Bồ-Đề Đạt-Ma Quán Tâm Pháp
菩提達摩觀心法
*HT THÍCH MINH THIỀN
釋明禪和尚
LUẬN HUYẾT MẠCH………………………………………………………………………………………………. 1
LUẬN NGỘ TÁNH……………………………………………………………………………………………… 15
LUẬN PHÁ TƯỚNG……………………………………………………………………………………………… 29
LGT :- Tài liệu này ghi lại phần luận của Tổ Bồ-Đề Đạt-Ma trong quyển " Bồ-Đề Đạt-Ma Quán Tâm Pháp" (菩提達摩觀心法) do HT Thích Minh Thiền dịch và giảng giải tại chùa Hội Tông, Phú Định, vào năm 1973, xuất bản bởi Nhà xuất bản Quế Sơn, Võ Tánh, Sài Gòn. Quán Tâm Pháp là tên chung cho ba thiên luận về Huyết Mạch, Ngộ Tánh và Phá Tướng.
Trước nay, chúng ta chỉ thường đọc nội dung ba phần luận nầy trong quyển "Thiếu Thất Lục Môn" của Thầy Trúc Thiên dịch . Nay chúng tôi xin đóng góp thêm một bản dịch khác để quí vị có thêm tài liệu tham khảo. Trân trọng. – Cư Sĩ Chánh Nguyên)
1.- 血脈論
三界興起同歸一心。前佛後佛以心傳心。不立文字。
問曰。若不立文字。以何為心。答曰。汝問吾。
即是汝心。吾答汝。即是吾心。吾若無心。
因何解答汝。汝若無心。因何解問吾。
問吾即是汝心。從無始曠大劫以來。乃至施為運動。
一切時中一切處所。皆是汝本心。皆是汝本佛。
即心是佛亦復如是。除此心外。終無別佛可得。
離此心外。覓菩提涅槃。無有是處。自性真實。
非因非果。法即是心義。自心是菩提。
自心是涅槃。若言心外有佛及菩提可得。無有是處。
佛及菩提皆在何處。譬如有人以手捉虛空。
得否。虛空但有名。亦無相貌。取不得捨不得。
是捉空不得。除此心外覓佛。終不得也。
LUẬN HUYẾT MẠCH
Ba cõi lăng xăng đều từ một tâm. Phật trước Phật sau đều chỉ dùng tâm truyền tâm, chẳng lập văn tự.
Có người hỏi: Nếu không lập văn tự, vậy lấy gì là tâm?
Đáp: Ông nói tôi tức là tâm của ông, tôi trả lời với ông tức là tâm của tôi. Nếu tôi không có tâm thì lấy đâu biết để trả lời với ông; ông nếu không có tâm thì làm sao ông biết hỏi tôi. Cho nên biết: Hỏi tôi tức là tâm của ông đó.
Từ lũy kiếp đến giờ, nhẫn đến hành tung hoạt động bất cứ lúc nào, bất cứ chỗ nào đều là cái tâm vốn có của ông, đều là Phật vốn có của ông. Cái nghĩa "chính tâm là Phật" là như thế. Ngoài tâm này rốt ráo không có Phật nào khác có thể được. Nếu lìa tâm này mà tìm Bồ-đề, Niết-Bàn, thì thật là không tưởng. Tánh chơn thật của mình không phải pháp nhân pháp quả, đó là nghĩa của tâm. Tự tâm là Niết-Bàn. Nếu nói ngoài tâm có Phật và Bồ-Đề có thể được thì thật là không tưởng.
Phật và Bồ-Đề ở chỗ nào? Ví như có người dang tay bắt hư-không có được gì không? Vì sao thế? Vì hư-không chỉ có tên chớ nào có hình tướng! Bắt đã chẳng được, bỏ cũng chẳng được. Thế là hư-không không thể bắt được. Trừ tâm này ra mà tìm Phật rốt rồi không được cũng giống như vậy.
佛是自心作得。因何離此心外覓佛。
前佛後佛只言其心。心即是佛。佛即是心。心外無佛。
佛外無心。若言心外有佛。佛在何處。心外既無佛。
何起佛見。遞相誑惑。不能了本心。
被他無情物攝。無自由分。若又不信。自誑無益。
佛無過患。眾生顛倒。不覺不知自心是佛。
若知自心是佛。不應心外覓佛。佛不度佛。將心覓佛。
而不識佛。但是外覓佛者。盡是不識自心是佛。
亦不得將佛禮佛。不得將心念佛。佛不誦經。
佛不持戒。佛不犯戒。佛無持犯。亦不造善惡。
若欲覓佛。須是見性。性即是佛。若不見性。
念佛誦經持齋持戒亦無益處。念佛得因果。
誦經得聰明。持戒得生天。布施得福報。
覓佛終不得也。若自己不明了。
須參善知識了卻生死根本。若不見性。即不名善知識。若不如此。
縱說得十二部經。亦不免生死輪迴。
三界受苦。無有出期。昔有善星比丘。誦得十二部經。
猶自不免輪迴。為不見性。善星既如此。
今時人講得三五本經論。以為佛法者。愚人也。
若不識得自心。誦得閑文書。都無用處。
若要覓佛。直須見性。性即是佛。佛即是自在人。
無事無作人。若不見性。終日茫茫。向外馳! 求覓佛。
元來不得。雖無一物可得。若求會。
亦須參善知識。切須苦求。令心會解。
Phật là tự tâm làm ra. Tại sao lìa tâm mà tìm Phật? Phật trước Phật sau chỉ nói về tâm. Tâm tức là Phật, Phật tức là tâm; ngoài tâm không Phật, ngoài Phật không tâm. Nếu nói ngoài tâm có Phật vậy Phật ở đâu? Ngoài tâm đã không Phật sao lại còn làm ra cái thấy có Phật để mà dối gạt lẫn nhau, rồi không thể rõ được cái tâm vốn có của mình, lại bị vật vô tình nó nhiếp mất tự do; nếu không tin hiểu như thế, để tự dối gạt thật là vô ích. Phật không lỗi lầm, chúng sanh điên đảo chẳng biết giác ngộ tâm mình là Phật. Nếu biết tự tâm là Phật chớ nên tìm cầu Phật ngoài tâm.
Phật chẳng độ Phật, nếu đem tâm tìm Phật là chẳng biết Phật là chỉ tự tâm
Những người đi tìm Phật, hết thẩy đều chẳng biết tự tâm là Phật. Cũng chớ nên đem Phật lễ Phật, đem tâm niệm Phật. Phật chẳng tụng kinh, chẳng giữ giới, chẳng phạm giới. Phật không có giữ và phạm, cũng chẳng tạo thiện tạo ác. Nếu chẳng thấy tánh; niệm Phật, tụng kinh, ăn chay, giữ giới cũng không ích lợi gì. Niệm Phật chẳng qua được nhân quả, tụng kinh chẳng qua được thông minh, giữ giới chẳng qua được sanh lên cõi trời, bố thí chẳng qua được phước báo. Tìm Phật quyết định không thể được.
Nếu tự mình không thấu suốt, thì phải nên tìm tham học với thiện tri thức nào đã dứt khoát nguồn cội sanh tử. Nếu chẳng thấy tánh thì không được gọi là thiện tri thức. Nếu không như thế d�! �u cho c�! � giảng được hết cả kinh Phật cũng chẳng khỏi sanh tử luân hồi, vẫn ở trong ba cõi chịu khổ mãi mãi.
Xưa có Tỳ-kheo Thiện Tinh giảng được hết cả kinh Phật nhưng vẫn chẳng chịu khỏi luân hồi, cũng chỉ vì chẳng thấy tánh. Thiện Tinh đã như thế, người nay bất quá giảng được năm ba bốn kinh luận rồi vội cho là mình thực hành pháp Phật, đó là thuộc về hạng người mê. Nếu chẳng biết tự tâm, chỉ tụng theo suông mặt chữ của kinh đều là vô dụng. Nếu muốn tìm Phật phải nên thấy tánh. Tánh tức là Phật, Phật tức là người tự tại rảnh rang vô sự. Nếu chẳng thấy tánh, suốt ngày chật vật rong ruổi ra ngoài mà tìm, tìm làm sao được? Tuy không một vật có thể được, nhưng nếu muốn cầu tỏ ngộ cũng phải nên tham học với thiện tri thức. Phải thiết tha cần khổ mà cầu đến bao giờ được tỏ ngộ bổn tâm.
生死事大。不得空過。自誑無益。縱有珍寶如山。眷屬如恒河沙。
開眼即見。合眼還見麼。
故知有為之法如夢幻等。若不急尋師。空過一生。然則佛性自有。
若不因師。終不明了。不因師悟者。
萬中希有。若自己以緣會合得聖人意。
即不用參善知識。此即是生而知之勝學也。若未悟解。
須勤苦參學。因教方得悟。若自明了。
不學亦得。不同迷人不能分別皂白。妄言宣佛敕。
謗佛妄法。如斯等類。說法如雨。盡是魔說。
即非佛說。師是魔王。弟子是魔民。
迷人任他指揮。不覺墮生死海。但是不見性人。妄稱是佛。
此等眾生是大罪人。誑他一切眾生。
令入魔界。若不見性。說得十二部經教。盡是魔說。
魔家眷屬。不是佛家弟子。既不辨皂白。
憑何免生死。若見性即是佛。不見性即是眾生。
若離眾生性別有佛性可得者。佛今在何處。
眾生性即是佛性也。性外無佛。佛即是性。
除此性外。無佛可得。佛外無性可得。
Sanh tử việc lớn, không được phép để luống trôi qua, tự dối gạt vô ích. Dẫu có của quí như non, quyến thuộc như cát sông Hằng, mở mắt thấy đó, khi nhắm mắt rồi ra sao? Phải biết các pháp hữu vi đều như! giấc mơ, như huyễn hoá.
Nếu chẳng gấp tìm thầy học đạo, luống uổng một kiếp trôi qua.
Tuy rằng tánh Phật ai cũng vốn tự có, nhưng nếu chẳng nhờ Thầy chỉ giáo rốt không thể tỏ ngộ. Những bật chẳng nhờ Thầy mà tỏ ngộ chỉ là hy hữu trong muôn một mà thôi. Nếu tự mình được nhân duyên hợp ý Thánh thì không cần phải tham học với thiện tri thức; trường hợp này gọi là sanh ra đã biết còn hơn vậy.
Nếu chưa được tỏ ngộ phải nên cần khổ tham học, nương nơi giác mới được ngộ. Nếu đã ngộ rồi chẳng học chẳng sao, không đồng với người mê.
Nếu chưa minh bạch được đen trắng mà kỳ vọng nói tuyên bày giáo pháp của Phật, chê Phật kỵ Pháp. Những bọn như thế, thuyết pháp như thế, hết thảy đều là ma nói, không phải Phật nói, tức là ma vương, đệ tử của họ là ma dân. Người mê chịu cho chúng nó chỉ huy chẳng được giác ngộ, đoạ vào biển sanh tử chỉ vì chẳng thấy tánh, vọng xưng là Phật. Bọn chúng sanh như thế là đại ma vương, gạt gẫm tất cả chúng sanh cho vào cõi ma.
Nếu chẳng thấy tánh, dẫu cho giảng được hết cả kinh Phật đi nữa cũng chẳng qua là ma nói, là quyến thuộc nhà ma, chẳng phải đệ tử của Phật. Đã chẳng biện được đen trắng thì căn cứ nơi đâu mà khỏi sanh tử.
Nếu đã thấy tánh tức là Phật, chẳng thấy tánh tức là chúng sanh. Nếu lìa tánh chúng sanh mà riêng có tánh Phật có thể được, vậy Phật hiện ở chỗ nào? Như thế, tánh chúng sanh là tánh Phật. Ngoài tánh không Phật, Phật tức là tánh, ngoài tánh này không có Phật nào có thể được. Ngoài Phật cũng không c�! � tánh n! ào có thể được.
問曰。若不見性。念佛誦經。布施持戒精進。
廣興福利。得成佛否。答曰。不得。
又問。因何不得。答曰。有少法可得。
是有為法。是因果。是受報。是輪迴法。不免生死。
何時得成佛道。成佛須是見性。若不見性。
因果等語是外道法。若是佛。不習外道法。
佛是無業人無因果。但有少法可得。盡是謗佛。
憑何得成。但有住著一心一能一解一見。
佛都不許。佛無持犯。心性本空。亦非垢淨。
諸法無修無證。無因無果。佛不持戒。佛不修善。
佛不造惡。佛不精進。佛不懈怠。佛是無作人。
但有住著心見佛。即不許也。佛不是佛。莫作佛解。
若不見此義。一切時中。一切處處。
皆是不了本心。若不見性。一切時中。擬作無作想。
是大罪人。是癡人。落無記空中。昏昏如醉人。
不辨好惡。
Hỏi: Nếu chẳng thấy tánh, niệm Phật, tụng kinh, bố thí, giữ giới, tinh tiến, mở rộng phúc duyên, có được thành Phật không?
Đáp: Không !
Hỏi: Vì sao không được?
Đáp: Nếu có chút pháp nào có thể được là pháp hữu vi, là pháp nhân quả, là pháp thọ báo, là pháp luân hồi, không khỏi sanh tử, biết chừng nào mà thành Phật!
Muốn thành Phật phải thấy tánh. Nếu chẳng giác ngộ bổn tánh thì nói những nào nhân, nào quả! đều là pháp ngoại đạo. Nếu là Phật thì chẳng tập theo pháp ngoại đạo.
Phật là người không nghiệp, không nhân quả, nếu nói có chút pháp có thể được đều là chê bai Phật đó! Căn cứ nơi đâu mà được thành Phật? Dẫu cho chỉ trụ chấp một tâm, một năng, một giải, một thấy cũng đều bị Phật chẳng thừa nhận. Phật không giữ và phạm. Tâm tánh vốn không, cũng không phải các pháp dơ sạch, không tu không chứng, không nhân không quả. Phật chẳng giữ giới, chẳng tu thiện, chẳng tạo ác, chẳng tinh tiến, chẳng giải đãi. Phật là người vô tác, nếu có tâm đắm chấp để thấy Phật là bị không thừa nhận rồi! Phật chẳng phải Phật, đừng làm ra hiểu Phật, nếu chẳng thấy nghĩa này thì luôn luôn ở đâu cũng đều là mê muội bổn tâm, nếu chẳng thấy tánh mà luôn tưởng tượng ra làm cái rảnh rang (vô tác), đó là tội nhân lớn, là người si, rơi vào ngoan không vô ký, ngây ngây như người say, chẳng phân được tốt xấu.
若擬修無作法。先須見性。然後息緣慮。
若不見性。得成佛道。無有是處。有人撥無因果。
熾然作惡業。妄言本空。作惡無過。如此之人。
墮無間黑暗地獄。永無出期。若是智人。
不應作如是見解。
問曰。既若施為運動。一切時中。皆是本心。
色身無常之時。云何不見本心。答曰。
本心常現前。汝自不見。
問曰。心既見在。何故不見。師云。
汝曾作夢否。答。曾作夢。問曰。汝作夢之時。
是汝本身否。答。是本身。又問。汝言語施為運動。
與汝別不別。答。不別。師云。既若不別。
即是此身是汝本法身。即此法身是汝本心。
此心從無始曠大劫來。與如今不別。未曾有生死。
不生不滅。不增不減。不垢不淨。不好不惡。
不來不去。亦無是非。亦無男女相。亦無僧俗老少。
無聖無凡。亦無佛亦無眾生。亦無修證。
亦無因果。亦無筋力。亦無相貌。猶如虛空。
取不得捨不得。山河石壁不能為礙。
出沒往來自在神通。透五蘊山。渡生死河。
一切業拘此法身不得。此心微妙難見。此心不同色心。
此心是人皆欲得見。於此光明中。運手動足者。
如恒河沙。及于問著! 。總道不得。猶如木人相似。
總是自己受用。因何不識。
Nếu muốn tu theo pháp vô tác trước phải thấy tánh, rồi sau dứt các duyên lự nơi tâm. Nếu chẳng thấy tánh mà được thành Phật, thì thật là chuyện tưởng tượng.
Có người bác cho rằng không nhân quả, tha hồ mà tạo nghiệp ác, vọng nói vốn không, làm ác không tội, con người như thế sẽ đọa vào địa ngục Vô Gián tối tăm mãi mãi. Nếu là người trí không nên hiểu như thế.
Hỏi: Đã nói dầu cho làm lụng, hoạt động, lúc nào cũng đều là bổn tâm. Vậy khi vô thường đến với sắc thân sao lại chẳng thấy bổn tâm?
Đáp: Bổn tâm lúc nào cũng hiện bày, chỉ tại ông chẳng thấy.
Hỏi: Lúc nào cũng hiện bày, vì sao chẳng thấy?
Tổ sư nói: "Ông có từng nằm mơ lần nào không?"
Đáp: Có.
Hỏi: Khi ông nằm mơ có phải là bổn thân của ông không?
Đáp: Phải.
Lại hỏi: Ông nói năng hoạt động với ông là một hay khác?
Đáp: Không khác.
Nói: Nếu đã chẳng khác thì thân của ông đây cũng chính là pháp thân vốn có của ông đó. Chính ngay pháp thân này là bổn tâm của ông đó. Tâm này từ lũy kiếp đến giờ vẫn y nguyên như thế, chưa từng có sanh tử. Chẳng sanh chẳng diệt; chẳng thêm chẳng bớt; chẳng dơ chẳng sạch; chẳng tốt chẳng xấu; chẳng đến chẳng đi; chẳng phải chẳng quấy; chẳng tướng nam tướng nữ; cũng không phải tướng tục tướng tăng; không già không trẻ; không thánh không p! hàm; kh�! �ng Phật không chúng sanh; không tu không chứng; không nhân quả; không gân lực, không tướng mạo cũng như hư không, bắt chẳng được, bỏ chẳng được, núi sông gành đá không chướng ngại được, hiện ẩn qua lại tự tại thần thông, suốt năm uẩn, vượt sanh tử, tất cả nghiệp chướng đối với pháp thân cũng đều không thể trói buộc được. Tâm này rất vi diệu khó thấy, chẳng đồng với cái tâm nghiệp chướng do trần cảnh tạo nên.
Cái pháp thân, tâm tánh này ai ai cũng sẵn có. Trong tâm ấy động tay máy chân nhất nhất đều không lìa, nhưng khi hỏi đến đều không thể nói được, giống như người gỗ. Hết thảy đều tự mình thọ dụng nhưng sao lại không biết?
佛言。
一切眾生盡是迷人。因此作業。墮生死河。欲出還沒。
只為不見性。眾生若不迷。因何問著其中事。
無有一人得會者。自家運手動足。因何不識。
故知聖人語不錯。迷人自不會曉。故知此難明。
唯佛一人能會此法。餘人天及眾生等盡不明了。
若智慧明了此心。方名法性。亦名解脫。
生死不拘。一切法拘他不得。是名大自在王如來。
亦名不思議。亦名聖體。亦名長生不死。
亦名大仙。名雖不同。體即是一。聖人種種分別。
皆不離自心。心量廣大。應用無窮。應眼見色。
應耳聞聲。應鼻嗅香。應舌知味。乃至施為運動。
皆是自心。一切時中。但有語言。即是自心。
故云。如來色無盡。智慧亦復然。色無盡是自心。
心識善能分別一切。乃至施為運用。
皆是智慧。心無形相。智慧亦無盡。故云。
如來色無盡。智慧亦復然。四大色身即是煩惱。
色身即有生滅。法身常住。而無所住。
如來法身常不變異。故經云。眾生應知。佛性本自有之。
迦葉只是悟得本性。本性即是心。心即是性。
即此同諸佛心。前佛後佛只傳此心。除此心外。
無佛可得。顛倒眾生。不知自心是佛。向外馳求。
不應作如是等見。但識自心。心外更無別佛。經云。
凡所有相皆是虛妄。又云。所在之處即為有佛。
自心是佛。不應將佛禮佛。但是有佛及菩薩相貌。
忽爾現前。亦切不用禮敬。我心空寂。
本無如是相貌。若取相即是魔。盡落邪道。
若是幻從心起。即不用禮。禮者不知。知者不禮。
禮被魔攝。恐學人不知。故作是辨。
諸佛如來本性體上。都無如是相貌。切須在意。但有異境界。
切不用採括。亦莫生怕怖。不要疑惑。
我心本來清淨。何處有如許相貌。
乃至天龍夜叉鬼神帝釋梵王等相。亦不用心生敬重。亦莫怕懼。
我心本來空寂。一切相貌皆是妄相。
但莫取相。
Phật nói: Tất cả chúng sanh đều là mê muội, vì thế nên tạo nghiệp đọa vào sanh tử, muốn ra rồi lại vào, chỉ vì chẳng thấy tánh. Chúng sanh nếu chẳng mê tại sao khi hỏi đến việc trong tâm tánh thì lại không có một người biết được? Tự mình động tay máy chân sao mình không biết? Cho nên biết Thánh nhân nói không lầm, vì người tự mê muội. Nên biết tánh này rất khó tỏ, chỉ có Phật mới được tỏ ngộ thôi; hết thảy người, trời, chúng sanh đều không tỏ suốt.
Nếu có trí tuệ tỏ suốt được tâm này thì gọi là pháp tánh, cũng gọi là giải thoát, sanh tử không trói buộc ! được,! tất cả pháp không chướng ngại được, thế gọi là Đại Tự Đại Vương Như Lai. Cũng gọi là không thể nghĩ bàn, cũng gọi là Thánh thể, cũng gọi là trường sanh bất tử, cũng gọi là đại tiên. Danh tuy chẳng đồng, thể vẫn là một, bực Thánh nhơn nói ra dẫu có muôn bàn phân biệt cũng đều chẳng lìa tự tâm. Tâm lượng rộng lớn ứng dụng vô cùng, ứng ra mắt thấy sắc, ra tai nghe tiếng, ra mũi biết mùi, ra lưỡi biết vị, cho đến hết thảy hành tung hoạt động cũng đều là tự tâm. Bất cứ lúc nào, chỉ có bặt đường ngôn ngữ tức là tự tâm.
Nên nói sắc Như Lai vô tận, trí huệ cũng vô tận. Sắc vô tận là tự tâm, tâm khéo hay phân biệt tất cả pháp, nhẫn đến tất cả hành tung hoạt động cũng đều là trí huệ. Tâm không hình tướng nên trí huệ cũng vô tận. Nên nói sắc Như Lai vô tận, trí huệ cũng như thế. Còn cái thân tứ đại tức là cái thân phiền não thân sanh diệt. Pháp thân thường trụ không chỗ trụ; Pháp thân của Như Lai thường chẳng thay đổi nên kinh nói: Chúng sanh nên biết tánh Phật vốn tự có; ngài Ca Diếp chỉ ngộ được bổn tánh mà thành Phật. Bổn tánh tức là tâm; tâm tức là tánh, tánh với tâm chư Phật không hai, Phật trước Phật sau chỉ truyền tâm này, ngoài tâm này không có Phật nào cả, chúng sanh điên đảo chẳng biết tự tâm là Phật, dong ruỗi ra ngoài mà tìm, suốt ngày chật vật niệm Phật, lễ Phật, vậy Phật ở đâu? Chớ nên hiểu như thế, làm như thế. Chỉ biết bổn tâm, ngoài tâm không có Phật nào khác. Kinh nói: Phàm cái gì có tướng điều là hư vọng.
Lại nói: Phật ở đâu? Chỗ nào không Phật? Tự ! Tâm là ! Phật; Chẳng nên đem Phật lễ Phật, dẫu có tướng Phật hoặc tướng Bồ-Tát hiện tiền cũng quyết định chớ nên lễ kỉnh. Tâm ta vắng lặng vốn không có tướng như thế. Nếu chấp tướng tức là ma, đều rơi vào tà đạo, nếu là huyễn từ tâm khởi, lại càng không nên lễ, lễ là không biết, biết thì chẳng lễ. Nếu lễ là bị ma nhiếp.
Sợ hậu học chẳng biết nên phải biện bạch như thế này. Các Phật, Như Lai, trên bổn tánh đều không có tướng như thế; phải nên chú ý. Khi thấy cảnh giới lạ, quyết định không nên chấp, cũng đừng sanh sợ hãi, chẳng cần nghi hoặc. Tâm ta bổn lai thanh tịnh, đâu có tướng như thế! Nhẫn đến tướng Thiên Long, Dạ xoa, quỷ thần, Đế Thích, Phạm Vương v.v… đi nữa, cũng chẳng nên sanh tâm kỉnh trọng, cũng đừng sợ hãi. Tâm ta bổn lai vắng lặng, tất cả tướng đều là tướng hư vọng, chỉ đừng chấp tướng là hơn.
若起佛見法見。及佛菩薩等相貌而生敬重。自墮眾生位中。若欲直會。
但莫取一切相即得。更無別語。都無定實。幻無定相。
是無常法。但不取相。合他聖意。故經云。離一切相。
即名諸佛。
問曰。因何不得禮佛菩薩等。答曰。
天魔波旬阿修羅示見神通。皆作得菩薩相貌。
種種變化。皆是外道。總不是佛。佛是自心。
莫錯禮拜。佛是西國語。此土云覺性。覺者靈覺。
應機接物。揚眉瞬目。運手動足。
皆是自己靈覺之性。性即是心。心即是佛。佛即是道。
道即是禪。禪之一字。非凡聖所測。直見本性。
名之為禪。若不見本性。即非禪也。
假使說得千經萬論。若不見本性。只是凡夫。非是佛法。
至道幽深。不可話會。典教憑何所及。但見本性。
一字不識亦得。見性即是佛。聖體本來清淨。
無有雜穢。所有言說皆是聖人。從心起用。
用體本來空名。言尚不及。十二部經憑何得及。
道本圓成。不用修證。道非聲色。微妙難見。
如人飲水冷暖自知。不可向人說也。唯有如來能知。
餘人天等類。都不覺知。凡夫智不及。
所以有執相。不了自心本來空寂。妄執相及一切法。
執即不知。若見本性。十二部經總是閑文字。
千經萬論只是明心。言下契會。教將何用。
至理絕言。教是言詞。實不是道。道本無言。言說是妄。
Nếu khởi tâm thấy Phật thấy pháp và thấy các tướng Bồ-Tát mà sanh kỉnh trọng, tức là tự đọa vào trong chúng sanh. Nếu muốn liền được tỏ ngộ, chỉ đừng nhận một pháp nào là được. Không cần nói gì thêm.
Nên kinh nói: Phàm cái gì có tướng đều là hư vọng, đều không có thật. Huyễn không có tướng nhất định, là pháp vô thường. Chỉ đừng chấp tướng là hợp với ý thánh. Nên kinh nói: Lìa tất cả tướng là danh hiệu chư Phật.
Hỏi: Tại sao không được lễ Phật, Bồ-Tát?
Đáp: Thiên ma Ba-Tuần. A-tu-la cũng hiện thần thông làm được tướng Bồ Tát và nhiều cách biến hóa. Đó là ngoại đạo chớ không phải Phật. Phật là tự tâm, đừng lầm lễ lạy. Chữ Phật là tiếng Ấn Độ, theo xứ ta gọi là tánh giác. Giác nghĩa là linh giác, ứng cơ tiếp vật, nhướng mày, liếc mắt, động tay máy chân đều là tánh linh giác của mình. Tánh tức là tâm. Tâm tức là Phật. Phật tức là Đạo. Đạo tức là Thiền.
Nội một chữ Thiền, phàm thánh cũng khó luờng được. Nếu chẳng thấy tánh là không phải Thiền, dẫu cho giảng được thiên kinh vạn luận, nếu chẳng thấy tánh cũng chỉ là phàm phu. Đạo cả sâu mầu không thể dùng lời mà tỏ được hết. Vậy kinh điển căn cứ nơi đâu mà có thể đến được? !
Ch! ỉ thấy bổn tánh, dầu cho không biết một chữ cũng là thấy tánh, tức là thánh thể.
Vốn nó là thanh tịnh, không tạp không nhơ. Có nói năng điều gì đều là thánh nhơn từ tâm mà khởi dụng. Dụng và thể bổn lai là không. Danh ngôn còn chẳng đến được, vậy mười hai bộ kinh bằng cứ nơi đâu mà đến được?
Đạo vốn viên thành, chẳng phải tu chứng. Đạo không phải sắc thinh, vi diệu khó thấy. Chỉ như người uống nước, lạnh ấm tự biết mà thôi, không thể nói cho người khác nghe được. Chỉ có Như Lai biết được, ngoài ra người, trời các loại đều không hay biết. Vì trí phàm phu không đến được nên mới chấp tướng, chẳng rõ tự tâm vốn vắng lặng rỗng rang, nên vọng chấp tướng và tất cả pháp mới đọa ngoại đạo. Nếu biết đều từ tâm sanh thì chẳng nên chấp, chấp là chẳng biết. Nếu thấy bổn tánh thì mười hai bộ kinh chẳng qua chỉ là văn tự rỗng, ngàn kinh muôn luận cốt để tỏ tâm; nếu nói ra liền khế hợp thì kinh giáo dùng được vào đâu? Chí lý hết nói năng, kinh giáo chỉ là từ ngữ, thiệt chẳng phải Đạo.
Đạo vốn không nói năng, nói năng là vọng.
若夜夢見樓閣宮殿象馬之屬。及樹木叢林池亭。如是等相。不得起一念樂著。
盡是託生之處。切須在意。臨終之時。不得取相。
即得除障。疑心瞥起。即被魔攝。
法身本來清淨無受。只緣迷故。不覺不知。因茲故妄受報。
所以有樂著不得自在。只今若悟得。本來身心。
即不染習。若從聖入凡。示現種種雜類等。
自為眾生。故聖人逆順皆得自在。
一切業拘他不得。聖成久矣。有大威德。一切品類業。
被他聖人轉。天堂地獄。無奈他何。凡夫神識昏昧。
不同聖人內外明徹。若有疑即不作。
作即流浪生死。後悔無相救處。貧窮困苦皆從妄想生。
若了是心。遞相勸勉。但無作而作。
即入如來知見。初發心人神識總不定。
若夢中頻見異境。輒不用疑。皆是自心起故。不從外來。
夢若見光明出現過於日輪。即餘習頓盡。
法界性見。若有此事。即是成道之因。唯可自知。
不可向人說。或靜園林中。行住坐臥。眼見光明。
或大或小。莫與人說。亦不得取。亦是自性光明。
或靜暗中。行住坐臥。眼見光明。與晝無異。
不得怪。並是自心欲明顯。或夜夢中。
見�! �月分明。亦自心諸緣欲息。亦不得向人說。
夢若昏昏。猶如陰暗中行。亦是自心煩惱障重。
亦可自知。若見本性。不用讀經念佛。
廣學多知無益。神識轉昏。設教只為標心。若識心。
何用看教。若從凡入聖。即須息業養神隨分過日。
若多嗔恚。令性轉與道相違。自賺無益。
聖人於生死中自在。出沒隱顯不定。
一切業拘他不得。聖人破邪魔。一切眾生但見本性。
餘習頓滅。神識不昧。須是直下便會。只在如今。
欲真會道。莫執一切法。息業養神。餘習亦盡。
自然明白。不假用功。外道不會佛意。用功最多。
違背聖意。終日區區念佛轉經。昏於神性。
不免輪迴。
Người tu đêm đến có nằm mơ thấy lâu đài, cung điện, voi ngựa hoặc cây cối, rừng ao v.v… chớ nên mống lòng tham đắm, vì hết thảy chảnh ấy đều là chỗ để thác sanh, điều này phải hết sức chú ý. Lại nữa, khi lâm chung chẳng nên chấp tướng thì chướng liền trừ. Nếu tâm nghi phát khởi là bị ma nhiếp.
Pháp thân bổn lai thanh tịnh không thọ lãnh một điều gì, chỉ vì mê muội không hay biết nên vọng thọ báo, vì có tham đắm nên mất tự do, nếu ngộ được bổn tâm thì chẳng đắm nhiễm.
Nếu là từ thánh vào phàm thị hiện bao nhiêu tạp loại tự làm chúng sanh đó là một việc khác. Nên thánh nhơn làm nghịch làm thuận đều được tự tại, tất cả nghiệ! p chướ! ng không trói buộc được, đối với bực ấy có đại oai đức đã lâu cho nên tất cả nghiệp chướng đều bị chuyển hết, thiên đường, điạ ngục hết thành vấn đề.
Còn phàm phu thần thức mê muội, chớ không phải trong ngoài sáng suốt như Thánh nhơn. Nếu có chỗ nghi thì chớ nên làm, làm là bị trôi lăn theo sanh tử, khi ăn năn đã muộn,. Nghèo cùng khốn khó đều từ vọng tưởng sanh, nếu ai tỏ được tâm nầy thì nên lần lượt khuyên bảo lẫn nhau, chỉ làm mà không trụ không chấp, là vào được tri kiến Như Lai.
Người mới phát tâm thần thức chưa định, nếu khi nằm mơ thấy cảnh lạ hiện đều là tự tâm khởi, quyết định chớ nghi, không phải ngoài tâm có cảnh. Nếu mơ thấy ánh sáng như mặt trời, tức là tập nghiệp còn thừa sắp hết, tánh pháp giới hiện. Đó là điềm sẽ thành Đạo, chỉ tự mình biết chẳng nên nói cho ai nghe. Hoặc khi rong chơi trong vườn vắng lặng, đi đứng nằm ngồi mắt thấy ánh sáng; hoặc trong đêm tối cũng thấy ánh sáng như ban ngày, đừng có lấy làm lạ, đều là tự tâm muốn hiển hiện. Hoặc nằm mơ thấy trăng sao tỏ sáng, đó cũng là điềm các duyên muốn dứt, cũng chớ nên nói cho ai nghe. Còn như nằm mơ thấy đi trong tối tăm u ám, đó cũng là tự tâm phiền não chướng nặng cũng chỉ nên tự biết.
Nếu đã thấy tánh, chẳng cần phải đọc kinh niệm Phật, học rộng hiểu nhiều vô ích, còn làm cho thần thức lại tối thêm. Kính giáo chỉ để nêu tâm, nếu rõ được tâm đâu cần phải xem kinh giáo! Nếu là từ phàm vào thánh phải nên ngừng nghiệp dưỡng thần, tùy phận qua ngày. Nếu là người nhiều sân nhuế l! àm cho t! ánh sanh chướng đạo, tự gạt gẫm vô ích.
Thánh nhơn ở trong sanh tử tự tại hiện ẩn ra vào chẳng định, tất cả nghiệp chướng hết thành vấn đề. Hết thảy chúng sanh chỉ cần thấy bổn tánh là tập nghiệp liền dứt, thần thức không bị mê; nhưng phải là "tức thì liền nhận".
Nếu muốn thật ngộ đạo thì đừng chấp tất cả pháp, ngừng nghiệp dưỡng thần thì dư tập cũng hết, tự nhiên minh bạch không cần dụng công. Ngoại đạo chẳng rõ ý Phật, dụng công rất nhiều mà vẫn trái với ý thánh. Suốt ngày bo bo niệm Phật tụng kinh mà vẫn mê muội bốn tánh, chẳng khỏi luân hồi.
佛是閑人。何用區區廣求名利。
後時何用。但不見性人。讀經念佛。長學精進。
六時行道。長坐不臥。廣學多聞。以為佛法。
此等眾生。盡是謗佛法人。前佛後佛只言見性。
諸行無常。若不見性。妄言我得阿耨菩提。
此是大罪人。十大弟子中。阿難多聞第一。於佛無識。
只學多聞。二乘外道皆無識佛。識數修證。
墮在因果。是眾生報。不免生死。違背佛意。
即是謗佛眾生。殺卻無罪過。經云。
闡提人不生信心。殺卻無罪過。若有信心。此人是佛位人。
若不見性。即不用取次謗他良善。自賺無益。
善惡歷然。因果分明。天堂地獄只在眼前。
愚人不信。現墮黑暗地獄中。亦不覺不知。
只緣業重故。所以不信。譬如無目人不信道有光明。
縱向伊說亦不信。只緣盲故。憑何辨得日光。
愚人亦復如是。現今墮畜生雜類。
誕在貧窮下賤。求生不得。求死不得。雖受是苦。
直問著亦言。我今快樂。不異天堂。故知一切眾生。
生處為樂。亦不覺不知。如斯惡人。
只緣業障重故。所以不能發信心者。不自由他也。
若見自心是佛。不在剃除鬢髮。白衣亦是佛。
問曰。白衣有妻子。婬慾不除。憑何得成佛。
答曰。只言見性。不言婬慾。只為不見性。
但得見性。婬慾本來空。寂不假斷除。亦不樂著。
何以故。性本清淨故。雖處在五蘊色身中。
其性本來清淨。染污不得。法身本來無受。無飢無渴。
無寒無熱無病。無因愛。無眷屬。無苦樂。
無好惡。無短長。無強弱。本來無有一物可得。
只緣執有此色身因。即有飢渴寒熱瘴病等相。
若不執即一任作為。於生死中得大自在。
轉一切法。與聖人神通自在無礙。無處不安。
若心有疑。決定透一切境界不過。
不作最好作了。不免輪迴生死。若見性。
旃陀羅亦得成佛。
Phật là người rảnh rang, đâu cần chật vật rộng cầu danh lợi. Chỉ có người chẳng thấy tánh mới đọc kinh niệm Phật, siêng học, sau thời hành đạo; ngồi hòai chẳng nằm, học rộng nghe nhiều và cho đó là pháp Phật. Chúng sanh như thế đều là người khinh pháp. Phật trước Phật sau chỉ nói thấy tánh, các hành động đều là vô thường.
Nếu chẳng thấy tánh mà vội cho rằng mình đã được đạo Vô thượng Bồ-Đề, đó là hạng tội nhơn lớn. Mười vị đệ tử lớn của Phật, ngài A-nan là người học rộng bực nhất mà với Phật còn không biết, chí học rộng! nghe nhi! ều. Hết thảy Nhị thừa ngoại đạo đều không biết Phật, chỉ biết đếm theo pháp tu chứng, bị đọa vào trong nhân quả, đó là chúng sanh nghiệp báo chẳng khỏi sanh tử trái với ý Phật rất xa, là kẻ khinh Phật đó! Trong kinh có nói: Hạng chúng sanh ấy thuộc Nhứt-xiển-đề chẳng có lòng tin; nếu có lòng tin thì người ấy là một vị Phật.
Nếu chẳng thấy tánh, chớ nên bắt chước chê bai những người lương thiện, tự dối gạt vô ích. Thiện ác rõ ràng, nhân quả phân minh, thiên đường địa ngục chỉ ở trước mắt, người ngu chẳng biết hiện đọa vào địa ngục tối tăm cũng không hay.
Chỉ vì nghiệp nặng nên không thể tin, ví như người mù chẳng tin người ta nói có ánh sáng, dầu có cắt nghĩa thế nào cũng không tin được, vì đã mù lấy đâu mà phân biệt được sáng tối! Người ngu cũng thế. Hiện tiền đã bị đọa vào súc sanh tạp loại, chỗ ở trong nghèo cùng hạ tiện, cầu sống chẳng được, cầu chết cũng chẳng được. Tuy thọ khổ như thế nhưng dẫu có ai hỏi họ cũng tự gọi mình được yên vui. Nên biết tất cả chúng sanh dẫu sanh vào chỗ vui thật cũng không hay biết. Hạng người ác như thế, chỉ vì nghiệp chướng quá nặng nên không thể phát lòng tin, không tự do được.
Nếu thấy được tự tâm là Phật chớ không phải ở tướng bên ngoài, thì dẫu bạch y cư sĩ cũng vẫn là Phật.
Nếu chẳng thấy tánh dù có đầu tròn vai vuông cũng là ngoại đạo.
問曰。白衣有妻子。婬慾不除。憑何得成佛。
答曰。只言見性。不言婬慾。只為不見性。
但得見性。婬慾本來空。寂不假斷除。亦不樂著。
何以故。性本清淨故。雖處在五蘊色身中。
其性本來清淨。染污不得。法身本來無受。無飢無渴。
無寒無熱無病。無因愛。無眷屬。無苦樂。
無好惡。無短長。無強弱。本來無有一物可得。
只緣執有此色身因。即有飢渴寒熱瘴病等相。
若不執即一任作為。於生死中得大自在。
轉一切法。與聖人神通自在無礙。無處不安。
若心有疑。決定透一切境界不過。
不作最好作了。不免輪迴生死。若見性。
旃陀羅亦得成佛。
問曰。旃陀羅殺生作業。如何得成佛。答曰。
只言見性。不言作業。縱作業不同。
一切業拘他不得。從無始曠大劫來。只為不見性。
墮地獄中。所以作業輪迴生死。從悟得本性。
終不作業。若不見性。念佛免報不得。非論殺生命。
若見性疑心頓除。殺生命亦不奈他何。
西天二十七祖。只是遞傳心印。吾今來此土。
唯傳一心。不言戒施。精進苦行。乃至入水火登劍輪。
一食卯齋長坐不臥。盡是外道有為法。
若識得! 施為運動靈覺之性。即諸佛心。
前佛後佛只言傳心。更無別法。若識此法。
凡夫一字不識亦是佛。若不識自己靈覺之性。
假使身破如微塵覓佛。終不得也。
Hỏi: Cư sĩ còn vợ con, dâm dục làm sao thành Phật được?
Đáp: Chỉ nói thấy tánh; chẳng bàn đến dâm dục. Chỉ vì chẳng thấy tánh. Miễn được thấy tánh thì dâm dục vốn tự rỗng lặng, tự nhiên dứt trừ, không còn tham đắm nữa. Dẫu cho dư tập hãy còn cũng chẳng làm hại được. Vì sao thế? Vì tự tánh vốn nó tự thanh tịnh. Tuy ở trong sắc thân năm uẩn, tánh nó cũng vốn thanh tịnh không ô nhiễm. Pháp thân bổn lai không thọ, không đói, không khát, không lạnh nóng, không bịnh hoạn, không ân ái, không quyến thuộc, không khổ vui tốt xấu, không vắn dài mạnh yếu, vốn không một vật có thể được. chỉ vì cố chấp cái thân này nên mới có các tướng đói khát, lạnh nóng, bịnh chướng v.v… Nếu chẳng chấp là được tự tại. Nếu trong sanh tử mà được tự tại, chuyển trở lại các pháp, đừng để các pháp chuyển, cũng như Thánh nhơn, thì ở đâu lại không yên? Nếu tâm có chỗ nghi, quyết định không thể tự tại, không khỏi sanh tử luân hồi. Nếu thấy tánh thì dẫu bần cùng hạ tiện, đồ tể sát sanh cũng vẫn thành Phật.
Hỏi: Đồ tể làm nghiệp sát sanh làm sao thành Phật được?
Đáp: Chỉ nói thấy tánh, chẳng nói tạo nghiệp. Dẫu sao có tạo nghiệp thế nào, nghiệp cũng không thể trói buộc được. T! ừ lũy ! kiếp đến giờ, chỉ vì chẳng thấy tánh nên mới có trôi lăn sau đọa vào địa ngục, sanh tử; khi ngộ được bổn tánh sẽ không tạo nghiệp nữa. Nếu chẳng thấy tánh, niệm Phật để khỏi nhân quả cũng không thể được, không luận là sát sanh.
Nếu được thấy tánh, tâm sát liền trừ, nghiệp sau cũng không thể trói buộc được. Cho nên 27 vị tổ ở Tây Trúc chỉ truyền nhau tâm ấn. Nay ta đến cõi nầy cũng chỉ truyền Đốn giáo Đại Thừa chính tâm mình là Phật, chớ chẳng nói đến giữ giới, tinh tiến, khổ hạnh. Nhẫn đến vào nước vào lửa, leo lên gươm đao, ăn một ngày một bữa, ngồi hoài chẳng nằm, hết thảy những cái ấy đều là pháp hữu vi ngoại đạo.
Nếu rõ được cái tánh linh giác chính là tánh Phật, Phật trước Phật sau chỉ nói truyền tâm chớ không có pháp nào khác. Nếu rõ được tâm này dầu phàm phu không biết một chữ cũng vẫn là Phật. Nếu chẳng rõ tự tánh linh giác của mình, dẫu cho đem thân này tán ra tro bụi để tìm Phật rốt cũng chẳng được gì.
佛者亦名法身。亦名本心。此心無形相。無因果。無筋骨。
猶如虛空。取不得。不同質礙。不同外道。
此心除如來一人能會。其餘眾生迷人不明了。
此心不離四大色身中。若離此心。即無能運動。
是身無知。如草木瓦礫。身是無情。因何運動。
若自心動。乃至語言施為運動。見聞覺知。皆是心動。
心動用動。動即其用。動外無心。心外無動。
動不是心。心不是動。動本無心。心本無動。
動不離心。心不離動。動無心離。心無動離。
動是心用。用是心動。即動即用。不動不用。
用體本空。空本無動。動用同心。心本無動。故經云。
動而無所動。是故終日見而未曾見。
終日聞而未曾聞。終日覺而未曾覺。
終日知而未曾知。終日行坐而未曾行坐。
終日嗔喜而未曾嗔喜。故經云。言語道斷。心行處滅。
見聞覺知。本自圓寂。乃至嗔喜痛痒何異木人。
只緣推尋痛痒不可得故。經云。惡業即得苦報。
善業即有善報。不但嗔墮地獄。喜即生天。
若知嗔喜性空。但不執即諸業脫。若不見性誦經。
決無憑。說亦無盡。略標邪正如是。
不及一二也。
說頌曰。
吾本來茲土 傳法救迷情
一華開五葉 結果自然成
江槎分玉浪 管炬開金鎖
五口相共行 九十無彼我
(血脈論終)
Phật cũng gọi là pháp thân, cũng gọi là bổn tâm. Tâm nầy không hình tướng, không nhân quả, không gân cốt. Vốn như hư không, bắt chẳng được; chớ không phải như vật chất, không phải như ngoại đạo nói. Tâm này chỉ trừ Như Lai ra, hết thảy chúng sanh đều mê muội, đều chẳng tỏ ngộ. Nhưng tâm này không phải lìa cái thân vật chất nầy. Nếu thân tứ đại nầy mà lìa tâm là không có sự sống, làm sao có biết! Nhẫn đến nói năng vận động, thấy nghe hay biết đều là cái động dụng của tâm.
Động là tâm động, dụng là tâm dụng. Ngoài động dụng không tâm, ngoài tâm không động dụng. Động chẳng lìa tâm, tâm chẳng lìa động. Lìa động không tâm, lìa tâm không động. Động là tâm dụng, dụng là tâm động. Động tức tâm dụng, dụng tức tâm động. Chẳng động chẳng dụng, dụng và thể vốn không, không vốn không động. Động dụng do tâm ,tâm vốn không động.
Nên kinh nói: "Động nhưng không chỗ động. Suốt ngày đi đến nhưng chưa từng đi đến, suốt ngày thấy nhưng chưa từng thấy, suốt ngày cười nhưng chưa từng cười, suốt ngày nghe nhưng chưa từng nghe, suốt ngày biết nhưng chưa từng biết, suốt ngày mừng nhưng chưa từng mừng, suốt ngày đi nhưng chưa từng đi, suốt ngày đứng nhưng chưa từng đứng." Nên kinh n! ói: "b! ặt đường nói năng dứt hết nơi chỗ, thấy nghe hay biết vốn tự tròn vắng, nhẫn đến giận mừng, đau ngứa nào khác người gỗ, chỉ vì suy tìm cái đau ngứa không thể được".
Nên kinh nói "nghiệp ác thì được báo khổ, nghiệp thiện thì được báo vui"; chớ không phải chỉ sân bị đọa địa ngục, mừng được sanh thiên. Nếu rõ được cái tánh mừng giận vốn không, chỉ đừng chấp nghiệp là giải thoát. Nếu chẳng thấy tánh, giảng kinh quyết không bằng cứ.
Nói không sao cho hết, chỉ đại lược tà chánh đôi điều mà thôi.
[Tụng rằng:]
Tâm tâm tâm không thể tìm
Rộng cùng khắp pháp giới,
Hẹp chẳng chứa đầu kim
Ta vốn cầu tâm chẳng cầu Phật,
Biết rõ ba cõi rỗng không vật.
Nếu muốn cầu Phật chỉ cầu tâm
Chỉ tâm nầy, tâm nầy mới là Phật.
***
Ta vốn cầu tâm, tâm tự trì.
Cầu tâm chẳng được, tự tâm hay.
Tánh Phật chẳng từ ngoài tâm được
Tâm sanh là lúc tội sanh rồi.
[Kệ rằng:]
Ta vốn đến cõi nầy,
Truyền pháp cứu mê tình,
Một hoa nở năm cánh
Kết quả tự nhiên thành.
[ Luận Huyết Mạch của Tổ Đạt-Ma đến đây là hết. ]
LUẬN NGỘ TÁNH
悟 性 論
夫道者。以寂滅為體。修者。以離相為宗。
故經云。寂滅是菩提。滅諸相故。佛者覺也。
人有覺心。得菩提道。故名為佛。經云。離一切諸相。
即名諸佛。是知有相是無相之相。
不可以眼見。唯可以智知。若聞此法者。生一念信心。
此人以發大乘。乃超三界。三界者。貪嗔癡是。
返貪嗔癡。為戒定慧。即名超三界。
然貪嗔癡亦無實性。但據眾生而言矣。能返照了了見。
貪嗔癡性即是佛性。貪嗔癡外更無別有佛性。
經云。諸佛從本來。常處於三毒。長養於白法。
而成於世尊。三毒者。貪嗔癡也。
言大乘最上乘者。皆菩薩所行之處也。無所不乘。
亦無所乘。終日乘未嘗乘。此為佛乘。經云。
無乘為佛乘也。
II.- LUẬN NGỘ TÁNH
Vả chăng, Đạo là lấy vắng lặng làm thể. Tu là lấy lìa tướng làm tông. Nên kinh nói: Vắng lặng là Bồ-Đề, vì dứt hết các tướng. Phật có nghĩa là giác. Người có tâm giác được Đạo Bồ-Đề nên gọi là Phật.
Kinh nói: Lìa tất cả các tướng là danh hiệu chư Phật. Thế mới biết: Có tướng là tướng mà không tướng. Không thể dùng mắt thấy, chỉ có thể dùng trí biết.
Ai nghe pháp này mà sanh một niệm lòng tin, phải biết người đó đã phát tâm đại thừa, siêu ba cõi. Ba cõi tức là tham, sân, si. Đổi tham sân si ra thành giới, định, huệ tức gọi là siêu ba cõi.
Nhưng tánh của tham, sân, si cũng không thật, chỉ tùy thuận chúng sanh mà nói vậy thôi. Nếu ai có thể soi trở vào trong thì thấy rõ tánh của tham, sân, si tức là tánh Phật. Ngoài tham, sân, si không có tánh Phật nào khác. Kinh nói: Chư Phật từ xưa đến nay thường ở trong ba độc để nuôi lớn pháp giải thoát mà thành Thế Tôn. Ba độc là tham, sân, si đó.
Nói đại thừa, Tối thượng thừa đều là nói chỗ sở hành của Bồ-Tát. Không chỗ thừa, không chỗ chẳng thừa. Suốt ngày thừa, mà chưa từng thừa, đó là Phật thừa. Kinh nói: “Không thừa là Phật thừa đó”.
若人知六根不實五蘊假名。遍體求之。
必無定處。當知此人解佛語。經云。五蘊窟宅。
是名禪院。內照開解。即大乘門。不憶一切法。
乃名為禪定。若了此言者。
行住坐臥皆是禪定。知心是空。名為見佛。何以故。
十方諸佛皆以無心不見於心。名為見佛。捨心不吝。
名大布施。離諸動定。名大坐禪。何以故。
凡夫一向動。小乘一向定。謂出過凡夫小乘之坐禪。
名大坐禪。若作此會者。一切諸相不離自解。
一切諸病不治自差。此皆大禪定力。
凡將心求法者為迷。不將心求法者為悟。
不著文字名解脫。不染六塵名護法。出離生死名出家。
不受後有名得道。不生妄想名涅槃。
不處無明為大智慧。無煩惱處名般涅槃。
無相處名為彼岸。迷時有此岸。悟時無此岸。何以故。
為凡夫一向住此。若覺最上乘者。心不住此。
亦不住彼。故能離於此彼岸也。
若見彼岸異於此岸。此人之心已無禪定。煩惱名眾生。
悟解名菩提。亦不一不異。只隔其迷悟耳。
迷時有世間可出。悟時無世間可出。平等法中。
不見凡夫異於聖人。
Nếu ai biết được sáu căn không thật, năm uẩn giả danh, khắp thân tìm cầu hết th�! ��y đều không có chỗ nhất định. Phải biết người đó rõ được nghĩa Phật nói. Kinh nói: Hang ổ của năm uẩn là Thiền viện. Soi trở vào trong được tỏ ngộ là môn đại Thừa, há chẳng rõ lắm sao! Chẳng chứa tất cả pháp gọi là Thiền định. Nếu rõ được câu này thì đi đứng nằm ngồi đều là Thiền định.
Biết tâm là không, gọi là thấy Phật. Vì sao thế? Vì mười phương chư Phật đều là vô tâm.
Chẳng thấy tâm gọi là thấy Phật.
Lìa chấp thân chẳng tiếc gọi là đại bố thí.
Lìa các động tịnh gọi là đại toạ thiền.
Vì sao thế? Vì phàm phu một niềm chấp động, Tiểu thừa một niềm chấp định. Nếu vượt khỏi cái tọa thiền của Tiểu thừa và phàm phu thì gọi là đại tọa thiền. Nếu nhận được như thế thì tất cả các tướng chẳng tìm cũng tự rõ, tất cả các bịnh chẳng trị cũng tự khỏi. Đó là nhờ sức đại thiền định.
Phàm ai đem tâm mà cầu pháp đều là mê, chẳng đem tâm cầu pháp là ngộ. Chẳng đắm chấp văn tự gọi là giải thoát. Chẳng nhiễm sáu trần gọi là hộ pháp. Lìa khỏi sanh tử gọi là xuất gia. Chẳng thọ báo sau này gọi là đắc Đạo. Chẳng sanh vọng tưởng gọi là Niết Bàn. Chẳng kẹt trong vô minh gọi là đại trí huệ. Ðến chỗ không phiền não gọi là Bát Niết Bàn. Đến chỗ không có tướng tâm gọi là qua bờ bên kia.
Khi mê thì có bờ bên đây. Khi ngộ rồi thì bờ bên đây cũng không có. Vì sao thế? Vì phàm phu một niềm chấp bên đây, nếu tỏ ngộ được pháp Tối thượng thừa thì tâm chẳng trụ bên đây cũng chẳng trụ bên kia, nên lìa được cả đây kia vậy. Nếu thấy bờ bên kia chẳng khác hơn bờ bên đây, cái tâm của người ấy đã được cái định vô thiền.
Phiền não gọi là chúng sanh, tỏ ngộ gọi là Bồ Ðề, cũng chẳng một chẳng khác, chỉ khác nhau ở mê ngộ.
Khi mê có thế gian để ra khỏi, khi ngộ không có thế gian để ra.
Trong pháp bình đẳng chẳng thấy phàm phu khác với thánh nhơn.
經云。平等法者。凡夫不能入。
聖人不能行。平等法者。唯大菩薩與諸佛如來行也。若見生異於死。動異於靜。
皆名不平等。不見煩惱異於涅槃。是名平等。何以故。
煩惱與涅槃。同是一性空故。
是以小乘人妄斷煩惱。妄入涅槃。為涅槃所滯。
菩薩知煩惱性空。即不離空。故常在涅槃。涅槃者。
涅而不生。槃而不死。出離生死。名般涅槃。
心無去來。即入涅槃。是知涅槃即是空心。
諸佛入涅槃者。即是無妄想處。菩薩入道場者。
即是無煩惱處。空閑處者。即是無貪嗔癡也。
貪為欲界。嗔為色界。癡為無色界。若一念心生。
即入三界。一念心滅。即出三界。是知三界生滅。
萬法有無。皆由一心。凡言一心者。
似破瓦石竹木無情之物。若知心是假名無有實體。
即知自寂之心亦是非有亦是非無。何以故。
凡夫一向生心名為有。小乘一向滅心名為無。
菩薩與佛未曾生心。未曾滅心。
名為非有非無心。非有非無心。此名為中道。是知將心學法。
則心法俱迷。不將心學法。則心法俱悟。
凡迷者迷於悟。悟者悟於迷。正見之人。知心空無。
即超迷悟。無有迷悟。始名正解正見。
Kinh nói: Pháp bình đẳng nghĩa là phàm ! phu không thể nhập, Nhị thừa không thể hành. Chỉ có bực đại Bồ-Tát và chư Phật Như Lai có thể hành mà thôi. Nếu thấy sanh khác với tử, động khác với tĩnh, đều gọi là chẳng bình đẳng. Chẳng thấy phiền não khác với Niết Bàn, thế mới gọi là bình đẳng. Vì sao thế? Vì phiền não và Niết Bàn cùng một tánh không. Cho nên người Nhị thừa vọng dứt trừ phiền não, vọng nhập Niết Bàn, tự tạo Niết Bàn để trói buộc. Còn Bồ-Tát biết được tánh phiền não vốn không, nên chẳng lìa không, thường ở Niết Bàn.
Niết Bàn nghĩa là khơi mà chẳng sanh, tịch mà chẳng chết, vượt khỏi sanh tử là Bát Niết Bàn. Tâm không có đi và đến là nhập Niết Bàn. Thế mới biết Niết Bàn tức là tâm không.
Chư Phật nhập Niết Bàn là ở chỗ không vọng tưởng, Bồ-Tát vào đạo tràng là không tham sân si vậy. Tham là cõi Dục, sân là cõi Sắc, si là cõi Vô sắc.
Nếu một niệm tâm sanh liền vào ba cõi, một niệm tâm diệt là ra ba cõi. Thế mới biết: Ba cõi sanh diệt, vạn pháp có không đều do một tâm. Phàm nói một pháp là cũng giống như đập ngói gạch, chẻ tre vô tình.
Nếu biết được tâm chỉ là giả danh, tạm gọi chớ không có tướng, thì liền biết cái tâm của tự mình cũng không phải có, không phải không. Vì sao thế? Vì phàm phu một niềm sanh tâm gọi là có, Tiểu thừa một niềm diệt tâm gọi là không. Còn Bồ-Tát và Phật chưa từng sanh tâm cũng chưa từng diệt tâm, cho nên gọi là không phải có không phải không. Chỗ này cũng gọi là Trung Đạo.
Thế mới biết: Chấp tâm học pháp thì cả tâm lẫn! pháp đ! ều mê. Đừng chấp tâm mà học pháp thì cả tâm và pháp đều ngộ. Phàm mê nghĩa là mê ở trong ngộ, ngộ là ngộ ở trong mê.
Con người chánh kiến biết được tâm vốn rỗng không liền siêu mê ngộ. Như thế mới gọi là thấy biết đúng.
色不自色。由心故色。心不自心。由色故心。
是知心色兩相俱有生滅。有者有於無。無者無於有。
是名真見。夫真見者。無所不見。亦無所見。
見滿十方。未曾有見。何以故。無所見故。
見無見故。見非見故。凡夫所見。皆名妄想。
若寂滅無見。始名真見。心境相對。見生於中。
若內不起心。則外不生境。故心境俱淨。乃名為真見。
作此解時。乃名正見。不見一切法。乃名得道。
不解一切法。乃名解法。何以故。見與不見。
俱不見故。解與不解。俱不解故。無見之見。
乃名真見。無解之解。乃名真解。夫真見者。
非直見於見。亦乃見於不見。真解者。非直解於解。
亦乃解於不解。凡有所解。皆名不解。無所解者。
始名真解。解與不解。俱非解也。經云。
不捨智慧名愚癡。以心為空。解與不解俱是真。
以心為有。解與不解俱是妄。若解時法逐人。
若不解時人逐法。若法逐於人。則非法成法。
若人逐於法。則法成非法。若人逐於法。則法皆妄。
若法逐於人。則法皆真。
是以聖人亦不將心求法。亦不將法求心。亦不將心求心。
亦不將法求法。所�! �心不生法。法不生心。心法兩寂。
故常為在定。眾生心生則佛法滅。
眾生心滅則佛法生。心生則真法滅。心滅則真法生。
已知一切法各不相屬。是名得道人。
知心不屬一切法。此人常在道場。迷時有罪。解時無罪。
何以故。罪性空故。迷時無罪見罪。
若解時即罪無罪。何以故。罪無處所故。經云。諸法無性。
真用莫疑。疑即成罪。何以故。罪因疑惑而生。
若作此解者。前世罪業即為消滅。
迷時六識五陰皆是煩惱生死法。
悟時六識五陰皆是涅槃無生死法。修道之人不外求道。何以故。
知心是道。若得心時。無心可得。若得道時。
無道可得。若言將心求道得者。皆名邪見。
迷時有佛有法。悟無佛無法。
Sắc chẳng tự sắc, do tâm nên có sắc.
Tâm chẳng tự tâm, do sắc nên có tâm.
Thế mới biết tâm và sắc, cả hai cùng nương nhau sanh diệt.
Có là có ở trong không.
Không là không ở trong có.
Thế gọi là thấy đúng.
Vả chăng, nếu thật thấy là không chỗ chẳng thấy, cũng không chỗ thấy.
Tuy thấy khắp mười phương, nhưng chưa từng có thấy.
Vì sao thế? Vì không chỗ thấy, vì thấy được cái không thấy, vì thấy không phải thấy. Cái mà phàm phu gọi là thấy ấy đều là vọng tưởng cả.
Nếu vắng lặng không chỗ thấy mới gọi là thấy thật.
T! âm và c! ảnh đối nhau, cái thấy trong đó phát sanh.
Nếu trong chẳng khởi tâm thì ngoài chẳng sanh cảnh, cảnh và tâm đều vắng lặng, như thế ấy mới gọi là thấy thật.
Chẳng thấy tất cả các pháp mới gọi là được Đạo. Chẳng biết tất cả các pháp mới gọi là tỏ pháp.
Vì sao thế ? Vì thấy cùng chẳng thấy đều là chẳng thấy.
Hiểu cùng chẳng hiểu đều là chẳng hiểu. Cái thấy không phải thấy mới gọi là thật thấy. Cái hiểu không hiểu mới gọi là hiểu rộng lớn.
Vả chăng, thấy đúng nghĩa là không phải cái thấy có thấy, mà là cái thấy trong không thấy. Thật hiểu nghĩa là không phải cái hiểu trong có tướng, mà là cái hiểu trong không có tướng. Phàm hễ có cái bị biết đều là gọi là chẳng biết. Không có cái bị biết mới gọi là thật biết. Kinh nói: Chẳng bỏ trí huệ gọi là ngu si. Nếu tâm là không, hiểu cùng chẳng hiểu đều là thật cả. Nếu tâm là có, hiểu cùng chẳng hiểu đều là vọng.
Nếu tỏ ngộ thì pháp theo người.
Nếu chẳng tỏ ngộ thì người theo pháp.
Nếu pháp theo người thì phi pháp trở thành pháp, hết thảy pháp đều chơn.
Nếu người theo pháp thì pháp trở thành phi pháp, hết thảy pháp đều trở thành vọng.
Cho nên thánh nhơn chẳng đem tâm mà cầu pháp, cũng chẳng đem pháp mà cầu tâm, cũng chẳng đem tâm mà cầu tâm, đem pháp cầu pháp. Cho nên tâm chẳng sanh pháp, pháp chẳng sanh tâm. Tâm pháp thường vắng lặng nên thường ở trong định.
Tâm chúng sanh sanh thì pháp Phật diệt. Tâm chúng sanh diệt thành pháp Phật sanh.
Nếu đã biết tất cả pháp đều! chẳng ! có tự tánh riêng, thế gọi là người có Đạo. Biết tâm chẳng thuộc về của riêng của các pháp. Đó là người thường ở Đạo tràng.
Khi mê có tội, ngộ rồi không tội. Vì sao thế ? Vì thể tánh tội vốn không?
Kinh nói: Các pháp không có tự tánh riêng, thật dụng chớ nghi, nghi liền thành tội.
Vì sao thế? Vì tội do nghi hoặc mà sanh.
Nếu rõ được như vậy thì tội nghiệp đời trước liền tiêu diệt.
Khi mê thì sáu thức năm ấm đều là pháp phiền não sanh tử. Khi ngộ thì sáu thức năm ấm đều là pháp Niết Bàn không sanh tử.
Người học đạo chớ nên tìm Đạo ở ngoài. Vì sao thế? Vì biết tâm là Đạo.
Nếu khi được tâm, không có tâm có thể được.
Nếu khi được Đạo, không có Đạo có thể được.
Nếu nói đem tâm cầu đạo mà được, thì gọi là tà kiến.
Khi mê có Phật có pháp.
Khi ngộ không Phật không pháp.
何以故。悟即是佛法。
夫修道者。身滅道成。亦如甲拆樹生。
此業報身念念無常。無一定法。但隨念念修之。
亦不得厭生死。亦不得愛生死。但念念之中。
俱不妄想。則生證有餘涅槃。死入無生法忍。
眼見色時。不染於色。耳聞聲時。不染於聲。
皆解脫也。眼不著色。眼為禪門。耳不著聲。
耳為禪門。總而言之。見色性者常解脫。
見色相者常繫縛。不為煩惱繫縛者。即名解脫。
更無別解脫。善觀色者。色不生於心。心不生於色。
即色與心俱是清淨。無妄想時。一心是一佛國。
有妄想時。一心是一地獄。眾生造作妄想。
以心生心。故常在地獄。菩薩觀察妄想。
不以心生心。故常在佛國。若不以心生心。則心心入空。
念念歸靜。從一佛國。至一佛國。若以心生心。
則心心不靜。念念歸動。從一地獄。歷一地獄。
若一念心起。則有善惡二業。有天堂地獄。
若一念心不起。即無善惡二業。亦無天堂地獄。
為體非有非無。在凡即有。在聖即無。
聖人無其心。故胸臆空洞。與天同量。心得涅槃時。
即不見有涅槃。何以故。心是涅槃。!
若心外更見涅槃。此名著邪見也。一切煩惱為如來種子。
為因煩惱而得智慧。只可道煩惱生如來。
不可得道煩惱是如來。故身心為田疇。
煩惱為種子。智慧為萌芽。如來喻於穀也。
Vì sao thế? Vì ngộ tức là Phật, là pháp. Vả chăng tu nghĩa là diệt cái thấy có thân riêng thì Đạo thành. Cũng như hột giống nứt vỏ thì cây nẩy mầm.
Cái thân sanh tử nghiệp báo luôn luôn vô thường; là pháp không nhất định, chỉ tùy niệm mà tu, cũng không nên chán sanh tử hay thích sanh tử. Chỉ làm sao trong tâm đừng vọng tưởng, thì khi sống nhập được Hữu-Dư Niết Bàn, khi chết vào được Vô Sanh Pháp nhẫn.
Khi mắt thấy sắc chẳng nhiễm sắc, tai nghe tiếng chẳng nhiễm tiếng thì đều là giải thoát. Mắt chẳng đắm sắc thì mắt là cửa lễ, tai cũng vậy.
Nói tóm lại, khi thấy sắc mà thấy được đến tánh của sắc thì không nhiễm, thường giải thoát. Nếu mắc kẹt ở tướng của sắc là thường bị trói buộc. Nếu chẳng bị phiền não bị trói buộc thì gọi là giải thoát, chớ không có giải thoát nào khác hơn.
Người khéo quán sắc, sắc chẳng sanh tâm, tâm chẳng sanh sắc, thì sắc và tâm đều thanh tịnh.
Khi không vọng tưởng thì một tâm là một cõi Phật. Khi vọng tưởng khởi thì một tâm là một cõi địa ngục.
Chúng sanh làm ra vọng tưởng, lấy tâm sanh tâm nên thường ở địa ngục. Bồ-Tát quán sát vọng tưởng chẳng lấy tâm sanh tâm, nên thường ở cõi Phật.!
Nếu chẳng lấy tâm sanh tâm thì tâm đều nhập vào không, niệm niệm đều qui về tịnh, từ một cõi Phật đến một cõi Phật.
Nếu lấy tâm sanh tâm thì tâm tâm chẳng tịnh, niệm niệm đều qui về động, từ một địa ngục qua một địa ngục.
Khi một niệm tâm khởi thì liền có hai nghiệp thiện ác, có thiên đàng địa ngục. Nếu một niệm tâm chẳng khởi thì hai nghiệp liền dứt, thiên đường địa ngục cũng không.
Vì “thể” vốn không phải có, không phải không. Ở phàm là có, ở thánh là không.
Thánh nhơn nhờ tâm “không” nên trong lòng rỗng rang, cung trời đất đồng lượng.
Đây đều là chứng trong Đại Đạo, không phải cảnh giới của Tiểu thừa và phàm phu. Khi tâm được Niết bàn cũng không có Niết bàn có thể được. Vì sao thế? Vì tâm là Niết bàn. Nếu ngoài tâm còn thấy có Niết bàn, thế gọi là đã nhiễm tà kiến.
Phải biết tất cả phiền não đều là hột giống tâm của Như Lai; vì nhờ có phiền não mà được trí huệ.
Chỉ có thể nói phiền não sanh Như Lai, nhưng không thể nói phiền não là Như Lai. Nên tự tâm là ruộng nương, phiền não là hột giống, trí huệ là nảy mầm; còn Như Lai để dụ như kết quả lúa thóc.
佛在心中。如香在樹中。煩惱若盡。佛從心出。朽腐若盡。
香從樹出。即知樹外無香。心外無佛。
若樹外有香。即是他香。心外有佛。即是他佛。
心中有三毒者。是名國土穢惡。心中無三毒者。
是名國土清淨。經云。若使國土不淨穢惡充滿。
諸佛世尊於中出。無有此處。不淨穢惡者。
即無明三毒也。諸佛世尊者。即清淨覺悟心也。
一切言語無非佛法。若能無其所言。
即盡日言而是道。若能有其所言。即終日默而非道。
是故如來言不乘默。默不乘言。言不離默。
悟此言默者。皆在三昧。若知時而言。言亦解脫。
若不知時而默。默亦繫縛。是故言若離相。
言亦名解脫。默若著相。默即是繫縛。夫文字者。
本性解脫。文字不能就繫縛。繫縛自來就文字。
法無高下。若見高下。即非法也。非法為筏。
是法為人。筏者。人乘其筏。即渡非法。
則是法也。若以世俗言之。即有男女貴賤。以道言之。
即無男女貴賤。是以天女悟道。不變女形。
車匿解真。寧移賤稱。此蓋非男女貴賤。
皆由一相也。天女於十二年中求女相。了不可得。
即知於十二年中求男相。亦不可得。十二年者。即十二入是也。離心無佛。離佛無心。
亦如離水無冰。亦如離冰無水。言離心無佛者。
非是遠離於心。但使不著心相。經云。
不見相名為見佛。即是離心相也。離佛無心者。
言佛從心出。心能生佛。然佛從心生。而佛未嘗生心。
亦如魚生於水。水不生於魚。欲觀於魚者。
未見魚而先見水。欲觀於佛者。未見佛而先見心。
即知已見魚者忘於水。已見佛者忘於心。
若不忘於心。尚為心所惑。若不忘於水。
尚被水所迷。眾生與菩提。亦如水與冰。為三毒所燒。
即名眾生。為三解脫所淨。即名菩提。
為三冬所凍。即名為冰。為三夏所消。即名為水。
若捨卻冰。
Phật ở trong tâm như hương trong cây, giác mục hết rồi thì lõi hương tự hiện, phiền não hết rồi thì Phật tâm tự hiện cũng như vậy. Cho nên biết ngoài cây không hương, ngoài tâm không Phật. Nếu ngoài cây có hương tức là hương chỗ khác, ngoài tâm có Phật tức là Phật từ ngoài; là không phải Phật [của mình].
Trong lòng chứa ba độc là cõi uế, trong lòng không ba độc là cõi tịnh. Kinh nói: Nếu cõi nước dơ bẩn ác độc đầy dẫy mà muốn chư Phật xuất hiện thì không thể có bao giờ; mà dơ bẩn ác độc là tham sân si mê muội đó.
Chư Phật Thế Tôn chính là cái tâm giác ngộ. Nếu giác ngộ thì tất cả nói năng đều là P! háp Ph�! �t.
Nếu không nói mà nói thì suốt ngày nói đều là Đạo.
Nếu chấp nói năng thì dầu suốt ngày nín thinh cũng là phi Đạo.
Cho nên Như Lai nói mà không trái với nín, nín chẳng trái với nói; nói nín không lìa. Nếu ngộ được nghĩa nói và nín đây là vào được chánh định. Nếu nói đúng lúc, nói cũng là giải thoát. Nếu chẳng phải lúc, dẫu nín cũng là trói buộc. Cho nên: nói cũng lìa tướng, nói cũng gọi là giải thoát. Nếu chấp tướng, dẫu nín cũng là trói buộc. Vả chăng, bổn tánh vốn giải thoát, văn tự không thể đến trói buộc được. Pháp không cao thấp, nếu thấy có cao thấp là không phải pháp rồi.
Phi pháp là đò, pháp là người. Người nương đò để qua sông thì phi pháp tức là pháp. Nói theo thế tục thì có nam nữ sang hèn, theo đạo thì không có nam nữ sang hèn. Cho nên Thiên Nữ ngộ đạo chẳng đổi thân nữ, Xa Nặc thức tỉnh chẳng đổi danh xưng.
Như thế không phải sang hèn nam nữ đều từ một tướng đó sao? Thiên nữ suốt mười hai năm tìm tướng nữ cứu cánh không thể được, thì biết suốt mười hai năm tìm tướng nam cũng không thể được. Cái nghĩa mười hai năm là sáu căn sáu trần đó. Lìa tâm không Phật, lìa Phật không tâm. Cũng như lìa nước không giá, lìa giá không nước.
即無別水。若棄卻眾生。則無別菩提。
明知冰性即是水性。水性即是冰性。眾生性者。
即菩提性也。眾生與菩提同一性。
只如烏頭與附子共根耳。但時節不同。迷悟異境故。
有眾生菩提二名矣。蛇化為龍。不改其鱗。
凡變為聖。不改其面。但知心者智內照。
身者戒外貞。眾生度佛。佛度眾生。是名平等。
眾生度佛者。煩惱生悟解。佛度眾生者。悟解滅煩惱。
非無煩惱。非無悟解。是知非煩惱無以生悟解。
非悟解無以滅煩惱。若迷時佛度眾生。
若悟時眾生度佛。
Phàm nói lìa tâm là không phải chạy trốn cái tâm. Chỉ đừng chấp ở phần tướng của tâm mà thôi. Kinh nói: Chẳng thấy tướng gọi là thấy Phật, tức là lìa tướng tâm đó. Nói lìa Phật không tâm nghĩa là nói Phật từ tâm hiện, tâm có thể sanh Phật. Phật tuy từ tâm sanh, nhưng tâm chưa từng sanh ra Phật. Cũng như cá sanh ra từ nước chớ không phải nước đẻ ra cá. Muốn xem cá, chưa thấy cá đã thấy nước. Muốn quán Phật, chưa thấy Phật đã thấy tâm. Thế mới biết khi thấy cá là quên nước, khi thấy Phật là quên tâm. Nếu chẳng quên tâm là còn bị tâm mê hoặc.
Chúng sanh với Bồ-Đề cũng như giá băng với nước. Bị ba độc làm rối loạn thì gọi là chúng sanh, được ba giải thoát thanh tịnh thì gọi là Bồ-đề. Cũng như nước bị mùa Đông làm đặc l�! ��i thì gọi là giá băng, bị mùa Hạ làm lỏng ra thì gọi là nước. Nếu bỏ giá băng đi thì không có nước nào khác, nếu bỏ chúng sanh đi cũng không có Bồ-Đề nào khác.
Nên biết tánh giá băng là tánh nước; tánh nước là tánh giá băng. Tánh chúng sanh là tánh Bồ-đề, chúng sanh và Bồ-Đề đồng một thể tánh cũng như Ô Đầu và Phụ Tử cùng một gốc, chỉ vì thời tiết chẳng đồng. Mê ngộ khác cảnh nên có hai tên chúng sanh và Bồ-đề.
Cho nên rắn hoá thành rồng mà chẳng đổi vảy, phàm biến thành thánh mà chẳng đổi mặt, chỉ người biết tâm thì trí soi trở vào trong, biết thân thì giới giữ bên ngoài.
Chúng sanh độ Phật, Phật độ chúng sanh, thế gọi là bình đẳng. Chúng sanh độ Phật nghĩa là nhờ phiền não sanh tỏ ngộ; Phật độ chúng sanh nghĩa là tỏ ngộ rồi diệt phiền não. Thế mới biết không phiền não không lấy đâu sanh tỏ ngộ, không phải thức tỉnh không lấy đâu diệt phiền não.
Khi mê là là Phật độ chúng sanh, khi ngộ chúng sanh độ Phật.
何以故。佛不自成。
皆由眾生度故。諸佛以無明為父。貪愛為母。
無明貪愛皆是眾生別名也。眾生與無明。
亦如右掌與左掌。更無別也。迷時在此岸。悟時在彼岸。
若知心空不見相。則離迷悟。既離迷悟。亦無彼岸。
如來不在此岸。亦不在彼岸。不在中流。
中流者。小乘人也。此岸者。凡夫也。彼岸者。
菩提也。佛有三身者。化身報身法身。
若眾生常作善根。即化身現。修智慧即報身現。
覺無為即法身現。飛騰十方隨宜救濟者。化身佛也。
斷惑修善雪山成道者。報身佛也。
無言無說湛然常住者。法身佛也。若論至理。一佛尚無。
何得有三。此言三身者。但據人智有上中下。
下智人妄興。福力。妄見化身佛。
中智人妄斷煩惱。妄見報身佛。上智人妄證菩提。
妄見法身佛。上上智人內照圓寂。明心即佛。
不待心而得佛。是知三身與萬法。皆不可取不可說。
此即解脫心成於大道。經云。佛不說法。
不度眾生。不證菩提。此之謂矣。眾生造業。
業造眾生。今世造業。後世受報。無有脫時。
唯有至人。於此身中。不造諸業。故不受! 報。經云。
諸業不造。自然得道。豈虛言哉。人能造業。
業不能造人。人若造業。業與人俱生。人若不造業。
業與人俱滅。是知業由人造。人由業生。
人若不造業。即業無由人生也。亦如人能弘道。
道不能弘人。今之凡夫。往往造業。妄說無報。
豈不苦哉。若以至理而論之。前心造後心報。
何有脫時。
Vì sao thế? Vì Phật chẳng tự thành, đều do chúng sanh độ cả.
Chư Phật lấy vô minh làm cha, tham ái làm mẹ. Vô minh và tham ái đều là biệt danh của chúng sanh. Chúng sanh và vô minh cũng như tay trái và tay phải chớ không phải hai người.
Khi mê là mắc kẹt bờ bên đây, khi ngộ là qua được bờ bên kia. Nếu biết tâm không chẳng chấp tướng thì lìa mê ngộ, đã là mê ngộ thì không có bên đây bên kia nữa. Như Lai chẳng ở bên đây cũng chẳng ở bên kia, chẳng ở giữa dòng. Vì sao thế? Vì ở giữa dòng là Tiểu thừa, ở bên đây là phàm phu, bên kia nghĩa là Bồ-đề.
Phật có ba thân là Hoá thân, Báo thân và Pháp thân. Hoá thân cũng gọi là Ứng thân. Nếu chúng sanh thường làm điều thiện tức là Hoá thân. Khi hiện tu trí huệ là Báo thân. Hiện giác vô vi là Pháp thân. Thường hiện 10 phương tùy nghi cứu tế, đó là Hoá thân phật. Nếu dứt mê hoặc tức là Tuyết Sơn th! ành đ�! �o là Báo thân Phật. Không nói năng, không làm không được, rỗng rang thường trụ là Pháp thân Phật.
Nếu luận chí lý một Phật còn không có thay làm gì có ba! Nói ba là y cứ theo người đời mà nói, người có ba bực: Người bực hạ vọng cầu phước lực, vọng thấy Hoá thân Phật. Người bực trung trí vọng dứt phiền não, vọng thấy Báo thân Phật. Người bực thượng trí vọng chứng Bồ-Đề vọng thấy Pháp thân Phật. Người bực thượng thượng trí soi trở vào trong tròn lặng tỏ tánh Phật, chẳng đợi trừ tâm mà được trí Phật. Biết ba thân và vạn pháp đều không thể chấp, không thể nói. Ðó là tâm giải thoát viên thành đạo cả. Kinh nói: Phật chẳng thuyết pháp, chẳng độ chúng sanh, chẳng chứng Bồ-Đề là nghĩa thế.
Chúng sanh tạo nghiệp. Nghiệp chẳng tạo chúng sanh. Đời này tạo nghiệp, đời sau thọ báo, quyết định không sai. Chỉ có bực chí nhơn nơi thân này chẳng tạo các nghiệp nên chẳng thọ báo. Kinh nói: Chẳng tạo các nghiệp tự nhiên được Đạo, há chẳng đúng sao? Người hay tạo nghiệp, nghiệp chẳng hay tạo người. Người nếu tạo nghiệp, nghiệp và người cùng sanh. Người nếu chẳng tạo nghiệp, nghiệp và người đều dứt. Thế mới biết, nghiệp do người tạo, người theo nghiệp sanh. Nếu người chẳng tạo nghiệp, thì nghiệp không theo mà sanh người. Cũng như người hay hoằng đạo, mà đạo chẳng hay hoằng người. Phàm phu đời nay thường tạo nghiệp, vọng nói không báo, há phải không khổ đâu! Nếu luận chí lý thì tâm trước tạo, tâm sau thọ báo thì sao thoát được!
若前心不造。即後心無報。亦安得妄見業報哉。經云。雖信有佛。言佛苦行。
是名邪見。雖信有佛。言佛有金鏘馬麥之報。
是名信不具足。是名一闡提。解聖法者。
名為聖人。解凡法者。名為凡夫。
但能捨凡法就聖法。即凡夫成聖人矣。世間愚人。
但欲遠求聖人。不信慧解之心為聖人也。經云。
無智人中。莫說此經。此經者。心也法也。
無智之人。不信此心解法。成於聖人。
但欲遠求外學愛慕空中佛像光明香色等事。皆墮邪見。
失心狂亂。經云。若見諸相非相。即見如來。
八萬四千法門。盡由一心而起。若心相內淨。
由如虛空。
即出離身心內八萬四千煩惱病本也。凡夫當生憂死。臨飽愁飢。皆名大惑。
所以至人不謀其前。不慮其後。無變當今。
念念歸道。
Nếu tâm trước chẳng tạo thì tâm sau chẳng thọ báo, thì lấy đâu vọng thấy nghiệp báo? Kinh nói: Ai tin có Phật mà nói Phật có khổ hạnh, đó là tà kiến; nói Phật bị quả báo cây thương vàng và ăn lúa ngưạ, đó gọi là đức tin chẳng đủ, gọi là Nhất-xiển-đề. Ai tỏ được pháp thánh thì gọi là thánh nhơn, tỏ pháp phàm thì gọi là phàm phu. Chỉ có thể bỏ pháp phàm theo pháp thánh, là phàm phu thành thánh vậy.
Thế gian ngu mê, chỉ muốn cầu làm thánh nhơn, mà chẳng tin cái tâm tỏ ngộ là thánh nhơn. Kinh nói: Những kẻ không trí đừng cho nghe kinh này. Kinh nói: Tâm là pháp. Người không trí chẳng tin tâm tỏ ngộ pháp trở thành thánh nhơn; nên chỉ muốn tìm cầu bên ngoài, ngưỡng mộ hình tượng màu sắc v.v… đều bị đọa vào tà kiến, tâm sanh cuồng loạn.
Kinh nói: “Nếu thấy các tướng không phải tướng là thấy Như Lai”.
Tám muôn bốn ngàn pháp môn đều do tâm khởi. Nếu tướng tâm thanh tịnh như hư không liền thoát ly thân tâm vậy. Tám muôn bốn ngàn phiền não là căn bịnh. Phàm phu khi sống lại lo chết, khi no lại lo đói, đều gọi là đại mê hoặc.
Cho nên thánh nhơn chẳng lo trước, chẳng nghĩ sau, không đắm hiện tại, niệm niệm đều qui Đạo.
Nếu ai chưa ngộ được lý này, thì nên sớm tìm đường lành trời người, đừng để mất hết cả hai.
夜坐偈云。
真性頌
一更端坐結跏趺 怡神寂照胸同虛
曠劫由來不生滅 何須生滅滅生渠
一切諸法皆如幻 本性自空那用除
若識心性非形像 湛然不動自如如
[ Ðêm ngồi kệ rằng: ]
[ Tụng Chân Tánh ]
Canh một ngồi ngay bắt kiết già,
Tinh thần lặng chiếu rỗng đồng hư.
Lũy kiếp đến nay không sanh điệt,
Ðâu cần sanh diệt diệt Vô Dư.
Vạn pháp chung qui đều như huyễn,
Bổn tâm tự rỗng đâu dụng trừ..
Nếu biết tâm tánh phi hình tượng,
Lặng yên chẳng động tự chơn như.
二更凝神轉明淨 不起憶想真如性
森羅萬像併歸空 更執有空還是病
諸法本自非空有 凡夫妄想論邪正
若能不二其居懷 誰道即凡非是聖
Canh hai thần lắng chuyển suốt trong,
Chẳng khởi ước mơ, chỉ một lòng.
Sum la vạn tượng, đều qui Đạo,
Há chấp có không để bịnh chung!
Các pháp bổn lai không Không có,
Phàm phu vọng tưởng luận cuồng ngông.
Nếu tâm chẳng khởi sanh hai pháp,
Còn nói làm chi thánh khác phàm.
三更心淨等虛空 遍滿十方無不通
山河石壁無能障 恒沙世界在其中
世界本性真如性 亦無本性即含融
非但諸佛能如此 有情之類普皆同
Canh ba lòng lặng tợ hư không,
Trùm khắp mười phương đều suốt thông.
Núi sông gành đá không sao chướng,
Hằng sa thế giới sẵn ở trong.
Thế giới chơn như cung bổn tánh,
Cũng không không tánh tức dung thông.
Phải đâu chư Phật là như thế,
Hữu tình muôn loại thảy đều đồng.
四更無滅亦無生 量與虛空法界平
無來無去無起滅 非有非無非暗明
無起諸見如來見 無名可名真佛名
唯有悟者應能識 未會眾生由若盲
Canh tư không diệt cũng không sanh,
Hư không pháp giới đẳng bình như nhau.
Ðến khi khởi diệt được nào,
Có không sáng tối làm sao tỏ tường!
Không thấy là cái thấy Thế Tôn,
Không tên không được là tên Phật mình.
Ai có tỏ ngộ biết liền,
Chúng sanh mê muội còn nguyên đui mù.
五更般若照無邊 不起一念歷三千
欲見真如平等性 慎勿生心即目前
妙理玄奧非心測 不用尋逐令疲極
若能無念即真求 更若有求還不識
悟性論終
Canh năm Bát Nhã chiếu vô biên,
Một niệm chẳng khởi ba ngàn suốt qua.
Chơn như bình đẳng muốn thấy là.
Tịnh tâm không loạn trước mắt ta hiện liền.
Ðạo mầu tâm khó suy lường,
Chớ nên tìm kiếm cho thêm mệt thần.
Nếu hay vô niệm là chơn,
Tìm cầu càng cách hết đường thấy nghe.
[ Luận Ngộ Tánh đến đây là Hết. ]
破相論
問曰。若復有人。志求佛道。當修何法。
最為省要。答曰。唯觀心一法。總攝諸法。最為省要。
問曰。何一法能攝諸法。答。心者萬法之根本。
一切諸法唯心所生。若能了心。則萬法俱備。
猶如大樹所有枝條及諸花果。
皆悉依根而始生。及伐樹去根而必死。若了心修道。
則省力而易成。不了心而修道。則費功而無益。
故知一切善惡皆由自心。心外別求。
終無是處。
問。云何觀心稱之為了。答。菩薩摩訶薩。
行深般若波羅蜜多時。了四大五陰本空無我。
了見自心起用有二種差別。云何為二。
一者淨心。二者染心。此二種心法界自然。本來俱有。
雖離假緣。合互相待。淨心恒樂善因。
染體常思惡業。若不受所染。則稱之為聖。
遂能遠離諸苦。證涅槃樂。若隨染心造業。受其纏覆。
則名之為凡。沈淪三界。受種種苦。何以故。
由彼染心障真如體故。十地經云。眾生身中。
有金剛佛性。猶如日輪體明圓滿廣大無邊。
只為五陰重雲覆。如瓶內燈光不能顯現。
又涅槃經云。一切眾生悉有佛性。無明覆故。
不得解脫。佛性者即覺性也。但自覺覺他。
覺智明了。則名解脫。故知一切諸善以覺為根。
因其覺根。遂能顯現諸功德樹。涅槃之果。
因此而成。如是觀心。可名為了。
III.- LUẬN PHÁ TƯỚNG
Luận rằng: Ví có người hỏi: Nếu muốn cầu đạo phải tu cách nào cho chóng tắt nhất?
Đáp: Chỉ có pháp quán tâm nhiếp hết các pháp là chóng tắt nhất.
Hỏi: Vì sao một pháp nhiếp được hết các pháp?
Đáp: Vì tâm là nguồn cội của vạn pháp, hết thảy pháp đều từ tâm sanh. Nếu tỏ được tâm thì vạn pháp đều đủ. Cũng như cây to, cành lá hoa quả sum suê đều từ gốc cây. Khi trồng cây phải chú ý săn sóc ở gốc thì cây mới được sanh sôi. Đốn cây cũng cứ đốn ở gốc thì toàn thân cây đều chết. Nếu tỏ tâm mà tu thì dụng lực ít mà thành công dễ; chẳng tỏ tâm mà tu phí công vô ích. Nên biết tất cả thiện ác đều từ tâm, lìa tâm mà tìm Đạo là việc luống công.
Hỏi: Vì sao quán tâm gọi là cứu cánh?
Đáp: Bực Đại Bồ-Tát khi thâm nhập vào pháp đại trí huệ, biết được tứ đại vốn rỗng không vô ngã. Thấy được tự tâm khởi dụng hai mặt khác nhau: một là tâm nhiễm, hai là tâm tịnh. Hai mặt tâm pháp này tự nhiên vốn đầy đủ. Tuy nhờ duyên hợp, nhưng hai tướng vẫn làm nhân đối đãi cho nhau. Tâm tịnh thích làm nhân lành, tâm nhiễm thường ưa nghiệp ác. Nếu chẳng thọ nhiễm thì gọi là thánh, thoát ly các khổ, chứng cái thật yên vui. Nếu đọa vào tâm nhiễm thì tạo nhiệp chịu trói buộc, gọi là phàm; trôi lăn trong ba cõi, chịu muôn điều thống khổ. Vì sao thế? Vì tâm nhiễm trái chướng với thể Chơn Như. Nên kinh Thập Ðịa nói: Trong thân chúng sanh có tánh Phật Kim Cang tròn sáng như mặt trời, rộng lớn không bờ mé. Vì bị mây năm ấm che khuất như đèn bị chậu úp, sáng không hiện được.
Lại trong kinh Niết Bàn có nói: Hết thảy chúng sanh đều có tánh Phật, vì bị vô minh che khuất nên chẳng được giải thoát, tánh Phật tức là tánh giác đó! Chỉ tự giác và làm cho kẻ khác giác ngộ. Giác ngộ rõ suốt thì gọi là giải thoát.
Nên biết tất cả việc thiện đều lấy “giác” làm gốc. Nhờ giác mới có thể hiển hiện các cội công đức, đức quả Niết Bàn cũng nhân đây mà thành tựu. Quán tâm như thế gọi là “liễu”.
問。上說真如佛性一切功德因覺為根。
未審無明之心以何為根。答。無明之心。
雖有八萬四千煩惱情欲及恒河沙眾惡。皆因三毒。
以為根本。其三毒者。即貪嗔癡是也。
此三毒心。自能具足一切諸惡。猶如大樹。
根雖是一。所生枝葉其數無邊。彼三毒根。一一根中。
生諸惡業。百千萬億。倍過於前。不可為喻。
如是三毒心。於本體中。應現六根。亦名六賊。
即六識也。由此六識出入諸根。貪著萬境。
能成惡業。障真如體。故名六賊。
眾生由此三毒六賊。惑亂身心。沈沒生死。輪迴六趣。
受諸苦惱。猶如江河。因少泉源。涓流不絕。
乃能彌漫。波濤萬里。若復有人斷其本源。
即眾流皆息。求解脫者。能轉三毒為三聚淨戒。
轉六賊為六波羅蜜。自然永離一切苦海。
問。六趣三界廣大無邊。若唯觀心。
何由免無窮之苦。答。三界業報唯心所生。本若無心。
於三界中。即出三界。其三界者。即三毒也。
貪為欲界。嗔為色界。癡為無色界。故名三界。
由此三毒。造業輕重。受報不同。分歸六處。
故名六趣。
問。云何輕重分之為六。答。眾生不了正因。
迷心修善。未免三界。生三輕趣。
Hỏi: Như trên đã nói, tánh Phật chơn như, tất cả công đức đều nương nơi giác làm gốc, chẳng hay cái tâm vô minh lấy đâu làm gốc?
Đáp: Cái tâm vô minh tuy có 84.000 phiền não tình dục và hà sa các điều ác đều nhân ba độc làm gốc, ba độc là tham sân si đó. Cái tâm ba độc này tự nó đủ tất cả khả năng làm ác; cũng như cội cây to chỉ có một, nhưng có biết bao cành lá. Căn cội của ba độc, trong mỗi một cái rễ sanh ra các nghiệp ác vô lượng vô biên không thể tỷ dụ. Tâm ba độc như thế từ trong bản thể ứng hiện ra sáu căn, cũng gọi là sáu kẻ giặc, tức là sáu thức đó! Do sáu thức nầy ra vào các căn tham đắm trần cảnh, tạo thành nghiệp ác trái chướng với nhơn thế, nên gọi là sáu kẻ giặc.
Tất cả chúng sanh đều bị ba độc và sáu kẻ giặc nầy làm mê loạn thân tâm, chìm đắm trong sanh tử, luân hồi trong sáu nẻo chịu các đều đau khổ. Cũng như sông rộng mênh mông, bắt nguồn từ khe suối nhỏ chảy mãi không ngừng, lần ra đến sóng cuộn ba đào, mịt mờ muôn dặm. Nếu có người lấp được tận nguồn thì dòng suối đều dứt. Người cầu giải thoát nếu có thể chuyển ba độc làm ba tụ tịnh giới, chuyển sáu kẻ giặc làm sáu Ba-la-mật, tự nhiên lìa dứt tất cả nghiệp khổ.
Hỏi: Sáu nẻo ba cõi rộng lớn mênh mông, nếu chỉ quán tâm làm sao thoát khỏi biển khổ vô cùng?
Đáp: Ba cõi nghiệp báo chỉ từ tâm sanh, nếu được vô tâm, tuy ở trong ba cõi nhưng liền thoát ly ba cõi. Ba cõi tức là ba độc đó. Tham là cõi Dục, sân là cõi Sắc, si là cõi Vô Sắc, nên gọi là ba cõi. Từ ba độc này tạo nghiệp nhẹ nặng, thọ báo chẳng đồng, chia ra sáu nẻo nên gọi là sáu thú.
Hỏi: Sau gọi là nhẹ nặng chia làm sáu nẻo?
Đáp: Chúng sanh chẳng rõ nhân chánh, quên tâm, tu nghiệp thiện vẫn chưa khỏi ba cõi, sanh về ba nẻo nhẹ.
云何三輕趣。
所謂迷修十善。妄求快樂。未免貪界。生於天趣。
迷持五戒。妄起愛憎。未免嗔界。生於人趣。
迷執有為。信邪求福。未免癡界。生阿修羅趣。
如是三類。名三輕趣。云何三重趣。
所謂縱三毒心。唯造惡業。墮三重趣。若貪業重者。
墮餓鬼趣。嗔業重者。墮地獄趣。癡業重者。
墮畜生趣。如是三重。通前三輕。遂成六趣。
故知一切苦業由自心生。但能攝心。離諸邪惡。
三界六趣輪迴之苦。自然消滅。即得解脫。
問。如佛所說。我於三大阿僧祇劫。無量勤苦。
方成佛道。
云何今說唯只觀心而制三毒即名解脫。答。佛所說言。無虛妄也。
阿僧祇劫者。即三毒心也。胡言阿僧祇。漢名不可數。
此三毒心。於中有恒沙惡念。於一一念中。
皆為一劫。如是恒沙不可數也。故言三大阿僧祇。
真如之性。既被三毒之所覆蓋。
若不超彼三大恒沙毒惡之心。云何名為解脫。
今若能轉貪嗔癡等三毒心。為三解脫。
是則名為得度三大阿僧祇劫。末世眾生。愚癡鈍根。
不解如來三大阿僧祇祕密之說。遂言成佛塵劫。
斯豈不疑誤行人退菩提道。
問。菩薩摩訶薩。由持三聚淨戒。行六波羅蜜。
方成佛道。今令學者唯只觀心。不修戒行。
云何成佛。答。三聚淨戒者。即制三毒心也。
制三毒心成無量善聚。聚者會也。
無量善法普會於心。故名三聚淨戒。六波羅蜜者。
即淨六根也。胡名波羅蜜。漢名達彼岸。
以六根清淨不染六塵。即是度煩惱河。至菩提岸。
故云六波羅蜜。
Hỏi: Sao gọi là ba nẻo nhẹ?
Đáp: Vì là mê lầm tu mười điều thiện, vọng cầu khoái lạc chưa khỏi cõi tham, sanh về đường Trời. Mê giữ năm giới, vọng khởi ghét yêu, chưa khỏi cõi sân nên sanh về đường người. Mê chấp theo hữu vi, tin tà cầu phước, chưa khỏi cõi si, nên sanh về nẻo A-tu-la. Ba loại như thế gọi là đường nhẹ.
Hỏi: Sao gọi là ba đường nặng?
Đáp: Nghĩa là từ tâm ba độc, chỉ tạo nghiệp ác bị đọa vào ba đường nặng. Nếu nghiệp tham nặng thì đọa vào đường ngạ quỷ, nghiệp sân nặng thì đọa vào đường địa ngục, nghiệp si nặng thì đọa vào đường súc sanh. Ba đường nặng này thông đồng với ba đường nhẹ, cộng thành sáu đường. Nên biết tất cả nghiệp khổ đều từ tâm sanh. Nếu có thể nhiếp tâm, lìa tất cả ác thì cái khổ trong ba cõi sáu đường tự nhiên tiêu diệt, lìa khổ là được giải thoát.
Hỏi: Như chỗ Phật nói: Ta ở trong ba vô lượng kiếp tu vô lượng khó nhọc nay mới thành Phật; đây Ngài chỉ nói quán tâm, chế ngự ba độc thì gọi là giải thoát là tại làm sao?
Đáp: Lời Phật nói thật không ngoa. Ba vô lượng kiếp tức là ba độc đó. Trong cái tâm ba độc này có vô số niệm ác, trong mỗi niệm ác đều là một kiếp cho nên nói ba vô số kiếp. Tánh chơn như đã bị ba độc che khuất, nếu chẳng siêu cái tâm có ba vô lượng ác độc ấy thì sao gọi là giải thoát! Nay nếu có thể chuyển cái tâm ba độc này làm ba giải thoát, thế gọi là đã vượt qua được ba vô lượng vô số kiếp.
Chúng sanh đời sau ngu si căn độn, chẳng rõ cách nói bí mật của Như Lai bèn cho rằng việc thành Phật không thể tin được. Như thế há chẳng là làm cho người tu nghi lầm thối chuyển đạo Bồ-Đề đó sao!
Hỏi: Bực đại Bồ-Tát do giữ ba tụ tịnh giới, sáu Ba-la-mật mới được thành Phật. Nay ngài bảo người tu chỉ quán tâm chẳng tu giới hạnh làm sao thành Phật?
Đáp: Ba tụ tịnh giới tức là chế ngự cái tâm ba độc đó. Chế ngự ba độc thành vô lượng pháp thiện tụ. Chữ tụ gom lại; vô lượng pháp thiện đều tụ nơi tâm nên gọi là ba tụ tịnh giới. Còn nói sáu Ba-la-mật nghĩa là tịnh sáu căn; vì sáu căn thanh tịnh chẳng nhiễm sáu trần tức là qua được sông phiền não đến bến Bồ Ðề, nên gọi là sáu Ba-la-mật.
問。如經所說。三聚淨戒者。誓斷一切惡。
誓修一切善。誓度一切眾生。今者唯言制三毒心。
豈不文義有乖。答。佛所說經是真實語。
菩薩摩訶薩。於過去因中修行時。為對三毒。
發三誓願。斷一切惡。故常持戒。對於貪毒。
誓修一切善。故常習定。對於瞋毒。誓度一切眾生。
故常修慧。對於癡毒。
由持如是戒定慧等三種淨法故。能超彼三毒成佛道也。諸惡消滅。
名之為斷。諸善具足。名之為修。以能斷惡修善。
則萬行成就。自他俱利。普濟群生。名之為度。
故知所修戒行不離於心。若自心清淨。
則一切佛土皆悉清淨。故經云。心垢則眾生垢。
心淨則眾生淨。欲得淨土。當淨其心。
隨其心淨則佛土淨。三聚淨戒自然成就。
問。如經所說。六波羅蜜者。亦名六度。
所謂布施持戒忍辱精進禪定智慧。今言六根清淨。
名波羅蜜者。何為通會。又六度者。
其義如何。答。欲修六度。當淨六根降六賊。
能捨眼賊。離諸色境。名為布施。能禁耳賊。
於彼聲塵。不令放逸。名為持戒。能伏鼻賊。
等諸香臭。自在調柔。名為忍辱。能制舌賊。
不貪諸味。讚詠講說。名為精進。能降身賊。
於諸觸慾。湛然不動。名為禪定。能調意賊。
不順無明。常修覺慧。名為智慧。六度者運也。
六波羅蜜若船筏。能運眾生。達於彼岸。
故名六度。
Hỏi: Như kinh nói: Ba tụ tịnh giới là: Nguyện dứt tất cả nghiệp ác; nguyện tu tất cả việc thiện; nguyện độ tất cả chúng sanh. Nay chỉ nói chế ngự cái tâm ba độc há chẳng không hợp đó sao?
Đáp: Phật nói điều gì đều là chân thật, bực Đại Bồ-Tát trong nhân tu hành của quá khứ là đối ba độc phát ba thệ nguyện giữ tất cả tịnh giới.
Đối với tham thì nguyện dứt các điều ác, thường tu các điều thiện. Ðối với sân thì nguyện độ tất cả chúng sanh, nên thường tu huệ. Ðối với si nhờ hành trì ba pháp tịnh Giới Định Huệ ấy nên có thể siêu ba độc mà thành Phật. Các ác tiêu diệt gọi là đoạn. Vì hay giữ được ba tu tịnh giới thì các thiện đều đủ, gọi đó là tu. Vì hay dứt ác tu thiện thì vạn hạnh thành tựu, mình người đều lợi, giúp khắp quần sanh, nên gọi là giải thoát. Thế mới biết giới hạnh để tu ấy chẳng lìa tự tâm.
Nếu tự tâm thanh tịnh thì tất cả cõi Phật đều thanh tịnh. Nên kinh nói: Hễ tâm dơ bẩn thì chúng sanh dơ bẩn, hễ tâm trong sạch thì chúng sanh trong sạch. Muốn được cõi Phật phải tịnh cái tâm, tùy cái tâm tịnh thì cõi Phật tịnh, ba tụ tịnh giới tự nhiên thành tựu.
Hỏi: Như kinh nói: Sáu Ba-la-mật cũng gọi là sáu độ. Nay nói sáu căn thanh tịnh gọi là Ba-la-mật, vậy chỗ dung thông phải như thế nào?
Đáp: Muốn tu sáu độ phải tịnh sáu căn, trước hàng phục sáu kẻ giặc. Hễ xả được giặc mắt, đừng đắm theo sắc thì gọi là Bố thí. Ngăn được giặc tai, đừng đắm theo âm thinh thì gọi là Giữ giới. Phục được giặc mũi, không đắm theo mùi thì gọi là Nhẫn nhục. Chế được giặc miệng, không tham theo vị, không đắm theo giọng, không buông lung theo nói năng tạp loạn thì gọi là Tinh tiến. Hàng được giặc thân, chẳng đắm theo xúc dục, rỗng rang chẳng động gọi là Thiền định. Điều phục được giặc ý, chẳng thuận với vô thường, thường tu trí huệ, gọi là Trí Huệ. Độ nghĩa là chuyên chở. Sáu độ ví dụ cũng như đò, có thể đưa chúng sanh qua bờ sông bên kia nên gọi là sáu độ.
問。經云。釋迦如來為菩薩時。
曾飲三斗六升乳糜。方成佛道。先因飲乳。後證佛果。
豈唯觀心得解脫乎。答。誠知所言無虛妄也。
必因食乳。然始成佛。言食乳者有二種。佛所食者。
不是世間不淨之乳。乃是真如清淨法乳也。
三斗者。即三聚淨戒。六升者。即六波羅蜜。
成佛道時。由食如是清淨法乳。方證佛果。
若言如來食於世間和合不淨之牛羶腥乳者。
豈不謗誤之甚乎。真如者。自是金剛不壞。
無漏法身。永離世間一切諸苦。豈須如是不淨之乳。
以充飢渴。如經所說。其牛不在高原。
不在下濕。不食穀麥糠麩。不與特牛同群。
其牛身作紫磨金色。言此牛者。毘盧舍那佛也。
以大慈悲。怜愍一切。故於清淨法體中。
出如是三聚淨戒六波羅蜜微妙法乳。育一切求解脫者。
如是真淨之牛。清淨之乳。
非但如來飲之成道。一切眾生若能飲者。
皆得阿耨多羅三藐三菩提。
問。經中所說。佛令眾生修造伽藍。鑄寫形像。
燒香散花。燃長明燈。晝夜六時。遶塔行道。
持齋禮拜。種種功德。皆成佛道。若唯觀心。
總攝諸行。說如是事。應虛妄也。答。佛所說經。
有無量方便。以一切眾生鈍根狹劣。
不悟甚深之義。所以假有為喻無為。若復不修內行。
唯只外求。希望獲福。無有是處。言伽藍者。
西國語。此土翻為清淨地也。若永除三毒。
常淨六根。身心湛然。內外清淨。是名修造伽藍。
鑄寫形像者。即是一切眾生求佛道也。
所謂修諸覺行。彷像如來真容妙相。
豈是鑄寫金銅之所作乎。是故求解脫者。以身為爐。以法為火。
以智慧為巧匠。
以三聚淨戒六波羅蜜以為模楑。鎔鍊身中真如佛性。
遍入一切戒律模中。如教奉行。一無漏缺。自然成就真容之像。
所謂究竟常住微妙色身。
不是有為敗壞之法。若人求道。不解如是鑄寫真容。
憑何輒言功德。又燒香者。亦非世間有相之香。
乃是無為正法之香也。薰諸臭穢無明惡業。
悉令消滅。正法香者。其有五種。一者戒香。
所謂能斷諸惡。能修諸善。二者定香。所謂深信大乘。
心無退轉。三者慧香。所謂常於身心。內自觀察。
四者解脫香。所謂能斷一切無明結縛。
五者解脫知見香。所謂觀照常明。通達無礙。
如是五種香。名為最上之香。世間無比。
佛在世日。令諸弟子。以智慧火。燒如是無價寶香。
供養十方諸佛。今時眾生不解如來真實之義。
唯將外火。燒於世間沈檀。薰陸質礙之香。
希望福報。云何可得乎。又散花者。義亦如是。
所謂演說正法。諸功德花。饒益有情。
散沾一切。於真如性。普施莊嚴。此功德花。
佛所稱讚。究竟常住。無凋落期。若復有人。
散如是花。獲福無量。若言如來令眾生。剪截繒綵。
傷損草木。以為散花。無有是處。所以者何。
持淨戒者。於諸天地森羅萬像。不令觸犯。
若誤犯者猶獲大罪。況復今者故毀淨戒。傷損萬物。
求於福報。欲益反損。豈有是乎。長明燈者。
即正覺心也。覺之明了。喻之為燈。
是故一切求解脫者。身為燈臺。心為燈炷。增諸戒行。
以為添油。智慧明達。喻如燈火常燃。
如是真正覺燈。而照一切無明癡暗。能以此法輪。
次第相開示。即是一燈燃百千燈。燈燈無盡。
故號長明。過去有佛。名曰燃燈。義亦如是。
Hỏi: Kinh nói đức Thích Ca khi còn làm Bồ-Tát đã từng uống ba đấu sáu thăng sữa mới thành Phật (ba đấu sáu thăng: hơn ba lít rưỡi). Trước nhờ uống sữa rồi sau mới chứng quả, há chỉ quán tâm mà được giải thoát ư?
Đáp: Đúng thế! Đúng thế! Phải trước uống sữa rồi sau mới thành Phật. Nhưng phải biết sữa có hai thứ. Thứ sữa Phật uống đây không phải sữa trâu, sữa bò, sữa dê của thế gian đâu, mà là “thanh tịnh pháp nhũ” đó! Ba đấu tức là ba tụ tịnh giới, sáu thăng là sáu độ. Thành Phật phải nhờ uống thứ sữa pháp thanh tịnh như thế mới chứng được quả. Nhưng phải biết đây là cách nói kín. Nếu hiểu Như Lai uống các thứ sữa vật chất thế gian thì lầm lắm! Chân Như vốn tự là pháp thân vô lậu bất hoại, lìa hẳn tất cả các cái khổ thế gian, há lại phải nhờ vật chất bất tịnh thế gian để khỏi đói khát! Trong kinh có nói: Thứ bò nầy chẳng ở cao nguyên, chẳng ở đất thấp, chẳng ăn lúa cám, chẳng cùng loại bò bô nhập bầy, màu lông vàng ánh tía. Chữ bò ở đây để ám chỉ cho Phật Tỳ Lô Giá Na, vì lòng từ bi rộng lớn thương xót tất cả chúng sanh, nên từ trong pháp thể thanh tịnh xuất hiện ra thứ sữa pháp ba tụ tịnh giới và sáu độ vi diệu như thế để nuôi dưỡng cho tất cả những ai cầu giải thoát. Cái nghĩa bò và sữa thanh tịnh như thế không những Như Lai uống vào là được thành đạo, mà dẫu cho ai uống vào cũng đều được đạo Vô Thượng Bồ-Đề cả.
Hỏi: Trong kinh nói: Phật dạy chúng sanh cất chùa, đúc vẽ hình tượng, thắp hương đèn, rải hoa, ngày đêm sáu thời quanh tháp hành đạo, ăn chay lễ bái; làm hết thảy công đức ấy đều được thành đạo. Nếu chỉ quán tâm nhiếp hết các hạnh, như thế té ra bao nhiêu chuyện kinh nói đều thành hư luống sao?
Đáp: Phật có nói điều gì đều là vô lượng phương tiện vì tất cả chúng sanh ngu tối, căn cơ thấp kém chẳng tỏ nghĩa lý sâu mầu, nên mới mượn việc thế gian hữu vi để mà thí dụ. Nếu chẳng lo tu hạnh ở trong, chỉ chạy ra ngoài mà cầu hy vọng được phước thì thật vô lý.
Nói chùa cũng như nói nơi thanh tịnh. Nếu dứt trừ ba độc, thường tịnh sáu căn, thân tâm rỗng lặng, trong ngoài thanh tịnh, đó là nghĩa cất chùa.
Còn nói đúc vẽ hình tượng là nói tất cả chúng sanh mong cầu đạo quả; các hạnh giác để tu là phỏng theo chân dung diệu tướng của Như Lai, chớ đâu nói chuyện hữu vi vật chất! Cho nên người cầu giải thoát phải lấy thân làm lò, dung pháp làm lửa, dùng trí huệ làm thợ khéo, ba tụ tịnh giới sáu độ là khuôn. Ung đúc chơn như tánh Phật trong thân cho vào khuông giới luật.
Còn nghĩa thắp hương cũng vậy; là thứ hương Chánh pháp vô vi, xông lên để tẩy sạch các uế nghiệp ác vô minh, hết thảy đều tiêu diệt. Hương chánh pháp có mấy thứ: Một là hương Giới, nghĩa là ý nói hay dứt các ác, hay tu các điều thiện. Hai là hương Định, nghĩa là tin sâu Đại thừa, tâm không thối chuyển. Ba là hương Huệ, là thường quán sát trở vào trong tự thân tâm. Bốn là hương Giải thoát, là dứt hết cả vô minh trói buộc. Năm là hương Giải thoát tri kiến, là xét xoi thường tỏ, thông suốt không ngại. Năm thứ hương như thế là hương Tối thượng, thế gian không sánh được. Phật ở thế gian bảo các đồ đệ dùng lửa trí huệ đốt thứ hương vô giá này để cúng dường mười phương chư Phật. Chúng sanh ngày nay chẳng hiểu nghĩa chơn thật của Như Lai, chỉ dùng lửa ngoài mà thắp các hương vật chất thế gian để mong cầu phước báo làm kết quả.
Còn nghĩa rãi hoa cũng vậy, là nói công đức đem Chánh pháp mà giảng dạy lợi ích chúng sanh, thấm nhuần khắp tánh Chơn Như, bố thí trang nghiêm. Thứ hoa công đức nầy Phật thường khen ngợi, cứu cánh hằng còn không bao giờ héo tàn. Nếu ai rải hoa như thế sẽ được phước báo vô lượng. Nếu nói Phật dạy chúng sanh cắt xén bông hoa, tổn thương thảo mộc cho được hoa để rải thì thật là vô lý. Vì sao thế? Vì người giữ giới thanh tịnh thì tất cả sum la vạn tượng trong trời đất cũng không xúc phạm. Khi lầm phạm còn có ăn năn huống chi là dạy cố phá tịnh giới, tổn thương vạn vật để cầu phước báo; muốn lợi lại thành hại, há có như thế sao?
Lại nữa, nói luôn luôn đốt đèn sáng là ý nói cái tâm Chánh giác tỏ suốt ví cũng như đèn sáng. Cho nên ai muốn cầu giải thoát phải lấy thân làm đài, tâm là tim, các giới hạnh làm dầu, trí huệ tỏ suốt làm lửa. Thường thắp đèn Chơn chánh giác, chiếu phá tất cả vô minh ngu tối, hay dùng pháp nầy lần lượt khai thị lẫn nhau tức là một ngọn đèn mồi ra trăm ngàn ngọn; cứ như thế mãi mãi vô cùng, nên gọi là Vô Tận Đăng.
Xưa có Phật tên là Nhiên Ðăng, ý nghĩa Nhiên Ðăng là thế.
愚癡眾生。不會如來方便之說。專行虛妄。執著有為。
遂燃世間蘇油之燈。以照空室。乃稱依教。
豈不謬乎。所以者何。佛放眉間一毫相光。
能照萬八千世界。豈假如是蘇油之燈。以為利益。
審察斯理。應不然乎。又六時行道者。
所謂六根之中。於一切時。常行佛道。修諸覺行。
調伏六根。長時不捨。名為六時行道。遶塔行道者。
塔者是身也。當修覺行巡遶身心。念念不停。
名為遶塔。過去諸聖皆行此道。至涅槃時。
今時世人不會此理。曾不內行。唯執外求。
將質礙身。遶世間塔。日夜走驟。徒自疲勞。
而於真性。一無利益。又持齋者。當須會意。
不達斯理。徒爾虛功。齋者齊也。所謂齊正身心。
不令散亂。持者護也。所謂於諸戒行。如法護持。
必須外禁六情。內制三毒。
慇懃覺察清淨身心。了如是義。名為持齋。食有五種。
一者法喜食。所謂依持正法。歡喜奉行。二者禪悅食。
所為內外澄寂。身心悅樂。三者念食。
所謂常念諸佛。心口相應。四者願食。所謂行住坐臥。
常求善願。五者解脫食。所謂心常清淨。
不染俗塵。此五種食名為持齋。若復有人。
不食如是五種淨食。自言持齋。無有是處。
唯斷於無明之食。輒作解者。名為破齋。若亦有破。
云何獲福。世有迷人。不悟斯理。
身心放逸皆為諸惡。貪欲恣情。不生慚愧。唯斷外食。
自為持齋。必無是處。又禮拜者。當如法也。
必須理體內明。事隨權變。會如是義。乃名依法。
夫禮者敬也。拜者伏也。所謂恭敬真性。屈伏無明。
名為禮拜。若能惡情永滅。善念恒存。雖不理相。
名為禮拜。其相即法相也。
世尊欲令世俗表謙下心。亦為禮拜。故須屈伏外身。示內恭敬。
覺外明內。性相相應。若復不行理法。
唯執外求。內則放縱貪癡。常為惡業。外即空勞身相。
詐現威儀。無慚於聖。徒誑於凡。不免輪迴。
豈成功德。
問。如經說言。至心念佛。必得往生西方淨土。
以此一門。即應成佛。何假觀心。求於解脫。答。
夫念佛者。當須正念。了義為正。不了義為邪。
正念必得往生。邪念云何到彼哉。佛者覺也。
所謂覺察身心。勿令起惡也。念者憶也。
所謂憶持戒行。不忘精進。了如是義。名之為念。
故知念在於心。非在於言。因筌求魚。得魚忘筌。
因言求意。得意忘言。既稱念佛之名。
須知念佛之道。若心無實。口誦空名。三毒內臻。
人我填臆。將無明心。向外求佛。徒爾虛功。
且如誦之與念。義理懸殊。在口曰誦。在心曰念。
故知念從心起。名為覺行之門。誦在口中。
即是音聲之相。執外求理。終無是處。
故知過去諸聖所修念佛。皆非外說。只推內心。
心即眾善之源。心為萬德之主。涅槃常樂。由真心生。
三界輪迴亦從心起。心是出世之門戶。
心是解脫之關津。知門戶者豈慮難入。
識關津者何憂不通。
Chúng sanh ngu si chẳng rõ lối nói phương tiện của Như Lai, luống làm theo sự, đắm chấp việc hữu vi; bèn dùng các thứ đèn dầu thế gian đốt lên luống soi nhà trống, rồi bảo làm đúng theo kinh, há chẳng lầm lắm sao?
Vì sao thế? Vì Phật phóng một đạo hào quang trắng ở giữa hai chơn mày, có thể chiếu suốt mười tám ngàn cõi nước phương Đông, há đợi nhờ đèn dầu thế gian leo nheo như thế để làm lợi ích! Gẫm xét cái lý phải chẳng thế sao!
Lại nữa sáu thời hành đạo nghĩa là nói nơi sáu căn luôn luôn thực hành Phật đạo, tu các hạnh giác. Điều phục sáu căn, mãi mãi không hở, gọi là sáu thời. Còn quanh tháp hành đạo, chữ tháp nơi đây làm ám chỉ cho thân tâm đó! Nghĩa là thường sanh giác huệ tuần sát thân tâm luôn luôn chẳng hở, gọi là quanh tháp. Các bực Thánh đã qua đều nhờ thực hành cách ấy mà được Niết Bàn. Người đời nay chẳng rõ lý nầy, chẳng thực hành nơi tâm, chỉ chấp trở ra mà tìm, đem cái thân chướng ngại đi quanh tháp thế gian ngày đêm lũ lượt, luống uổng nhọc công, đối với Chơn tánh không chút lợi ích.
Còn nói ăn chay phải càng thêm để ý, nếu chẳng rõ lý nầy thì càng nhọc công vô ích. Chữ chay ở chữ Hán là chữ Trai, mà chữ Trai lại từ chữ Tề mà biến, nhưng chữ Tề cũng như nghĩa chữ Bình. Nghĩa là tề bình thân tâm, chẳng để tán loạn. Chữ ăn nơi đây cũng như nghĩa chữ giữ. Nghĩa là giữ các giới hạnh, đúng pháp tu hành. Ở ngoài phải ngăn ngừa sáu tình, ở trong phải chế ngự ba độc, siêng giác sát, tịnh thân tâm, biết rõ nghĩa nầy mới gọi là ăn chay.
Lại nữa, chữ ăn ở đây có năm nghĩa:
1. Một, ăn là vui với pháp, nghĩa là giữ y chánh pháp hoan hỷ vâng làm.
2. Hai, ăn là vui với Thiền định, nghĩa là trong ngoài lặng suốt, thân tâm vui đẹp.
3. Ba là ăn bằng suy nghĩ, nghĩa là thường nghĩ chư Phật lòng miệng như nhau.
4. Bốn là ăn bằng nguyện, nghĩa là đi đứng nằm ngồi thường cầu nguyện lành.
5. Năm là ăn bằng giải thoát, nghĩa là tâm thường thanh tịnh, chẳng nhiễm tục trần.
Năm nghĩa ăn nầy gọi là ăn chay. Nếu ai chẳng nhận năm nghĩa chay tịnh nầy mà tự hào là ăn chay đều là làm việc vô lý. Cần nhất phải dứt cho được cái ăn mê muội. Nếu phải va chạm gọi là phá trai. Nếu đã phá trai sao gọi là được phước? Đời có người mê chẳng rõ lý này, thân tâm phóng túng theo các nghiệp ác, tham dục buông tình, chẳng biết xấu hổ. Chỉ ăn được ba thứ rau cải rồi tự hào là ăn chay thì thật là phi lý.
Còn nói lễ lạy theo phép thì ở trong phải tỏ thông lý thể, ở ngoài thì tùy sự quyền thông. Lý có khi phải hiện, có khi phải ẩn. Biết được nghĩa như thế mới gọi là y theo pháp. Vả chăng, lễ nghĩa là kỉnh, lạy nghĩa là phục. Nghĩa là cung kỉnh chơn tánh, hàng phục vô minh; đó là lễ bái. Nếu có thể dứt trừ lòng ác, thiện niệm hằng giữ; tuy chẳng hiện tướng, nhưng đó mới thật là lễ lạy.
Tướng là pháp tướng, Thế Tôn muốn làm cho người đời tỏ lòng khiêm tốn cũng dạy lễ lạy. Nên ở trong khuất phục, ngoài hiện khiêm cung; nêu cái bên ngoài để rõ bên trong, tánh tướng như nhau. Nếu không căn cứ trên lý pháp, chỉ chấp tướng bề ngoài mà cầu, trong thì mở cửa ba độc, thường làm nghiệp ác, ngoài làm ra tướng ghê gớm, trá hiện oai nghi, chẳng khỏi luân hồi, há thành công đức?
問。如溫室經說。洗浴眾僧。獲福無量。
此則憑於事法。功德始成。若為觀心可相應乎。答。
洗浴眾僧者。非世間有為事也。
世尊嘗為諸弟子。說溫室經。欲令受持洗浴之法。其溫室者。
即身是也。所以燃智慧火。溫淨戒湯。
沐浴身中真如佛性。受持七法。以自莊嚴。
當日比丘聰明上智。皆悟聖意。如說修行。功德成就。
俱登聖果。今時眾生莫測其事。將世間水。
洗質礙身。自謂依經。豈非誤也。且真如佛性。
非是凡形煩惱塵垢。本來無相。
豈可將質礙水洗無為身。事不相應。云何悟道。若欲身得淨者。
當觀此身。本因貪欲不淨所生。臭穢駢闐。
內外充滿。若洗此身求於淨者。猶如洗塹。
塹盡方淨。以此驗之。明知洗外非佛說也。
是故假世事。比喻真宗。隱說七事供養功德。
其事有七。云何為七。一者淨水。二者燃火。
三者澡豆。四者楊枝。五者淨灰。六者蘇膏。
七者內衣。舉此七事。喻於七法。一切眾生由此七法。
沐浴莊嚴。能除毒心無明垢穢。其七法者。
一者淨戒。洗蕩愆非。猶如淨水濯諸塵垢。
二者智慧。觀察內外。猶如燃火能溫淨水。
三者分別。簡棄諸惡。猶如澡豆能淨垢膩。四者真實。
斷諸妄想。猶如楊枝能消口氣。五者正信。
決定無疑。猶如淨灰摩身障風。六者柔和。
忍辱甘受。猶如蘇膏通潤皮膚。七者慚愧。
悔諸惡業。猶如內衣遮醜形體。
如上七法是經中祕密之義。皆是為諸大乘利根者說。
非為少智下劣凡夫。所以今人無能解悟。
竊見今時淺識。唯知事相為功。廣費財寶。多傷水陸。
妄營像塔。虛役人夫。積木疊泥。圖青畫緣。
傾心盡力。損己迷他。未解慚愧。何曾覺悟。
見有為則勤勤愛著。說無為則兀兀如迷。
且貪現世之小慈。豈覺當來之大苦。此之修學。
徒自疲勞。背正歸邪。誰言獲福。但能攝心內照。
覺觀外明。絕三毒永使銷亡。閉六賊不令侵擾。
自然恒沙功德。種種莊嚴。無數法門。一一成就。
超凡證聖。目擊非遙。悟在須臾。何煩皓首。
真門幽祕。寧可具陳。略述觀心。說其少分。
而說偈言。
我本求心心自持 求心不得待心知
佛性不從心外得 心生便是罪生時
我本求心不求佛 了知三界空無物
若欲求佛但求心 只這心心心是佛
破相論終
Hỏi: Như kinh Ôn Thất nói: Tắm gội chúng tăng phước đức vô lượng. Đó rõ ràng dựa vào sự pháp mới thành công đức; nếu là quán tâm có thể tương ưng được sao?
Đáp: Nói tắm gội chúng tăng cũng chỉ là một thứ ẩn ngữ, chớ phải đâu bảo làm theo sự tướng thế gian! Đức Thế Tôn thường vì các đệ tử mà giảng kinh Ôn Thất để cho thọ trì phép tắm gội, nên mượn việc thế gian để ví dụ. Mật nói công đức của cúng dường sau đây: 1 là nước trong, 2 là nhúm lửa, 3 là xà phòng (chất tẩy), 4 là bàn chải, 5 là phấn bột, 6 là dầu ướp, 7 là áo lót. Dùng 7 việc này để ví dụ cho 7 pháp. Tất cả chúng sanh theo 7 pháp tắm gội trang nghiêm này, thì có thể trừ được tâm độc vô minh dơ bẩn. Bảy pháp ấy là:
1. Dùng tịnh giới gội rửa mê lầm, cũng như dùng nước trong gội rửa bụi bặm.
2. Dùng trí huệ quán sát, trong ngoài sáng suốt cũng như nhúm lửa nấu nước trong.
3. Lừa lọc các điều ác, cũng như xà phòng rửa sạch dơ bẩn.
4. Chơn thật dứt trừ vọng tưởng, cũng như bàn chải hay làm sạch miệng hôi.
5. Chánh tín quyết định không nghi cũng như phấn bột dùng để xoa trong ngoài thân có thể ngăn ngừa các chứng phong ngoại cảm.
6. Nhu hoà nhẫn nhục, cũng như dầu ướp là thông nhuậm mặt da.
7. Biết hổ thẹn ăn năn các nghiệp ác, cũng như áo lót mình để che khuất bớt các chỗ bất tiện trong cơ thể.
Hạng tỳ kheo lúc đó thông minh lanh lợi đều ngộ ý nhanh, theo chỗ nói mà tu hành, công đức thành tựu, đều chứng quả thánh. Chúng sanh đời nay không rõ tự sự, đem nước thế gian để tắm rửa cái thân tứ đại mà tự cho làm theo kinh, như thế há chẳng lầm lắm sao! Vả lại, tánh Phật chơn như đâu phải thứ có hình; phiền não bợn nhơ bổn lai không tướng. Há có thể đem nước vật chất để gội rửa cái thân vô vi được sao? Trên sự chẳng tương ưng làm sao ngộ được đạo!
Hỏi: Kinh nói chỉ chí tâm niệm Phật tất được vãng sanh về cõi Cực Lạc, chỉ một môn nầy là được thành Phật, đâu cần phải quán tâm để cầu giải thoát?
Đáp: Niệm Phật nghĩa là phải niệm chánh. Nghĩa rốt ráo mới là nghĩa chánh, chẳng rốt ráo là tà. Nếu niệm chánh tất được vãng sanh, niệm tà làm sao đến được!
Phật nghĩa là giác, nghĩa là giác sát thân đừng để khởi ác. Niệm nghĩa là nhớ, nghĩa là giữ giới hạnh, đừng vọng tinh tiến. Cần rõ nghĩa như thế mới gọi là niệm. Nên biết niệm ở nơi tâm, chớ chẳng phải ở miệng, mượn ngôn ngữ để cầu ý, được ý phải quên lời.
Đã nói niệm danh hiệu Phật cũng phải biết cái đạo niệm Phật.
Nếu tâm không thật, miệng niệm danh hiệu suông, ba độc lẫy lừng, chấp mình chấp người cả bụng; dùng cái tâm vô minh vọng cầu thấy Phật luống uổng tốn công.
Ðến như tụng với niệm cũng khác nhau. Ở miệng gọi là tụng, ở tâm gọi là niệm. Nên biết niệm từ tâm khởi, gọi là môn giác hạnh. Còn tụng ở miệng là tướng âm thanh, chấp tướng cầu lý thì thật là không phải.
Phải biết các Thánh xưa tu hành đều không phải nói bên ngoài, mà luôn luôn phải lấy tâm làm chủ, vì tâm là nguồn cội vạn pháp, tâm là chủ của muôn đức, vắng lặng thường vui đều bởi ngừng vọng.
Ba cõi luân hồi cũng từ tâm khởi, tâm là cửa của cuộc đời, tâm là bờ giải thoát. Biết được cửa tâm rồi lo gì khó thành! Người nay thấy biết nông nổi, chỉ biết sự tướng làm công, hao phí của cải, tốn thương vạn loại. Luống công xây đắp, gom nhóm vật liệu, vẽ vời rằn ri đem hết tâm lực, tốn mình mê người, chưa biết tỉnh ngộ có đâu sợ khó! Hễ thấy việc hữu vi thì nôn nao mê đắm, còn nói đến vô tướng thì trơ trơ như mê. Chỉ tham kết quả nhỏ nhen hiện tại, chớ biết đâu cái khổ biển cả sau này. Tu học như thế luống công nhọc sức, trái chánh theo tà, vọng nói được phước. Nếu chỉ có thể nhiếp tâm soi trở vào trong, giác sát ở ngoài cho tỏ, dứt trừ ba độc, đóng hết sáu cửa giặc đừng cho nhiễu loạn; tự nhiên vô lượng công đức, bao thứ trang nghiêm, vô số pháp môn đều được thành tựu, siêu phàm chứng thánh, tận mặt sát một bên, ngộ trong giây lát, đâu đến nỗi khó khăn!
Môn chơn thiệt nhiệm mầu đâu thể nào trình bày hết. Nơi đây chỉ thuật sơ về quán tâm, nói rõ ra chút ít vậy thôi.
[ Kệ rằng: ]
Ta vốn cầu tâm tâm tự gìn,
Cầu tâm chẳng được để tâm minh.
Tánh Phật chẳng từ ngoài tâm được,
Tâm sanh chính là lúc tội sanh
Ta vốn cầu tâm chẳng cầu Phật
Rõ biết ba cõi rỗng không suốt.
Nếu muốn cầu Phật chỉ cầu tâm,
Chỉ tâm này, tâm này là Phật
[ Luận Phá Tướng đến đây là hết. ]
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét