụ cười mãn nguyện như rắc hoa.  Nhìn cách cười của nó là Huệ lại ứa gan, suýt chút nữa đã nói, cười giống heo quá.

- Hôm nay bà biết là ngày gì không?

- Ai mà biết.

- Sinh nhật tui đó. Hắn nói mà mặt buồn xo. Nhưng thôi, tui sẽ làm ngược lại.

- Là sao?

- Thay vì mấy bà phải tặng quà cho tui thì tui lại tặng cho mấy bà.

- Sốc dữ hôn.

- Tui nói thật đó.

Kết thúc lời nói này, Huệ được dẫn đến một nơi mà Huệ không thể nào tưởng tượng được cùng với lũ con Loan, đó là một ao sen rộng lớn vô tận. Không ngờ nổi, sen là sen. Huệ cứ đứng nhìn không chớp mắt. Với cái đầm hoa sen này thì tha hồ mà rắc hoa vàng sau mỗi bước giai nhân, tệ lắm cũng được vài… ki lô mét.

- Làm gì mê đắm dữ vậy? – Thằng Hùng mập lên tiếng, nhưng nhìn vẻ mặt thừa biết hắn đang nhâm nhi thành quả của mình.

- Tui dẫn bà ra đây để mai mốt bà tự đi, tui gần đi xa rồi – Nó nói.

- Ông đi đâu?

- Tui theo cậu đi lơ xe.

- Thế ông không học nữa à?

- Học chứ, nhưng không học ở đây nữa.

Tự dưng Huệ chợt thấy những mùa sen sắp tới, những mùa sen không còn thằng Hùng mập, Huệ sẽ ra đây ngồi nhìn giấc mơ của mình. Có thật một ngày nào đó, những người bạn khác cũng như thằng Hùng mập lại tiếp tục ra đi. Chúng sẽ thành những con người khác, con người của công việc, những con người đã lớn. Chúng không còn ở đây cùng với Huệ hái những hoa sen, hoặc mắng nhiếc nhau. Lúc đó như thế nào nhỉ, cùng lắm thì sinh nhật Huệ chúng gởi cho một tấm thiệp chúc mừng, thế là xong.

- Bộ ông giao hồ sen cho tui đấy à?

- Không sao đâu, lâu lâu tui sẽ về thăm bà, hái cho bà hoa sen.

Thế là nó đi thật. Thằng quỉ sứ. Thỉnh thoảng về ghé ngang mua cho Huệ những cái bánh rế vàng khè, còn nó thì đen thui, dày dạn. Những giấc mơ về người rắc hoa vàng cũng không còn xuất hiện vào mỗi buổi sáng nữa. Xen vào đó, Huệ mơ đến một giấc mơ khác, giấc mơ về một ngôi nhà đầy ắp bạn bè.

"Trời ơi, đi xa nhớ bà dễ sợ. Tui nhớ nhất là cái giọng chua loét của bà…". Sinh nhật thứ 18, hắn gởi cho Huệ tấm thiệp như vậy. "Bà biết không, tôi lên đến tận thượng nguồn một con sông gì đó, to khủng khiếp. Ở đó người ta sống bằng nghề chài lưới. Trẻ con không được đi học. Chúng lăn lộn trên cát. Ngay cả những bài hát cho trẻ con chúng cũng không biết. Chúng lớn lên mà chưa hề hát một bài hát nào. Tui dạy chúng bài "Những đóa hoa trong vườn vẫn thế", chúng hát cả ngày. Lần nào tui ghé lại cũng nghe chúng hát. Tui cho chúng những cái bánh rế, (những cái bánh mà tui cho bà, bà chê đây đẩy); ở đây chúng cứ để dành, không dám ăn, sợ hết. Ở đây làm gì có quán chè bà Tám cho chúng ăn. Ở đây cũng có một hồ sen. Những bông sen thật to, không người hái, cứ mọc như cỏ dại.

Ngồi một mình bên hồ sen, Huệ chợt thấy buồn dễ sợ. Hôm qua, thằng Dũng còi cũng đã theo cậu nó về Long Khánh cuốc đất, làm vườn. Nó được cai quản một vườn chôm chôm. Ngày ngày lọ mọ bón phân, thu hoạch. Nó đến rủ Huệ đi ăn chè, xong rồi xem như chia tay. Nó cho Huệ một cuốn sổ.

- Nhớ thỉnh thoảng viết thư cho tui đó bà.

- Ừ thì viết. Lúc nào Huệ chẳng cầm cuốn sổ này ra hồ sen. Huệ viết một lúc cho hai đứa, nhưng chỉ có thể gởi cho thằng Dũng thôi, còn thằng Hùng nay nơi này, mai nơi kia, biết đâu mà lần.

"Tui đã nghĩ học rồi, ngày trước tui nói dối bà cho nó vui vui, chứ nói thật buồn chết… - thư của Hùng mập – Đi đi về về như vầy, ai mà cho học. Nhà chẳng còn ai nữa, tui đành đi theo người ta để phụ giúp gia đình. Cũng chẳng có theo ông cậu nào đâu. Bà đừng giận tui. Bây giờ tui "mi nhon" lắm, không ú ù như ngày xưa. Bà biết không, tui đi gần như hết đất nước mình. Nơi nào cũng đẹp, nơi nào cũng có hoa sen…".…

Những lá thư của thằng Hùng mập vẫn đều đặn gởi về như vậy. Huệ đọc đi đọc lại đến thuộc lòng. Năm nay, hoa sen nở trông buồn tẻ quá. Mỗi lần nhìn sen Huệ lại nhớ tới thằng Hùng mập, thằng Hùng mập không được nổi tiếng, thằng Hùng mập không làm ca sĩ, giọng nói của nó càng ngày càng rè hơn. Nó không bị bệnh tật ở dây thanh quản. Và chấm dứt.

Thỉnh thoảng, Huệ ghé qua nhà, thấy mẹ nó tiều tụy hẳn. Điều này ngày trước sao Huệ không nhìn thấy nhỉ? Bà ốm yếu xanh xao. Bà bị bệnh phổi từ những ngày nó còn ở nhà. Bố nó thì mất sớm, nghe đâu từ lúc nó vừa mới sinh. Những lá thư bà nhờ Huệ đọc bao giờ cũng khác lá thư nó gởi về cho Huệ. Nó kể cho mẹ nghe, nó đã được ông chủ xe thương yêu như thế nào, họ cho đi chơi ra sao, được ăn ngon, được sung sướng. Chưa một lá thư nào nó than vãn, họ đã ngược đãi nó. Càng đọc quá nhiều lời ca ngợi Huệ càng cảm thấy có một điều gì đó thật mơ hồ, có thật là nó đã được như thế không? Hay đó chỉ là những lời nói dối. Đã ba năm nay nó không về ăn Tết. Tết nào nó cũng bận cả. Riêng khoản tiền thì vẫn gởi về cho mẹ.

Một hôm, thằng Dũng còi bất ngờ ghé qua nhà Huệ. Nhìn khuôn mặt ấy, Huệ đã biết ngay có chuyện không hay.

- Bà biết tin gì chưa, thằng Hùng mập nó đói lắm. Cách đây một tuần nó ghé chỗ tui, nói thất nghiệp đã bốn tháng nay rồi. Nó không dám về nhà sợ mẹ nó biết. Cái lão chủ xe quỵt tiền của nó. Sau mấy năm theo xe, lão giữ của nó một món tiền lớn, nhưng lão có trả đâu, cứ ỡm ờ. Thế rồi một hôm lão tuyên bố không còn đồng nào. Chiếc xe lão cũng đã bán cho người ta rồi. Thế là nó bơ vơ.

- Thế nó đâu rồi?

- Nó ghé chỗ tui chơi mấy ngày, tui bảo nó cứ ở lại làm công cho cậu tui cũng được nhưng chẳng hiểu sao, ở được một vài hôm nó bỏ đi.

- Thế ông không biết nó đi đâu à?

- Làm sao tui biết được. Nó đi đột ngột lắm. Để lại tờ giấy nói chẳng sao cả. Chỉ đừng cho mẹ nó biết là được rồi. Nó gởi cho bà cái này đây. Nó đã dặn tui không được nói cho bà biết tình cảnh của nó.

- Đó là một cuốn băng nhạc Đoàn Chuẩn. Trong đêm, những âm thanh cứ như một tiếng thở dài. Và mỗi lần nghe, những dòng chữ viết nguệch ngoạc của nó cứ từ từ hiện ra, chúng như được cài đặt trên nền nhạc đó. Và một lá thư nhỏ viết trên giấy học trò.

- Tui vẫn sống khỏe re, ngày ngày ra vào các tỉnh thành. Bà biết không, những đứa trẻ lớn mau kinh khủng. Tất cả là nhờ tui cho nó ăn bánh rế đó. Tui lùng mãi mới ra cuốn băng này, để dành cho bà. Bà hãy lắng nghe cho kỹ nhé, có bài những người khiêng kiệu rắc hoa vàng sau mỗi bước giai nhân mà bà thích đó. Nhớ chưa. À, cái ao sen thế nào rồi? Bà có còn ra đó không? Chừng nào tui về, tui sẽ mang cho bà một giống sen mới, cánh nó to lắm, màu hồng phấn, tuyệt đẹp. Bảo đảm bà sẽ thích nó cho mà xem…

Đó là một lời hứa. Chỉ một lời hứa thôi, chẳng thấy về. Những đồng tiền còm cõi vẫn được gởi cho mẹ nó đều đặn. Chúng được gởi về từ một nơi rất xa, xa lắm, như được gởi đi từ một nỗi sợ hãi. Chẳng biết nơi đó có sen vàng không?

Mỗi buổi chiều, Huệ vẫn ra ao ngồi. Huệ chờ nó trở về. Biết đâu, một ngày nào đó… Huệ tin như vậy. Như một dấu chấm than, nó trở về để hoàn thành một câu văn cảm động nhất…

Nhện ảo

Nhà hai chị em, Huệ hay nhìn nó và liên tưởng đến sự khác biệt. Như con trai, thỉnh thoảng nó cũng đi đá banh, đá cầu, nhưng cũng thỉnh thoảng chăm chút cái đầu bù xù cột hai cái nơ như con gái. Phải mô tả kỹ về cái nơ một chút, chúng bèo nhèo, đen thui vì lâu quá không giặt, cộng với việc lăn lê bò toài của nó, cái màu đen đen càng nhìn càng… ghê ghê làm sao.

Thật là trái ngược hai chị em mày. Con chị thì xí xọn trời thần, đó là lời bọn chúng nói. Nó nói về Huệ. Chúng thì biết gì cơ chứ. Lên cấp ba, không xí xọn thì ma nó nhìn. Nhưng xí xọn rồi thì cũng chẳng biết… ai sẽ nhìn. Chiều chiều sáng sáng có một con mắt, hình như là vậy, ai mà biết được, đâu đó từ phía sau, nghi ngờ là vậy, chúng theo dõi Huệ. Có phải con mắt đa tình không? Cũng có thể chỉ là tưởng tượng thôi. Chưa hết đâu, đâu đó trên đường đi, cũng lại tưởng tượng thôi, chúng lẽo đẽo theo sau. Nhưng cũng biết đâu, chúng mệt quá không thể đi nhanh thì sao nào. Chúng mệt vì đói bụng.

Dạo này, lớp tổ chức họp nhóm, cũng chia ba bảy phe. Hiền lành thì đi với hiền lành, hung dữ thì đi với hung dữ. Chẳng hiểu sao cái đám hiền lành đến khờ khờ lại được lắm mày râu chen vào, đòi được học chung đến cùng cực. Chả bù nhóm Huệ, một nhóm người sinh động thế kia chẳng hề được một tên đoái hoài. Lúc trước còn có thằng Tâm đầu láng, thế mà nó đành đoạn bỏ bạn nhảy xổ vào nhóm khác, còn lại ba mụ dật dờ thấy mà phát chán. Tối ngày mắng nhiếc nhau: tại mày sai nó nhiều, mày xài xể nó, mày kêu nó là đầu láng để làm gì? Tóc là tóc của nó, nó muốn làm gì thì kệ nó, nó đâu có xịt keo lên tóc của mày?

Nghĩ đôi lúc cũng thấy kỳ, con trai gì mà điệu thấy sợ. Lại thay kiểu tóc như chong chóng. Ca sĩ nào nó mê thì y như rằng, a lê hấp, cắt ngay. May mà cái da đầu nó không lột lên được, nếu không nó thay đổi còn nhanh hơn thế nữa.

Từ dạo thằng Tâm đầu láng xù nhóm này, nhiều lúc thấy nó cũng tồi tội, mắt lấm le lấm lét khi nhìn thấy ba mụ dật dờ thấy mà phát chán. Hắn quê đó mà. Hắn đâu có cớ gì xù tụi mình. Chẳng lẽ hắn bảo, mấy bà chê tui đầu láng làm chi à! Đố nó dám nói câu này. Nó cũng không thể bảo tui nghỉ chơi với mấy bà, như thế lại càng kỳ hơn. Thế là nó phải trốn chui trốn nhủi, trốn đi theo học nhóm với bọn hiền hiền, khờ khờ… Mà cái bọn đó cũng hay, chẳng khi nào chê bai ai, người đời thiếu gì cái để chê cơ chứ. Mà không chê thì thôi, chúng còn ngưỡng mộ thế mới chết. Chúng ngưỡng mộ thằng Tâm đầu láng giải toán cừ khôi. Giỏi cực kỳ vi tính, lại biết viết phần mềm. Thì cho là đúng đi. Nhưng nếu như thế sao không ngưỡng mộ Lê Bá Khánh Trình, cũng giỏi toán vậy, người ta giỏi gấp trăm lần ấy chứ, lại thi quốc tế nữa.

Sự đời đôi khi cũng lắm phen. Được khen không khoái thì khoái cái gì, thế là nó cuốn gói theo bọn kia. Thỉnh thoảng Huệ còn thấy nó tay cầm thước, tay cầm phấn, giải toán trước sự say mê của mấy cô nàng khờ khờ. Mặt cứ tươi roi rói. Cái vẻ tươi tắn này còn lâu mới có khi còn trong nhóm Huệ.

Ờ, mà tại sao khi còn chơi chung nhóm nó không hề tươi tắn nhỉ, lúc nào cũng lầm bầm, sù sụ. Bây giờ nó như lột xác, như cây sống đời, thế là nó cứ xanh um cả lên.

Nhưng cũng đừng hòng mà xanh um với ba mụ dật dờ thấy mà phát chán.

- Quên tụi này rồi chứ gì.

- Ghê thật. Không bao giờ hiểu nổi người đời!

- Lại sụ cái mặt xuống. Gặp tụi này là xụ cái mặt xuống.

- Đâu có, hắn chối leo lẻo. Ai mà quên mấy bà cho được. Chẳng qua là gần nhà học chung cho tiện.

- Vậy thì tại sao sinh nhật tui ông cũng không nhớ? Mấy kỳ trước ông nhớ rõ lắm mà!

- Ờ ha…

- Ờ ha cái gì mà ờ ha…

Vậy đó. Thế là nó xù nhóm này luôn. Không có thằng Tâm đầu láng, ba mụ cũng dẹp tiệm. Lâu lâu gặp nhau bà nào như bà nấy cứ thở dài thườn thượt. Hồi đó thấy vậy mà vui há. Vui sao không vui, nếu không vui thì bây giờ đâu có tiếc rẻ. Chiều chiều thấy thằng Tâm chở con Lan đi học thấy mà ứa gan. Cái con mụ nhóm trưởng ấy mà, nó cả gan xóa xổ mình thì mình cho nó biết tay. Nhưng mà ngặt một nỗi, cái con Lan ấy, lúc nào nó cũng dịu dàng, nói móc thì nó không biết. Chẳng lẽ hét lên mày dám giật thằng Tâm đầu láng của nhóm tao, chẳng ra làm sao cả, lại giông giống như đánh ghen. Nó có phải chồng mình đâu. Đúng là buồn cười, đúng là nhảm nhí…

Thế là nó đi luôn. Gần một tháng trời ba đứa mới họp ở quán chè bà Tám được hai lần. Tao thấy dạo này tụi mình mất phong độ dễ sợ đó nghen. Đúng là chè ngon cỡ nào thì ăn mãi cũng buồn. Chả bù ngày xưa, giành giật với thằng Tâm ăn lấy ăn để. Buồn quá, trời xui đất khiến thế nào, ba mụ bỗng dưng lăn đùng sang làm thơ. Mang tiếng là mùa hè nhưng phượng có thấy bông nào đâu, sân trường từ dạo cây phượng trốc gốc có còn thấy cây phượng nào nữa đâu, thế mà trong thơ cứ đỏ lòe loẹt. Phượng chiều, phượng sáng, mênh mang mênh mang Phượng… Lại thêm cái tật ca ca cẩm cẩm: "Mỗi năm đến hè lòng man mác buồn…". Mà đúng là buồn thật. "Buồn quắt quay. Buồn tơi tả. Buồn như cánh phượng". (Thơ con Dung).

Hồi đi học gặp gỡ hoài còn thấy buồn, huống gì bây giờ ngồi một đống trong nhà, học nhóm thì lại héo queo héo quắt.

Huệ lại tiếp tục quan sát con nhỏ em mình. Hình như dạo này nó có vẻ điệu đàng hơn thì phải.

- Hạnh, mày có thấy buồn không vậy?

- Mắc gì mà buồn?

Nó trả lời chẳng đâu vào đâu. Mà phải rồi, nó tên Hạnh mà, hạnh là hạnh phúc chứ đâu. Đã hạnh phúc thì buồn gì được. Nghĩ mà buồn cho cái tên Huệ. Hình như có cả nhạc buồn phụ họa nữa đấy, chẳng biết cái ông nhạc sĩ mô tê nào bỗng dưng viết: "Lan Huệ sầu ai Lan Huệ héo…héo…héo……". Ngay cả chữ héo còn kéo dài ra mấy khuôn nhạc, thế là… héo queo. Nhà có bốn chị em, Hùng, Hạnh, Hoàng, ai tên cũng sang cả dù chung một vần H. Chỉ có mỗi mình mình: Huệ, chẳng ra làm sao!

Còn nhớ cái dạo tụi nó đem vào cuốn bói, cộng trừ tên tuổi, Huệ được con số 7, người mang số này hay buồn vu vơ…. Đúng là chẳng ra làm sao thật. Sai đúng chưa biết, nhưng giờ đây nghĩ lại cứ thấy bừng bực.

- Chẳng lẽ mày không hề thấy buồn à? Huệ lại hỏi tiếp.

- Ở đó mà buồn! – Con Hạnh trả lời tỉnh queo – Đi chơi với em không?

- Đi đâu?

- Đi đá cầu.

- Tao mà đi đá cầu à?

- Vậy thì chị ở nhà!

Thoắt một cái, nó biến ra cửa. Hai cái nơ tưng tưng.

- Thôi được rồi, chờ tao với! – Huệ nhỏm phắt dậy – Xem tụi mày thế nào.

- Yên tâm đi, chị sẽ thấy vui lắm.

- Tao đi xem thôi, không có đá đâu, ở đó mà vui với thích…

Đó là một cái sân cỏ mấp mô như núi lửa sau trường của tụi nó. Khoảng chục đứa, đứa nào cũng đen, có lẽ vì thường xuyên phơi nắng. Thế mới thấy con Hạnh vẫn còn trắng chán. Bỗng đâu lố nhố bốn năm thằng. Huệ chột dạ.

- Mày đừng nói tao là chị mày nhé, cứ nói là bạn thôi.

- Sao vậy?

- Nói như thế dễ hơn, chứ tao thấy mình chướng chướng.

- Hà hà… Sao cũng được.

Nó cười ngon lành. Cười đến rung nơ. Bọn kia cũng cười.

- Ai vậy?

- Bạn tao đấy, ở thành phố mới về.

- Nhìn nước da tái tái xanh xanh là đủ biết.

Trời ạ, thiếu điều Huệ chui đầu xuống đất. Bọn học trò lớp dưới bây giờ ghê thật, cũng biết bốc phét như ai, có thua gì đàn chị nó đâu. Sợ nó còn ma hơn nữa. Nanh nọc.

- Bạn tên gì sao không giới thiệu?

- Ờ… Huệ. Tên nguyên văn là Nguyễn Thị Lan Huệ – Hạnh nói.

- Ôi, tên một loài hoa, đẹp quá.

Một thằng bất ngờ quì xuống. Chắc nó đang diễn tuồng đôi mắt em làm tôi chết mệt vì tình đây! Thây kệ, Huệ cứ phớt lờ. Thế cũng xong. Chẳng mấy chốc nó quên Huệ thật.

- Chia phe đi.

- Bạn tao không biết chơi đâu! – Con Hạnh nói.

- Không biết thì tập, sợ gì.

Bỗng dưng, Huệ thấy mình thua kém kinh khủng. Nghĩ cũng ngứa gan, thế là nhảy vào. Một trận mưa cầu như mưa đá cứ nhè Huệ xối xả. Bở hơi tai, cuối cùng thì cũng chấm dứt. Về, kết thúc một buổi chiều thảm hại. Đêm, mình mẩy nhức nhối như lòi xương ra ngoài.

- Chị dở tệ, mai đi nữa không?

- Còn lâu, trò gì mà chán ngấy.

Một hôm, bỗng dưng thằng Tâm đầu láng xuất hiện ở quán bà Tám. Hắn bận một bộ đồ quá ư sạch sẽ, bảnh bao. Miệng cười hề hề. Chắc là bị tụi kia nghỉ chơi chứ gì. Nhìn là biết ngay.

- Chuyện gì? Ba mụ dật dờ thấy mà phát chán hét lên. Tui nói thật với ông nghe, không có ai thiệt tình với ông bằng tụi tui đâu.

- Thì tui có nói gì đâu. Tui tới để xin lỗi.

- Ừ, như thế tốt đấy, lại biết điều. Con mụ Lan hết cho ông chở đi học nhóm chứ gì?

- Làm gì có. Mấy bà cứ suy bụng ta ra bụng mình.

- Vậy thì sao không chở nó đi học nhóm đi, còn tới đây xin lỗi phải gì?

- Tui tới xin lỗi, mấy bà không chịu thì tui về đó.

Nói vậy thôi chứ ai lại bắt bẻ cơ chứ. Ba mụ  mừng rơn. Mà kể ra thằng Tâm cũng tội. Đã bảo tóc là tóc của nó, nó có xịt keo thì cũng là xịt tóc nó. Nó có xịt vào tóc của mình đâu.

Thằng Tâm lấy ra một món quà có cột nơ đàng hoàng.

- Ái chà, dạo này cũng lễ nghĩa đến không ngờ.

- Quà của bà đó! – Nó dúi vào tay Huệ.

- Cho tui? Ha ha… Xúc động quá, tui khóc bây giờ.

- Ừ, thì sinh nhật vừa rồi ấy mà, tui quên thiệt… Thôi bây giờ tui phải đi học nhóm đây.

- Ơ… Thì ra là ông vẫn còn học nhóm với tụi nó?

- Thì nhà gần cho tiện vậy thôi. Mấy bà làm gì dữ vậy? Nếu muốn, mấy bà cũng có thể học chung.

- Cái dzụ[6] này tụi tui phải xem lại à nha.

- Vậy thì thôi.

Và thôi thật. Hắn đi mất tiêu. Làm mất hứng. Bên trong gói quà là cái đĩa CD được hắn nắn nót viết: "Thân tặng bà trò chơi này, do tui tự viết chương trình mất cả năm trời đó nha. Nhớ chăm sóc nó thật cẩn thận, cho nó ăn đúng theo chỉ dẫn".

Đó là một con Nhện con được lập trình. Mỗi ngày cho nó ăn ba lần, mỗi lần ba đơn vị thuốc bổ. Trong một tuần phải dẫn nó đi chơi công viên nước Đầm Sen hai lần, phải đóng tiền học phí cho nó học Anh văn vào các ngày thứ 3, 5, 7, hoặc 2, 4, 6. Mà muốn có tiền thì phải đi làm thêm, gõ văn bản ở công ty "NHỆN HOAN HỈ". Cô giáo của nó là một con nhện già màu đen thui, đeo kiếng cận, nhưng Anh văn thì thuộc làu làu, nguyên một bộ từ điển. Con nhện lại vốn làm biếng không bao giờ chịu học. Thế là để đảm bảo về mặt tri thức cho nó, cũng là một trong những yếu tố phải đạt được để nó có thể tiếp tục trò chơi, Huệ bắt buộc phải làm bài thay. Hệ số tri thức được tính bằng số từ mới học trong tuần. Mỗi tuần đều có kiểm tra gắt gao như quỉ. Chưa kể lâu lâu, nó bỗng dưng lăn đùng ra đòi đi hát Karaoke, hát toàn nhạc ngoại. Nó lại hát dở ẹc, cái giọng được ghi âm chua lét giống như giọng thằng Tâm, lại chuyên môn hát sai, mỗi lần hát sai Huệ phải chỉnh lại từ cho chính xác, nếu không nó sẽ mất năng lượng và ốm lại.

Hát không được cũng ốm, ăn không được cũng ốm. Đã vậy nó còn khoái lên mạng chát với bạn bè thế giới, khoái chơi ô chữ. Nhưng nó có làm được cái quái gì đâu, toàn Huệ làm tất. Mỗi lần làm hộ xong, nó kêu thánh kiu và lớn lên một miligam đơn vị. Nuôi nó được một tháng thì nó đậu đại học trường đại học NHỆN HIỂU BIẾT. Thế nhưng vẫn chưa xong, nó tiếp tục đòi… du học tại Hoa Kỳ.

Ở Hoa Kỳ cái gì cũng mắc cả. Nhà hàng thì chém đẹp.. Một đơn vị thức ăn nhanh phải tốn đến 10 từ mới và hai trang văn bản. Chưa kể hôm nào đủ sức, Huệ còn cho nó đi xem phim tại Hô-ly-út giá ba đơn vị USD. Mỗi lần xem phim, nó được tặng một chiếc nón hiểu biết. Hệ số thông minh của nó cứ thế mà tăng dần.

Đầu tiên nó thông minh như cái cối đá, sau thì như cái chày, cái muỗng. Từ lúc đi du học, nó đã thông minh bằng con bò, xem phim năm lần tại Hô-ly-út, cộng với đỗ hai bằng thạc sĩ BIẾT TUỐT, hiện tại nó đã thông minh gần bằng con heo. Trọng lượng nó đã được nâng lên rõ rệt, nửa kí lô.

Đó là sơ bộ về nó. Càng nuôi càng thấy nó thay đổi tính tình, khó dạy. Nó thật dễ giận hờn. Quên dẫn nó đi học thêm ngoại ngữ là nó cú rủ như bị nhúng nước. Nhiệt độ tăng nhanh, biếng ăn, không chỉ thế, nó còn có triệu chứng sút cân. Mặt thì đen thui trở lại. Từ dạo đỗ đại học cao cấp, đi công viên trợt tàu cao tốc, đừng hòng nó vào. Có lẽ nó chê đó là trò chơi con nít. Dân đại học có khác.

Theo niên lịch của loài nhện, vào năm 30009 (hiện tại nó đã được 300 tuổi), sẽ có một cơn đại thanh trừng diễn ra trên thế giới loài nhện. Hễ mở máy lên là nó đưa ra một danh sách các đối thủ. Có một con nhện Hồng Kông đang dẫn đầu chỉ số của nó là 5004. Bộ bí kíp như "sim lai" không là cái đinh gì với nó, nó thuộc nhuyễn như cháo. Nó được cập nhật theo chương trình mới nhất, dạng Anh văn trực cảm, đụng một cái là nó bật ra ngay. Không chỉ có vậy, những câu hỏi hóc búa của con nhện Hồng Kông, chỉ cần một câu là đủ làm con nhện của Huệ mềm nhũn ra ngay. Đã vậy, mỗi lần nó mở miệng là đủ 10 câu đố. Trả lời không xong xem như đứt bóng, toi xương.

Mỗi ngày con nhện Hồng Kông cứ bò nghênh ngang sang lãnh địa người khác thách đấu. Nhưng để thách đấu được với nó thì phải thắng 5 con nhện cấp dưới.

Đầu tiên là thắng con Mai-cồ, một con nhện đỏ tía như gà chọi. Nó có cả thảy 17 đôi găng tay mầu nhiệm. Chỉ số thông minh của nó gần bằng con lừa, 4 bằng Đíp-phờ-lôm, hai bằng thạc sĩ xã hội học. Nó đã từng du học qua 5 trường đại học danh tiếng trên thế giới.

Nhưng nó có một nhược điểm là hay bị đau bụng mỗi khi ăn quà vặt. Xin các bạn hiểu cho, quà vặt ở đây được hiểu như một đơn vị ngôn ngữ. Nó rất sợ thành ngữ. Nhác thấy thành ngữ là trốn chui trốn nhủi. Thông thường, những lúc bị ngộ độc thức ăn như vậy, mắt nó đỏ lên, bụng rung rinh. Nó vội vã chuồn về hang động của mình. (Nó hoàn toàn trái ngược với con nhện Tiến sĩ văn chương, mở miệng ra là tuôn toàn thành ngữ, không chỉ thế, nó còn ăn nói cầu kỳ. Có một hôm, buồn miệng, bỗng dưng nó nói chữ mây làm Huệ rối ruột cả lên, chẳng biết đây là bùa chú gì, hóa ra nó đang sáng tạo từ, vu vơ vậy thôi, chẳng động chạm gì đến con nhện của Huệ)

Trở lại với con Maicồ, muốn tiếp cận với nó phải xây những thư viện thành ngữ  khắp nơi, như gài mìn vào lãnh địa của nó. Hoặc cho nó những từ không được cập nhật. Ví dụ thảy cho nó một đạo bùa có chữ cà chớn, thế là nó đỏ mặt lên bối rối, không biết là chữ gì. (Tất nhiên là sau này Huệ mới biết được nhược điểm của nó). Và phải đánh nhanh nếu không sau những lần đau bịnh như thế nó sẽ luyện linh đan, có nhiều linh đan thì xem như bó tay đừng hòng thắng được nó nữa. Sức mạnh mỗi lần như thế tăng gấp đôi. Chỉ cần đủ hai năm đơn vị là chỉ số thông minh của nó hơn hẳn dê xồm.

Từ ngày con Mai-cồ xuất hiện, Huệ mất ăn mất ngủ. Mới một giờ trưa nó đã thách đấu ở hoang mạc tình yêu đến những ba lần. Gởi kèm tối hậu thư. Sau một tuần giao tranh khốc liệt con nhện của Huệ mới tiêu diệt được nó. Chỉ số thông minh đã được nâng lên bằng con heo. Nó nói thánh kiu và cân nặng tăng lên hai mili đơn vị.

Để ăn mừng sự kiện này, Huệ tự thưởng mình bằng một chầu chè tại quán bà Tám. Kể có nó cũng vui. Từ lúc nuôi nó, Huệ quên bẵng thời gian, mặc cho tụi con Dung kêu gào thảm thiết, mặt xanh xao cả ra, xanh như con nhện đuôi chồn lửa.

- Trời ạ, bà bỏ tui, chắc tui chết mất.

Nói chết vậy thôi chứ chẳng bao giờ chịu chết. Nó cứ như cây trường sinh, mới chết hôm qua chiều hôm nay đã thấy xanh um, cười nói tí tởn khoe sắp được đi chơi Đà Lạt. Người đời nó vậy.

Người hớn hở nhất có lẽ là thằng Tâm đầu láng. Lâu lâu nó mới tạt qua chỗ Huệ, tui ghé thăm con nhện đó mà, nói nghe vô ơn dễ sợ, nó thăm con nhện chứ không thèm thăm mình. Lại len lén cài thêm hai ba con nhện phù thủy khác. Con nào con nấy bùa phép cùng mình, lại thâm độc. Có con có nhiều trái táo làm tê liệt toàn thân đến ba ngày. Lại phải chạy sang lâu đài tình ái mượn hoàng tử về mi một cái mới sống dậy, bằng không cứ ngủ luôn.

- Bà thách đấu với con yểu điệu thục nữ chưa?

- Đấu với con Mai-cồ đã mệt gần chết rồi. Suýt chút nữa là thua. Nhện tui sút đến hai kí thịt đơn vị. May mà thắng nên đã phục hồi.

- Nhằm nhò gì con đó. Nếu nhện bà thắng con yểu điệu thục nữ, làn da của nó sẽ mướt rượt như hoa hậu.

- Sao giống tóc ông quá vậy!

Huệ buột miệng. Thằng Tâm tẽn tò im ru. Thấy vậy cũng tội. Đã nói tóc nó xịt keo thì cũng là tóc của nó. Nó có xịt keo lên tóc của mình đâu.

- Tui nói chơi thôi, có gì mà buồn xo vậy. Tui sẽ không nói vậy nữa. Thế còn ngoài da dẻ, con cưng của tui còn được cái gì nữa không?

Thằng Tâm mặt sáng rỡ.

Còn chứ! Nó sẽ được tặng hai đôi khoen mua trong siêu thị, hoặc đổi lấy một cây son Líp-ai[7].

Bỗng dưng Huệ nhớ quán bà Tám những ngày đông đủ:

- Tui mời ông ra quán bà Tám nha. Chịu không?

Rồi lại chợt nghĩ, trời ơi sao mình xuống giá dữ vậy. Lúc trước thì đừng hòng. Nghĩ một hồi Huệ lại nói tiếp:

- Đừng có từ chối đó. Lại viện cớ mắc đi học nhóm với mấy con kia là chết với tui.

- Ai từ chối bà hồi nào mà nghi ngờ.

- Ừ, liệu hồn đó. Tui không biết chiều chuộng ai đâu. Đây là lần đầu, liệu mà nhớ lấy.

Hắn cười ha ha.

- Xin tuân lệnh, lệnh bà… già.

Chiều xuống. Ghé sang nhà từng đứa, cả bọn vui như Tết. Phải nói là lâu lắm rồi mới họp lại một cách "hương xưa" như vậy. Con Dung xơi tái một lúc bốn ly chè. Nó y như con nhện Mai-cồ, ăn cho lắm lại than đau bụng.

Nhiều lúc cứ ngẫm nghĩ, sao cái lũ nhện cứ giống người quá. Không biết khi viết chương trình cho mấy con nhện phù thủy thằng Tâm đầu láng có lấy tụi này làm nguyên mẫu không nữa. Nó mà lấy thì nó chết với tay mình.

Ờ, mà nếu như chuyện ấy có thật thì không biết mình thuộc loại nhện nào nhỉ, nó ám chỉ mình loại gì nhỉ. Nhưng cái chi tiết nếu thắng con Mai-cồ phần thưởng sẽ là hai đôi khoen, hoặc đổi lấy một hộp son môi Líp-ai, cứ ngờ ngợ, quen quen. Lần đi siêu thị đó có thằng Tâm đi theo, mình rủ nó đi chứ ai. Cũng chính miệng mình hỏi nó nên lấy cái nào.

Nhưng mà thôi kệ nó, cũng thích đấy chứ. Vậy mình chính là con yểu điệu thục nữ chứ không ai khác. Nhất định chiều này phải đi đánh con yểu điệu thục nữ để xem mặt mũi nó như thế nào. Nó mà xấu xí thì liệu hồn với bà.

Thế còn con Dung, chắc nó là con Mai-cồ rồi. Mà nhìn cái mặt nó thấy cũng hơi giông giống. Đỏ tía, bậm trợn, đôi môi thì lòi ra ngoài.

Bỗng dưng Huệ buột miệng nói:

- Ông về với nhóm tụi tui đi, không có ông buồn muốn chết. Tụi tui cũng chẳng biết xài xể ai.

- Đúng rồi đó! – Con Dung phụ họa – Tui hứa sẽ không đối xử ngược đãi với ông nữa. Ngẫm nghĩ đời có nhiều người danh giá dễ sợ, mới đó đã được người ta năn nỉ rồi! – Giọng nó chua ngoa buồn cười.

- Thì tui có bỏ mấy bà đâu. Thằng Tâm chối đây đẩy.

- Thế ai ngày ngày đi chở con mụ Lan chứ? Hầu hạ nó vừa thôi, kẻo nó lại lên nước nhìn tụi này bằng nửa con mắt. Mà tui cũng không hiểu, cái nhóm đó có gì mà ông mê đắm dữ vậy không biết. Tui thấy tụi nó cứ dật dờ như lục bình.

- Lục bình thì chẳng thể nào hay được! – Con Dung phụ họa.

- Hay cái quái gì lục bình.

Thằng Tâm không nói gì, chẳng hiểu từ lúc nào hắn học được cái kiểu cười mím chi thấy mà phát ghét.

- Tui mệt mấy bà quá đi, chuyên nói xấu người ta. Nếu mấy bà đi học chung với tụi nó, mấy bà sẽ thấy khác liền. Bảo đảm là vui như Tết.

- Tụi tui đi theo cho nó cười vào mũi đấy à!

- Làm gì có, mấy bà cứ tưởng tượng.

Mà cũng tưởng tượng thật. Bọn con Lan làm sao dám cười mình. Nó mà cười mình thì mình móc mắt nó ra. Nhưng móc mắt nó còn dễ, đằng này nó cứ cười cười giả giả, nói năng cũng lịch duyệt, muốn móc cũng không thể móc được. Nhưng chuyện đời ai mà biết, lỡ cười cười lịch duyệt vậy nhưng nó khinh mình trong bụng thì sao. Nó bảo mình làm quen thì sao!

- Nhất định là tụi tui không đi rồi.

Buổi tối, Huệ mở máy lên thăm con nhện. Nhìn nó sổ sữa thấy mà thèm. Bụ bẫm có thua gì thằng Tâm đầu láng. 8 cái chân đã trọng lắm rồi. Cái mặt cũng vui hơn. Nó cũng chơi hoang lắm, đã 12 giờ theo niên lịch của nó vậy mà vẫn còn lang thang ở thung lũng tình yêu. Dắt mãi nó mới chịu về để còn đi qua xem con yểu điệu thục nữ mặt mũi thế nào. Mà đường thì xa xôi chứ có gần gũi gì, 72 dặm, qua 5 cái cầu và một khoảng lội sình.

Con yểu điệu thục nữ cũng ma quái dễ sợ, lãnh địa bày binh bố trận. Nhìn kìa, trời ạ, lâu đài diêm dúa không chịu nổi, toàn trang trí bằng trái tim. Thằng Tâm đầu láng này quá quắt lắm rồi, chắc nó đã lén xem cuốn nhật ký của mình chứ không ai khác. Làm sao nó biết trang trí bằng trái tim nếu nó không nhìn thấy. Nó còn đề thơ lên lâu đài nữa chứ.

Càng đi đến lâu đài Huệ càng tức anh ách. Vậy mà mình đã mời nó đi ăn chè, thật khó ưa.

Nhưng khó ưa cũng chưa bằng con mụ yểu điệu thục nữ, toàn thân toàn là dây chuyền với đôi khoen. Nó đeo muốn sợ hãi luôn. Chẳng lẽ đây là hình ảnh của Huệ trong mắt thằng Tâm? Điểm lại mình, Huệ thấy mình chẳng đeo gì nhiều, quá lắm thì hai chiếc nhẫn hình trái tim là cùng chứ mấy. Dây chuyền thì cũng chỉ có một sợi.

Bên cửa sổ lâu đài con mụ yểu điệu thục nữ đang chải tóc. Đầu thì le que có dăm sợi vậy mà cũng bày đặt tay cầm kiếng, tay cầm lược.

Con Hạnh thò đầu vào phòng:

- Con nhện của chị sao rồi?

Mắt Huệ sáng rỡ:

- Nó bụ bẫm lắm, mày xem kìa!

- Gớm, làm như em bé không bằng!

- Còn hơn cả em bé nữa đấy, nó là cục cưng con tao đấy!

- Lúc nào cũng chúi mũi vào con nhện, chị không chán à! Mai đi đá cầu với bọn em không. Đá xong sẽ ăn mừng sinh nhật thằng Cường hí. Cái thằng hỏi tên chị dạo đi đá cầu lần trước đó.

Huệ nhìn nó nghi ngờ:

- Dạo này tao thấy mày nhắc nó hơi nhiều rồi đó nghen.

Nghĩ ngợi một hồi lại nói thêm: "Liệu hồn đó!". Giọng cũng cong cớn không thua gì mấy bà mẹ chồng trong phim. Nghĩ cũng giông giống, nếu mình mà là mẹ chồng chắc khó dữ lắm. Thằng nào mà léng phéng con bà là coi như toi xương. Làm mẹ chồng cũng sướng, có quyền mắng nhiếc thoải mái mà không sợ bị mắng nhiếc lại.

Mặt con Hạnh sụi lơ sau câu nói của mẹ chồng Huệ.

- Là sao, chị có đi không? Nó lúng búng.

- Để tao nghĩ lại đã.

- Còn nghĩ gì nữa.

- Mà tao hỏi thật, mày có gì với nó không?

- Là có cái gì?

- Là thằng Cường hí chứ ai!

- Vô duyên. Ai mà có cái gì!

- Ừ, liệu hồn đó con, lo chơi cho lắm vào. Nhìn cái mặt đỏ bừng của mày kìa.

Huệ thấy mình biến thành bà mẹ chồng, Huệ nhấm nháp cái hương vị đó.

Mới sáng con Hạnh đã kéo Huệ dậy. Nó đã mặc sẵn chiếc áo thun có hình Davis. Hai cái nơ cột nhong nhỏng.

- Nhìn hai cái nơ của mày tao thấy gớm quá. Chịu khó đi giặt đi.

- Sao đâu!

- Ờ đó mà không sao. Đi chung với mày có mà mang tiếng.

- Thôi, mệt chị quá đi, tụi nó đang chờ ngoài cổng kìa.

Mà đúng thật, lố nhố bốn năm thằng. Thằng Cường hí đi đầu, bảnh tỏn. Nó đi thẳng vào nhà, tự tin như nhà của nó không bằng. Huệ từ từ đi ra trừng mắt:

- Đi đâu dậy[8]? Biết chị là ai không em!

- Dạ biết ạ!

- Tốt. Biết chị là chị con Hạnh không em!

- Em biết lâu rồi – Nó đáp tỉnh bơ – Em biết từ lần đá cầu trước.

- Trời ạ, thế mà tụi mày dám kêu tao bằng con này con kia à!

Thằng quỉ sứ nghệt mặt ra cười. Con mắt híp thấy mà bắt gớm. Nhưng hình như nó không hề biết chuyện này. Nhiều khi nó còn tưởng mình cười… quyến rũ nữa kia.

- Hi hi… Ai biểu chị tự xưng là bạn làm chi.

Con nít bây giờ quá quắt quá. Đó là câu kết luận của Huệ sau một hồi đôi co. Mà nghĩ cũng tại mình. Nếu mình không xưng là bạn con Hạnh thì đâu có chuyện này.

Buổi sinh nhật thấy vậy mà cũng xôm tụ dễ sợ. Cũng bánh kem, đèn cầy, cũng hát Happy… cũng nhắm mắt lại ước một điều gì đó.

Trời ơi, sao mà nó giống bọn mình thế nhỉ không biết. Nó bê nguyên xi. Nhưng mà nghĩ cho cùng thì những trò đó cũng đâu phải của riêng bọn Huệ. Hình như bọn Huệ cũng bê nguyên xi từ trong phim ra. Người này chôm của người kia, chôm qua chôm lại hóa thành vòng tròn.

- Thôi, bỏ đi, tao sẽ tổ chức sinh nhật cho bọn mày ở một chỗ độc đáo hơn! – Huệ nói.

Cả bọn mừng rú lên. Huệ kéo chúng vào quán bà Tám. Thằng Tâm ở đâu không biết bỗng xuất hiện kéo theo bọn con Lan. Nhìn mặt thằng Tâm có vẻ bạo dạn, không tẽn tò như ngày nào mới tách khỏi nhóm.

- Bà ở đâu mà tụi tui tìm muốn chết.

- Tìm làm gì?

- Thì rủ bà đi ăn chè chứ làm cái gì nữa.

Tụi tui, ghê thật. Nó nói tụi tui tức là ý nó nói nó thuộc về bọn kia à? Tụi con Lan khờ khờ quê quê? Nhưng bọn chúng rủ mình ăn chè, tức là tụi tui gồm cả bọn mình chứ còn gì nữa.

Con Lan dịu dàng đi vào. Trời ạ, sao trời cho người này dịu dàng lại cho người kia hung dữ. Người hung dữ càng ngày càng phải dữ thêm, người dịu dàng càng ngày càng dịu dàng thêm. Người dịu dàng tóc càng dài thêm cho dịu dàng, người hung dữ tóc càng ngày càng khô cháy. Người hung dữ phải làm gì cho dịu dàng đây hở trời.

- Con nhện của Huệ sao rồi?

Trời ơi người dịu dàng lại hỏi đúng đứa con cưng của Huệ nữa chứ. Có muốn hung dữ cũng không thể hung dữ. Hóa ra người hung dữ cũng có thể dịu dàng.

- Trời ơi nó dễ thương lắm! – Mắt Huệ sáng bừng lên – Hôm qua nó vừa đánh con yểu điệu thục nữ một trận te tua. Chiếm được lâu đài tình ái và hai mươi bảy thùng trái tim chiến lợi phẩm.

Quái lạ, sao mình nói nhiều thế nhỉ? Huệ chột dạ. Cũng vừa may tụi con Dung ở đâu không biết bỗng dưng xuất hiện. Nhìn thấy Huệ nó bối rối, bào chữa khẽ vào tai Huệ.

- Thằng Tâm và cả con Lan đến nhà tao rủ đi ăn chè. Tao từ chối mãi nhưng nó cứ bắt phải đi. Thế còn mày, mày còn kể chuyện con nhện cho chúng nó nghe nữa.

- Thì nó hỏi chứ bộ. Mà thôi, tụi nó cũng vui đấy chứ.

- Ờ, tao cũng thấy vậy.

- Thế sao lúc trước mày bảo nó như… lục bình.

Ha ha, ờ cười đi con. Cười cho lắm vào. Trái tim nói vậy. Trái tim thì biết quái gì mà nói nhỉ? Nhưng mà nó vẫn cứ nói. Trái tim có giống con nhện ảo không, đổi màu, nhiều thử thách không. Trên đời này có trái tim nào tên yểu điệu thục nữ?

Những ly chè được bưng lên, bốc khói. Chúng thơm cái vị vani, trời ạ, cái mùi này, đã có một thời chúng nằm buồn tẻ không thiết tha, sao bây giờ lại quyến rũ đến thế. Lại quá đông người, không còn lèo tèo như dạo nào.

Bọn thằng Cường nhảy toáng lên.

- Chị Huệ ơi, đốt đèn cầy đi. Vui quá. Thế này là tiên rồi.

Nó gọi mình là chị à? Sao dịu dàng thế hả cái bọn yêu tinh. Lại bảo là tiên nữa chứ, nó nói ai nhỉ, thế có chết không?

Trời ạ, sao trời lại sinh ra cái mùi vani trong chè bà Tám mà làm gì…

N.N.T

– Hết –




[1] Ăn trộm

[2]

[3] Nến

[4] Gán ghép

[5] Hào hứng

[6] Vụ

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét