Chủ Nhật, 22 tháng 9, 2013

Ca Dia Nguc FE70B8DD.html

Ca Dia Nguc FE70B8DD.html

Cửa Địa Ngục

Dịch giả : Bồ Giang
Chương 1

Quay lưng giữa bước đường về
Lắng nghe nhìn lại bên hè phố đêm
Thành đô mờ mịt im lìm
Ngủ say, và chẳng ai tìm dấu theo
A.E . Housman Cửa địa Ngục
(Đan – Chinh dịch )

Nguyên tác
Midmost of the homeward track
Once we listened and looked back,
But the city, dusk and mute,
Slept, and there was no pursuit
Hell Gata

Chương 1
Vào cuối mùa đông năm em tôi qua đời, tôi trở về Hoa Thịnh Đốn lần đầu tiên sau nhiều năm xa cách. Tôi trở về vì em tôi đã điện thoại cho tôi hay thân phụ chúng tôi đau nặng và rất có thể ông bị ung thư. Từ Luân Đôn, tôi vội vàng bay về phi trường Quốc Tế Dulles bằng phi cơ phản lực, đón một chiếc tắc xi phóng về Hoa Thịnh Đốn, và ghi tên tại Marlyn, một khách sạn nhỏ ở đường N là nơi nhiều người thuộc Toà Lãng Sự Anh và Sở Ngoại Kiều vẫn thường trú ngụ vì tiền phòng không đắt và vì nó khiến cho họ liên tưởng đến những lữ quán xinh xắn bên nước Anh.
Tôi cạo râu một cách chớp nhoáng trước khi đi gặp em tôi tại Câu Lạc Bộ Báo Chí Qu�! ��c Gia để cùng uống một chầu rượu và ăn một bữa cơm tối. Sau khi ăn uống xong, chúng tôi sẽ lái xe về Warrenton, ở quận Fauquier trong tiểu bang Virginia để thăm ba tôi và người em gái của tôi vừa từ Cựu Kim Sơn bay sang đây.
Đây là một chuyện trọng đại không thể nào tránh khỏi. Từ đó là một cơn ác mộng sáng loà với đống bùn nhơ kết hợp bởi phản trắc, ngoan cố và ngu si. Tôi nói như tthế mặc dầu tôi biết rõ trong đống bùn này còn có hai điều tốt đẹp và cả hai đều không phải là việc do tôi làm.
Stuart Dunbar thông tín viên đang xuống giá hiện giúp việc cho United Publications và vẫn thường sống trong căn nhà của tôi ở Luân Đôn tại đường Stration mỗi khi không đi gây rối ở những nơi nào khác trên thế giới, là một người mà bất cứ ai từng có chút liên hệ, cũng phải nhìn nhận vô cùng hung bạo. Người thuộc dòng họ Dunbar, như bao nhiêu vị về các đời trước, là một con người lãng mạn, luôn luôn sẵn sàng xem việc làm tan nát cõi lòng như một cuộc trao đổi cảm giác, kiêu hãnh với chiếc lông trắng phất phơ trên cái đầu lấm máu, gần như chỉ có thể học hỏi bằng chính kinh nghiệm của mình, rất ít khi có thể hiểu được những người khác làm sao đến nỗi cơ thể không còn vẹn toàn chỉ vì kém thông minh.
Chắc quý bạn nghĩ rằng có lẽ tôi đã chớp được một chút lương tri ấu trĩ không giống như khi tôi đoạt Hải Quân Bội Tinh hồi tôi còn là một Trung úy trẻ tuổi trong Binh Chủng Hải Quân. Thật ra đó chỉ là sự việc gần như may mắn bất ngờ. Tôi đã có một hành động tuyệt vọng nhưng khẩn thiết để đưa đơn vị của tôi thoát khỏi một tình trạng! bế t�! �c mà chính tôi đã dẫn họ vào đó vì thiếu khả năng quan sát trước rồi mới thay đổi chiến thuật. Quý bạn nên hiểu rằng tôi không được khiêm nhượng về vụ này. Tôi thường thức giấc giựa đêm tối, hồi tưởng chuyện xưa và toát mồ hôi đầy mình, nhớ lại những tên địch núp bắn trên ngọn cây, những viên đạn trọng pháo tua tủa rơi xuống như mưa, khẩu súng máy nhả đạn rào rào trong đám lá mã đề (1)chỉ cách đầu mấy phân cần phải bị tiêu diệt thì mọi người mới có thể di động. Tôi thao thức, toát mồ hôi tưởng những cảnh này không phải vì sợ hãi mà vì một nỗi khó chịu hết sức mơ hồ. Tôi không nhiều tưởng tượng đến nỗi phải sợ hãi, nhưng tôi có đầy đủ lý do để khó chịu.
Lúc năm giờ chiều, khi tôi bước vào quầy rượu dành riêng cho hội viên ở Câu Lạc Bộ Bái Chí Quốc Gia, tôi có cảm tưởng mình mới cách biệt chừng một tuần lễ, Richard đang thi hành phận sự phía sau quầy, làm công việc thường lệ cho những người thường lệ. Căn phòng ăn dài ở phía cuối quầy rượu náo động với những tiếng chuyện trò. Tôi có thể trông thấy Metcalf, viên đại úy cao lớn, có thói quen ăn cơm chiều rất sớm đang ngốn ngấu một trong những dĩa xà lách đặc biệt của ông ở tận mút phòng; một người mà tôi đã từng quen biết vào một buổi tối ở Cựu Kim Sơn lúc ông ta đang lo lắng vì một thứ giấy tờ hết hạn.
Richard lên tiếng khi tôi vừa gác chân trên cây sắt dưới quầy và đặt khủyu tay vào một vũng bia chưa kịp lau trên mặt quầy:
– Chào ông Dunbar. Vui mừng được gặp lại ông. Ông dùng một ly Gentleman pha đá nhé?
– Chào anh Richard. T�! �i cũng ! rất vui vì gặp anh. Không, hãy cho tôi một ly Martini, không pha gì hết. Đừng bỏ ô liu. Chỉ vắt chanh.
Anh nhếch cặp lông mày rậm lên với tôi trong lúc khởi sự rót Martini. Anh ta vẫn còn nhớ tới sở thích ngày nào của tôi hồi tôi sống ở Hoa Thịnh Đốn. Thứ Whisky đặc biệt ở Câu Lạc Bộ Báo Chí vốn nỗi tiết tuyệt ngon nhưng cũng rất đắt, được mệnh danh là "Virginia Gentleman" vì được chế tạo bởi một nhà quí tộc ở Virginia trong quận Fairfax là một vùng có nhiều ngọn đồi kế tiếp nhau. Richard thề rằng anh ta hãy còn nhớ ngày Câu Lạc Bộ bán ra thứ rượu này lần đầu tiên với giá mười lăm xu một ly và các hội viên đều thích uống nóng. Tôi thấy khó tin được rằng sở thích của con người đã đổi thay quá nhiều như thế, một kẻ dễ tin và tôi vẫn thường đánh giá quá cao những sở thích và trí thông minh của mọi người . Đó không phải là một sự việc khó làm.
Tôi đứng ở quầy gần nửa tiếng đồng hồ, uống cạn ly Martini đầu tiên một cách từ từ trong lúc chờ đợi Ted và nhìn những người quen cũ ra vào. Phần đông đều chuyện tró với tôi tựa hồ họ mới gặp tôi ngày hôm qua, mặc dầu chỉ có một người thật sự như thế. Tiếng ồn ào ở quầy rượu và trong phòng ăn giảm dần trong lúc các hội viên lần lượt đi ra, một số người về thẳng nhà, một số người khác trở xuống các văn phòng của họ ở phía dưới tầng thứ mười ba là tầng lầu được Câu Lạc Bộ xử dụng. Đây là một trong rất nhiều điều khác lạ của Hoa Thịnh Đốn: không một tòa nhà nào có thể cao hơn vòm Điện Capitol (2) .Toà nhà này đặt ra một giới hạn mười ta tầng cho mọi cao ốc ! và mọi! tính toán của các kiến trúc sư cùng các nhà thầu khoán xây cất đều lấy đó làm chuẩn Câu Lạc Bộ không tin dị đoàn, nên vẫn gọi tầng thứ mười ba là tầng thứ mười ba.
Tôi không lấy làm ngạc nhiên nhiều vì Ted trễ hẹn. Ted là một trong những nhân vật tuổi trẻ tài cao tại RIEC – Radio Instrumerntation and Electronic Corporation- một công ty lừng danh và lớn nhất ở Hoa Thịnh Đốn trong lãnh vực nghiên cứu và phát triễn kỹ nghệ các vùng ngoại ô. Mới ba mươi sáu tuổi, Ted đã lên phó chủ thịch công ty RIEC, đặc trách các công tác kỹ thuật, và tôi hết sức hãnh diện có một người em trai xuất sắc như thế. Dù phải ở trong ngành Hải Quân ba năm tại Triều Tiên, tương lai của Ted vẫn không bị ảnh hưởng. Tôi biết Ted vẫn thường làm việc thêm ngoài giờ nên không thấy lo ngại.
Tôi vừa gọi thêm một ly Martini nữa thì ống loa giọng trầm đặt trên trần vang lên tiếng gọi tên tôi. Đó là giọng của người nữ điện thoại viên đang muốn tìm tôi. Tôi liền cầm ly đi tới máy điện thoại gán trên tường ngay bên ngoài cửa ra vào quầy rượu và dở máy lên. Tiếng cô gái trả lời ngay:
– Thưa ông Dunbar, có người muốn nói chuyện với ông. Ông vui lòng chờ một chút xíu.
Tôi nghe một tiếng cạch nhỏ, rồi cô gái nói tiếp với người kia:
– Thưa ông, có ông Dunbar đây.
Sau đó là giọng của một người hoàn toàn xa lạ với tôi:
– Ông Dunbar? Tôi là Trung Úy Dennison, thuộc ban điều tra của Sở Cảnh Sát Đô Thị Hoa Thịnh Đốn ; Tôi gọi ông từ nhà người em trai của ông. Tôi đã tìm thấy một ghi chú trên cuốn sổ tay của ông ấy và được biết ông ấy có hẹn g�! �p ông v! ào lúc năm giờ.
Tôi cảm thấy như có một lưỡi dao xoi vào bụng.
– Em tôi hiện không có mặt ở đây Trung úy có thể cho tôi biết có chuyện gì vậy ?
– Một tai nạn nhỏ. Ông vui lòng nghé qua nhà em ông ngay bây giờ ? Chắc ông biết chỗ ?
– Vâng, tôi biết . Tôi sẽ đến đó trong vòng mười lăm phút là tối đa.
Tôi đã từng chạm trán nhiều lần với những viên thám tử cảnh sát trong hầu hết mọi quốc gia mà quý bạn có thể gọi tên ra và tôi đã học được một điều : hỏi họ trong điện thoại là một việc vô ích và càng hỏi họ nhiều câu chừng nào thì lại càng vô ích hơn chừng đó. Nhưng tôi phải giữ gìn lời nói. Tôi cũng được biết rằng các viên Trung úy thám tử cảnh sát rất ít khi điều tra những tai nạn nhỏ. Thật đáng ngại vì Ted không đích thân nói chuyện với tôi. Tôi cố nhớ lại trong cuộc điện dằm ngắn ngủi, viên Trung uý có nhắc đến hai chữ án mạng hay không. Chắc chắn ông ta không nói. Nhưng tôi vẫn bước nhanh gần như chạy ra hành lang tới thang máy trong một nỗi lo láng băn khoăn cực độ. Mãi khi vào trong thang máy rồi, tôi mới nhận thấy mình đang cầm ly Martini theo trên tay. Tôi đặt cái ly ngay trên sàn và nhìn rượu trong ly rung nhẹ theo chuyễn động của thang máy
Nhà của Ted nằm trong một cao ốc tương đối mới ở Đại lộ Massachusetts ngay lối ra Công Trường Scott. Tôi đón một chiếc tắc xi ở đường Mười Bốn bên cạnh Press Building và tới nơi năm phút sau đó. Xe phải chạy vòng quanh Hội Tiến Bộ Khoa Học Hoa Kỳ có lối kiến trúc khá lạ lùng, rồi qua một khải hoàn môn của Công Trường, và cuối cùng vào một đoạn đường cong. Tô! i cố kh! ông suy nghĩ.
Tôi đã ngửi thấy mùi nồng nặc trong lúc bước vào căn nhà ở tầng lầu trên cùng, đi qua trước mặt người đàn ông vận thường phục vừa mở cửa cho tôi. Trước hết là mùi cháy, phảng phất khắp nơi với một mùi nặng hơn ngửi muốn nôn. Tôi biết ngay đó là mùi gì . Tôi còn nhớ rõ mùi này từ Tarawa, một đảo san hô trong Quần đảo Gilbert, nơi chúng tôi đã dùng súng phun lửa lần đầu tiên để quét sạch những công sự phòng thủ mà các kỹ sư đại tài Nhật Bản đã xây cất để cho Hải Quân Hoàng Gia đồn trú. Đó là mùi thịt người cháy.
Người đàn ông đã mở cửa cho tôi đi theo vào tận trong phòng khách, và bảo:
– Tôi là Mike Dennison. Ban nãy chính tôi đã nói điện thoại với ông.
Tôi chăm chú nhìn ông ta với vẻ nóng nảy :
– Em tôi đâu ?
– Ông ấy hiện không còn ở đây. Ông Dunbar, ông nên ngồi xuống đây và uống với tôi một ly trong lúc tôi kể lại hết câu chuyện cho ông nghe.
– Tôi vẫn bình thường mà. Tôi không muốn uống. Có chuyện gì vậy? Lửa cháy?
– Vâng . Dường như người em của ông đã đi ngủ hơi muộn và còn muốn hút một điều thuốc lá cuối cùng. Cả chiếc giường cháy tiêu gần hết.
Tôi đứng sững nhìn ông ta một hồi lâu, mà sự thật không trông thấy ông ta. Tôi có cảm giác tựa hồ ai vừa trùm kín đầu tôi bằng một cái bao bố khiến tôi không còn trông thấy ánh sáng và trở nên khó thở. Trong bóng tồi lờ mờ tâm trí tôi cố lục soát lại hằng trăm mớ ký ức. Ted khóc nức nở hôm bị té khỏi cột buồm rơi xuống một đống sắt vụn ở boong trước, Ted đấu côn cấu năm cuối cùng ở Đại học! đườn! g Virginia. Ted với chiếc vĩ cầm và ngón đàn tuyệt diệu trong một ban nhạc tài tử ở Luân Đôn, con người tài hoa, linh hoạt cùng với vợ là Amanda và hai đứa con trong cảnh gia đình đầm ấm.
Một lúc sau tôi mới biết mình đang ngồi xuống, với đôi mắt nhắm nghiền. Tôi biết nước mắt chảy dầm đìa trên mặt tôi khi tôi mở mắt ra và nhìn Dennison lại.
Ông ta liền bảo :
– Ông Dunbar, tôi rất lấy làm buồn tiếc. Nhưng tôi không tìm được cách nào khác để tỏ thật với ông.
Tôi đáp :
– Không đâu. Tôi đã ngửi thấy mùi và đoán biết được. Bây giờ tôi nghĩ tôi có thể xin ông một ly rượu ông vừa nói ban nãy.
Ông ta đi tới tủ rượu ở cuối phòng khách và mang trở lại cho tôi một ly whisky đậm đặc, một loại rượu đặc biệt sản xuất ở Tô Các Lan. Tôi đang uống thì hai người từ trong phòng ngủ đi ra phòng khách. Một người là một viên Đại úy Sở Cứu Hỏa. Người kia có thân hình gầy cao, mái tóc hoa râm trông chừng năm mươi tuổi. Ông ta là một con người hoàn toàn xám, tóc xám, mắt xám, áo quần xám. Ông ta đội một cái mũ cũng màu xám. Dennison giới thiệu ông ta trước :
– Ông Dunbar, đây là ông Dillingham – John Dillingham. Và đây là Đại úy Hobbes chuyên viên thuộc Sở Cứu Hoả.
Mặc dầu đang thảng thốt, tôi vẫn để ý ông ta không chịu giới thiệu rõ Dillingham. Dennison nhìn tôi chăm chú hơn và nói tiếp:
– Tôi cần hỏi ông một vài câu, nếu ông cảm thấy khoẻ.
Tôi bảo:
– Bây giờ tôi đã như thường.
Dillingham lấy cái ly khỏi tay tôi và đi rót thêm whisky. Ông ta vẫn chưa nói một tiếng nào.Khi ông ta đem ly rượu! trở l�! ��i, tôi đứng dậy và bước tới khung cửa sổ lớn ở bức tường phía Bắc. Tôi có thể trông thấy tháp Gloria in Excelsis của giáo đường vươn lên khỏi các ngọn cây, và đỉnh nhọn của ngôi nhà thờ Hồi Giáo như gần hơn. Tôi nhìn quanh phòng trong lúc tôi quay người lại để đối diện với họ. Căn phòng trông tựa hồ Ted đã tiếp khách trong đêm vừa qua. Trên chiếc bàn thấp, ba cái ly còn một chút rượu dưới đáy. Dennison trông thấy tôi đang nhìn mấy chiếc ly và lên tiếng trước:
– Em của ông đã tiê²p khách trong đêm qua. Căn cứ theo đó thì có cả thảy hai người, một đàn ông và một đàn bà. Lúc đó đêm đã khuya lắm. Vào khoảng hai giờ sáng nay, một người láng giềng ngửi thấy mùi khói và gọi Sở Cứu Hoả. Họ đã kéo tới đây với đầ đủ người và dụng cụ, họ luôn luôn như thế đối với các cao ốc lớn dùng làm nhà ở. Nhưng đám cháy chỉ là một vụ hỏa hoạn nhỏ. Chỉ nội trong phòng ngủ.
Hobbes góp lời:
– Nếu nhân viên cứu hỏa không đến kịp thì nhất định lửa đã lan qua các phòng khác.
Dennison gật đầu :
– Đúng thế. Lửa đã bắt cháy từ chiếc giường . Xác chết đã teo lại, e không thể nào nhận diện nổi.
Chắc hẳn mặt tôi lúc bấy giờ trắng ra như tờ giất, khi tôi hỏi lại:
– Có cần phải nhận diện hay không?
– Chúng tôi còn chưa biết được. Sáng ngày mai người ta mới nghiệm thi. Trong lúc chờ đợi, chúng tôi đã tìm thấy vật này.
Ông ta xòe bàn tay ra cho tôi xem. Chiếc chẫn lớn và đắt tiền của Ted nằm giữa lòng bàn tay ông ta. Tôi không dám sờ vào đó. Nó đã hóa thành màu đen và chảy mất một nửa như! ng tôi v! ẫn nhận ra.
Tôi bảo:
– Cái đó của Ted.
Dennison đặt chiếc nhẫn lên mặt bàn.
– Ông Dunbar, tôi cần phải hỏi ông một vài câu.
Tôi trả lời:
– Xin ông cứ hỏi.
Cả hai chúng tôi lại ngồi trở xuống
Dennison nhìn tôi một cách nghiêm trang và bắt đầu chất vấn:
– Em ông đã có vợ phải không?
– Ted ly dị cách đây ba năm. Bà vợ cũ hiện giờ sống tại Seatle.
– Mấy người con?
– Hai. Bọn chúng đều ở với bà mẹ.
– Em ông có nghĩ đến việc tục huyền?
– Điều này tôi không được rõ. Trong thư, Ted không hề nói gì với tôi về chuyện đó.
– Còn bạn gái?
– Tôi cũng không biết vì Ted không bao giờ nhắc tới.
– Quan điểm chính trị của ông ấy như thế nào?
– Tôi không tin Ted thích chuyện chính trị. Em tôi đã sống ở quân Columbia.
– Tôi biết. Điều tôi muốn nói là …. có khi nào ông biết em ông đặc biệt lưu ý đến chuyện chính trị ngoài lề.
Dillingham lên tiếng lần đầu tiên:
– Ông Dunbar, điều Trung uý Dennison muốn nói, mặc dầu ông ấy không biết hỏi sao cho thật tế nhị, là ông có bao giờ nghĩ rằng em ông có chân trong một tổ chức nào bị Biện lý Cuộc xếp vào loại phá hoại Quốc gia.
Tôi gay gắt hỏi:
– Ông Dillingham, có phải ông muốn tìm một chiếc giày trong ống quần hay không?
Ông ta đáp:
– Tôi chỉ hỏi chứ không trả lời.
– Thế thì ông là một người khờ dại quá sức.
Trước lời sỉ mắng của tôi, ông ta vẫn thản nhiên :
– Có lẽ đúng thế. Nhưng câu hỏi đó nhắm một mục �! �ích đ�! ��ng đắn. Ông có vui lòng trả lời ? Hay là mình tiếp tục qua vấn đề khác ?
Tôi đành phải dấu dịu :
– Tôi xin lỗi vì đã mất bình tĩnh ? Không , tôi không hay biết gì về hội hè theo kiểu đó. Nhưng nhất định các ông có nhiều phương tiện để tìm hiểu một cách chính xác hơn tôi. Chẳng lẽ ông không xem được hồ sơ cá nhân của các vị phó chủ tịch và các cấp chỉ huy trong những công ty nghiên cứu và phát triển kỹ thuật phòng ngự ? Tôi tin chắc trong đó có đầy đủ mọi chi tiết.
Dillingham nhìn nhận :
– Chuyện đó đâu có trái phép. Tôi đã xem được tất cả.
– Và ông nghĩ sao về vụ này?
– Sau này mình sẽ bàn lại kỹ hơn. Mike , anh cứ tiếp tục đi.
Dennison liền khởi sự hỏi:
– Ông gặp em ông lần cuối cùng vào lúc nào?
Tôi đáp:
– Cách đây độ một năm. Ở Luân Đôn, nơi tôi hiện làm việc.
Dillingham lại chen lời:
– Ông Dunbar, ông hiện làm gì?
– Ông là Trưởng Chi Nhánh tại Âu Châu của hãng United Publications.
Ông ta quay sang nhìn Dennison và gật đầu. Dennison lại tiếp tục chất vấn :
– Có phải em ông đang đi nghĩ phép ? Ông ấy còn đi đâu khác nữa ?
– Tôi không chắc mình còn nhớ rõ. Hình như là Đan Mạch , Áo, Pháp và một nơi nào đó ở Thụy Sĩ , có lẽ Bernese Oberland. Ted rất thích trượt tuyết.
– Không có một nước nào ở bên kia bức màn sắt ?
Tôi kềm chế cơn nóng giận của mình một cách khó khăn, cố nghĩ rằng ông ta không có chủ tâm nhục mạ.
– Theo tôi biết thì không có. Nhưng tôi không làm sao biết hết mọi chuyện.
Dennison liếc nhanh Dilling! ham. Tôi! không để ý kỹ nhưng tôi có cảm tưởng Dillingham vừa ra dấu cho ông ta. Dennison gấp cuốn sổ tay lại.
– Ông Dunbar, ông có định ở lâu tại Hoa Thịnh Đốn?
– Tôi chưa biết. Tôi sẽ phải đi xuống Warrenton rồi trở về đây thu xếp về việc mai táng.
Cổ họng tôi nghẹn lại trong lúc tôi nói mấy lời này và tôi lo sợ sắp sửa khóc nữa. Nhưng tôi trấn tĩnh được.
Dillingham bảo:
– Chắc phải mất một thời gian. Trước hết ngày mai người ta mới khám tử thi. Và chúng tôi chưa muốn câu chuyện lên mặt báo.
Tôi nhìn sửng Dillingham. Chắc hẳn vẻ ngạc nhiên của tôi hiện rõ trên mặt, nên ông ta nói tiếp:
– Có nhiều điều chúng tôi cần phải xem xét thật kỹ trước đã. Không có gì nghiêm trọng lắm. Chắc Mike sẽ có thể kể hết đầu đuôi cho ông nghe sau bốn mươi tám giờ. Trong lúc chờ đợi, ông có thể dành cho tôi một chút thời giờ vào sáng ngày mai?
– Để làm gì ?
– Tôi có một vài điều muốn hỏi ông. Mong ông vui lòng?
Tôi không dằn được nóng nảy:
– Tôi hết hiểu nổi rồi! Chuyện gì mà kỳ lạ thế này? Đây chỉ là một tai nạn hay là ông … ông không tin rằng đây là một tai nạn?
Nhưng ông ta vẫn bảo :
– Ông Dunbar, ông vui lòng đợi tới ngày mai.
– Vâng. Mấy giờ?
– Chiều chiều một chút, chắc thuận tiện cho ông? Ông hãy ghé văn phòng tôi, nếu ông muốn , rồi sau đó tôi sẽ mời ông uống một ly rượu.
Ông ta đưa cho tôi một tấm danh thiếp lấy từ trong cuốn sổ tay, trên đó ghi:

John Dillingham
Phòng 30, 2091 đường R
Tây Bắc Hoa Thịnh Đốn

Tôi nói v�! ��i ông ! ta:
– Tôi đoán chừng sẽ từ Warrenton trở về lúc năm giờ chiều.
– Tốt lắm. Tôi sẽ chờ ông.
Ông ta gật đầu với Dennison và Hobbes rồi đi ra. Ông ta khép cửa lại một cách êm nhẹ.
Dennison quay sang tôi :
– Ông Dunbar, thế là xong. Tôi sẽ khóa cửa lại sau khi mình đi.
– Thế là xong, một cách êm ru như thế này à ? Trung úy có nghĩ rằng tôi cũng đang muốn hỏi một vài câu ?
– Nếu ông hỏi, tôi sẽ không thể trả lời được. Tôi thành thật xin lỗi trước. Ngày mai chúng tôi sẽ biết thêm nhiều điều và có lẽ chính ông Dillingham sẽ kể lại với ông. Ông sẵn sàng ra về chứ ?
Tôi sẵn sàng để ra về. Dennison dùng xe cảnh sát đưa tôi về tới khách sạn Marlyn và tôi gọi Laura ở Werrenton để cho hay tôi sẽ xuống đó sáng ngày mai, còn Ted thì vừa được đề cử đi công tác ở xa.

Cửa Địa Ngục

Dịch giả : Bồ Giang
Chương 2

Đêm hốm ấy tôi ngủ rất ít. Tôi đã bị dằn vặt không phải vì những cơn ác mộng bất thần trong những quãng thời gian ngắn mà vì những lúc phải thao thức. Tôi dã bị ám ảnh bởi Ted suốt đêm. Tư tưởng thao thức về Ted còn tàn tệ hơn những cơn ác mộng. Tôi biết các giấc mơ đều không thật dù nó có cởi lên vai tôi. Nhưng tư tưởng thao thức thì nhất định là thật.
Ted là một con người phi thường ngay từ hồi còn nhỏ. Mới lên ba tuổi, Ted đã tập đọc, nhờ má chúng tôi chỉ dạy với với những đầu đề lớn trên trang nhất của nhật báo phát hàng mỗi sáng. Những đầu đề vào thời đó là những bài nói về cuộc chiến tranh ở Tây Ban Nha, về Guernica và Guadalajara (1), về sự trung lập ở Địa Trung Hải. Ted là cả một hỗn hơọp kỳ lạ : vừa mạnh mẽ và can đảm trong những khi hành động, vừa êm dịu trong những khi cần phải chịu đựng. Trong một lúc thao thức, tôi nhớ lại một hôm Ted đã bắt gặp hai đứa bạn , tất cả mới lên sáu đang lấy đuôi mấy con mèo con quấn cổ chúng cho tới khi chúng chết ngạt. Ted nổi giận như điên cuồng nhất định dánh hai đứa bạn cho chết luôn. Tôi liền kéo Ted ra và cố gắng giải thích với Ted rằng như thế là dùng bạo lực để chống bạo lực. Tôi lớn hơn Ted mười tuổi và tự cho mình vô cùng khôn ngoan. Mãi mấy năm sau tôi mới nhận thấy Ted có lý và chỉ có bạo lực mới chiến thắng được bạo lực.Khỏi cần lưu ý tới những giáo điều đạo Gia Tô làm gì.
Đêm hôm đó thật dài, gấp đôi bình thườn,g vì những cơn ác mộng chập chờn và những tư tưởng thao thức. Những t�! � tưởng thao thức dằn vặt tôi nhiều nhất khi tôi nghĩ đến ba tôi và Laura ở Warrenton. Tôi phải gặp họ vào sáng ngày mai. Nhưng trước khi đi tôi phải thu xếp một vài công chuyện. Tôi bước xuống giường lúc bảy giờ sáng, cạo râu và thay quần áo rồi bắt đầu đi lo mọi việc. Quyết định cuối cùng của tôi buổi sáng hôm ấy, trong lúc liếc nhìn đôi mắt có quần thâm của tôi trong tấm kiếng dùng để cạo râu, là tôi chưa thể kể cho ba tôi và Laura nghe chuyện về Ted. Trong đầu óc tôi lúc này đang có quá nhiều điểm nghi ngờ
Từ Warrenton tôi lái xe trở về Hoa Thịnh Đốn vào lúc gần năm giờ chiều, vừa kịp thì giờ đến thẳng nhà Dìllingham. Tôi may mắn, tìm được một chỗ đậu xe thuộc khu nhà ở đường R , ngay lối ra Đại lộ Conneticut, một vùng ngoại ô nửa quê, nửa tỉnh đầy những căn phố xưa cũ như bao khu ngoại ô khác của Hoa Thịnh Đốn , nơi tôi đã chào đời bốn mươi lăm năm về trước. Ngôi nhà mang số 2091 là một trong những căn phố này, một căn nhà hẹp , cao ba tầng và khá sang trọng, với mấy khung cửa sổ trên mái nhà ghi lại dấu vết của thời vàng son lúc gia đình nào cũng có thể mướn được người giúp việc nhà và cho người làm ở trên tầng thượng, tương tự một tầng lầu thứ tư. Đó là một ngôi nhà xinh xắn, đã được xây cất trong khoảng từ năm 1900 trở về sau, với một khung hình bán nguyệt phía trên cửa trước. Hiện giờ cửa được sơn màu đỏ tươi.
Ngôi nhà đúng theo tấm danh thiếp của Dillingham khiến cho tôi hết sức kinh ngạc. Trên mặt cửa là một dấu hiệu kỳ lạ và một cái tên
The Hermes Corp
Xuất Nhập Cảng.

Không có ai trả l! ời ti�! �ng gõ cửa của tôi. Tôi xoay thử quả nắm và nhận thấy cửa không có khóa. Khi tôi bước vào bên trong, một người đàn bà trẻ tuổi từ một khung cửa khác bên phải cũng vừa bước ra/
Tôi liền bảo:
– Tôi có hẹn với ông Dillingham.
– Chắc ông là ông Dunbar. Ông đợi một chút.
Nói đoạn nàng nhấc điện thoại lên và bấm một cái nút.
– Thưa ông Dillingham, ông Dunbar vừa đến.
Nàng mỉm cười với tôi và dẫn tôi đi trở qua khung cửa bên phải. Dillingham đứng dậy và bước ra khỏi phía sau bàn giấy , đưa bàn tay cho tôi bắt. Căn phòng trang hoàng theo lối Đan Mạch thật sang trọng và tối tân. Bàn viết bằng gỗ hồ đào, mấy chiếc ghế bành thấp bọc vải đỏ, cái bàn nước dải bằng cẩm thạch, và chiếc trường kỷ đều hòa hợp với nhau. Treo trên ba mặt tường là mấy bức tranh vẽ lại bức " Sao chiềủ ( Star in the rays of the Descending Sun) của Joan Miro, một bức họa ảnh chân trời của Bernard Buffet, và bức " Nằm Xuống (Lying Down) của Paul Klee. Mặt tường thứ tư được che kín bằng một tấm vải màu tựa hồ phía sau là một khung cửa sổ rộng, mà tôi biết chắc không có. Đó là bức tường chungvới nhà bên cạnh.
Dillingham mở lời:
– Cám ơn ông đã đến. Dunbar, ông hãy ngồi xuống đây.
Tôi nhận thấy ông ta dùng lối gọi quen thuộc của người Anh, bằng chữ tên cuối.
Chúng tôi cùng ngồi xuống hai bên cái bàn nước. Cô gái ở phòng ngoài trở vào với hai cái tách màu xanh xinh xắn và một bình trà bọc trong một cái giỏ ủ. Dillingham nhếch đôi mày xám với tôi và tôi gật đầu. Ông ta rót trà cho cả hai chúng tôi và chúng tôi uống từng hớp tr! ong im l�! ��ng một lúc;
Rồi tôi bảo:
– Đây là loại trà Earl Grey ?
Ông ta đáp:
– Vâng, tôi đã nhiễm thói quen uống trà trong thời gian ở Cambridre.
Ông ta lại uống trà nóng một cách thận trọng rồi đặt tách xuống và nói tiếp :
– Dunbar, tôi chắc chắn ông đang thắc mắc đây là chuyện gì. Tôi có thể phác họa sơ lược cho ông nghe để tránh nhiều câu hỏi phiền phức ?
– Xin ông cứ trình bày.
– Trước hết, tôi xin hỏi ông một câu. Ông vẫn còn giữ giấy tờ bảo đảm an ninh chứ ?
– Hình như ông biết mọi chuyện về tôi, tại sao về điểm này ông lại không rõ ?
– Ông đã xuất ngoại quá nhiều.
– Vâng , tất cả vẫn còn đầy đủ. Tôi đã xin được từ năm 1948 , lúc tôi đi tham dự một cuộc họp báo về những cuộc thí nghiệm nguyên tử ngoài khơi Thái Bình Dương. Tôi đã cất giữ cẩn thận. Hằng năm tôi vnẫ đi công tác tại SHAPE [2] .Tại sao ông hỏi tôi về chuyện này ?
– Bởi vì những điều mà tôi sắp sửa kể cho ông nghe được xếp vào loại trọng yếu.
– Tôi đoán ông sắp cho tôi biết ông là CIA ?
– Ông đoán không đúng, bởi vì tôi không phải. Đầu tiên, tôi muốn nói Hermes quả thật là một công ty thực hiện cái nghiệp vụ xuất nhập cảng. Các tầng lầu khác của cao ốc này đều đầy đủ hồ sơ của công ty. Nhưng đó cũng là cái bề ngoài. Chắc ông sẽ tin tôi hơn nếu tôi nói rằng bất cứ một điểm khả nghi nào về cái bề ngoài này sẽ gây tai hại trầm trọng cho nền an ninh của quốc gia, ít nhất là trong giai đoạn hiện tại
– Ông Dillingham, ông khỏi cần phải nói vòng quanh. Tôi! chỉ ti! n ông, nếu ông có thể cho tôi xem một chứng minh thư hợp lệ.
– Đúng . Tôi biết trước sau gì ông cũng sẽ nói câu đó. Như thế này hợp lệ chứ ?
Ông ta lấy một tấm bìa bọc nhựa từ túi trong của áo vét và đặt nhẹ lên bàn. Tôi nhìn qua và biết ngay đó là một loại thẻ của Bộ Quốc Phòng, với khuôn dấu nổi màu vàng thật lớn.
– Vâng , tôi đã trông thấy loại giấy này. Nhất định không phải CIA. Nhưng thế thì ông thuộc cơ quan nào.
– Tôi không muốn lễ lễ dông dài khiến cho ông phải mất thì giờ vô ích. Nói một cách tóm tắt, có một số người không bằng lòng để cho CIA bao thầu mọi việc – Lẽ dĩ nhiên họ không đủ sức làm nổi và họ cũng không có ý định như thế. CIA là một tổ chức thâm lượm tin tức theo đúng điều lệ của nó.
Tôi xen lới :
– Khi nào họ không hoạt động ra ngoài điều lệ của họ.
Đến trang 36


Chương 2 (b)

Đôi mắt dưới hàng lông mày xám tro của ông ta chăm chú nhìn tôi nhưng hình như ông ta không nghe câu nói móc của tôi:
– Tổ chức của chúng tôi thì lại khác. Nó được lập ra để giải quyết các vấn đề bảo toàn tin tức- tức là giữ gìn tin tức. Nó không phải là tình báo, cũng không phải là gián điệp, mặc dầu một đôi khi chúng tôi buộc lòng phải bước vào trong cả hai lãnh vực này vì lý do tự vệ thật sự. Chẳng hạn, giả sử một khoa học gia nào đó ở Hợp Chủng Quốc đang thực hiện một công trình mà kẻ thù cũng như bằng hữu của mình đều muốn tìm hiểu. Phận sự của tồ chức chúng tôi là bảo toàn cho tin tức trọng yếu không bị tiết lộ, bị lấy trộm, bị ! đưa đi! xa, hoặc bị tình nghi, nếu chúng tôi có thể làm tròn sứ mệnh.
– Tôi hiểu. Và chính vì vậy ông đã lưu tâm đến cái chết của người em trai tôi.
– Vâng.
– Và ông sẽ kể cho tôi biết những gì em tôi đang làm?
Dillingham không trả lời ngay. Ông ta đứng dậy và lấy cái ống điếu trên mặt bàn. Đó là một cái ống điếu cũ mèm, không được đánh bóng , có thể tìm thấy hàng chục trong tiệm Bertram, thứ mà giới cảnh sát, công an vẫn thường dùng vì giá tương tương đối rẻ. Ông ta nhồi thuốc vào đầy và châm lửa rồi mới trở về ghế và nói tiếp:
– Thật tình, tôi không muốn kể cho ông nghe một chút nào, nhưng tôi sẽ kể nếu được ông giúp đỡ một vài công việc. Vì lẽ đó, tôi đã hỏi rõ về giấy tờ an ninh của ông.
Ông ta ngửa người ra trong một chiếc ghế bành và thổi một cuộn khói xanh lè lên trời.
Cuối cùng ông ta bắt đầu kể:
– Cách đây sáu năm, một thiên tài điện tử Pháp đã phát minh, hay khám phá , một nguyên lý đơn giản như trò chơi trẻ con, mà ông cũng như tôi không thể nào hiểu nổi dù có được giảng giải cặn kẽ. Mạch điện này được bỏ vào trong một chiếc hộp nhỏ màu đen , kích thước và hình dạng tương tự một hộp xì gà loại thường. Kể từ khi chương trình không gian cần dùng tới, người ta đã tạo được nhiều tiến bộ trong vấn đề rút gọn lại. Cắm vào bất cứ nguồn điện nào – chỉ cần một lỗ tiếp điện trên tường – và vặn lên, cái hộp nhỏ này sẽ tức khắc làm tê liệt mọi hoạt động về điện và điện tử trong một vòng tròn bán kính hơn ba mươi cây số. Nó sẽ tiêu diệt tất c�! �� ra di ! ô, ra đa, truyền hình, trắc viễn, viễn thông, các hệ thống điều khiển, các hệ thống đốt và mọi ứng dụng khác của điện tử cùng điện thường, ngoại trừ – và đây miớ là phép lạ thật sự – ngoại trừ năng lượng do chính nó cấp phát. Nó không gây ra thiệt hại nào mà chỉ làm vô hiệu hóa tất cả.
Tôi liền bảo:
– Tôi đã nghe nói về chuyện đó.
– Chúa ơi, ông nói đùa!
– Đâu có. Cách đây độ chừng năm năm, trong lúc đi công tác tại Ba Lê, tôi đã nghe nói sơ lược về chuyện này trong một bài thuyết trình của một kỹ sư điện tử. Hồi ấy dường như vấn đề đó không được tán thưởng.
Dillingham hít một hơi thở dài một cách khác thường và từ từ thở ra.
– Ông làm tôi hoảng hồn.
– Không , thời ấy nó không được tán thưởng như hiện giờ, vì một lý do rất chí lý. Bởi vì nó có thể làm tê liệt mọi hoạt động bạn cũng như địch. Do đó, người ta chỉ xem như đó là một trò chơi phá rối. Người ta dẹp nó sang một bên, chỉ thỉnh thoảng đem ra bàn luận lại như thuyết trình viên điện tử năm đó.
Ông ta ngừng nói một lát để đốt lại chiếc ống điếu đã tắt trên tay ông từ lúc nào .
– Nhưng một chuyện khác lạ đã xảy ra. Người em của ông đã nghiên cứu vấn đề này mà không hay biết gì về viên kỹ sư người Pháp. Những vụ trùng hợp như thế thỉnh thoảng vẫn xảy đến. Nhưng người em của ông đã tiến xa hơn. Ông ấy dã khuyéch đại tầm hữu hiệu của hộp điện – Lên nhiều lần – đầu tiên là hai trăm cây số, rồi hai ngàn và năm ngàn. Sau đó, ông ấy lại dùng một kỹ thuật di tản ! để u�! �n cong tầm hoạt động, nhờ vậy nó có thể chạy vòng quanh quả địa cầu. Tuy nhiên ông ấy vẫn không thỏa mãn với kết quả đó, bởi vì mặc dầu tầm hiệu lực đã gia tăng vấn dề chính yếu vẫn chưa được giải quyết. Bởi vậy ông ấy cứ tiếp tục nghiên cứu cho đến lúc ông ấy đã thành công.
– Ông muốn nói em tôi đã tìm ra một cácg che chở cho máy móc của mình không bị cái hộp đó làm tê liệt?
– Không. Người ta đã làm thử, nhưng dụng cụ cần phải trang bị quá nặng nề chỉ có những cao ốc lớn mới đủ chỗ chứa. Ngay cả những chiếc tàu thủy cở lớn cũng không đủ sức chở nổi, còn nói gì tới những phi cơ và hỏa tiễn. Điều em ông đã thực hiện là tìm một cách khiến cho cái hộp đen nhỏ kia biết phân biệt, chỉ làm tê liệt dụng cụ của kẻ địch, và chừa dụng cụ của mình ra. Đó là một vấn đề liên quan đến tần số, tôi hiểu, nhưng tôi không sao giải thích được. Chắc ông có thể hiểu vì sao.
Tôi bảo :
– Chuyện có vẻ hữu lý. Ted vốn là một chuyên viên đạc biệt nghiên cứu các tần số và rất giỏi về vấn đề này. Năm ngoái có một lần em tôi đã đưa tôi đi nghe một buổi hòa nhạc của ban nhạc hoà tấu Luân Đôn và đã nhận ra một tiếng còi ở bên ngoài phòng thấp hơn tiếng kèn oboe một phần tư âm độ. Về phần tôi thì tôi chẳng nghe một tiếng nào.
Dillingham gật đầu :
– Ông ấy đã hoàn toàn thành công. Ông ấy thử lại đủ mọi cách , và bất cứ trường hợp nào cũng tốt đẹp. Tôi nghĩ ông có thể hiểu đây là phương pháp phòng thủ gần như hoàn hảo nhất dể chống lại bất cứ gì.
– Ngay cả hỏa ti! ễn, n�! �u nó làm đảo lộn các hệ thống điều khiển.
– Nó làm được. Nó lại còn có thể khiến các hoả tiễn quay trở về căn c&ư xuất phát, nếu biết cách điều động. Nói tóm lại chẳng những mình có một phương tiện chống lại mọi thứ khí giới mà tự nó có thể xem là một thứ khí giới tuyệt luân , hoàn toàn theo ý mình. Nhưng tôi chắc ông thừa hiểu tình trạng trái ngược.
– Vâng . Nếu một kẻ nào khác chiếm đoạt được phát minh kỳ diệu này.
– Đúng thế , Cán cân lực lượng không thể giữ thăng bằng mãi mãi. Các phương pháp ngăn ngừa không thể có hiệu lực một trăm phần trăm.
Tôi vừa uống trà vừa ngước mắt nhìn Dillingham. Bây giờ ông ta không còn mỉm cười . Ông ta đang đăm đăm nhìn tôi một cách kỳ lạ trong lúc tay gõ chiếc ống điếu để cho tro rơi ra ngoài. Tôi hỏi:
– Tôi muốn nói phải chăng có người khác – ngoài em tôi – đã biết được bí mật này?
Ông ta đáp:
– Không thể biết hết. Đây chính là điểm đang làm tôi điên đầu. Ông nên hiểu (ông ta dừng lại và uống ngụm trà cuối cùng) các họa đồ cất trong tủ sắt tại hãng RIEC không được đầy đủ. Một bộ phận chính yếu- bộ phận của mạch điện làm cho cái hộp đen phân biệt được mình với những hoạt động điện và điện tử của địch – đã bị thiếu.
– Thiếu ?
– Không có trong tập họa đồ, cũng như trong cái hộp đen. Bộ phận đó ở ngay trong đầu của em ông. Ông ấy không bao giờ vẽ thành họa đồ và không bao giờ để bộ phận đó trong cái hộp. Ông hiểu, chính chúng tôi đã yêu cầu ông ấy điều này. Chúng tôi đã nghĩ rằng đó là m! ột các! h bảo mật an toàn nhất.
Tôi cảm thấy bối rối và chắc hẳn đã lộ ra mặt. Ông ta cười một cách gay gắt.
Tôi bảo:
– Tôi không hiểu rõ. Hình như ông nghĩ rằng có kẻ đã giết em tôi để đoạt bộ phận đó. Chắc hẳn bộ phận này giấu đâu đó trong hà em tôi.
6 Bộ phận đó tự nó không nghĩa lý gì với bất cứ ai không có phần còn lại của cái hộp đen. Nó cũng không thể dùng trong hệ thống máy móc của nước khác, như Pháp chẳng hạn. Nhưng ông đang bỏ qua một điểm.
Ông ta nhìn thẳng vào mắt tôi, người nghiêng về phía trước.
– Dunbar, tôi xin đặt lại cho ông với hình thức một câu hỏi – một câu hỏi phân làm hai. Do đâu ông tin chắc em ông đã chết? Và do đâu ông tin chắc chúng tôi nghĩ rắng em ông đã chết?
Tôi dám quả quyết không một ai, dù phớt tỉnh đến đâu, có thể dửng dưng trước một trường hợp như thế này. Các bạn đồng hội với tôi trong Thủy Quân Lục Chiến vẫn thường gọi tôi là " Mặt Đá " mỗi khi họ nghĩ tôi không thèm nghe ai nói gì. Nhưng tôi biết mặt tôi nhất định đang bộc lộ cơn xúc động này. Khóe miệng của Dillingham co rút lại trong lúc ông ta chăm chú nhìn tôi.
Tôi đứng vụt lên và bước tới kệ để tạp chí ở sát bức tường bên cạnh cửa. Tôi nhớ đã trông thấy một tờ Scientific American trên kệ cùng với các thứ khác. Tôi nhớ đã cầm tờ báo lên và lật qua một lát trong lúc tôi cố dằn cơn giận đang đốt cháy khắp người tôi. Một hồi sau, tôi buông tờ báo xuống kệ, nghe tiếng nó rơi lên mặt gỗ đánh bóng. Tôi lấy một hơi thở dài và trở về ghế.
Dillingham lại nói tiếp:
– Dunbar ,! ông nó! i cho tôi biết đi. Quả thật ông xúc động đến thế hay sao?
Tôi bảo:
– Chỉ còn một chút xíu nữa là tôi giết ông.
– Tôi có thể hiểu điều đó.
– Tôi nói thiệt chứ không phải đùa đâu. Ông muốn giải thích rõ ông ngụ ý gì, hay là muốn tôi bắn một phát cho vỡ tan đầu ông ra.
Ông ta vẫn trầm tĩnh đáp lại:
– Ông có thể làm việc đó một cách dễ dàng. Nhưng nó vẫn sẽ không thay đổi gì hết. Lẽ tất nhiên tôi sẽ giải thích. Nhưng bây giờ đã gần bảy giờ rồi, và tôi không muốn bắt cô thư ký của tôi phải về quá trể. Ông vui lòng để tôi mời ông một ly rượu như tôi đã hứa với ông, và nếu tiện xin mời ông ăn cơm tối luôn thể.

Cửa Địa Ngục

Dịch giả : Bồ Giang
Chương 3

Mãi cho đến khi chúng tôi đã ngồi trong một góc tối của tiệm Rive Gauche ở Georgetown, nhà hàng sang trọng nhất khu vực phía nam hoặc phía tây của Le Pavillon, chúng tôi mới nói chuyện trở lại. Người bồi đặt hai ly Martini trước mặt chúng tôi rồi dang ra xa.
Dillingham hỏi:
– Ông vui mừng miễn lỗi cho tôi chứ? Tôi đã suy nghĩ kỹ và không thấy có cách nào hay hơn.
– Ông khỏi phải xin lỗi, vì ông chỉ thi hành phận sự. Ông cảm thấy an toàn trong một nhà hàng công cộng như thế này hay sao?
– Đây mới chính là nơi an toàn hơn hết. Từ bàn này mình không bao giờ nghe được tiếng nói chuyện ở bàn bên cạnh. Từ bây giờ cho đến tám giờ tối, tiệm luôn luôn vắng khách. Từ đây cho tới đó sẽ không có ai ngồi gần mình hơn ông đại tá Kinsman với cô tình nhân của ông ta. Họ đang ở góc đằng kia.
Ông ta gật đầu nhẹ, tiếp tục nói:
– Tôi đã yêu cầu Francois đừng mời ai ngồi gần mình trừ trường hợp bất khả kháng. Tới lúc đó mình sẽ bỏ đi.
– Ông rành việc này hơn tôi nhiều lắm. Bây giờ, xin trở lại câu hỏi của tôi.
– Vâng.Tôi cũng định như thế. Nhưng mình hãy gọi thức ăn trước đã. Nếu ông không thấy gì trở ngại, xin để tôi gọi cho.
Ông ta gọi món escargots và escalopines de vean à la Francaise, với một chai Chateauneuf du Pape, rồi bắt đầu ngay vào đề:
– Em ông không hút thuốc – chắc ông không biết ông ấy đã bỏ được thuốc lá! – và lửa đã bắt đầu cháy một cách giả mạo do một điếu thuốc. Tôi nói giả mạo bởi vì người ta đã dàn cảnh để cho c! húng tôi tin như thế. Em ông là một người uống rượu rất chừng mực. Toàn thể nhân viên ở Hội Quán Jockey, là nơi ông ấy dẫn khách đi, đã cho chúng tôi hay ông ấy chỉ uống một ly cocktail – một thứ rượu không lấy gì làm mạnh, tối nay có lẽ tôi sẽ uống một lúc hai ly. Ông ấy chỉ uống một cái cocktail trước bữa ăn tối và trong lúc ăn không dung rượu vang. Điều này đã khiến cho viên đại úy Sở Cứu hỏa ngạc nhiên. Tuy nhiên, em ông lại bị đốt cháy mà không hề cựa quậy. Đêm hôm qua ai cũng có thể thấy rõ. Nói tóm lại, thân hình nằm trên giường không phải bị đốt tới chết, mà đã là một tử thi trước khi lửa bắt cháy. Và lửa đã lan nhanh rồi cháy lớn vì được châm thêm rượu, có lẽ rượu lấy từ trong tủ của em ông – mặc dầu điều này vẫn còn vài điểm khả nghi.
– Làm sao ông biết được đó là một xác chết?
– Dễ quá. Nghiệm thi. Lỗ đạn xuyên vào đầu.
– Dillingham, ông làm cho tôi thêm rối trí. Ông muốn bảo rằng em tôi đã tự tử hay sao?
– Thôi mà, Dunbar, mình đừng nên làm trò cười. Khắp trong nhà không có một khẩu sung nào. Em ông đã bị bắn ngay trán. Đầu đạn hãy còn ở trong đầu. Cái tử thi đó không phải là xác của em ông.
– Tại sao đêm hôm qua ông không kể hết cả cho tôi biết?
– Đêm hôm qua có nhiều điều chúng tôi còn chưa biết rõ. Chúng tôi không chắc chắn về các sự việc đã xảy ra cũng như … về điểm ông có đáng tin cậy hay không. Mãi đến bây giờ cũng vậy.
Tôi liền hỏi:
– Ông nói như thế với ngụ ý gì?
– Ông hãy suy nghĩ lại một chút đi. Mình hãy giả sử em ông muố! n cho ng�! �ời ta tưởng rằng ông ấy đã rủi ro bị chết cháy. Hãy giả sử ông ấy đã dựng ra tai nạn giả tạo đó – và điều này thì quả thật không sai – rồi rời khỏi nước. Lẽ tất nhiên, chúng tôi phải tự hỏi ông ấy có thể đi đến nơi nào. Mình có thể nói ngay đó là những nơi không mấy then hữu với Hoa-Kỳ. Chúng tôi còn có ý nghĩ không chừng em ông đã bàn với ông về những gì mà ông ấy định làm, căn cứ vào sự kiện ông đã trở về đây một ngày sau khi vụ cháy xảy ra.
– Có phải ông muốn nói em tôi đã bị đầu độc tư tưởng?
– Dunbar, mình nên tránh những ngôn ngữ độc ác đó. Như thế là ngụ ý em ông đã bay qua bên kia Bức Màn Sắt. Trên thế giới hiện giờ có rất nhiều nơi khác không được thân thiện với Hoa-Kỳ, nhất là kể từ khi Hoa-Kỳ lâm chiến tại Việt-Nam. Chẳng hạn ông bạn đồng minh già của mình là Đại tướng De Gaulle, cũng đã lạnh lùng quay mặt với mình và rất có thể ông ấy đã dùng đòn phép để chiếm lấy cái hộp nhỏ màu đen đó. Ông cũng đã biết, thật ra, chính một người Pháp đã khám phá nguyên lý căn bản.
– Ông có thể chứng minh được nghi vấn này?
– Không. Chúng tôi không sao chứng tỏ được đó không phải là xác của em ông, mà cũng không chứng tỏ được đó đúng là xác của ông ấy. Bây giờ, ông thử xét kỹ từng giả thuyết một. Nhưng ông hãy đợi tôi kể cho ông nghe một vài chuyện mà ông còn chưa được biết. Thứ nhất là em ông đã có tên trong bảng danh sách những hành khách của hang Hàng Không Đông Phương đi Nữu-ước hồi sáng ngày hôm nay. Hiện giờ ông ấy đã ở Nữu-ước và hai nhân viên ưu tu của chúng t�! �i đang ! cố tìm cho được tung tích ông ấy. Thứ hai là ông ấy đã ghi tên xin giữ một phòng ở boong A của chiếc Queen Victoria, sẽ nhổ neo vào ngày Thứ Hai. Ông có thể nói em ông định đi đâu?
Tôi nhìn ông ta một hồi lâu, trong lúc cố dằn cơn giận xuống, rồi mới nói:
– Chiếc Victoria sẽ ghé Queenstown-Cobh-và Le Havre với Southampton. Đó là một dự đoán điên cuồng.
– Không đến nỗi điên cuồng đâu. Ông có muốn cá em ông sẽ xuống bến Le Havre?
Tôi bảo:
– Ông đã quẩn trí hay sao? Nhưng nếu quả thật em tôi đi, nhân viên của ông có thể chận bắt tại bến tàu Cunard sáng Thứ Hai.
– Ông vẫn còn không tin à? Chúng tôi… không hề có ý định đó. Vâng, chúng tôi có thể chận bắt ông ấy. Nhưng chúng tôi không muốn. Như vậy sẽ gây rắc rối. Tôi định hành động một cách khác – một cách bán công khai và không gây tiếng vang. Tôi nghĩ chỉ có ông làm công việc này là hay hơn hết.
– Tôi? Tôi đi bắt em ruột của tôi? Ông điên mất rồi. Chính ông vừa bảo tôi không tin chuyện này một chút nào. Theo ý tôi thì em tôi đã chết.
– Ông làm sao biết được?
– Em tôi thà chết còn hơn là điều mà ông nghi ngờ. Ông nên suy nghĩ lại. Hình như ông tự hào mình là một người giỏi lý luận. Theo lời ông thì đâu có gì hữu lý? Chẳng lẽ em tôi dùng tên của mình khi đáp phi cơ của hãng Hàng Không Đông Phương? Hoặc trong bảng danh sách hành khách trên tàu Victoria? Tôi muốn nói, nếu em tôi bị đầu độc tư tưởng.
– Ông làm sao biết được ông ấy hành động như thế nào?
– Điều đó ai cũng phải hiểu. Ông vẫn không biết rõ em tôi đã bay qua N�! ��u-ướ! c.
– Dunbar, ông coi thường chúng tôi quá. Chúng tôi đã kiểm soát mọi đường bay rời khỏi đây. Chúng tôi đã hành động rất nghiêm ngặt, đưa hình ông ấy cho nhân viên hàng không. Hãng Đông Phương là nơi cuối cùng chúng tôi dò hỏi. Quả thật là kẹt cứng nếu chúng tôi không tìm thấy ghi chú về đường bay với tên họ ông ấy ghi rõ ràng trên đó. Còn việc tìm tên ông ấy trong danh sách viếc Victoria thì quá dễ. Tôi phải nhìn nhận tôi vô cùng ngạc nhiên vì ông ấy đã dùng tên thật.
– Chỉ vì thế mà ông nghi ngờ kết luận của ông về việc em tôi bị đầu độc tư tưởng.
– Ồ, tôi vẫn thường dùng thủ đoạn nửa hư nửa thực đó. Dunbar, ông hãy nghĩ kỹ lại đi trong lúc tôi gọi rượu.
Ông ta bắt gặp ánh mắt của viên quản lý và gọi hai ly Martini với cà phê.
Đầu óc tôi vẫn còn choáng váng vì nghi ngờ và thiếu ngủ. Tôi rối trí vì những lý luận của ông ta, nhưng chuyện này quả thật rất kỳ lạ. Tôi không phải là một chuyên viên điều tra có huấn luyện căn bản, và tôi không quen nhảy tới một kết luận minh bạch như thế, khi không có một bằng chứng nào hiển nhiên mà chỉ vin vào những phỏng đoán. Ông ta gần như hoàn toàn tin tưởng vào giả thuyết của mình. Nhưng tôi vẫn còn bám lấy một cái phao mà ông ta không trông thấy. Tôi chợt có quyết định đưa ra cho Dillingham xem.
Tôi liền đưa cho ông ta bức thư Laura đã trao cho tôi hồi chiều ở Belvedere, phía trên Warrenton. Laura đã băn khoăn về việc Ted phải đi công tác đúng lúc tôi về tới, khi nghe tôi kể chuyện, đã đưa cho tôi xem bức thư cuối cùng của Ted gởi cho Laura.
Dillingham từ từ đọc:
!
Lau! ra,
Anh Stuart vừa gọi điện thoại từ Luân-đôn cho hay anh ấy sẽ đến vào khoảng bốn giờ chiều ngày mai (Thứ Tư). Anh ấy và anh sẽ lái xe hơi về Belvedere sau khi ăn tối. Đáng lẽ anh về sớm hơn, nhưng tối nay anh có một cuộc hẹn quan trọng trong một bữa ăn. Có lẽ em còn nhớ những người sắp ăn cơm tối với anh. Họ là bạn của em và Harry, hay ít ra cũng là người quen mà anh đã gặp trong một dạ hội ở Cựu Kim Sơn hôm em dẫn anh đi theo – đó là Jacques de Ménard và Monique, cô em gái của anh ta. Anh ta là một tay cừ khôi về ngành điện tử ở Pháp, và anh ta muốn nói chuyện với anh về một bằng sáng chế của anh.
Sẽ gặp em ngày Thứ Tư.

Dưới bức thư là chữ ký "Ted", đúng nét chữ của em tôi. Dillingham ngẩng lên nhìn tôi khi ông ta đọc xong bức thư. Mặt ông ta hơi nhăn lại trong lúc nói với tôi:
– Bây giờ ông mới chịu kể cho tôi nghe một chuyện mà tôi chưa được biết. Tôi đoán Laura là em gái của ông?
– Vâng.
– Và ông đã không cho bà ấy hay em ông đã chết?
– Không. Chắc ông còn nhớ, tôi không tin chuyện đó.
Ông ta bảo:
– Nhà ông cụ của ông ở đồi Belvedere, phía trên Warrenton, tôi biết chỗ này. Còn Harry là ai?
– Chồng của em gái tôi. Em gái tôi sinh sống ở Cựu Kim Sơn và có chồng là một luật sư cố vấn cho nhiều công ty điện tử ở miền duyên hải phía tây.
Ông ta có vẻ trần ngâm.
– Tôi không ngờ ông lại có thể cho tôi hay một điều mà tôi không được biết, ngoại trừ về quyền khai thác sáng chế cảu em ông.
– Điều gì?
Ông ta nhìn tôi một cách chăm chú.
– Ông có biết hai ! anh em M�! �nard?
– Không. Còn ông?
– Ông ta là sáng lập viên có thiên tài và hiện giữ chức chủ tịch một hãng điện tử Pháp – Compagnie Electronique Francaise, S.A., thường được gọi tắt là CEFSA. CEFSA chính là hãng đã sáng chế chiếc hộp nhỏ màu đen đầu tiên mà tôi vừa kể cho ông nghe.
– Trời ơi!
– Đúng như ông nói. Hoạt động của Ménard rất rộng lớn, tôi đã biết chắc như vậy. Có lẽ không phải chỉ là một sự tình cờ. Ông chắc chắn không còn gì khác muốn kể với tôi?
Tôi gay gắt bảo:
– Dillingham, tôi đã muốn nôn vì cái lối nói chuyện đầy ác ý của ông. Dù tôi có biết chuyện gì đi nữa tôi cũng sẽ không nói cho ông đâu. Nhưng có một chuyện mà tôi sẽ làm. Tôi sẽ ra bến tàu Cunard vào sáng Thứ Hai. Nhưng không phải vì tôi nghĩ rằng sẽ gặp Ted ở đó. Ted đã chết rồi, điều đó còn chắc chắn hơn cả sự kiện các nhân viên của ông còn sống, dù em tôi đã làm gì với chiếc hộp màu đen đi nữa. Nhưng tôi sẽ đến đó, chỉ để chứng tỏ rằng ông đã lầm. Tôi hiện đang được nghỉ phép một thời gian ngắn. Tôi sẽ theo chiếc Victoria trở về Southampton, và tôi sẽ chứng tỏ Ted không có mặt trên tàu.
Dillingham mỉm cười với tôi, một cách khoan hòa.
– Thế là hơn cả những gì tôi ước mong. Cám ơn ông. Tôi chỉ ước mong ông chứng tỏ được điều đó. Tôi có thể lấy vé cho ông? Mặc dầu vào mùa này, nhưng bây giờ đã muộn, mua được vé không phải là chuyện dễ.
– Nếu ông bảo cô thư ký của ông đừng xếp vào hồ sơ liên bang.
Ông ta bỗng bật cười lớn, khiến cho mấy người bồi đều nhìn về phía chúng tôi. Cuối! cùng ô! ng ta nói:
– Được, tôi sẽ làm theo lời ông. Nhưng tôi cũng sẽ cho một người của tôi đáp chuyến tàu này để quan sát diễn tiến của nội vụ.
– Như vậy có nghĩa là tôi cũng đang bị nghi ngờ?
Dillingham không cười nữa.
– Điều đó khiến cho ông ngạc nhiên hay sao?
– Không có gì làm cho tôi ngạc nhiên.
Ông ta trầm ngâm nhìn tôi một lúc rồi bảo:
– Dunbar, tôi đã đọc kỹ hồ sơ lý lịch của ông. Tôi biết rõ đoạn đời đã qua của ông không khác gì chính tôi đã sống đoạn đời ấy. Tôi cũng đã đọc bốn cuốn sách của ông: Đường Về, Lắng Nghe, Thành Đô và Chẳng Ai Tìm Dấu. Cuốn thứ nhất là cuốn sách viết về chiến tranh hay nhất trong số sách cùng loại mà tôi đã có dịp đọc. Nhưng dù sách có hay đến mức nào tôi vẫn không tin người viết. Dù đó là một người đã từng đoạt Hải Quân Bội Tinh.
Tôi cho ông ta biết luôn:
– Ted đã chiếm Ngôi sao Bạc ở Triều Tiên. Tại Chosin Reservoir.
Ông ta vẫn không hé môi cười.
– Thế thì tôi tin ông ấy ít hơn ông một chút. Ông có muốn nghe tôi kể một vài điều tôi được biết về ông?
– Do những nguồn tin nào?
– Ba người bạn xưa cũ nhất của ông. Đầu tiên là MsKcendrick, chủ bút tờ Daily Galaxy xuất bản ở Honolulu.
– Ồ! George.
– Kế đó là Selden, giám đốc phân bộ Viễn Đông của Thế Giới Ngân Hàng (World Bank)
– Ồ! Charles.
– Cuối cùng là Wellfleet, giám đốc Chi Nhánh Đông Kinh của Hiệp Hội Báo Chí Liên Bang (Federated Press Associations).
– Ồ! James.
– Những chi tiết về các cuộc phỏng vấn mà các điều! tra viê! n của chúng tôi đã thu hoạch được quả thật rất khác thường – khác thường từ chiều sâu cho đến chiều rộng. Lúc này tôi có thể cho công bố, nhưng tôi không muốn. Tôi sẽ mô tả một vài nét đại cương về con người của ông, căn cứ theo nhửng phúc trình mà tôi đã đọc.
Tôi gật đầu:
– Để mình hiểu nhau. Xin ông cứ mô tả.
Ông ta khởi sự ngay:
– Ông là một con người lãng mạn, trước ai hết, và có lẽ cũng sau ai hết. Ông kiêu căng một cách hoang đường về tổ tiên Tô-cách-lan của ông. Ông là người kín đáo về phương diện vật chất nhưng không mấy kín đáo về phương diện tin thần và tình cảm. Ông thường tự hành hạ vì những tư tưởng hoài nghi về bất cứ những gì ông đã làm – không phải trước mà sau khi đã làm xong. Theo lời các bạn ông, đó là một việc thừa, vô ích. Ông có lòng can đảm của một người không giàu óc tưởng tượng, mà thật ra không phải như thế. Ông tự cho mình là một kẻ khổ sở và khó khăn mỗi khi cần phải giải quyết một việc gì, mà thật ra cũng phải như thế. Bình thường ông không tin tưởng mình có thể bình tĩnh đương đầu với nguy hiểm. Ông lại đã nhất định từ chối Hải Quân Bội Tinh mà ông đã được đề nghị trao tặng tại Guadalcanal, nhưng người ta không chịu để cho ông từ chối. Vì thế, ông không bao giờ đem ra mang.
Tôi trầm trồ:
– Chà, mê ly quá.
– Họ còn cho tôi biết ông là một con người kỳ lạ khi thì vui tính, khi thì lại rất nghiêm trang – có lẽ chính là một trong những người cuối cùng thuộc dòng dõi quí tộc. Ông không bao giờ kể cho bất cứ ai nghe về chuyện về bất cứ một n! gười �! �àn bà nào mà ông đã từng quen biết, dù trong những lúc say – và họ cũng kể với tôi ông là một tay uống rượu đến cùng nếu ông muốn. Đàn bà nhận thấy ông quyến rũ và vô hại – quyến rũ bởi vì ông có vẻ rụt rè, và vô hại bởi vì ông là một người hiền lành.
Ông ta ngừng lại và uống cạn ly rượu.
– Như thế có đủ không?
Tôi lắc đầu.
– Hơi quá đáng thành ra không được đúng. Bây giờ tôi xin phép về?
– Ông cứ tự nhiên. Để tôi trả tiền xong là mình có thể đi ngay.
Mấy lời sơ lược của ông ta khiến cho cả tâm trí tôi lay chuyển. Tôi suy nghĩ mãi trong lúc bước dọc theo căn phòng và đi vào buồng rửa tay ở phía sau hành lang. Tôi biết câu chuyện về đàn bà xuất phát từ đâu. Trong ba ông bạn cố tri của tôi chỉ có James Wellfleet là người hiểu tôi nhất về điểm đó.
Có nhiều người đàn ông – nhiều hơn quý bạn có thể tưởng – thường nhìn người đàn bà như nhìn một phần của một tổ chức, gần như vô hồn, như chỉ là một món đồ, một vật không có cá tính: máy lạc thú, máy đẻ con, máy giặt rửa, máy may vá. Tôi không phải là một người trong hạng này. Có lẽ chính vì vậy mà Dillingham đã sỉ vả tôi là kẻ rụt rè. Không rụt rè với một cái máy là chuyện quá dễ. Không rụt rè với một đồ vật không có cá tính thì lại càng dễ hơn nữa
Chính vì vậy mà tôi thường rất dễ lúng túng. Những bàn tay con gái mướt lông tơ, những cổ tay con gái no tròn, sự đụng chạm của lông nheo con gái và hơi ấm của da thịt con gái, tất cả đều có thể thấm sâu vào hồn tôi chỉ vì tôi nhận biết được. Chắc vì vậy mà tôi hay rụt ! rè.
Trên đường về, tôi nói với Dillingham:
– Tôi muốn xem qua căn nhà của em tôi, nếu ông thấy không có gì trở ngại.
– Tôi không thấy trở ngại. Chúng tôi đã lục soát hết sức kỹ. Tôi sẽ cùng đi với ông.
– Ông có chìa khóa?
– Vâng. Mình hãy đi xem thử. Rất có thể ông sẽ trông thấy một điểm nào đó mà người của tôi đã không thấy. Nhân tiện, tôi khuyên ông chớ nên lo lắng về việc chôn cất xác chết. Dunbar, ông nên tin tôi, đó không phải là xác em ông đâu. Chúng tôi vẫn chưa biết đó là xác của ai, nhưng nhất định không phải là của ông ấy.
– Tôi vẫn còn không tin như thế.
Quả thật tôi không thể nào tin nổi. Tin chuyện đó tức là phải tin luôn điều mà chắc chắn Ted không thể làm

Chương 4

DILLINGHAM làm cho tôi kinh ngạc trong lúc chúng tôi im lặng bước dọc theo đoạn hành lang lót thảm dẫn tới cửa phòng của Ted vì bỗng nhiên ông ta khom mình xuống và bước từ từ, đầu gối gập lại và mặt chỉ cách nền nhà chừng một thước tây. Tôi dừng chân để nhìn ông ta. Ông ta liền giơ bàn tay phải lên ra dấu yêu cầu giữ im lặng. Tôi đứng nguyên chỗ vừa dừng, cách cửa độ ba thước, chăm chú nhìn ông ta đang rón rén tiến tới đó. Khi ông ta đến nơi, tôi mới hiểu vì sao ông ta cúi xuống. Dưới khe cửa có một vạch sáng lờ mờ màu vàng.

Dillingham đứng thẳng người lên với chìa khoá cầm trong tay. Lúc tôi bước tới bên cạnh, ông ta nắm lấy khuỷu tay của tôi và đẩy tôi sang một bên, để tôi đứng sát vào tường gần bản lề cửa. Với một cử động thật chậm. Và yên lặng mà tôi khó lòng bì nổi, ông ta đút chìa khoá vào ổ. Tôi như không thấy nó di động và cũng không nghe một tiếng động nhỏ nào phát ra từ ổ khoá. Khi chìa khoá đã lọt vào đúng mức, ông ta từ từ xoay. Ông ta cầm quả nắm cửa bằng bàn tay trái, di động thân hình ông ta tránh xa khung cửa về phía tôi, bất thần xay quả nắm và xô nhanh cánh cửa về phía trong. Cánh của đập mạnh vào bức tường trong phòng khách.
Trong toàn thể căn nhà không có một tiếng động nào. Dillingham lướt thân hình gầy ốm của ông ta quanh mép cửa. Ông ta khuất khỏi tầm mắt của tôi trong nửa phút. Rồi ông ta thò đầu ra mép cửa và ra dấu cho tôi đi vào.
Mặc dầu ông ta đã đưa tay đề phòng, tôi suýt lên tiếng nói khi tôi trông thấy căn phòng khách. Quang cảnh tự! a hồ như một bọn phá hoại vừa đến nơi đây. Các hộc bàn giấy cùng những vật dụng bên trong vất bừa bãi trên sàn. Tát cả nệm ghế đều bị rạch nát. Ngay cả những tấm màn treo ở mấy khung cửa sổ cũng bị cắt xé, lột hẳn lớp vải lót ra. Những bức tranh cũng bị lôi xuống tháo ra khỏi khung.
Cả hai phòng ngủ cũng cùng chung tình trạng. Mấy chiếc tủ bị mở toang và quần áo nằm vãi trên nền nhà. Trong buồng tắm chính, cái nắp cầu bị hất xuống đất, và vỡ làm hai. Tôi định bước qua buồng tắm thứ hai, Dillingham liền ngăn tôi lại. Ông ta đi trước mặt tôi. Tới cánh cửa đóng kín của buồng tắm, ông ta lại làm như ban nãy ngoài cửa trước nhưng theo chiều ngược lại, lôi cánh cửa ra phía ngoài khiến nó đánh mạnh vào mặt tường trong phòng ngủ. Đèn trong buồng tắm đang cháy sáng.
Đứng trước bồn rửa tay đối diện với khung cửa, mặt sau của hai chiếc dùi áp vào cạnh bồn là một người đàn bà. Đôi mắt của nàng mở tròn và đầy kinh hãi. Nàng là một người đàn bà có thân hình khá cao. Lời mô tả của Laura chit nhảy vào tâm trí tôi:"Rất xinh, nếu anh muốn dùng một chữ hơi nhẹ. Riêng em thì …tuyệt đẹp. Tóc rất đen, mắt xanh lục, miệng hơi rộng, mũi quý phái – tiếng đó nhã nhặn chứ?. Vào khoảng hai mươi sáu hoặc hai mươi bảy, theo em phỏng đoán. Khá cao – có lẽ tới một thước sáu mươi lăm hoặc một thước sáu mươi bảy. Tóc chải cao nên trông người có vẻ cao hơn. Da hơi xanh, gần như người hơi thiếu máu.
Tôi liền nói với Dillingham:
– Đây là cô De Ménard
Cô gái lạnh lùng nhìn tôi một lát rồi mới hỏi:
– Ông làm sao biết được! tên tô! i?
Giọng của nàng rất bình thản, thật trầm như hơi khàn.
Dillingham trả lời nàng:
– Đây là Stuart, anh của Edward Dunbar. Tôi đoán ông ấy đã nghe người ta mô tả về cô, có lẽ chính người em gái của ông ấy đã mô tả.
Nàng mỉm cười trong lúc tôi vẫn không hé mở, miệng cong lên về phía trước ở hai bên khoé tạo thành một vòng cung thật đều. Nàng bước ra khỏi buồng tắm và đưa tay cho tôi bắt. Bàn tay của nàng mát rượi và chắc chắn nhưng chỉ ở yên trong tay tôi, không siết lại.
Nàng nói, mắt vẫn chỉ nhìn tôi:
– Tôi có biết Ted và Laura. Nhưng tôi không biết họ còn có một người anh. Trông ông không giống một người em nào của ông cả. Ông giống hệt Angua Ogilvie.

Nàng trầm tĩnh tựa hồ chúng tôi vừa được giới thiệu với nhau trong một dạ hội chứ không phải một buồng tắm, nơi nàng đang ẩn trốn. Tôi luôn luôn tin tưởng vào linh cảm hơn ký ức, bởi vì thời gian vẫn thường thay đổi màu sắc của ký ức không bằng cách này hoặc cách khác. Nhưng tôi nhớ rõ buổi tối hôm ấy nàng đã khiến cho lòng tôi rung động một cách kỳ lạ. Và khi tôi nói rung động tức là sự thật đúng như thế. Tôi cảm thấy khắp người bàng hoàng, thân xác như muốn bay bổng lên cao. Đồng thời tôi cảm thấy cần phải đề phòng nàng, nhưng cũng có thể đó chỉ là cảm giác gây ra khi những sợi tóc ngắn phía sau gáy hơi dung lên, cảm giác thường được xem như một dấu hiệu báo nguy.
Tôi dần dần tỉnh người trở lại để nhận thấy Dillingham đang chăm chú nhìn chúng tôi.
Ông ta lên tiếng:
– Tôi xin phép được hỏi vài câu ?
– Thưa, ông là ai! ?
D! illingham lại tái diễn cử động nhẹ nhàng rút tấm thẻ ra khỏi túi. Ông ta mở ra và đưa cho nàng. Nàng từ từ xem qua rồi bảo:
– Tôi hiểu.
Vẻ sợ hãi lại thoáng qua mắt nàng trong một giây đồng hồ và biến mất trước khi tôi có thể tin chắc là mình đã trông thấy.
Dillingham ra dấu nàng đi ra phòng khách. Tôi say mê ngắm nàng trong lúc nàng bước dọc theo hành lang. Nàng bước đi với một điệu bộ duyên dáng và thăng bằng tuyệt diệu, như một người mẫu. Nàng nhặt một cái gối trên nền nhà và đặt trên một chiếc ghế bành, úp mặt bị rạch xuống dưới. Nàng ngồi xuống, lưng thật thẳng và hai đầu gối ép sát vào nhau, khiến cho hai chiếc đùi căng tròn với những đường nét toàn bảo. Chỉ cần một cử động ngồi xuống đó cũng đủ được gọi là một công trình mỹ thuật.
Giọng nói của nàng trong lúc nàng trả lời Dillingham thật trầm tĩnh. Nàng nói tiếng anh rất giỏi. Tôi tin chắc nàng đã được đi học trường Anh ngay từ hồi nhỏ. Nhìn nàng và nghe nàng với cơn rung động vẫn còn chạy trong huyết quản, tôi chỉ nghe nửa được nửa mất những câu hỏi của Dillingham.
Khi tôi bắt đầu thực sự chú tâm được, nàng đang nói:
– Tôi đến tìm Ted Dunbar. Tôi muốn hỏi ông ấy có gặp anh tôi hay không. Anh tôi đã không trở về khách sạn của anh ấy – khách sạn của chúng tôi – từ hôm thứ ba.
– Ông ấy không để thư từ gì cho cô hay sao?
– Chỉ có mấy lời cho biết anh ấy định đi tới hãng RIEC là nơi anh ấy có một cuộc hẹn.
Tại sao lại RIEC ?
– Anh tôi hiện đi viếng thăm nhiều công ty điửn tử Hoa Kỳ. Anh ấy là giám đốc s! ản xu�! �t một công ty điện tử của chính anh ấy. Ted Dunbar là phó chủ tịch của hãng RiEC, và tôi tưởng anh tôi đang đi gặp ông ta.
– Ai đã giúp cô lục soát căn nhà này ?
Nàng tức giận đáp, trong lúc đưa mắt nhìn quanh cảnh tượng tan nát:
– Lẽ tất nhiên tôi không hề lục soát. Tôi mà có thể gây ra chuyện kinh khủng như thế này hay sao?
– Tôi không biết. Rất có thể cô đang muốn tìm kiếm một vật gì. Cô làm sao vào được trong này?
– Cửa trước không khoá. Khi không có ai trả lời tiếng gõ cửa của tôi, tôi mới bước vào và lên tiếng gọi Ted. Anh ấy không có mặt tại đây. Tại sao buồng ngủ cháy như vậy ?
Dillingham nóng nảy bảo:
– Một tai nạn, cô vào đây từ lúc nào ?
– Mới trước các ông một chút mà thôi. Tôi vừa bước vào phòng ngủ thì nghe tiếng ông xô mạnh cánh cửa, tôi hết sức hoảng sợ.
– Và vì thế cô đã trốn vào trong buồng tắm. Một điũu khá kỳ lạ. Cô không có ý nghĩ tiếng động đó có thể là Ted Dunbar trở về nhà?
Nàng không trả lời trong một lúc. Nàng vẫn ngồi một cách đoan trang trong chiếc ghế bành lớn, lưng thẳng, đầu lắc nhè nhẹ một cách thanh nhã trên chiếc cổ thon thon. Hai bàn tay của nàng siết nhẹ với nhau giữa hai đầu gối. Tôi thừa hiểu Dillingham chăm chú nhìn cử động này như một dấu hiệu lo sợ, nhưng tôi chăm chú nhìn một hồi mà vẫn không thấy nàng run. Nàng vẫn rất thản nhiên. Nhưng đó chính là một tính chất đặc biệt người ta thường thấy trong đa số đàn bà Pháp.
Cuối cùng nàng nói:
– Tôi không tin ông ấy có thể mở cửa một cách náo động như vậy. Ông ấy kh�! �ng có c! ái tính đó. Ông ấy vui vẻ và hoạt bác, nhưng không ồn ào.
– Tôi chỉ gặp Ted mấy lần trong các dạ hội và tiệc tùng.
– Cô ấy sẽ ở Hoa thịnh  đốn lâu?
– Chúng tôi sẽ đáp tàu Queen Victoria vào ngày thứ hai. Tôi đoán chắc phải chờ anh tôi cho tới thứ bảy, rồi chúng tôi cùng đi Nữu – Ước.
Tôi liếc Dillingham khi nàng nhắc tới chiếc Queen Victoria, nhưng ông ta hình như không để ý tới, và nói với Monique:
– Xin cám ơn cô. Xin cô hãy gọi điện thoại cho tôi hay nếu cô nhận được tin tức gì về anh cô. Tôi muốn nói với ông ấy một vài câu chuyện.
Ông ta đưa cho nàng một tấm danh thiếp. Nàng nhìn qua với vẻ băn khoăn rồi cất vào trong ví tay và hứa:
– Vâng, tôi sẽ nhớ. Bây giờ tôi có thể ra về?
– Cô hoàn toàn tự do muốn đi đâu tuỳ ý. Cô hiện lưu ngụ ở đâu?
– Ở khách sạn Mayflower, phòng 709A.
Nàng lại nhìn tôi mỉm cười với đôi môi hơi nhếch lên thành hình trái tim và đi ra . Qua khỏi cửa nàng nhẹ nhàng đóng lại.
Dillingham ngắm cánh cửa một hồi lâu mới nói với tôi:
– Hay lắm, chắc ông nhận thấy cô ta không hỏi chuyện gì đã xảy ra ở đây? Tai sao tôi điũu tra? Ted Dunbar hiện ở đâu? Kỳ lạ thật.
– Đại khái như thế. Nhưng không hoàn toàn đúng hẳn

Chương 5

Ông ta bỏ tôi tại đây. Tôi cặm cụi suốt gần một tiếng đồng hồ lục soát khắp bàn viết của Ted và không tìm thấy một vật gì đáng lưu ý ngoại trừ một ghi chú trên tập lịch cho tối thứ ba: " Monique và Jacques – ăn cơm tối ở Hội Quán Jockey. Hỏi Jacques về Anson"’ Khám phá độc nhất của tôi nằm trong tủ áo của Ted. Mờy cái va-li của Ted không còn, cũng như ba bộ vét – tông và chiếc áo choàng bằng vải len mà Ted đã mua trong lúc đi thăm tôi ở Luân đôn. Phát giác này khiến cho tôi thất vọng. Nhìn những khoảng sạch trong lớp bụi của sàn tủ, nơi để mấy cái va-li, tôi tưởng chừng như lại muốn khóc lần nữa.
Sự ương ngạnh của tôi không phải là một tính di truyền. Ba tôi là một con người hiền lành và đa cảm, má tôi hồi còn sống cũng rất hiền lành. Bây giờ nghĩ lại điều đó tôi đoán sở dĩ tôi cứ nhất thiết không chịu đổi ý là do một vị tổ tiên nào quá xa xưa nên bây giờ trong gia đình không ai còn nhớ. Tôi không sao hiểu được. Nhưng tôi biết rằng mãi cho tới lúc này tôi vẫn không chấp nhận giả thuyết do Dillingham đã đề ra một cách vô cùng minh bạch và hữu lý: Ted chưa chết, và dù tôi trông thấy rõ sàn tủ đầy bụi này tôi vẫn không hoàn toàn chấp nhận được. Nhưng tôi đã có một quyết định trong lúc tôi đứng sững sờ trước cảnh tượng vừa phát giác.
Quả thật tôi không phải là một chuyên viên điều tra có bằng cấp như các vị ở cơ quan cảnh sát. Tuy nhiên nhờ sống một cuộc đời có quá nhiều đổi thay đến chịu không nổi trong Hội Đoàn Báo Chí Quốc Gia, khi thì thu góp khi thì t! ruyền bá các tin tức, nên tôi đã hiểu khá nhiều về các kỹ thuật điều tra. Bất cứ một ký giả lành nghề nào cũng có thể tìm ra nhiều chi tiết mới lạ trong một cuộc thẩm vấn êm dịu, nhất là nếu anh ta muốn chọc tức kẻ đối thoại bằng những câu hỏi tàn nhẫn, nhưng không hoàn toàn giống phương pháp cảnh sát vẫn thường dùng.
Tự biết giới hạn của mình, tôi khởi sự dò xét bằng cách rời khỏi nhà của Ted và đi dài theo dãy hành lang, về phía bên kia thang máy, tới một cửa đối diện với cửa nhà của Ted và cách xa tới mười lăm thước. Tên ghi trên mặt cửa là Mannion.
Người đàn ông trả lời tiếng gõ cửa của tôi, mang một bộ mặt đầy nghi ngờ và tức giận. Ông cụ tuổi đã khá lớn, người cao và gầy, khiến tôi liên tưởng đến Lincoln(*) nhưng thiếu mất bộ râu. Thân hình ốm nhom của ông cụ được khoác bằng một chiếc áo ngủ loại đắt tiền. Chiếc quần dài bên dưới chưa có nếp nhăn, nên tôi nghĩ it nhất tôi cũng không lôi ông cụ xuống khỏi giường.
Tôi mở lời:
– Tôi là Stuart Dunbar. Tôi là anh ruột của một người
láng riềng với cụ là Ted Dunbả, ở về phía bên kia hành lang. Tôi xin phép được hỏi thăm cụ trong giây lát.
Ông cụ hơi dịu nét mặt.
– Mời cậu vào Cậu uống một ly nhé? Tôi vừa làm xong một ly trước khi đi ngủ.
– Dạ thôi, xin cảm ơn cụ. Tôi không dám làm mất thì giờ của cụ quá nhiều. Tôi chỉ muốn hỏi thăm cụ có trông thấy gì khác lạ xảy ra trong nhà em tôi đêm thứ Ba vừa qua.
– Lẽ tất nhiên là có. Cậu ngồi xuống đi.
Vừa nói ông cụ vừa ra dấu bảo tôi ngồi xuống một chiếc gh�! �� bành ! và tắt chiếc máy thâu thanh lúc đó đang phát ra một khúc nhạc của Schimann, rồi tiếp ngay :
– Tôi đã trông thấy một điều vô cùng kỳ lạ, và tôi đã kể lại với cảnh sát nhưng mấy ông đần độn ấy không tin là chuyện quan trọng
Ông cụ nheo mắt nhìn tôi trong lúc vẫn nói tiếp:
– Có lẽ cậu cũng sẽ không tin.
– Xin cụ cứ kể cho tôi nghe thử.
– Được, Lúc ấy tôi vừa đi bỏ một bức thư vào thùng bên cạnh thang máy. Khi tôi trở về, vừa mở cửa, tôi bỗng nghe nhiều tiếng nói lớn vang lại nhà  em của cậu.
– Lúc đó mấy giờ?
– Gần một giờ sáng. Một trong máy giọng nói có vẻ giận dữ, cho nên tôi đã trở vào nhà ngay và nhìn qua lỗ kính một chiều gắn trên mặt cửa
Ông cụ nhe răng cười thú nhận:
– Tôi quả thật quá tò mò.
– Chuyện đó đâu có gì lạ. Tôi gặp hoàn cảnh cụ thì cũng thế.
– Tôi không tin. Cậu nên hiểu tới tháng tư năm nay tôi đã bảy mươi hai tuổi và chỉ còn rất ít trò giải trí…Tôi bỗng thấy cửa nhà em cậu mở ra, và một người đàn ông mặc bộ đồ sẫm màu đen ở ngưỡng cửa.
– Em tôi?
– Tôi không rõ. ánh sáng từ phía sau lưng người đó rọi ra chỉ lờ mờ mà đèn ngoài hành lang cũng được vặn yếu đi trong ban đêm. Người đàn ông đang nói chuyện với một người nào đó trong nhà em cậu. Rồi ông ta quay mình bỏ đi và ông ta chit trông thấy một cái gì ở khúc quẹo của hành lang – ngay khi qua khỏi cửa nhà em cậu, hành lang quẹo về phía tay phi. Ông ta thụt lùi tựa hồ giật nẩy mình vì cảnh vừa trông thấy. Rồi ông ta há miệng kêu lên hai tiếng: " Ah! So !�! � giống! như tiếng Nhật, chỉ có vậy. Rồi dường như người nào đó ở khúc quẹo bật một ngọn đèn pin trong khong một giây đồng hồ, làm cho một đoạn hành lang mờ tối sáng hẳn lên. Người ở ngưỡng cửa nhảy lùi trở vào bên trong căn nhà em cậu và ngay sau đó cánh cửa đóng lại. Và tất cả chỉ có thế. Tôi vẫn tiếp tục dò xét suốt nửa giờ sau đó, nhưng không trông thấy gì nữa.
Tôi trầm ngâm bo:
– Thật kỳ lạ. Một ngọn đèn pin? Cụ chắc chắn chứ?
– Lẽ tất nhiên chắc chắn. Tôi biết đèn pin như thế nào mà.
– Nhưng thật ra cụ đâu có trông thấy cây đèn?
– Cậu nói phải, không phải cây đèn mà là ánh sáng.
Sau đó không có gì khác lạ mãi cho đến lúc lính cứu hoả đến vào lúc quá hơn hai giờ sáng. Nơi đây bỗng như biến thành một nhà thương điên trong cả hai tiếng đồng hồ.
– Xin cảm ơn cụ Mannion, cụ đã giúp đỡ tôi nhiều quá.
Thật ra chàng vẫn không thấy chuyện ông cụ vừa kể hữu ích ở điểm nào, nhưng chàng vẫn cố nghĩ như thế, trong lúc hỏi tiếp:
– Tôi xin hỏi thêm một câu cuối cùng: Khi ánh đèn chiếu vào mặt người
đứng ở ngưỡng cửa, cụ có nhận ra ông này là ai không?
Ông cụ cau mày, như đang nhìn trở vào ký ức trước khi trả lời:
– Hiện giờ tôi vẫn chưa nhận ra, nhưng trông ông ta có vẻ quen quen. Như tôi nói, ánh đèn ngoài hành lang không được sáng lắm. Tôi chỉ thấy mái tóc ông ta thật đen.
– Tôi không dám làm phiền cụ nhiều hn nữa. Xin cm n cụ … và chúc cụ ngủ ngon.
– Có gì đâu mà phiền, Trái lại tôi vui mừng được giúp cho cậu.
Tôi nghĩ có lẽ ch�! �nh câu ! hỏi cuối cùng mới thật sự giúp ích cho tôi. Ted có một mái tóc thật đen mà ngay lúc còn ở trong Thuỷ Quân Lục Chiến vẫn không chịu hớt ngắn. Tôi nghĩ rằng đó là một hình thức ba giai trong quân ngũ.
Đêm quá khuya, không thể làm gì thêm được nữa. Tôi bước dọc theo Đường Mười Tám, qua hai khóm nhà nhỏ, tôi trở về khách sạn Marlyn trong một đêm có thời tiết rất êm dịu mà thỉnh thoảng Hoa  thịnh  đốn vẫn được hưởng dù đang giữa tháng hai. Một màn sương mù mỏng vật vờ bay trong không khí, và những đám mây kéo nhau chạy qua trước mặt vừng trăng trông tựa hồ như một cơn mưa lớn. Khu vực này của Hoa  thịnh  đốn đã đi ngủ. Tôi không gặp một người nào. Nhưng từ lúc tôi quẹo Đường Mười Tám qua Đường N và nghoảnh nhìn lại con đường cũ, tôi chợt trông thấy một bóng đen mặc áo choàng và không đội mũ đang bước dọc theo khóm nhà mà tôi vừa mới đi qua. Y chãm lại khi trông thấy tôi nhìn lại, và giả vờ tìm số nhà. Tôi không hiểu y có biết tất cả những căn phố thuộc khóm nhà đó đã bị chiếm cứ từ lâu bởi một phân khoa của một trường đại học. Toàn thể đều đen tối. Tôi không thể quả quyết có phải y đang theo dõi tôi hay không, nhưng tôi lại nhìn lui lúc bước vào khách sạn Marlyn và trông thấy y quẹo qua Đường N.
Tôi lấy chìa khoá phòng của tôi ở chiếc bàn con tại quầy tiếp tân và đi bộ lên phòng theo lối cầu thang. Tôi đặt bàn tay lên quả nắm và sắp sửa xoay quả nắm thì chợt nhận thấy cửa không đóng sát. Tôi dừng sững lại, cố nhớ xem có phải tôi đã bỏ cửa như vậy. Nhưng tôi biết chắc không phải thế. Tôi gần như bao giờ cũng xoa! y thử q! uả nắm sau mỗi lần đóng cửa. Tôi không nghe một tiếng động nào ngoài trừ tiếng xe cộ lưu thông từ xa. Căn phòng tối qua cánh cửa hé mở.
Nhớ lại mánh khoé của Dillingham, tôi tránh qua một bên, úp mặt vào bức tường sát khung cửa và đá cho cánh cửa mở ra bằng chân trái. Cánh cửa xoay nhanh và đập mạnh vào mặt tường bên trong.
– Ông Dunbar, ông cứ vào đi.
Tiếng nói phát ra từ bóng tối trong phòng. Tôi vừa thò đầu qua khung cửa thì ngọn đèn bên cạnh chiếc ghế bành được bật sáng cho thấy một người đàn ông đang ngồi trong đó.
Đó là một gã có vẻ dữ tợn, nước da ngăm đen, đội một chiếc mũ dạ màu đen và mặc một chiếc áo mưa. Y cầm một khẩu súng lục lớn để hờ hững trên vế.
Y lại bảo:
– Ông cứ vào, Ông hãy đóng cửa lại và ngồi xuống, tôi có chút chuyện cần nói với ông.
Giọng y hơi run lên khi nói những chữ "r", tựa hồ y là người Pháp. Tôi liền ngồi lên giường.
– Ông là ai? Ông làm gì ở đây?
– Điều đó không quan trọng. Tôi mang một thông điệp đến cho ông.
Vừa nói y vừa mỉm cười để lộ những chiếc răng vàng lớn.
Tôi lại hỏi:
– Thông điệp của ai?
– Ông Dunbar, ông nói tiếng Anh hay quá, nhưng ông đừng bao giờ thắc mắc do ai gửi. Thông điệp đó là: Ông hãy bỏ rơi tất cả. Ông cố quên người em của ông đi. Ông ấy đã chết. Ông ấy đã bị cháy rụi. Ông ấy đã tự tử bằng súng trước khi cháy tiêu. Chuyện vô cùng đáng tiếc. Ông ấy là một người rất tốt.
– Thông điệp gì mà quái đản như thế. Bỏ rơi cái gì? cảnh sát đang gấp rút tiến hành cuộc điề! u tra. H�! �� không tin em tôi đã chết.
– Ông Dunbar, họ nói với ông như vậy, để cho ông khỏi đòi lấy tử thi. Họ không muốn mai táng Ông Edward Dunbar vì sợ gây trở ngại cho những kế hoạch của họ. Họ biết chắc ông ấy đã chết. Ông hiện đang thọc tay vào một việc không liên hệ gì với ông. Tôi được chỉ thị đến nói với ông rằng đây là thông điệp cuối cùng bằng lời lẽ. Lần tới sẽ không được êm đẹp như hôm nay. Chúng tôi không muốn gây thương tổn cho ông. Vì vậy ông nên bỏ rơi tất cả.
Tôi cố làm mặt tỉnh:
– Cảm ơn ông.
Y đứng dậy và bước ra cửa, cất khẩu súng vào trong túi áo mưa.
– Ông hãy ngồi yên trong mười phút sau khi tôi đi. Đừng nên dùng điện thoại.
Nói đoạn y đóng cửa lại.
Tôi không phải là người thích bảo sao làm vậy. Tôi vẫn giữ bản chất sắt đá của miền Ái Nhĩ  Lan. Nhưng tôi cũng là một kẻ đã từng trông thấy khả năng tàn phá của một khẩu súng lục 45 lúc bắn thật gần vào bong, và tôi đã tập thói quen cố nhớ lại cnh tượng này mỗi khi tôi đon trước một khẩu loại đó. Tôi chờ đủ mười phút bắt buộc và thêm một chút nữa rồi mới nhấc máy điện thoại lên và quay số văn phòng Dillingham. Tôi ngạc nhiên khi biết ông ta hãy còn ở đó. Ông ta đích thân trả lời điện thoại.
Tôi nói ngay:
– Dillingham, tôi không tranh luận với một khẩu 45, nhưng tôi sẵn sàng đến tranh luận với ông một cách ác liệt bao nhiêu cũng được.
– Dunbar, ông đang nói chuyện gì thế?
Tôi liền kể chuyện gã Răng – Vàng cho ông ta nghe.
– Dillingham, ông đừng phái những gã đầu trâu mặt ngựa đến ! gặp tô! i nữa, nếu không dù ông có tấm thẻ đặc biệt đó tôi cũng không chịu nhịn đâu.
Ông ta bảo:
– Dunbar, ông không nên nổi khùng một cách vô lý như thế. Tại sao tôi phải phái một nhân viên đến để thuyết phục ông rằng em ông đã chết. Chính tôi không tin chuyện đó – và cả ông cũng vậy nêu ông còn chút lý trí. Tôi biết rõ Răng – Vàng, tên của y là Mendoza. Y làm việc cho một tổ chức gọi là Oui-Dire. Ngày mai tôi sẽ kể chuyện này cho ông nghe. Chiều mai ông sẽ làm gì ?
– Không có gì hết. Tại sao?
– Tôi sẽ đến đón ông trước của khách sạn của ông đúng ba giờ chiều. Tôi sẽ đưa ông đi nói chuyện với một nhân viên của Hãng Hàng Không Đông Phương, người có thể quả quyết em ông đã đáp máy bay đi Nữu Ước.
– Vâng, tôi sẽ chờ ông ở đó.
– Chúc ông ngủ ngon. Ông nên khoá kỹ cửa trước khi lên giường.
Trước khi đi ngủ, tôi quay một số điện thoại khác – District 7 – 3000 – Khách sạn Mayflower. Lúc này tôi đã quen với cm giác xao xuyến chạy khắp người tôi khi tiếng nói của Monique de Ménad? vang lên trong ống nghe.
– Cô De Ménad? ?
– A-lô, Ông Dunbar ?.
– Cô nhớ giọng tài quá.
– Ông có một giọng khá đặc biệt.
– Tôi băn khoăn không biết cô đã gặp được anh cô hay chưa, hoặc tôi có thể giúp cô việc gì?
Tôi thắc mắc chẳng hiểu câu chuyện của tôi có vẻ đáng tin hay không. Tôi không phi là một kẻ nói dối tài giỏi nhất thế giới. Tôi chưa bao giờ trông thấy được một người đàn bà trẻ đẹp nào lại có thể bình tĩnh hn nàng lúc bước ra khỏi buồng tắm mà lại cần tới sự giúp đ�! � của t! ôi.
– Ông Dunbar, tôi cảm ơn ông nhiều lắm. Ông thật rất tử tế. Nhưng ông khỏi phải nhọc lòng, bởi vì lúc này Jacques đã ở đây, đang ngủ. Anh tôi vừa bị một tai nạn nhỏ.
– Tôi hy vọng không có gì trầm trọng.
– Vị bác sỹ trong khách sạn không tin như vậy. Đó là một vụ xe tãi đụng nhau, anh tôi bị nhiều vết trầy khắp đầu, nhưng hình như anh ấy vẫn khoẻ mạnh. Sáng mai anh ấy sẽ đi rọi quang tuyến X trước khi chúng tôi bay sang Nữu Ước.
– Xin cô cứ gọi tôi nếu cô có điều gì cần đến tôi. Tôi hiện ngụ tại khách sạn Malyn, phòng hai – không – ba.
– Cảm ơn ông Dunbar, Tôi sẽ nhớ.
Giọng nàng có vẻ vui thích.

Dịch giả : Bồ Giang
Chương 6

Tôi dùng thời giờ buổi sáng để đi tới ba nơi. Trước hết là Trung úy Mike Dennison. Tôi phải ngồi chờ nửa tiếng đồng hồ trên một chiếc băng không mấy tiện nghi bên ngoài văn phòng nhỏ của ông ta ở 300 Đại lộ Indiana, và tôi lại càng thêm chán nản khi ông ta yêu cầu tôi ngồi trên một chiếc ghế gỗ bên cạnh cái bàn sắt của ông ta.
– Tôi có thể làm gì cho ông đây, ông Dunbar?
– Tôi thiết tưởng Trung úy có thể tự trả lời câu hỏi đó. Tôi muốn được biết một cách thỏa đáng về cái chết của em tôi.
– Ông Dunbar, tôi rất lấy làm tiếc. Tôi đã kể với ông tất cả những gì tôi có thể, và ông Dilingham đã cho ông hay về vụ nghiệm thi.
– Ông có ý kiến gì về vụ nghiệm thi? Em tôi đã tự tử hay bị kẻ khác bắn?
– Tôi không được chỉ thị xác định về chuyện này. Lúc này nội vụ đã ra ngoài phạm vị của chúng tôi. Nhưng tôi có thể nói riêng với ông rằng rất ít khi người tự tử bắn vào ngay giữa trán mình được.
– Tôi công nhận điều đó. Như thế nghĩa là ông tin rằng em tôi đã bị ám sát.
– Ông Dunbar, tôi đâu có nói như vậy.
– Tôi thấy hình như Trung úy không chịu nói gì hết. Còn vụ truy cứu lý lịch thì sao? Ông có chắc chắn đó là xác của em tôi?
– Chính ông đã nhận được chiếc nhẫn của em ông mà.
– Nhưng Trung úy biết rằng như thế vẫn chưa đủ. Còn về răng của nạn nhân?
– Chúng tôi không thểm tìm ra một dấu vết nào về vụ chữa răng của em ông. Chúng tôi đã không tìm ra hồ sơ ở đâu cả.
– Dù ở trong hồ s�! � của Bộ Hải Quân? Em tôi đã từng phục vụ trong ngành Thủy Quân Lục Chiến.
– Ông Dunbar, ông nên hiểu tôi đã kể cho ông nghe tất cả những gì tôi có thể. Tôi không được phép trả lời một câu hỏi nào khác. Hiện giờ tôi đã trả lời nhiều hơn quyền hạn.
– Thế thì tôi xin gặp ông Trưởng Sở Cảnh Sát.
Dennison nhìn sững tôi một cách khó chịu trong mấy giây. Miệng ông ta mím lại. Thay vì trả lời tôi ông ta nhấc điện thoại lên và quay một con số ngắn rồi nói vào máy:
– Peggy, có một ông tên Stuart Dunbar hiện ở trong văn phòng của tôi muốn gặp ông Chán. Ông Dunbar là một phóng viên. Cô xem thử ông Chánh có rảnh một vài phút hay không?
Ông ta lắng nghe một lát. Cuối cùng ông ta bảo:
– Cám ơn cô. Để tôi đưa ông ấy lên.
Tôi chen lời:
– Và vui mừng đẩy được tôi đi chỗ khác.
Ông ta không trả lời tôi, im lặng dẫn tôi đến thang máy.
Viên Trưởng Sở Cảnh Sát là một người lừ đừ có mái tóc bạc phơ. Ông ta lắng nghe những giải thích của Dennison và gật đầu.
– Được rồi, Trung úy có thể trở về với công việc. Tôi giải quyết vụ này.
Dennison đi ra và đóng cửa lại. Viên Trưởng Sở quay lại nhìn tôi sau khi thấy cánh cửa đã đóng.
– Ông Dunbar, tôi rất thông cảm trường hợp của ông. Tôi lấy làm buồn tiếc về chuyện em ông. Nhưng ông phải hiểu rằng tất cả đã ra khỏi phạm vi của chúng tôi. Nội vụ đã được kết thúc.
– Các ông không thèm điều tra xem ai đã giết em tôi?
– Chúng tôi không biết chắc có phải là em ông đã bị giết hay không. Trong bất cứ trường hợp nào ch�! �ng tôi ! cũng không thể tiếp tục dù chúng tôi thật tâm muốn. Nó ở ngoài thẩm quyền của chúng tôi.
– Thế thì tôi mong ông trả thi hài lại cho tôi.
Ông ta lắc đầu một cách yếu ớt.
– Lúc này tử thi không còn ở nhà xác nữa. Chúng tôi đã chuyển qua Bộ Quốc Phòng từ ngày hôm qua.
Nói đoạn ông ta đứng dậy và đưa bàn tay ra. Tôi không thèm lưu ý tới chuyện bắt tay từ giã, hậm hực bảo:
– Lề lối làm việc của sở cảnh sát thật quá sức kỳ quái, không ai có thể hiểu nổi.
Tôi bước ra khỏi phòng không nói thêm một lời.

Norman Kindness là chủ bút của tờ Evening Mail, một trong ba tờ nhật báo của Hoa-thịnh đốn. Tôi đã quen sơ anh hồi anh làm thông tín viên chiến trường trong Thủy Quân Lục Chiến vào những ngày cuối cùng của Đệ Nhị Thế Chiến và có cảm tình khá nhiều với anh ta. Anh lắng nghe câu chuyện của tôi một cách kiên nhẫn, ngửa người trên lưng chiếc ghế xoay, hai bàn tay chắp lại sau đầu.
Khi tôi kể xong, anh nói ngay:
– Thật là một câu chuyện hết sức kỳ cục. Nhưng sự thực không phải như thế. Tôi không thể nhúng tay vào. Anh cũng sẽ không có đủ thời giờ để đào bới. Để tôi nhờ Charlie Roberison, người của tôi ở Ngũ-giác-đài, thử xem sao. Nhưng tôi e anh ta cũng sẽ không biết gì. Mình đang sống giữa một thời đại tin tức ngụy tạo – chắc anh phải hiểu rõ hơn tôi về chuyện đó vì suốt ngày tôi bị giam hãm trong bốn bức tường. Chẳng biết Dillingham là con người ra sao?
– Anh ta muốn nói anh chưa từng nghe ai nhắc đến ông ta?
– Đúng thế. Anh dợi tôi một phút.
Anh nhấc điện thoại lên và h�! �i thăm ! Charlie Robertson.
– Charlie, anh có bao giờ nghe nhắc nhở một người tên John Dillingham? Ông ta có một tấm thẻ đặc biệt của Bộ Quốc Phòng, và dường như thuộc một cơ qua phản gián… Không, tôi chỉ muốn hỏi thăm vài điều về ông ta… Tôi hiểu rồi, cám ơn Charlie. Anh cố điều tra thử và gặp tôi chiều nay nếu có gì khác lạ – sau khi báo phát hành đợt đầu.
Anh gác điện thoại, quay sang nói với tôi:
– Chính Charlie cũng chưa từng nghe cái tên đó. Nhưng trưa nay tôi sẽ thảo luận lại với anh ta một lần nữa xem sao – trừ phi anh muốn trở lại và đích thân nói chuyện với anh ta.
– Không, chiều nay tôi phải đi Warrenton. Ngày mai tôi sẽ điện thoại cho anh trước khi trở về. Cám ơn anh nhiều lắm.
– Đâu có gì. Ông cụ anh độ này ra sao?
– Ông ấy vẫn còn khá. Ít nhất cũng còn sống trên mười năm nữa.
– Được rồi. Anh nhớ gọi tôi trước khi về. Khoan, đợi tôi một phút! Anh còn nhớ Hạm Trưởng Jonas hay không?
– Everett Jonas. Còn chứ. Ông ta trước ở Đệ Lục Hạm Đội trên Địa Trung Hải.
– Hiện giờ ông ta đã về đây, tại Bộ Tư Lện hải Quân. Theo tôi biết ông ta gần như la người đứng đầu trong ngành Tình báo Hải quân. Anh hãy thử hỏi ông ta về Dillingham.
– Ý kếin hay lắm.
– Dù sao, anh nên chuẩn bị trước, để nghe nổ. Ông ta đã nổi sùng về bài báo anh viết về ông ta đăng trên tờ Event. Tôi đã gặp ông ta trong một dạ hội ngay sau khi số báo đó phát hành. Tôi vẫn còn có thể nhớ rõ từng lời của ông ta: "Dunbar đúng là một tên chó đẻ ba đầu sáu tay, một dạ hai lòng. Y trông như một kh�! �i đá, ! chuyện trò như một người bạn, hành động như một người qúi phái, nhưng sắc bénnhư dao kiếm. Y là kẻ vừa mỉm cười vừa đâm chết người ta lúc nào không hay. Nếu tôi có dịp lôi ra biển tôi sẽ cho phục hồi chiếc roi chín nút".
Tôi bật cười.
– Đâu có đến nỗi tệ đến thế.
– Anh ráng đợi cho tới khi chính tai anh nghe.
Dillingham đón tôi, đúng ba giờ chiều hôm ấy tại Marlyn, với một chiếc Alpine nhỏ. Ông ta lái xe về phía nam theo Đường Mười Bảy, quẹo lên Đường Mười Lăm rồi chạy vòng quanh đài kỷ niệm để qua chiếc cầu ở Đường Mười Bốn.
Ông ta lên tiếng:
– Về Răng Vàng. Tôi rất lo ngại về tên này. Y rất nguy hiểm.
– Y là ai?
– Tên y la Mendoza, như tôi đã nói với ông đêm hôm qua. Y hiện lảm cho Oui-Dire, một tổ chức gián điệp chuyên gnhiệp độc lập. Tôi không thể đoán biết được họ đang làm những gì trong dịch vụ này, và ông có thể tin chắc rằng tôi không muốn biết đến.
– Gián điệp độc lập? Ông nói thật đấy chứ?
– Hoàn toàn đứng đắn. Những tổ chức như thế vẫn thường có và Oui-Dire là nhóm khá nhất trong tất cả. Cái tên này theo tiếng Pháp có nghĩa là "tin đồn", chắc ông đã thừa hiểu. Chính chúng tôi cũng có một đôi lần nhờ tới họ và họ đã hành sụ khá chu đáo. Đối với giới trộm đạo, họ luôn luôn giữ tròn danh dự – có thể nói gần như một thứ đạo đức. Họ cũng không làm việc cho những khách hàng nào có thể gây ra những đụng chạm. Đó là một trường hợp rất hiếm có giữa một thời đại đầy rẫy bọn gián điệp đôi như hiện giờ, và chính vì thế th�! ��nh tho�! ��ng chúng tôi vẫn dùng tới họ. Nhưng họ không chịu làm bất cứ công việc gì không được trả tiền trước, và khách hàng phải ra mặt đàng hoàng. Tôi phải bỏ ít ra là một năm ròng mới mong tìm hiểu được bọn họ là những ai. Tôi đã nhất quyết nếu có dịp sẽ phanh phui cho rõ.
– Ông có vẽ lo ngại.
– Đúng thế. Vì vậy tôi nghĩ ông không nên trở về bằng tàu Victoria mà nên dùng máy bay. Tôi sẽ đặt một nhân viên của tôi trên tàu để canh chừng em ông. Đây là công việc của một tay chuyên nghiệp.
– Giả sử em tôi có mặt trên tàu, mặc dầu chuyện đó không thể xảy ra được. Nhân viên của ông sẽ làm gì?

Dillingham rời mắt khỏi chiếc cầu trong chốc lát để nhìn tôi với một vẻ hơi ngạc nhiên.
– Bắt ông ấy, chứ còn gì khác?
– Bằng cách nào?
Có tới mười lăm giây sau ông ta mới đáp:
– Chỉ có mỗi một cách. Chúng tôi không có lý do để đưa ông ấy trở về đây, hoặc câu lưu ông ấy ở Nữu Ước. Các ông xếp của tôi nhất định khônc chịu để tôi hành động theo lối này.
– Án mạng chính thức. Tôi hiểu.
– Cá nhân ông cũng bị liên can. Ông có thể thấy rõ nếu ông tự đặt vào địa vị của tôi. Một vụ án phản quốc sẽ gây lộn xộn, dù cho nhu cầu an ninh không quan trọng đến mức độ biến nội vụ thành nguy hiểm. Dunbar, ông chớ nên nghĩ bậy. Án mạng chính thức, như danh từ ông vừa dùng, quả thật sẽ phá hủy bí mật đối với chúng tôi, nhưng nó còn khiến cho chắc chắn không một ai khác khai thác được tim óc của em ông.
Ông ta quay sang nhìn tôi với vẻ ngạc nhiên trong lúc ông ta quẹo xe và! o con đ�! �ờng chạy về ngả Phi Trường Quốc Gia. Rồi ông ta phàn nàn:
– Trời ơi, không hiểu vì sao tôi lại nói chuyện với ông theo lối đó! Không chừng tôi sẽ mất chức chỉ vì lo ngại cho ông. Bộ mặt hốc hác của ông có gì đặc biệt khiến tôi sinh ra kỳ lạ như thế này? Tôi đâu có làm cho ông lên tinh thần được.
Tôi bảo:
– Được rồi, thế thì tôi sẽ đáp tàu Victoria. Tôi phải cố tìm cách nói chuyện với ted về những gì Ted đang làm, để cứu em tôi – nếu quả thật Ted có mặt trên tàu, điều mà ông đã biết là tôi không bao giờ tin.
Ông ta thở dài:
– Dunbar, ông là một con người bướng bỉnh, và thích những chuyện rắc rối. Nhưng thế cũng được. Dù sao nhân viên của tôi cũng phải đi. Lẽ tất nhiên, tôi sẽ không nói rõ với ông anh ta là ai, nhưng tôi sẽ cho ông biết một cách để bắt liên lạc với anh ta nếu ông thành công trong cuộc nói chuyện phải trái với em ông. Đây.
Ông ta thịc bàn tay tự do vào túi áo choàng và đưa cho tôi một chiếc hộp nhỏ. Tôi lềin mở hộp ra. Một tấm huy chương bằng kim loại thụoc ngành Hải Quân lấp lánh sáng trước mắt tôi trong ánh nắng chiều.
Ông ta nói:
– Tôi biết ông không bao giờ chịu mang những thứ này, nhưng ống cứ đem theo trong mình. Nếu ông muốn bắt liên lạc với nhân viên của tôi trên tàu Victoria, và kể cho ông ta nghe là ông đã hoàn thành được việc gì, ông hãy mang nó lên ngực. Anh ta sẽ liên lạc với ông ngay tức khắc. Nhưng ông cần nhớ, chỉ khi nào ông hoàn thành được chuyện gì. Nêu không tôi không muốn anh ta bị bại lộ tung tích. Tôi có đầy đủ lý do để tin chắc anh ta vẫn chưa bị t�! �� chức! Qui-Dire biết mặt, nhưng tôi không rõ có phải chính tổ chức này hay là một tổ chức khác đang nhúng tay vào nội vụ. Nếu ông mang cái này, nhân viên của tôi sẽ tự xưng ganh với ông bằng cách bảo: " Ngày hôm nay thật là tôt cho lũ vịt trời".
Tôi liền bảo:
– Ông làm tôi có cảm tương mình như một con dế bị đem trói ngoài rừng trống để dụ cọp.
Ông ta bật cười không có chút vui vẻ.
– Quả thật ông chỉ thích nói những lời tàn nhẫn.
Người đàn ông còn trẻ trong văn phòng hãng Hàng Không Đông Phương lấy tập giấy ghi chú Dillingham hỏi và đặt lên bàn.
Dillingham giới thiệu:
– Đây là Ông Dunbar. Tôi nhờ anh đưa cho ông ấy xem qua tấm phiếu do ông Edward Dunbar ký vào sáng Thứ Tư vừa qua.
– Kính chào ông Dunbar. Đây là tấm phiếu của ông Edward Dunbar.
Tôi chăm chú nhìn tâm giấy nhỏ màu vàng mà anh ta đưa cho tôi xem. Tên của Ted được viết rõ ràng trên đó bằng bút nguyên tử, nhưng không có một điểm gì đặc biệt. Từ hồi còn đi học tới giờ tôi không hề để ý nhìn nét chữ in của Ted. Tôi liền lắc đầu với Dillingham.
Ông ta nói ngay:
– Tôi đã nghĩ trước ông sẽ không nhận ra. Chúng tôi đã thử so sánh chữ viết trên tấm phiếu này với chữ trên những họa đồ của ông ấy nhưng vẫn không thấy khác lạ. Tuy nhiên, bởi vì ông không tin, ông hãy để cho Ông Garnet kể lại vì sao ông ấy quả quyết người đó chính là em ông.
– Vâng, thưa Ông Dunbar, đúng như lời tôi đã trình bày với Ông Dillingham, đó là một ngày khác với lệ thường. Buổi sáng hôm ấy tôi đứng giữ cửa bởi vì có một nhân viên bị bệnh cúm không! đi làm! được, và tôi phụ trách việc thu phiếu. Nhưng cái lý do khiến tôi nhớ hết sức kỹ là vì Ông Dunbar là một hành khách vô cùng đặc biệt. Tôi chắc các ông đếu biết hệ thống bay của chúng tôi hoạt động như thế nào. Khỏi cần phải giữ chỗ trước, chúng tôi luôn luôn thõa mãn bảo đảm bất cứ ai, dù chúng tôi phải sử dụng một chiếc phi cơ khác để chỉ chở một hành khách duy nhất. Và đó là trường hợp xảy ra hôm Thư Tư. Ông Dinbar đã bay qua Nữu Ước một mình với phi hành đoàn gồm một viên đại uý phụ tá phi công và hai nữ chiêu đãi viên hàng không. Tôi không thể nào quên được chuyện ấy.
– Tại sao ông biết chắc đó là ông Edward Dunbar chứ không phải là một người nào khác?
– Thì tên ông ấy ghi rõ ràng trên tấm phiếu. Ồ, tôi hiểu ý ông rồi. Ông Dillingham đã đưa cho tôi xem tấm hình của Ông Dunbar và tôi đã nhận ra đúng là ông ấy.
Dillingham lên tiến:
– Tấm này.
Nói đoạn ông ta đưa cho tôi một tấm hình khổ nhỏ kiểu căn cước của ted. Trong hình Ted mặc chiếc áo choàng bằng vải len hiệu Harris mà tôi vẫn còn nhớ Tea đã mua ở Luân Đôn, và một cái cà-vạt mà tôi cũng nhớ rõ, với một quả cầu và mỏ neo bằng vàng. Tôi ngước mắt nhìn Garnet.
Anh ta gật đầu.
– Đúng là người này. Tôi lại còn nhớ ông ấy đội một chiếc mũ vàng và mang một cặp kiếng đen. Ngoài ra hình như ông ấy đau răng, vì tôi thấy hàm ông ấy sưng vù lên.
Tôi liền bảo:
– Ted không bao giờ đội mũ, kể từ khi ra khỏi Hải Quân.
Dillingham nhìn Garnet một cách sắt bén.
– Ông không hề kể cho tôi nghe về vụ đau răng.
– C! hắc t�! �i tôi quên. Nhưng trông ông ấy vẫn bình thường. Ông ấy giữ một chiếc khăn tay sát mặt, và phảng phất một mùi y hệt thứ thuốc mình vẫn dùng mỗi khi đau răng. Dillingham đáp một cách yếu ớt.
– Wintergreen.
Tôi nói:
– Lời xác nhận của Ông Garnet không có gì đáng giá ngoại trừ chiếc áo choàng và cái cà-vạt.
– Vâng, tôi hiểu. Bây giờ mình có thể cáo từ. Dù sao chúng tôi cũng xin cám on Ông Garnet.

Ông ta không nói gì nữa cho tới lúc thả tôi xuông khách sạn Marlyn. Rồi ông ta quay lai nhìn tôi.
– Tôi đã giữ chỗ cho ông trên chiếc Victoria. Hay đúng hơn cô Frances, nữ thư ký của tôi đã giữ giùm. Ông sẽ ở phòng M-31. Đó là một phòng có hai loại tốt nhất mà chúng tôi có thể giữ được vào lúc cận ngày như thế này. Hai anh em Ménard ở hai phòng đặc biệt cách ông hai căn về phía sau tay lái bên tay mặt. Cô gái ở phòng M-39-41 và ông anh cô ta ở phòng M-43-45. Quá sang. Hai phòng đặc biệt này ở phía tay phải tức là phía có ánh nắng rọi ấm hơn các chỗ khác, vào mùa này thì số một.
– Còn Ted?
– Ông ấy đã ghi tên giữ phòng M-43-45 tức là phòng đặc biệt của Jacques de Ménard. Mặc dầu có lời khai của anh chàng Garnet đó, tôi vẫn không thể không nghi ngờ về sự thực hiển nhiên chứng tỏ em ông đã đi Nữu Ước và sẽ có mặt trên tàu.
Tôi bảo:
– Tôi thì vẫn không bao giờ tin được chuyện đó. Nhưng tôi sẽ cố khám phá cho rõ sự thật.
Ông ta đưa bàn tay ra và tôi bắt lấy.
– Dunbar, chúc ông may mắn. Có lẽ ông cần nhiều may măn trong những ngày sắp tới. Ông hãy nhớ tấm Hải Quân Bội Tinh.
– Cám ơn �! �ng.
Nói đoạn, tôi bước ra khỏi chiếc Alpine và nhìn ông ta lái xe chạy đi.

Chương 7

Tôi cho gửi hành lý của tôi đến Câu Lạc Bộ Quân Đội và Hải Quân, nơi tôi đã xin gia nhập với tư cách một hội viên không có trú sở nhất định. Thật khó có thể tin được tôi vừa mới trở về Hoa thịnh đốn chỉ một ngày đêm. Tôi dọn đến một căn phòng trong ra phía trên Farragut Square và bức tượng của vị Đô Đốc với những khẩu súng cối bao bọc chung quanh. Tôi buồn cười nhận thấy tất cả những bức tượng các vị anh hùng của Hợp Chủng Quốc đều xoay mặt về phương Nam, như cương quyết thách đố kẻ thù xưa! Tôi không đến nỗi lo ngại quá nhiều về việc tự đề phòng cho bản thân trong những trường hợp bình thường, nhưng tôi vẫn hành động một cách dè dặt tựa hồ mình đang sống trong một thế giới xa lạ. Bỗng nhiên tôi hồi tưởng những ngày đầu tiên trên bờ biển ở Guadalcanal, khi rừng sâu hoàn toàn xa lạ, đầy đe dọa và kẻ thù gần như vô hình.
Trong lúc tôi ghi tên vào sổ ở bàn giấy của Câu Lạc Bộ, tôi hỏi viên thư ký về số điện thoại của Đề Đốc Everrett Jonas. Tôi không chắc ông ta còn nhớ tôi. Tôi đã ở Đệ Lục Hạm Đội cách đây tới hai năm.
Ông ta gào lên trong điện thoại:
– Tôi làm sao có thể quên anh được? Anh đã viết trong bào báo của anh rằng tôi là người xuất sắc. Anh đúng là một tên phản bội!
– Nhưng quả thật như thế mà. Đề Đốc là vị sĩ quan hải quân duy nhất có thể trích đọc những đoạn văn thơ khó hiểu của Shakespeare. Đúng là "một kẻ vừa mỉm cười vừa đâm chết người ta lúc nào không hay".
– Thì ra anh đã nghe biệt danh tôi dùng ! để gọi anh. Anh đã làm hư hỏng sự nghiệp của tôi. Anh cũng như tôi đều biết rằng Hải Quân không thể chịu nổi những người xuất sắc. Tôi đã hết sức khôn khéo mới ẩn thân được cho tới ngày anh bất thần đến. Anh đã kéo tôi trở lại mười năm, khiến tôi dính chặt vào chiếc ghế xoay này. Tôi đang hận anh đây!
– Như vậy kể từ ngày tôi còn thiếu nợ Đề Đốc. Tôi có thể mời Đề Đốc một bữa cơm trưa để chuộc tội?
– Ngày mai thì được, nếu bữa ăn không kéo dài. Tôi phải đi thuyết trình đúng một giờ rưỡi chiều.
– Chắc không trễ đâu. Đề Đốc có thể đến Câu Lạc Bộ đúng mười hai giờ trưa?
– Tôi sẽ đến đúng giờ hẹn.

Tôi nhận ra ông một cách dễ dàng trong lúc ông bước qua ngưỡng cửa căn phòng ăn rộng lớn dành riêng cho các hội viên và ông cũng nhìn thấy tôi ngay ở bên cạnh cửa sổ. Ông ra dấu cho viên quản lý tránh xa và tiến nhanh về phía tôi. Vừa siết tay tôi, ông vừa ngồi xuống và lên tiếng trước:
– Chào anh Stuart. Tôi không nói đàu với anh về mối ác cảm của tôi đối với anh đâu. Anh có thể gọi cho tôi hai ly Martini.
Tôi đáp:
– Dù sao, tôi cũng rất vui mừng có dịp gặp lại Đề Đốc.
Tôi gọi cô gái mặc đồng phục của Câu lạc bộ đang đi qua gần bàn, và đặt món ăn cùng thức uống. Chúng tôi nhắc lại những mẫu chuyện xưa ở Địa Trung Hải cho đến khi một cô gái khác mang rượu và thức ăn đến.
Lúc bấy giời tôi mới vào đề:
– Tôi không muốn làm mất quá nhiều thì giờ của Đề Đốc. Nhưng tôi muốn hỏi Đề Đốc có biết gì về một người tên John Dillingh! am.
! Ông chăm chú nhìn tôi có tới mười giây, với đôi mắt mở rộng. Ông cao lớn không kém gì Arleigh Burke, mắt xanh và mặt hồng hào, lúc này trông thật là nguy hiểm.
Cuối cùng ông nói:
– Anh không thể viết chuyện ông ấy.
– Vậy nghĩa là Đề Đốc biết ông ấy. Ông ấy bí mật đến thế hay sao?
– Dunbar, anh thật là quỉ quái, anh lại gài cho tôi phải thừa nhận một chuyện. Dù đó là một điều cấm tiết lộ, tôi đã lỡ trả lời anh.
– Tôi đã được nhìn nhận là người đáng tin cậy, có giấy tờ chứng minh hẳn hòi.
– Nhưng vẫn chưa tới mức độ được quyền nghĩ đến chuyện đó. Nhưng căn cứ vào đâu mà anh nghĩ tôi biết được ông ấy? Anh biết rõ tôi biết?
– Tôi gật đầu:
– Bây giờ tôi mới biết. Tôi không có ý định viết chuyện ông ấy đâu. Tôi chỉ muốn tìm hiểu ông ấy có thật hay không… và có đáng tin cậy hay không.
– Ông ấy có thật. Và anh có thể tin được ông ấy. Bây giờ anh đừng hỏi tôi thêm một câu nào nữa. Tôi muốn thưởng thức bữa ăn trưa một cách đích đáng.
– Tôi chỉ xin hỏi thêm một câu nữa thôi. Tôi sắp sửa đi Southampton bằng tàu Queen Victoria vào ngày thứ hai, và…
– Thú quá nhỉ! Không phải canh gác, hoặc là ẩn núp, không phải đề phòng những cuộc oanh tạc. Chỉ có ngủ và ăn.
– Và không có điện thoại. Thú thật! Đề Đốc có thể cho tôi biết đối thủ hiện của Đề Đốc ở Bộ Tư Lệnh?
– Ông nói ngay:
– Tôi không tin có người muốn tranh dành với tôi. Anh gặp chuyện gì lôi thôi vậy, Stuart? Thôi, anh đừng kể cho tôi nghe. Để cho tôi được y! ên thân! .
– Đáng tiếc quá. Gia đình Đề Đốc vẫn được bình yên?
Sau đó tôi đổi đề tài. Ông cứ xem đồng hồ tay mãi đến một giờ mười lăm. Rồi ông cuộn tròn chiếc khăn ăn lại và để lên mặt bàn bên cạnh tách cà phê.
– Stuart, bây giờ tôi phải đi. Cám ơn anh về bữa ăn trưa. Gặp lại anh tôi vui lắm.
Ông đứng dậy bắt tay tôi và nói tiếp:
– Người đàng hoàng nhất tôi quen biết ở Luân đôn là Andrews, Đại úy thuộc Hải Quân Hoàng Gia. Ông ấy hiện ở Bộ Tư Lệnh. Anh có thể nói với ông ta chính tôi đã giới thiệu anh đến. Cũng như với tôi, anh nên cho ông ta biết trước khi anh đến gặp ông ta.
– Tôi xin cám ơn Đề Đốc. Có lẽ tôi không cần phải quấy rấy ông ấy, nhưng tôi muốn tìm hiểu.
– Dunbar, anh đúng là một tên điên. Mong anh ráng giữ mình

Phần II – Chương 1
LẮNG NGHE

TÔI trả tiền taxi ở cuối đường 50 gần lối vào cầu tàu 90 trên sông Hudson. Mùi nước biển và dầu cặn trong phút chốc đưa tôi trở về với Trân Châu Cảng và Ford Island. Ở phòng kiểm sóat di trú gần cầu phao về phía chiếc Queen Victoria, một tiếp đãi viên của bến tàu cunard lấy hành lý của tôi khỏi tay người phu vác, và bảo tôi:
_ Thưa ông, để tôi xách cho, vì từ đây lên tàu là phận sự của tôi.
Nhân viên hãng tàu kiểm tra vé và sổ thông hành của tôi rồi đưa cho tôi những mẫu giấy khai báo.Phòng tôi mang số M-31 ở mút hành lang phía tay phải.Cửa phòng đang mở sẵn và một gã bồi tàu có thân hình nhỏ như một con chim đang loay hoay giữa đống hành lý bên cạnh cửa. Anh ta đứng thẳng lên khi trông thấy tôi.
Tôi hỏi;
_ Có phải anh là tiếp đãi viên của tôi, phòng M-31?
_ Dạ phải.Thưa ông, tên tôi la Err. Ông có cần tôi giúp việc gì không?
_ Hiện giờ thì chưa, nhưng anh nhớ mang trà cho tôi mỗi buổi sáng vào lúc bảy giờ.
_ Dạ tôi sẽ nhớ. Thưa ông trà thật đậm hay loại thường?
_ Loại thường thôi. Anh cũng phụ trách các phòng từ M-39 tới M-45 phải không?
_ Dạ phải, Daisy và tôi phụ trách các phòng phía mũi tàu.
_ Tôi sẽ không càn tới Daisy. Lần này không có vợ tôi đi theo.
_ Ông là ông Dunbar. Tôi còn nhớ ông và bà nhà – để tôi cố nhớ rõ lại, có phải 6 năm rồi?
_ Phải, đúng vậy. Anh có trí nhớ rất tốt. Vợ tôi đã từ trần.
Tôi bước chân vào phòng với kỉ niệm tràn đầy trong tâm trí.Tôi hình như còn trông thấy chiếc áo ngủ màu trắng của Martha liệng trên giường bên c�! �nh đêm cuối cùng của chúng tôi trên táu trong chuyến vượt biển đầu tiên sau ngày chúng tôi thành hôn. Tôi hình như còn nghe được tiếng nàng đang hát trong phòng tắm sau lưng tôi. Martha đã từ trần một năm sau, sau một tai nạn phi cơ của hãng hàng không Anh gần Athens, giữa lúc nàng đang bay đi gặp tôi khi tôi trở về sau một chuyến công tac bên Ai Cập. Đã gần bảy năm trôi qua, thế mà hình ảnh chiếc áo ngủ vãn còn khiến cổ tôi nghẹn ngào đau buốt mỗi lần tôi hồi tưởng.
Err bước theo sau lưng tôi.
_ Thưa ông hành lý của ông đã có đủ rồi. Nếu ông muốn, tôi sẽ mở cái túi lớn này và treo lên cho ông. Còn các đồ đạc khác tôi sẽ tháo mở sau.
_ Anh khỏi phải tháo mở gì hết. Tôi thích tự làm lấy. Tôi dịnh đi lên phòng ngoạn cảnh uống một ly rượu, không biết trên đó đã mở cửa chưa?
_ Thưa ông, mở rồi. Tôi trông thấy George đang sửa soạn khi tôi xuống đây.
_ Hành khách sẽ ăn trưa trên tàu chứ?
_ Thưa ông, đúng thế.
Tôi là hành khách duy nhất trong phòng ngoạn cảnh. Tôi ngồi trên một chiếc ghế đẩu ở quầy. Trước sự kinh ngạc, viên quản lý vẫn còn nhớ tôi. George vẫn mang dây huy chương Đệ Nhị Thế Chiến trên bộ y phục của tiếp đãi viên.
_ Thưa ông, lần này ông có muốn tôi duyệt qua danh sách hành khách cho ông?
_ Lẽ tất nhiên là có. George, anh hãy khởi sự từ bây giờ, cần nhất phải kín đáo và kĩ lưỡng.
_ Ông có biết tàu đã bắt đầu nhổ neo?
_ Cám ơn anh. Tôi nên xuống lấy chiếc áo cấp cứu.
Tôi sắp sửa đứng lên rời khỏi chiếc ghế đẩu, nhưng tôi đã ngừng lại và ngoảnh lui khi tôi cảm thấy có ai đụng nhẹ! vào cá! nh tay tôi. Tôi nhìn thẳng vào đôi mắt màu khói lam của Monique de Ménard, và chợt sao xuyến trong lòng. Bất cứ lúc nào trông thấy đôi mắt củ nàng, tôi lại không khỏi bối rối. Vừa quay lui đã trông thấy một cách bất ngờ khiến tôi phải giật mình.
Nàng lên tiếng:
_ Kính chào ông Dunbar. Tôi hi vọng ông không vội bỏ đi trước khi tôi được mời ông một ly rượu.
_ Kính chào cô. Tôi định láy chiếc áo cấp cứu.George cho hy trước bữa cơm trưa sẽ có cuộc thao diễn cho hành khách phòng lúc tàu ngộ nạn. Để tôi lấy luôn áo của cô nhân thể? Theo tôi biết mình cùng ở chung hành lang.
Tôi trở về trước nàng. Tôi lấy một bàn trông ra phía cửa và say sưa ngắm nàng bước từng bước dài khoan thai trong lúc nàng trở lại vói chiếc áo cấp cứu trên tay. Đó là một nét duyên dáng tự nhiên không phải bất cứ người đàn bà nào cũng có được, ngay cả những cô gái kiểu mẫu thời trang cung rất ít người có dáng đi này.Nàng ngồi xuống như lúc nang ngồi trong nhà của Ted ma tôi vẫn còn nhớ rõ, một cách thẳng thắn, không hề nghiêng mình.
_ Chắc cô đã từng làm người mẫu?
_ Tôi xincám ơn ông về lời khen bóng gió đó. Ông căn cứ vào đâu mà nghĩ như vậy?
_ Theo cách cô bước đi. Theo cách cô ngồi xuống.
_ Ông quan sát tinh tế quá.
_ Đây chỉ là một vấn đề nghề nghiệp. Tôi là một ký giả.
_ Thế thì lời khen của tôi trở nên vô duyên mất rồi. Nhưng ông đã đoán rất đúng, tôi đã từng làm người mẫu một thời gian, trước khi tôi quá già không còn thích hợp với nghề đó nữa.
Nàng bật cười khi trông thấy tôi nhếch mày, rồi nói tiếp:
_ Ồ thật mà!! Tôi đ�! � hai mươi tám, và như thế là quá già. Nhưng tôi xin cám ơn ông đã tỏ vẻ hoàn toàn nghi ngờ. Đó cũng là một cách khen vô cùng tế nhị.
Tôi vẫn nhìn nàng với tất cả thích thú trong lúc bảo:
_ Bất cứ ai cũng có nhận xét như tôi.
Đoạn tôi đọt ngột hỏi:
_ Anh cô có được khoẻ không?
Nàng do dự một lát rồi trả lời. Nàng nói:
_ Không khoẻ lắm. Anh ý bị đánh trên đầu, ở phía sau, hơi chếch về bên trái. Vì thế anh ấy gần như …. mất thăng bằng. Đó là một điều hết sức xui xẻo, nhất là vì Jacques luôn luôn say sóng mỗi khi đi tàu.
_ Vị bác sĩ điều trị trên tàu săn sóc sức khoẻ cho ông ấy?
_ Không, anh ấy không chịu. Anh ấy nhát thiết đợi gặp bác sĩ riêng của anh ấy ở Ba-lê. Nhưng chắc chắn anh tôi sẽ qua khỏi. Anh ý đã đi tàu như thế này nhiều lần rồi.
_ Và cô cũng vậy?
Nàng mỉm cười với tôi, không hé môi. Nàng nghiêng mình về phía trước để dụi tắt điếu thuốc lá. Tôi không thể không để ý thấy, trong lúc nàng cử động, chiếc áo lụa trắng của nàng lay chuyển tựa hồ hai gò ngực của nàng đang bị giam hãm bên dưới. Cử động tuy nhẹ nhàng mà lại hàm súc biết bao mê đắm. Nhưng nàng chưa kịp trả lời thì chuông reo báo hiệu cuộc thực tập trên tàu sắp bắt đầu. Nàng uống cạn cốc rượu của nàng rồi đặt xuống, và bảo tôi:
_ Chắc mình phải đi ngay bây giờ. Theo tôi biết ông và tôi sẽ ngồi chung bàn trong phòng ăn. Tôi sẽ gặp lại ông trong bữa cơm trưa.
Tôi ngạc nhiên không hiểu sao nàng biết được. Chính tôi còn chưa ghé trưởng ban tiếp đãi để hỏi thăm về vụ đặt bàn ăn.
Tôi hỏi nàng:
! _ Cô vui! lòng uống với tôi một ly trước bữa tối? Chắc trước bưa trưa không thể nào có thì giờ được.
_ Cám ơn ông. Tôi xin nhận lời. Vào mấy giờ?
_ Sáu giờ. Tại đây.
_ Tôi sẽ lên đây.
Nói đoạn, nàng mỉm cười và bước đi, đong đưa chiếc áo cấp cứu tựa hồ đó là một chiếc áo choàng mang theo mình cho có lệ. Tôi uống cạn ly bia và đi cùng nàng.

Dịch giả : Bồ Giang
P2 – Chương 2

TÔI chỉ trông thấy Monique từ xa trong cuộc thao diễn. Nàng xuất hiện khá nhiều nơi, luôn bước song song với người đàn ông có vẻ nổi bật
trong đám đông. Chắc chắn nàng quen biết với người này, bởi vì ông ta cúi người xuống và nói chuyện với nàng một cách đứng đắn. Ông ta khoảng 55; 60 tuổi. Đầu ông ta hoàn toàn sói. Những người sói đầu thường vẫn có một chút tóc ở hai bên thái dương và sau gáy nhưng ông ta thì quả thực không có một sợi tóc nào cả. Tuy nhiên ông ta là một nười bảnh trai. Ông ta có một khuôn mặt dài và hẹp, với 2 thái dương lõm vào, và luôn luôn phảng phất một nụ cười gần như chế riễu. Khi vị sỹ quan phụ trách nhóm hỏi thăm Jacques, chính người đàn ông đã trả lời thay cho Monique.
Ông ta bảo:
_ Ông Ménard dau, phải ở trong phòng. Một tai nạn nhẹ, trên bãi biển. Chúng tôi đã xin cho ông ấy được miên thao diễn.
Tôi lại nhìn ông ta, ngạc nhiên vì lối xưng hô “chúng tôi” của ông ta.
Viên sỹ quan tiếp tục giảng giải. Tôi ngắm cảnh lưu thông của bến tàu va tượng NỮ Thần Tự do lướt qua cho đến khi khuất dạng.
Trở về phòng tôi bắt gặp Err đang soạn đồ cho tôi gần xong mặc dù tôi đã bảo anh ta khỏi cần làm.
Tôi nói:
_ Err, anh cho tôi biết ai ở phòng M-43 va 45, bên cạnh phòng cô Ménard. Tôi chưa kịp xem danh sách các hành khách.
_ Thưa ông theo tôi biết, đó là người anh trai của cô ấy.
_ Anh đã trông thấy anh ta?
_ Thưa ông, đã, nhưng không đúng là thấy. Ông băng kín đầu từ cổ trở lên. Thật ra tôi chỉ trông thấy hai lỗ mắt.
_ Hừ! m. Có phải căn phòng đó trước kia do người khác giữ chỗ?
_ Thưa ông thật tình tôi không biết.
Tôi hỏi cô gái trong phòng lương thực và được cô ta cho hay:
_ Thưa ông, dúng thế. Có một ông tên Edward Dunbar đã giữ phòng đó, cùng với ông Ménard, nhưng ông ấy đã xin huỷ bỏ vào giờ phut cuối, và cô em gái của ông Ménard cho hay ông ấy chỉ đi một mình vì bị bệnh.
_ Tôi dừng lại ở của phòng ăn và nói chuyện với viên quản lý. Anh ta cúi mặt, chỉ hơi nhướng mắt nhìn tôi khiến cho bộ mặt nghiêm nghị của anh ta cóvẻ ngạo mạn.
Ông Dunbar, ông được sắp ngồi chung bàn với ông Kỹ sư trưởng. Trừ phi ông muốn ngồi riêng một bàn.
_ Không, như thế là tuyệt lắm rồi. Cám ơn anh đã sắp xếp cho tôi. Tôi đã quên phức đi.
_ Thưa ông, có gì đâu mà ông cám ơn. Một ông Đại uý tên anson đã đặt chỗ cho ông, và ông ấy cũng ngồi cùng bàn. Có lẽ lúc này ông ấy đã đén đó rồi.
Ngoại trừ viên kỹ sư trưởng, tất cả mọi người đã ngồi vào bàn khi tôi tới nơi. Tôi biết đay không phải là lần đầu tiên ông ta không hiện diện trong giờ ăn trưa. Ông ta luôn luôn bận rộn những khi tàu khởi hành và chạy trên con kênh The Narrows.
Monique ngồi bên phải một chiếc ghế hãy còn trống chắc hẳn dành cho tôi. Ghế của viên kỹ sư trưởng ở bên trái của tôi, người đàn ông sói đầu ngồi
bên tay mặt của nàng. Khi tôi bước tới tất cả mọi người ngoại trừ Monique cùng
đứng lên.
Người đàn ông sói đầu tự giới thiệu là đại uý Howard Anson, thuộc Bộ Hải Quân. Bên phải ông ta la Martin Allen, Một tay mại bản ở Nữu Ước. Người ngồi
bên ph�! �i ông t! a, đã khá lớn tuổi, là Alexander Macinnes một kỹ sư về hưu. Mái tóc ông ta bạc phơ cang làm nổi bật khuôn mặt xương có nước da hồng hào.
Anson nói với Monique:
_ Theo tôi hiểu thì cô và ông Dunbar đã quen biết nhau rồi.
Ông ta chăm chú nhìn tôi, đôi lông mày trắng hơi nhếch lên. Trong giọng nói của ông ta hình như có một vẻ bất mãn, khiến tôi không khỏi tức giận.
Nàng đáp:
_ Ông Dunbar và tôi gặp nhau qua một lần ở Hoa thịnh đốn.
Tôi liền bảo:
_ Trong một dạ hội ngoại giao, giữa đám đông huyên náo chung quanh quầy rượu. Tôi vô cùng ngạc nhiên không ngờ cô ấy còn nhớ được tên tôi sau một dạ tiệc ồn ào đến thế.
Nàng mỉm cười với tôi trong lúc chúng tôi cùng ngồi xuống. Tôi có cảm tưởng nàng thầm cảm ơn tôi về lời nói dối nhỏ bé đó, và thắc mắc không hiểu tại sao.
Anson lại nói:
_ Ông Dunbar, hình như ông cũng ở trong Hải Quân?
Tôi trả lời vắn tắt:
_ Vâng, Thuỷ Quân Lục Chiến.
Tôi không dằn được ác cảm với ông ta và tôi nghĩ rằng có lẽ một phần lớn vì ông ta đã tỏ ra đặc biệt quan tâm tới Monique. Ông ta gật đầu một cách lơ
đãng Và quay về tiếp tục nói chuyện với Martin Allen. Monique quay sang tôi.
_ Tôi đã định kể cho ông nghe trước khi ăn trưa, Nhưng tiếng chuông đã gây gián đoạn. Anh Jacques tôi đã không gặp được em của ông ở hãng RIEC. Anh ấy kể với tôi rằng em của ông đã đi xa.
Tôi gật đầu.
_ Vâng. Nhất định đó là một chuyến đi bất thình lình. Ngay cả tôi cũng không gặp được Ted.
_ Thật quá sức khủng khiếp. Ông đã bỏ công lao từ Lôn đôn sang đay chỉ để thăm e! m của �! �ng?
_ Không đúng hẳn. Ba tôi bị bệnh. Nhưng người em gái của tôi đã từ Cựu kim Sơn đến ở với ông ấy. Hình như cô đã nói cô có quen biết Laura?
_ Chúng tôi đã gặp nhau ở Cựu kim sơn. Chồng bà ấy là một trong những luật sư của anh tôi.
Câu chuyện ở bàn ăn sau đó chỉ có tính tổng quát như bao nhiêu người khác gặp nhau lần đầu trong một bữa cơm.Tôi chỉ trao đổi những câu ngắn với Monique.
Lúc 6h30 chiều hôm ấy nàng bước vào phòng ngoạn cảnh với dáng đi uyển chuyển một cách tự nhiên và chiếc đầu luôn giữ vẻ kiêu hãnh của nàng. Nàng mặc một chiếc áo trắng óng ánh bạc dài gần phết gót. Mái tóc đen của nàng buông lơi phía sau, chỉ thắt lại một cách đơn sơ ngang gáy. Kiểu tóc này quả thật rất thích hợp với khuôn mặt của nàng.Nàng mỉm nụ cười không hé môi của nàng trong lúc nàng tiến tới bàn.
_ Chào Stuart.
Vừa nói nàng vừa đưa bàn tay ra cho tôi. Tôi để ý lần đầu tiên nàng gọi tôi bằng tên đầu và tôi hết sức vui thú. Tôi bắt chước nàng trong việc gọi tên.
_ Chào Monique. tôi thấy cô giống hệt một nhân vật trong chuyên tiên của Andersen.
_ Tôi hi vọng không phải là nữ hoàng tuyết. Trông ông cũng khá bảnh trai đấy chứ. Tôi thích ông mặc dạ phục. Hình như tôi đã nói với ông trông ông
hơi giống…
_ Vâng, cô đã bảo tôi giống Angus Ogilvie. Nhiều người quen biết thường gọi là mặt đá.
_ Vô lý! Khuôn mặt của ông nhiều khi thật sống động.
George đem Martini đến cho chúng tôi và chúng tôi cùng nâng nhẹ ly chúc mừng nhau trong im lặng. Sau khi chúng tôi uống một hớp rượu, tôi mới lại
lên tiếng hỏi nàng! :
_! Cô có thể cho tôi biết cô đã quen Dại uý Anson bao lâu?
Nàng nhìn sững tôi với đôi mắt mở rộng một lúc rồi đáp:
_ Chúng tôi mới wen trong cuộc thao diễn. Tại sao anh hỏi vậy?
_ Không có lý do gì đặc biệt. Thấy cô và ông ta trò chuyện, tôi cứ tưởng hai người đã wen biết nhau từ lâu lắm. Cô nghĩ sao về ông ta? Có phải ông ta quả thật chỉ là một sỹ quan hải quân hưu trí?
_ Thật tình tôi không biết nhiều về ông ấy. Tôi chỉ nghe nói ông ấy thươnngf làm chủ tịch một tổ chức kỳ dị có tên tương tự Atlantic Union hoặc Union Now một tổ chức nhằm mục đích hoà bình.
_ Có phải tổ chức đó tên là Oui-Dỉe?
Nàng bỗng ngước lên nhìn tôi. Bộ mặt của nàng có vẻ bối dối.
_ Oui-Dỉe? Không chắc không phải.Chữ đó theo Pháp ngữ có nghĩa “tin đồn”.
_ Vâng, tôi tưởng cô có thể hiểu, vì đó là tiếng Pháp.
_ Nhưng không cần thiết, nó ….
Nàng đột nhiên dừng nói và nhìn quanh tim george. Anh ta bắt gặo ánh mắt của nàng liền tiến tới gần bàn:
_ Cô Menard, có phải cô cần thêm một nửa Ly Hex-ametr?
Nàng vỗ tay một cách thích thú, bông nhiên trông giống như một cô bé con.
_ Ồ George, anh vẫn còn nhớ được thì hay quá.
Tôi ngạc nhiên hỏi:
_ Hexameter?
George mỉm cười.
_ Đó là cái tên do cô Menảd đã dặt ra để gọi thứ martini nguyên chất pha với vỏ chanh.
Trông anh ta khoan khoái tựa hồ sẵn sàng đem Phi Châu Bội Tinh của anh ta tặng lại cho nàng.
Nàng nói với tôi:
_ Vì âm điệu, một ly martini nguyên chất với vỏ chanh kô khác một câu thơ lục ngôn tuyệt diệu.
_ hoặc Alexandrine, nếu cô là ng�! �ời Ph�! �p.
_ Không, chỗ ngắt hơi trong loại thơ Alexandrine kô hoàn toàn giống loại Hexameter.
Thấy nàng mỗi lúc một đi xa đè tôi nhắc lại:
_ Ban nãy cô định nói gì về Oui-Dire?
_ Tôi định nói chuyện gì sao? Tôi kô nhớ.Chắc hẳn chuyện cũng không quan trọng bao nhiêu. VẢ lại, ông đã hỏi tôi wá nhiều rồi. bbây giờ tới phiên tôi chứ. Ông hãy kể về cuộc đời của ông đi.
_ Chẳng có gì đáng kể. Một cuộc đời rất yên tĩnh, trừ chiến tranh và đều đã xưa lắm rồi.
_ Chắc ai cũng nghĩ ông la người Anh, ông chỉ thích nghe người khác kể chuyện.
_ Tổ tiên tôi tất cả đều là người Tô cách lan. Nhưng tôi thấy rằng người Tô cách lan còn kín miệng hơn người Anh nữa. Họ rất ít nói, luôn ngậm miệng ngay cả khi cần phải nói.
_ Ông đang cố tình nói lảng sang chuyện khác. Cũng được, tôi sẽ có cách làm cho ông phải kể hết trước khi mình đến Southampton.
_ Southampton? Tôi tưởng cô đi Le Havre chứ.
_ Tôi muốn thăm mấy người anh chị họ ở Anh. Rồi sau đó mới đi Pháp. Nhưng tôi đang cố thuyết phục Jacques ghé Le Havre trước, Anh ấy cần phải đi khám bác sĩ riêng ở đó.
_ Tôi nghi chắc ông ấy chỉ muốn trở về ngay để lo công việc.
Nang từ từ bảo:
_ Vâng anh ấy muốn thế.
Lời nói của nang không được bình thường. Nhưng bao giờ cũng khó biết có phải chăng chỉ vì nàng không giống như người Anh nên lối giải thích cũng khác hẳn.
Trong lúc chúng tôi đang nói chuyện, tôi mơ hồ nhận thấy một người đàn ông ngồi ở bàn bên cạnh đang theo dõi chúng tôi. Điều đó rất dễ biết, một phần nhờ cái thói quen hơi nghiêng đầu mỗi khi đang ! lóng tai! nghe. Tôi tin mình không thể lầm được. Tôi chưa hề trôngthấy gã này mặc dù đã để ý tìm nhân viên mật cua dillingham. Ga có mái toc màu vàng khó ai biết chắc quốc tịch của gã, có thể la Thuỵ điển, Đức, hoặc Thuỵ Sĩ. TRong lúc chúng tôi bước ra khỏi phòng để đi xuống ăn cơm tối, tôi hoi monique có để ý tới hắn không.
Nàng đáp:
_ Không, nhưng mình đâu có nói chuyện gì đặc biệt đáng kể cho kẻ khác nghe lóm.
Tôi nhìn vào một bên má nàng. Nhưng nàng vẫn không quay sang nhìn tôi

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét