Thứ Tư, 21 tháng 8, 2013

GiaothoaVanhoaVietCham.html

GiaothoaVanhoaVietCham.html

GIAO THOA VĂN HOÁ VIỆT CHĂM

Tài liệu sưu tầm trên Internet

Thực hiện ebook: Goldfish

Ngày hoàn thành 10/11/2007

http://www.thuvien-ebook.com

MỤC LỤC

Xứ Chăm – người Chăm và quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa Chăm- Việt

Giới thiệu cuốn Bansa Champa

Kiến trúc Thăng Long giao thoa với kiến trúc Chăm Pa

Những yếu tố Champa trong văn hoá miền Trung Việt Nam

Giao thoa văn hóa Việt – Chăm nhìn từ một số di tích ở Bình Định

Trong bài Tiến sĩ triều Lê, khăn triều Nguyễn đăng trên website Tạp chí Quê hương ghi: "Đầu thời Nguyễn, đàn ông thường quấn khăn nhiều vòng (giống như kiểu khăn xếp sau này) chứ không quấn khăn mỏ rìu là kiểu khăn thịnh hành từ thời Lê về trước". Không biết cách quấn khăn như vậy có ảnh hưởng người Chăm hay không? Theo vi.wikipedia thì "đàn ông lớn tuổi người Chăm thường để tóc dài, quấn khăn. Đó là loại khăn màu trắng có dệt thêu hoa văn màu nhạt (vàng hoặc bạc), ở hai đầu khăn có các tua vải. Khăn đội theo lối chữ nhân".

Cũng theo vi.wikipedia: "Về cơ bản, phụ nữ các nhóm Chăm thường đội khăn. Cách hoặc là phủ trên mái tóc hoặc quấn gọn trên đầu, hoặc quấn theo lối chữ nhân, hoặc với loại khăn to quàng từ đầu rồi phủ kín vai. Khăn đội đầu chủ yếu là màu trắng, có loại được trang trí hoa văn theo lối viền các mép khăn (khăn to), nhóm Chăm Hroi thì đội khăn màu chàm. Lễ phục thường có chiếc khăn vắt vai ngoài chiếc áo dài màu trắng". Phụ nữ miền Nam cũng phủ khăn trên mái tóc, vấn khăn trên đầu, vắt khăn trên vai. Điều này cũng không rõ là có phải do ảnh của phụ nữ Chăm hay không?

Riêng về chiếc áo của phụ nữ Việt Nam, có người cho rằng Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát (1739-1765) "giao cho triều thần pha phối từ mẫu áo dài của người Chăm (giống như áo dài phụ nữ Việt Nam ngày nay, nhưng không xẻ nách) và áo dài của phụ nữ Thượng Hải (chiếc sườn xám) để “chế” ra cái áo dài của phụ nữ Việt Nam" (Theo Sự Tích Áo Dài Việt Nam, vi.wikipedia.org). Điều này cũng được ông Trần Gia Phụng viết trong bài giới thiệu cuốn Bangsa Champa: "Về phong tục, áo dài của người phụ nữ Việt Nam ngày nay xuất phát từ chiếc áo dài của phụ nữ Chăm".

Nếu nhận định này là xác thực, trước khi cùng nhau tìm hiểu sự giao thoa văn hoá Việt Chăm qua các tài liệu được chép lại dưới đây (các ghi chú là của Goldfish), tôi xin bắt chước ông Hồ Trung Tú nêu lên câu hỏi vui: Trong "Hai phần gió thổi, một phần mây" (Nguyên Sa), ai biết được trong gió đó có bao nhiêu phần trăm gió Việt và bao nhiêu phần trăm gió Chăm; và trong mây đó có bao nhiêu phần trăm mây Việt và bao nhiêu phần trăm mây Chăm?

Xứ Chăm – người Chăm và quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa Chăm- Việt

Tác giả: Lê Văn Hảo ( Paris)

Nguồn: http://chimviet.free.fr/dantochoc/neovevh/lvhs071.htm

Xin tạm dùng các từ ngữ xứ Chăm, xứ Hoa, xứ Khmer để chỉ định những vùng sinh hoạt văn hóa vật chất và tinh thần của ba sắc dân thiểu số ở miền đồng bằng đất nước ta: người Chăm, người Hoa và người Khmer, nhóm thì sống tập trung, nhóm lại rải rác tùy theo những hoàn cảnh lịch sử và điều kiện địa-văn hóa khác nhau đã diễn ra trong thời gian, không gian Việt Nam xưa nay.

Hãy bắt đầu với sắc tộc và văn hóa Chăm, gắn bó với một vấn đề lý thú là quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa Chăm-Việt.

Văn hóa Champa trước đây và môn Champa học ngày nay

Nhờ thành tích nghiên cứu hơn một trăm năm qua của các học giả Pháp, Chăm, Việt từ Parmentier, Maspéro, Stern tới Lafont, Boisselier, Le Bonheur; từ Po Dharma, Nguyễn Văn Huy (Paris) tới Inrasara, Lương Ninh, Trần Kỳ Phương, Ngô Văn Doanh, Cao Xuân Phổ… (Việt Nam), chúng ta được biết khá nhiều về lịch sử Champa quá đỗi truân chiên, về nền văn hóa Chăm cổ xưa thật rực rỡ, nay trở thành một thành phần xuất sắc đáng tự hào của văn hóa, văn minh Việt Nam đa sắc tộc.

Champa học đã ra đời từ cuối thế kỷ 19 nhờ Học Viện Viễn Đông Pháp (EFEO-Ecole Française d'Extrême-Orient), và gần đây đang là một trong những cái đinh của nền Đông phương học qua những hoạt động học thuật quốc tế diễn ra tại Đan Mạch, Malaysia, Pháp, Hoa Kỳ…, qua những xuất bản phẩm của EFEO, của Chương trình Thế giới Mã Lai – Thế giới Đông Dương, qua tập san Champaka, Nghiên cứu lịch sử và nền văn minh Champa rất phong phú do International Office of Champa (Hoa Kỳ) và Champa International Arts and Culture Foundation (Canada) đồng bảo trợ và xuất bản cùng lúc tại Paris, Toronto và San Jose từ 1999.

Mới đây nhất là nhiều hoạt động nghệ thuật và học thuật qui mô lớn mà giới văn hóa Pháp dành cho lịch sử và văn hóa Chăm được tổ chức tại Viện bảo tàng quốc gia các nền nghệ thuật Á Đông Guimet ở Paris, từ 12-10-2005 đến 9-1-2006, gồm cuộc triển lãm lớn “Kho tàng nghệ thuật Việt Nam: nền điêu khắc Champa (từ thế kỷ 5 đến thế kỷ 15)”, nhiều cuộc diễn thuyết khoa học và nghệ thuật, và quan trọng nhất là Ngày Học Thuật (7-12-2005) dành cho “Di Sản Việt Nam: Những Khía Cạnh Của Nền Văn Minh Chăm, 100 Năm Nghiên Cứu và Phát Hiện”, với sự tham dự của nhiều chuyên gia quốc tế, kèm theo nhiều xuất bản phẩm mới về Champa, v.v.

Từ vương quốc Champa xưa tới xứ Chăm ngày nay

Vào khoảng cuối thế kỷ 2 cho đến đầu thế kỷ 19, trên dãi đất dài rộng từ Nam Đèo Ngang đến Tây Nguyên và Nam Bình Thuận đã tồn tại một quốc gia gồm nhiều tiểu vương quốc thuộc hai bộ tộc lớn CauDừa liên hợp lại thành vương quốc Champa với những tên gọi khác nhau qua từng thời kỳ: Lâm Ấp, Hoàn Vương, Chiêm Thành… trên 5 khu vực hành chánh khác nhau từ Bắc tới Nam: Ulik-Indrapura (Bình Trị Thiên), Amavarati (Quảng Nam, Quảng Ngãi), Vijaya (Bình Định), Aryaru-Kauthara (Phú Yên, Khánh Hòa) và Panduranga (Ninh Thuận-Bình Thuận).

Trong gần 17 thế kỷ quan hệ giữa hai vương quốc Champa và Đại Việt vô cùng phức tạp: chiến tranh, lấn chiếm, rồi hòa bình, hòa hiếu, sui gia, đồng thuận, rồi lại chiến tranh, đổ nát, điêu tàn… Những hình tượng Mỵ Ê, Huyền Trân-Chế Mân, Chế Bồng Nga… còn mãi đó trong ký ức tập thể Chăm và Việt, buồn hay vui, cảm thông hay oán hờn trước những biến thiên vô tình, bất nhẫn, hay phi lý của lịch sử mạnh được yếu thua, may ít rủi nhiều ?

Người Chăm hôm nay, với một số dân trên 100.000 người (3/5 theo Bà La Môn giáo, 2/5 còn lại theo Hồi giáo cải biên), là một sắc dân thiểu số sống tập trung ở hai khu vực: Ninh Thuận-Bình Thuận và An Giang-Châu Đốc. Họ theo lịch Chăm, có chữ viết Chăm mà ngày nay chỉ còn một số người rất ít ỏi có thể đọc được.

Di sản mỹ thuật Chăm còn lại từ văn hóa Champa cổ xưa gồm có:

a. Viện Bào Tàng Điêu Khắc Chăm ở Đà Nẵng với gần 400 pho tượng và bức phù điêu tinh tế điêu luyện mà người Pháp đã tập hợp được từ cuối thế kỷ 19-đầu thế kỷ 20, và người Việt đã bổ sung từ sau 1975 từ các vùng như Mỹ Sơn, Đồng Dương, Trà Kiệu, Bình Định, Tháp Mẫm…

b. Những công trình kiến trúc và điêu khắc còn sót lại của thánh địa Mỹ Sơn được Unesco tôn vinh là một trong di sản văn hóa thế giới, được Nhật, Pháp, Ba Lan… giúp đỡ trùng tu và tôn tạo.

c. Khoảng 20 nhóm đền tháp còn tương đối đứng vững ở các vùng Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, trong đó đáng chú ý nhất là Tháp Dơi ở Phú Yên, đền tháp Po Inư Nagar (Tháp Bà) ở Nha Trang, đền tháp Po Khlong Garai (Tháp Chàm) gần Phan Rang, tháp Po Rome và tháp Po Shanư gần Phan Thiết là những nhóm đền tháp đẹp, nơi đó ngày nay vẫn diễn ra các nghi thức thờ cúng và sinh hoạt lễ hội đầy nhiệt tình của người Chăm theo Bà La Môn giáo. Còn người Chăm theo Hồi giáo chính thống ở An Giang-Châu Đốc thì có những thánh đường riêng khi họ cử hành những nghi lễ Suk Yương, Ramadan…

Các lễ hội Chăm tổ chức tại những đền tháp ở Nam Trung Bộ vừa kể trên đều là những lễ hội lớn liên quan đến nhiều làng và cả một vùng:

- Lễ Poh Mbang Yang (lễ khai mương đắp đập) là nghi lễ mở đầu cho chu kỳ hội lễ hàng năm tổ chức vào tháng 11 lịch Chăm để cầu xin thần linh cho phép dân đào kênh, đắp đập, làm mùa;

- Lễ Yor Yang (hạ điền), lễ Plao Pasah (cầu đảo) tổ chức vào tháng 4 lịch Chăm;

- Lễ Chabun là hội lễ thờ cúng, tôn vinh Bà mẹ xứ sở, tức nữ thần Po Inư Nagar diễn ra vào tháng 9 lịch Chăm;

- Quan trọng hơn cả, có qui mô lớn và kéo dài nhiều ngày là lễ hội Mbang Katê. Đây là Tết của người Chăm, là dịp để tưởng niệm các vị vua thần Po Rome, Po Klong Garai… để tưởng nhớ chư thần và tổ tiên, được tổ chức vào tháng 7 lịch Chăm.

Còn lại là các nghi lễ nông nghiệp diễn ra theo chu kỳ nông lịch mà người Chăm rất gắn bó: lễ dựng chòi ruộng, lễ cúng lúa đẻ nhánh, lễ cúng lúa làm đòng, lễ thu hoạch lúa chín, lễ mừng lúa mới, lễ chặn nguồn nước, lễ tế trâu… đều là những nghi lễ dân gian trong đó ảnh hưởng tôn giáo không đáng kể.

Một nét đặc sắc của xã hội Chăm ở miền Trung, rất khác với người Việt, là cộng đồng người Chăm theo chế độ mẫu hệ, thể hiện cụ thể như sau: huyết thống của con cái đều tính theo dòng mẹ, thừa kế tài sản theo trực hệ bên mẹ. Chế độ ngoại hôn phải thực hiện theo dòng mẹ, nếu vi phạm điều này thì mang tội loạn luân. Người phụ nữ Chăm giữ vai trò chủ động trong tình yêu và hôn nhân, sau hôn lễ phải về cư trú bên nhà vợ. Vai trò và vị trí người phụ nữ trong xã hội luôn luôn được đề cao và có tính quyết định so với nam giới. Vai trò của ông cậu (anh hoặc em của mẹ) rất lớn đối với mỗi thành viên trong gia đình. Nếu vợ chết mà bên vợ không có người nối kết hôn nhân với chồng (tục “nối nòi”, các sắc tộc Tây Nguyên gọi là “chuê nuê”) thì người chồng phải trở về dòng họ mình với hai bàn tay trắng, không con cái, không của cải.

Chế độ mẫu hệ này đã thể hiện lâu đời theo luật tục Chăm. Vào giữa thế kỷ 20, nó đã được một bô lão Chăm có uy tín trong cộng đồng là cụ Dương Tấn Phát đã đúc kết lại và văn bản hóa thành Bộ luật Chăm đến nay vẫn còn giữ nguyên giá trị. Có thể nói chế độ mẫu hệ khá đậm nét và chặt chẽ này cộng với sự đoàn kết, cố kết trong dòng họ, làng xóm, cùng với hệ thống tín ngưỡng, nghi lễ, phong tục và hội hè rất bền vững đã tạo nên sức mạnh và sức sống của cộng đồng người Chăm hôm nay.

Quan hệ giao lưu tiếp biến văn hóa Chăm-Việt

Kể từ năm 1069 khi vua Chăm Rudravarman nhường cho Đại Việt phần đất phía Bắc của vùng Ulik-Indrapura (trở thành ba châu Địa Lý, Ma Linh và Bố Chính) cho đến năm 1692 khi Đại Việt bắt đầu làm chủ vùng đất Panduranga – Champa (sau này trở thành Ninh Thuận, Bình Thuận), người Chăm và người Việt đã chung sống với nhau lâu dài trong nhiều thế kỷ, và lẽ tất nhiên giao lưu tiếp biến văn hóa Chăm-Việt đã diễn ra một cách tốt đẹp.

Hàng trăm tiếng Chăm đã gia nhập vào phương ngữ và địa danh của xứ Huế và xứ Quảng: ni, nớ, mô, tê, ri, răng, rứa, nậu, sông Ô Lâu, bến đò Ka Kút, Sình, Sịa, Nong, Truồi, Hiên, Giằng, Trà Kú, Thốc Lốc… (Gerard Moussay, Dictionnaire Cam-Vietnamien-Français, 1971; Hoàng Thị Châu, Tiếng Việt trên các miền đất nước (Phương ngữ học), 1989; Bùi Minh Đức, Tiếng Huế đặc thù, 1995; Từ điển tiếng Huế, 2004).

Ngư dân Việt đã tiếp thu tục thờ cúng cá voi (cá Ông của người Chăm), người Việt miền Trung đã kế thừa tín ngưỡng, nghi lễ, lễ hội vinh danh nữ thần Po Inư Nagar, Bà Chúa Xứ này đã trở thành Thánh Mẫu Thiên Y Ana được thờ cúng từ miền Trung (Điện Hòn Chén ở Huế, Tháp Bà ở Nha Trang) cho đến tận Nam Bộ.

Các nhà folklore học (Nguyễn Đổng Chi, Phan Đăng Nhật, Lê Văn Hảo…) đã nhận xét rằng trong kho tàng truyện cổ Việt Nam có thể tìm thấy hàng chục truyền thuyết, cổ tích Chăm và Việt rất giống nhau về cấu trúc, chủ đề, hình tượng và ý nghĩa: nếu người Việt có truyện Sọ Dừa, Tấm Cám, Thạch Sanh, Bánh chưng bánh dày thì người Chăm cũng có truyện Sọ Dừa, Nàng Cà Điêng, Ca Dong và Ha Lớc, Núi Đá Trắng, v.v.

Nhạc sĩ Phạm Duy, trong cuốn Đặc khảo về dân nhạc Việt Nam (1972) đã phát hiện người Chăm cũng có thể thơ lục bát thịnh hành trong dân ca và ông đã công bố một bài dân ca theo thể thơ lục bát Chăm, gieo vần giống như ở thể thơ lục bát cổ xưa của người Việt (chữ thứ 6 của câu lục vần với chữ thứ 4 của câu bát):

Thây mai mưng đêh thây ô

Drơh phik kâu lô yom tha urang

Chek tian mưng asit dih đang

Mai hu ka urang oan lô lingik!

(Ai đến từ đàng kia, ai đó

Đẹp lòng ta hình như một người

Mà ta đã mến yêu từ khi còn ẵm ngữa

Nay đã thuộc về người khác rồi, tiếc quá trời ơi!)

Cách đây vài năm, nhà nghiên cứu Champa học Hoa Fatimah, một thành viên của chương trình thế giới Mã Lai – thế giới Đông Dương, trong bài Ariya Cam-Bini (trường ca Cam Bini), đã giới thiệu 118 câu thơ trữ tình, cũng dưới dạng lục bát gieo vần giống như ở thể thơ lục bát cổ xưa của người Việt (Tạp chí Champaka số 1, 1999).

Một số nhạc sĩ và nhà nhạc học đã ghi nhận sự gần gũi giữa âm nhạc truyền thống Chăm và Việt (Trương Đình Quang, Sổ tay người sưu tầm dân ca Chăm, 1977; Thụy Loan, Bước đầu tiếp xúc với âm nhạc Chăm, 1978; Trần văn Khê, Musique du Vietnam, 1967, 1996).

Hàng chục làn điệu dân ca Chăm được sưu tầm, ghi âm và tàng trữ tại Viện nghiên cứu âm nhạc Việt Nam trong mấy chục năm qua thuộc các thể loại ariya, tọ payao, tọ đing, tọ atăm tàrà, tọ mư yút, tọ rathung xa, tọ tăm mưtai… đã thu hút sự chú ý của các nhà nhạc học và folklor học vì sự giống nhau của chúng về mặt giai điệu, tiết tấu, thang âm và điệu thức so với các thể loại ngâm thơ, vè, hát ống, hò xay lúa, hò giã gạo, họ chèo thuyền, hò đưa linh, hát bả trạo… trong di sản âm nhạc dân gian của người Việt miền Trung. (1)

Sự gần gũi giữa ca nhạc Chăm và ca nhạc Việt truyền thống lại càng sâu sắc hơn nữa khi đem so sánh những tác phẩm đặc sắc nhất của ca nhạc Chăm với nhiều điệu hò, điệu lý Huế, với những bài bản u hoài hay ảo não thuộc điệu Nam hơi xuân, hơi dựng, hơi ai, hơi oán của ca nhạc Huế, đờn Quảng và đờn ca tài tử Nam Bộ: hò ô, hò mái nhì, hò mái đẫy, lý hoài xuân, lý tương tư, lý năm canh, cổ bản, phú lục, nam ai, nam bình, tứ đại oán, quả phụ hàm oan…

Đi vào một ví dụ cụ thể: từ lâu nay tôi vẫn tin rằng vì quá bức xúc trước biến cố Ô Lý – Huyền Trân mà dân gian xứ Huế, xứ Quảng, qua nhạc và lời tuyệt tác của điệu lý qua đèo (còn gọi là lý chiều chiều hay lý hoài nam) đã sử dụng tiếng Việt pha tiếng Chăm để sáng tạo nên hình tượng tuyệt vời của người con gái Việt trong một buổi hoàng hôn có chim kêu vượn hú đã đau đớn rời tổ quốc, vượt Ải Vân về Chiêm Quốc, với nỗi lòng thống thiết đến muôn đời:

    Chiều ơ chiều, chiều ơ chiều,

    dắt ớ bạn, dắt ớ bạn

    Ơ đèo mà qua đèo, tà là đèo qua đèo,

    chim ớ kêu, chim ớ kêu

    Tình kêu chư bên nớ, úy óa, chi rứa, chi rứa,

    ức ức con vượn trèo

    Tà là trèo, con vượn trèo, ni bên ni, ơi hởi,

    con vượn trèo, ni bên ni

Đi sâu phân tích điệu Nam của thang âm ngủ cung và các sắc thái tình cảm tế nhị và tinh vi của nó là hơi xuân, hơi ai, hơi oán của nhạc cổ điển và dân gian Việt miền Trung, miền Nam, nhà nhạc học đã phát hiện rằng nhạc truyền thống Chăm cũng có thang âm điệu thức và các hơi nhạc tương tự:

 

Thương âm ngũ cung – Điệu Nam hơi ai

(Chăm và Việt: Hò – Xự (già) – Xang (non) -Xê – Cống – Liu – Ú (già)

Thương âm ngũ cung – Điệu Nam hơi oán

(Chăm và Việt: Hò – Xự (non) – Xang (già) -Xê – Cống (non) – Liu – Ú (non)

Cách nay hơn 40 năm, trong một bài báo in trên tạp chí Bách Khoa, nhạc sư Trần Văn Khê đã có một đúc kết giàu ấn tượng và hình tượng: “Nhạc Việt đã nhuộm màu Chàm”. Có thể nói thêm: phương ngữ, địa danh, tín ngưỡng, phong tục, folklor Việt cũng đã nhuộm màu Chàm. Những hiện tượng văn hóa nghệ thuật so sánh trên đây chắc chắn không thể do ngẫu nhiên tình cờ mà có khi sự trùng hợp đã xảy ra nhiều lần trong đời sống tinh thần của hai sắc tộc. Rõ ràng là những bi kịch vô tình của lịch sử đã không cản ngăn được quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa lâu dài và sâu sắc, góp phần đưa đến những sáng tạo cổ điển và dân gian tốt đẹp từ người Chăm đến người Việt. Điều tốt đẹp ấy sẽ tồn tại mãi.

————–

(1) Có người cho rằng múa Chăm chắc chắn ảnh hưởng ít nhiều đến các điệu múa Việt Nam vì hồi thế kỷ 11 Lý Thái Tông sau cuộc chiến đã mang về miền Bắc hàng trăm cung nhân nhạc nữ Champa.

Giới thiệu cuốn Bansa Champa (1)

Tác giả: Trần Gia Phụng, Toronto, 12/2004

Nguồn: www.vietbao.com

Kính thưa Ban Tổ chức,

Kính thưa Quý vị Quan khách,

Trước hết, tôi xin cảm ơn Ban Tổ chức đã tạo điều kiện cho tôi phát biểu ý kiến ngày hôm nay, nhân buổi RA MẮT SÁCH Bangsa Champa của hai tác giả Dohamide và Dorohiêm. Hai anh Dohamide và Dorohiêm đều lớn tuổi hơn tôi, tốt nghiệp Đại học trước tôi và viết sách cũng trước tôi.

Tôi đọc được sách của hai anh vào năm 1965, khi tôi mới ra trường. Gần đây, tôi lại có cơ duyên quen anh Dohamide tại nhà anh Mai Thanh Truyết. Xin cảm ơn anh Truyết. Anh Dohamide cũng đã đọc sách của tôi, nên khi gặp nhau, chúng tôi dễ dàng chia sẻ những vấn đề lịch sử, nhất là mối quan hệ Việt Chăm trong quá khứ.

Hôm nay, tôi rất mừng được đọc quyển Bangsa Champa (viết tắt BC) do hai anh biên soạn. Theo các anh, “trong tiếng Chăm, từ ngữ bangsa có nghĩa khá rộng, nó hàm ý là dòng giống, là nguồn gốc, là chủng tộc…” (BC tr. 12) Sách BC là cuộc hành trình của hai tác giả tìm về nguồn cội cách xa của các anh là nước Champa, đã một thời oanh liệt tại miền Trung Việt Nam ngày nay.

Thưa quý vị,

Tuy theo ngành sử khá sớm, tôi chỉ bắt đầu suy nghĩ nhiều về vấn đề Champa khi tôi tiếp xúc với các em học sinh Chăm gốc Phan Rang lên Di Linh học Trung học năm 1965. Tôi còn nhớ, lúc đó, vào cuối tập vở chép bài sử, các em học sinh Chăm thường chép bản nhạc “Hận Đồ Bàn” của Xuân Tiên và các bài thơ của Chế Lan Viên.

Nỗi thương nhớ nguồn cội của các em học sinh Chăm làm cho một người dạy sử như tôi phải suy nghĩ. Từ đó, tôi thường tự hỏi: “Phải chăng tổ tiên chúng ta đã tiêu diệt Champa? Phải chăng tổ tiên chúng ta đã phạm phải một lỗi lầm kinh khủng là tội diệt chủng đối với người Chăm?”

Từ đó, cũng như hai anh Dohamide và Dorohiêm, tôi chú tâm vào vấn đề nguồn cội dân tộc Việt để tìm hiểu thêm liên hệ giữa hai nước Việt Champa trong lịch sử. Tôi đọc kỹ các bộ Việt sử do các tác giả hiện đại viết như Trần Trọng Kim, Phạm Văn Sơn, Phan Xuân Hòa; các bộ chánh sử cũ như Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục. Tôi cũng tìm kiếm những sử liệu Trung Hoa cũng như Tây phương. Cho đến nay, tuyệt nhiên tôi chưa tìm ra dấu vết diệt chủng của bất cứ một chính quyền Việt nào đối với người Chăm. Ngược lại, các bộ chánh sử đã ghi rằng vua Lê Hiến Tông (trị vì 1497-1504) đã ra sắc chỉ nghiêm trị những ai đối xử bất công đối với người Chăm.

Từ thế kỷ thứ 10 đến thế kỷ 18, khi dần dần tiến về phương nam, người Việt đã ảnh hưởng đến đời sống của người Chăm, nhưng đồng thời văn hóa Chăm cũng tác động trên đời sống của người Việt. Đây là tác động giao thoa qua lại giữa hai nền văn hóa Việt Chăm.

Đối với người Việt, ảnh hưởng Chăm quá lâu ngày, trở trành quen thuộc mà đôi khi người Việt không còn để ý. Sau đây là một vài thí dụ dễ nhận ra.

* Về phương diện tôn giáo, nữ thần Pô Inư Nagar tức Thiên Y A Na khi vào nước Việt, biến thể thành Thánh mẫu Liễu Hạnh, và cả hai đều được thờ phượng tại núi Ngọc Trản ở Huế. Một tín đồ nổi tiếng của đạo nầy là vua Đồng Khánh (trị vì 1885-1888). Đền thờ Thiên Y A Na ở Điện Hòn Chén (Ngọc Trản) ở Huế và Tháp Bà ở Nha Trang, được người Việt đến chiêm bái quanh năm.

* Về phương diện chính trị, trong khi vua Lê và chúa Trịnh ở Đàng Ngoài theo tổ chức Trung Hoa, có một tham tụng là tể tướng đứng đầu triều đình, thì chúa Nguyễn ở Đàng Trong đặt tứ trụ đại thần đứng đầu triều đình, gồm có Nội tả, Ngoại tả, Nội hữu, Ngoại hữu. Sau đó, triều đình nhà Nguyễn cũng do tứ trụ đại thần đứng đầu là Cần chánh điện đại học sĩ, Văn minh điện đại học sĩ, Võ hiển điện đại học sĩ, và Đông các đại học sĩ. Theo tác giả Li Tana, trong sách The Nguyễn Cochinchina, Southern Vietnam in the Seventh and Eighteenth Centuries [Chúa Nguyễn ở Đàng Trong, Nam phần Việt Nam vào các thế kỷ 17 và 18] thì hình thức nầy thấy được ở Mã Lai, thuộc văn hóa Ấn Độ, vào Đại Việt qua ngã Champa.

(Ảnh do Goldfish sưu tầm)

* Về phong tục, áo dài của người phụ nữ Việt Nam ngày nay xuất phát từ chiếc áo dài của phụ nữ Champa.

* Về phương diện nhân quyền, xã hội Champa là một xã hội mẫu hệ. Người phụ nữ rất nhiều quyền hành trong gia đình nếu không muốn nói là điều khiển gia đình. Trong cuộc Nam tiến, do tiếp xúc với xã hội Chăm, người phụ nữ Việt ở Đàng Trong càng ngày càng được tôn trọng rộng rãi hơn.

* Về phương diện âm nhạc, những điệu nam ai, nam bình và âm nhạc cung đình Huế đều mang âm hưởng Champa.

* Về thực phẩm, người Chăm ăn bốc thì người Việt ở Đàng Trong thích ăn cuốn do tự tay cầm bánh tráng cuốn. Vì lý do tôn giáo, người Chăm theo Ấn giáo cử ăn thịt bò, người Chăm theo Islam cử ăn thịt heo, và nói chung người Chăm có thói quen ăn cá. Từ đó người Việt ở Đàng Trong thường ăn cá và những phó sản từ cá. Ví dụ người Đàng Ngoài thường ăn tương thì người Đàng Trong ăn nước mắm. Người Đàng Ngoài thích ăn cà muối, cải muối thì người Đàng Trong ăn mắm nêm, mắm cà, mắm dưa…

Trên đây là sơ lược những ảnh hưởng của văn hóa Chăm đối với người Việt. Ngược lại, văn hóa Việt cũng tác động mạnh đến người Chăm, mà cao điểm là ngôn ngữ và chữ viết. Ngày nay, đa số người Chăm đều nói tiếng Việt và viết chữ Việt. Ngay cả trong tiếng Chăm cũng lẫn lộn nhiều từ ngữ Việt.

Kính thưa quý vị,

Trong lịch sử Việt Nam đã xảy ra hai lần hợp chủng quan trọng. Lần thứ nhất vào thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên, nhà Tần rồi nhà Hán đưa quân qua xâm lăng cổ Việt. Người Hoa thuộc chủng Mông Cổ đã kết hợp với dân chúng bản địa Mã-lai Đa đảo, để trở thành người Việt. Lần thứ nhì, ít được chú ý là trong cuộc di dân về phương nam từ thế kỷ thứ 10 đến thế kỷ 18, chắc chắn người Việt đã hợp chủng với người Chăm, và tạo nên những thế hệ Việt ngày nay.

Khi đề tựa sách Dân tộc Chàm lược sử của hai tác giả Dohamide và Dorohiêm, xuất bản ở Sài Gòn năm 1963, giáo sư Nghiêm Thẩm đã viết: “Ta có thể chắc chắn từ Quảng Nam vào đến Phan Thiết, trong nhiều người Việt đã có pha máu Chàm.” Trên tạp chí Làng Văn số 150, xuất bản ở Toronto, tháng 2-1997, trong bài “Quê cũ sách xưa”, tác giả Trần Văn Tích đã viết: “… Qua những đợt di dân trong lịch sử, những đoàn người từ châu thổ các sông Hồng, sông Mã, đã đến lập nghiệp ở Triệu Phong, Hải Lăng. Chắc phải có những chàng trai tứ chiếng giang hồ từ phương bắc tới gá nghĩa cùng các nàng Mỵ Ê thôn dã địa phương để trở thành viễn tổ của người viết bài nầy…”

Một tác giả khác, ông Hồ Trung Tú, trong đặc san Xuân Quảng Nam năm 2001 ở Boston, đã đặt một câu hỏi rất thiết thực mà có lẽ không ai trả lời được là trong những người Quảng Nam, ai biết được mình có bao nhiêu phần trăm máu Việt và bao nhiêu phần trăm máu Chăm?

Các ví dụ trên cho thấy ngày nay, người Việt ở Trung và Nam phần bắt đầu ý thức rằng chân dung của tổ tiên mình không phải chỉ là người Việt đi từ Bắc vào Nam, mà còn có hình ảnh của người Chăm địa phương nữa.

Thưa quý vị,

Cho đến nay, ảnh hưởng văn hóa hỗ tương Việt Chăm và Chăm Việt đã lẫn lộn và trở nên quá quen thuộc trong đời sống chúng ta đến nổi chúng ta hầu như không còn phân biệt được đâu là Việt, đâu là Chăm? Do đó, khi nhìn về quá khứ, chúng ta nên mở rộng nếp suy nghĩ mà hai tác giả Dohamide và Dorohiêm đã viết là cần phải THAY ĐỔI TƯ DUY (BC, tr. 164), và nhất là dựa trên căn bản cũng do hai tác giả nầy đưa ra, đó là căn bản TÌNH NGƯỜI (BC, tr. 361), để tạo sự hiểu biết và thông cảm rộng rãi giữa hai sắc dân Việt Chăm cùng sống trên đất Việt.

Chúng ta cần tìm về quá khứ để bảo tồn và phát huy những nét hay đẹp của nền văn hóa nguồn cội, nhưng chúng ta cần đoàn kết để xây dựng sự bình đẳng và dân chủ trên đất nước Việt Nam chung của chúng ta, trong đó có khoảng 54 sắc dân chung sống.

(Phù điêu trên tháp Dương Long – Tây Sơn. Goldfish sưu tầm)

Riêng về văn hóa Champa, thưa quý vị, như tôi đã trình bày ở trên, văn hóa Champa đã chan hòa cùng văn hóa Việt; và tôi tin tưởng một cách mạnh mẽ rằng văn hóa Việt còn, thì còn văn hóa Champa.

Nhân lễ ra mắt sách Bangsa Champa của hai Dohamide và Dorohiêm, tôi xin chia sẻ một số suy nghĩ của tôi, và nếu có gì thiếu sót, thì xin quý vị bổ túc, trong tinh thần học hỏi và nhất là trên căn bản tinh thần của một câu ca dao rất quen thuộc là, chúng ta những người Việt và người Chăm ngày nay “tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.”.

Trân trọng cảm tạ và kính chào quý vị.

—————

(1) Tựa do Goldfish tạm đặt.

Kiến trúc Thăng Long giao thoa với kiến trúc ChămPa (1)

Tác giả: Đoàn Minh Châu

Nguồn: www.vnn.vn

Trải qua triều đại phong kiến, kiến trúc của thành Thăng Long đã sớm có sự giao thoa, tiếp xúc tự nguyện với kiến trúc ChămPa (một nền văn hoá có ảnh hưởng sâu rộng của văn hoá Ấn Độ). Sự hoà quyện giữa văn hoá Việt – Chăm trên đất kinh thành tạo ra một nét đặc sắc riêng, trở thành một thành tố cấu thành nghệ thuật điêu khắc – kiến trúc Thăng Long. Điều đó còn thấy rõ ở khá nhiều công trình văn hoá. Sử sách còn ghi dấu một kiến trúc rất Chăm Pa, tháp Báo Thiên nằm bên hồ Lục Thuỷ, (phần còn lại chính là Hồ Gươm hiện nay), ở vào vị trí khu vực chùa Bà Đá – Nhà thờ lớn hiện nay và hồi đó được ca ngợi như "cột chống trời, cao chót vót hơn 4 chục trượng, 12 tầng, do vua Lý sai tù binh Chiêm thành (Chăm Pa) xây" (Sách An Nam chí lược của Lê Trắc viết năm 1333). Kiểu kiến trúc như tháp Báo Thiên có thể coi là đặc trưng kiến trúc thời kỳ đầu dựng thành Thăng Long, sau đó đã xuất hiện rất nhiều bên cạnh những ngôi chùa cổ kính mang đậm sắc thái Việt ở nhiều làng quê Bắc bộ như một phần không thể thiếu của nét văn hoá Kinh Kỳ. Nhiều sắc thái của văn hoá Chăm Pa khác còn được lưu giữ ở nhiều di tích như chùa Châu Lâm tức chùa Bà Banh – Bà Đanh, quãng trường Bưởi ( Chu Văn An), rồi chùa "Bà Già" ở Phú Xá, Chùa Tứ Liên (cũng đều quanh Hồ Tây), đặc biệt là đã đi vào tấm bia chạm "Bà Banh" trần trụi, rất Chăm còn đọng lại ở nhiều giai thoại văn học. (2)

(Trích bài "Bản lĩnh của văn hoá Hà Nội nghìn năm")

—————

(1) Tựa do Goldfish tạm đặt.

(2) Ông Nguyễn Văn Huy trong bài Tìm hiểu cộng đồng người Chăm tại Việt Nam cho biết thêm, dưới triều Lý Thái tôn, "Trong số tù binh Chăm có một thiền sư Phật giáo tên Thảo Đường. Tăng sư Thảo Đường lập ra phái Thiền tông thứ ba tại Đại Việt. Nhiều chùa Phật giáo Tiểu Thừa tại miền Bắc Việt Nam (chùa Vạn Phúc ở Bắc Ninh, chùa Thiên Phúc ở Sơn Tây) do nhân công gốc Chăm xây dựng. Thợ Chăm dạy cho thợ Đại Việt cách đúc tượng Phật và xây cất chùa kiểu Ấn Độ. Nghệ nhân Chiêm Thành dạy cho các cung nữ triều đình nhà Lý các điệu nhạc Chiêm Thành (các điệu nam ai, nam oán…)".

Những yếu tố Champa trong văn hoá miền Trung Việt Nam

Tác giả: Nguyễn Văn Xuân

Nguồn: xuquang.com


Trong bài này, tôi ít bàn nhũng vấn đề sử sách lưu lại vì thực sự, về văn hóa xã hội, nhất là sinh hoạt trong đời sống thường nhật, không mấy khi sách vở ghi chép. Vùng biển Đà Nẵng có thờ “Lồi phi phu nhân”, “Thiên Yana”, ở thôn quê thì phổ biến lễ Tá thổ với những bài văn ghi tên những chủ “Ngung – Man – Nương” và tên một số tiên dân khác: “Lồi, lạc thương vong Chăm – Chợ – Mọi rợ … “Theo Dương Văn An, người giới thiệu sách Ô Châu cận lục (1555) vào thời ấy, tức là sau vài thế kỷ tiếp thu Điện Bàn phủ Triệu Phong, thế mà nhiều làng vẫn còn mặc đồ Chăm. Mặc đồ Chăm, đầu thế kỷ XX không thấy chứ màu Chàm, màu Chiêm Thành thì hầu hết nông dân Quảng Nam vẫn ưa dùng theo truyền thống của “dân tỉnh Chăm” (theo cách gọi của người Pháp).


Cũng như ngươi Việt, người Chăm lấy việc ruộng đồng làm gốc (dĩ nông vi bản). Những đồng bằng rộng lớn ngày nay ở Đại Lộc, Hòa Vang, Điện Bàn, Duy Xuyên… đa số có thể nghĩ là do người Champà khai phá trước. Vì, nơi nào có kinh đô thì phải có hậu phương kinh tế vững. Nếu không có, phải tạo ra cho có, còn không, như bị vây hãm hay cấm vận vậy? Nói tới làm ruộng phải có trâu bò. Thế nhưng ở Bắc Quảng Nam, khi người thợ cày muốn điều khiển trâu, bò thì dùng hai chữ “Hò rì, hò tắc”, còn người phía Nam Quảng Nam lại dùng “ví, thá”
(1)? Trâu, bò cũng như voi, ngựa, mua ở nơi nào phải dùng tiếng người ta đã dạy con vật đó lúc sơ sinh. Hơn nữa, trâu bò không dễ gì mua ở bắc vào, vì lạ nước, chúng sẽ “đổ”, nghĩa là bỏ ăn, chết. Vậy hai thuật ngữ dùng để lái con vật sản xuất ấy tại sao khác nhau? Nếu không phải trâu, bò mang ở Bắc vào (tôi chưa dám xác định) thì đây là vấn dề, khi nghiên cứu kỹ, có thể giúp ta tìm ra manh mối nguồn gốc cư dân cũ. Song song với thuật ngữ “lái” trâu bò, cũng cần biết thêm cái cày ở Bắc Quảng Nam là cày tranh, loại cày có má lớn, vừa xẻ đất vừa trở đất rất tiến bộ, bỏ xa loại cày chìa vôi ở phía Nam Quảng Nam chỉ dùng để xẻ đất mà thôi. Cày bừa là dụng cụ làm ruộng ở Trung Bộ, trong dĩ v�! �ng đã vượt Bắc bộ nhiều phương diện. Sự kiện này phải chăng có chịu ảnh hưởng sâu đậm của Champà trước rồi Hoa sau? Trong An chí luợc của Lê Tắc (Trần) có ghi chép lại Giao châu ký của Lưu Hân Kỳ: “Một năm tám lượt tằm (Tằm nuôi ở Nhật Nam – Bình Trị Thiên và một số vùng phía Nam thì có giống lớn). Từ tháng ba đến tháng tám đều có nuôi tằm, lấy tơ dệt lụa”. Như thế, thời Champà nông tang cũng rất thịnh.


Có người nghĩ: khi chúa Nguyễn vào Nam, nhà chúa muốn phân biệt dân Nguyễn và dân Trịnh bằng cách thay đổi y phục, mũ, nón, giày. Tôi nghĩ hoàn toàn không phải vì lý do đó mà chủ yếu vì thực dụng. Chẳng hạn, nói cái nón: Nón Bắc (các vùng ở phía Bắc) là nón thúng tiện dùng để đi lại, cấy lúa hoặc nhổ cỏ dễ dàng. Trái lai nón chóp rất tiện dụng. Lại cũng không phải nón chóp vùng Nam Trung Quốc mà phần dưới xòe ra. Nó chính là loại nón chóp vùng Mã Lai, trong đó có người Champà – nón đội của đàn ông giống nón Quảng, Huế… Nón đàn bà giống hệt loại nón ở Gò Găng, Bình Định mà thời xưa các quan phủ huyện, chánh phó tổng hay dùng.


Về áo quần thì màu Chàm là dấu ấn sâu sắc kéo dài qua nhiều thế kỷ như đã nói ở trên.


Chúng ta dễ nhận thấy ghe, thuyền của Mã Lai giống hệt một số ghe ở các tỉnh miền Trung. Trong bài: “Ghe hầu Quảng Nam và các tỉnh phương Nam” của Nguyễn Bội Liên và Hồ Phước Tâm (Nghiên cứu lịch sử địa phương và chuyên ngành QN-ĐN – 1981) có phân tích rõ ghe này chịu ảnh hưởng của Chiêm Thành. Ghe bầu (theo Trần Kỳ Phương trong Một vài nhận xét về những yếu tố Mã Lai trong văn hóa Champà và Trung Việt Nam”, bản đánh máy đọc ở Mã Lai tháng 9-1991) là một biến âm của từ “gay” và “Prahu” để chỉ ghe buồm Mã Lai.Chẳng cần phải nói dài dòng và tỉ mỉ, cứ nhìn qua hình thể các thuyền ở miền Bắc Việt Nam, Trung Quốc và các ghe ở Quảng Nam với vùng Mã Lai – Đông Nam á, lập tức người ta phân biệt được ngay “thuyền Bắc và ghe Nam”. Ghe bầu là một bước phát triển lớn của ngành hàng hải Việt Nam. Về âm nhạc, theo Đại Việt sử ký toàn thư, đời Lý, vua khiến nhạc công đặt nhạc khúc gọi là điệu Chiêm Thành. Tiếng nhạc trong trẻo mà ai oán, thảm thương nghe muốn khóc. Học giả Đào Duy Anh nghĩ là những điệu nhạc cung nam ngày nay gốc gác từ đó.


Trong nhạc cụ của Chiêm Thành có một nhạc khí nay vẫn lưu truyền mà Lê Tắc, tác giả tập sách mới dẫn, gọi là phạn sĩ (trống cơm); đó là loại trống dài, hai đầu bịt và đặc biệt, trước khi vỗ, người ta ép hai cục cơm (hay xôi?) vào hai đầu trống. Tiếng trống trong và buồn. Tôi không hiểu tại sao các bạn hát bội kính trọng trống này lắm, thờ nó ở chỗ cao nhất, có tính thần linh. Chỉ cần nghe nhạc “thính phòng” và “ca Huế” thì biết âm nhạc Chiêm Thành ảnh hưởng đến Việt Nam như thế nào. Chuyện giữa Việt và Champa dài lắm – e phải viết thành những bộ sách.


Để tạm kết thúc, tôi dẫn ra đây một tục lệ được tôn kính của nhiều tỉnh miền Trung. Đó là lễ Tá thổ. Người Việt tự hào mình ăn ở chung thủy, qua lễ Tá thổ, tôi thấy điều ấy đúng. Lễ được cử hành vào tháng ba. Nhưng nhà khá giả thì nhờ thầy cúng hay nhờ sư viết lá sớ. Người ta vái các cô hồn, cô bác, đạo lộ, khuôn viên. Phẩm vật có gạo, muối, hột nổ, thịt heo, thịt gà (thường là nguyên con gà để coi giò gà)… Nhà giàu thì cúng nguyên cả “cái thủ” heo. Mâm cơm có cá chiên, cá nướng, bát canh… Cúng thổ thần có trầu, cau, rượu, đồ giấy. Quan trọng hơn cả là bộ tam sinh: 3 tôm, 3 cua, 3 trứng
(2), nải chuối, chè xôi và đặc biệt còn có mắm cái, rau lang luộc, thêm khoai lang cu, sắn củ, mía, bắp trái luộc, nước trắng lấy ở giữa dòng sông… Các món cúng khác với lễ kỵ giỗ truyền thống đã đành mà còn tiêu biểu cho thục đơn của tiên dân; mắm cái là món ăn khoái khẩu nhất khi đi đôi với rau lang (không phải rau muống). Mắm cái (mắm nêm) từ đây vào Nam sẽ phân biệt với mắm ruốc từ Huế ra Bắc. Cũng chú ý rằng người Quảng Nam luộc rau lang chấm mắm cái nhưng không đặt lên bàn thờ cúng ông bà. Còn như các món khoai, sắn, bắp, nước giữa dòng thì hoàn toàn đặt ra ngoài nghi lễ Việt Nam.


Cúng xong, bỏ dỗ ăn vào cái xà – lét (bị) treo lên các trụ cổng. Có người lấy bẹ chuối, bẻ theo hình thuyền, đặt xà – lét lên rồi đưa ra giữa dòng sông. Đó là bè xà – lét.

————–

(1) là bước lệnh sang trái. Thá, người miền Nam có nơi đọc trại là phá, là bước lệch sang phải. Khi cày đất lật sang bên phải nên người ta cày từ ngoài vào trong, đi theo vòng thuận (ngược chiều kim đồng hồ). Xong một đường cày (hết một vòng), người bắt đầu đường cày thứ hai liền kề với đường cày thứ nhất về phái tay trái, có nghĩa là đường cày sau nằm bên trong đường cày trước. Do đó ví cũng là ví vô, thá là thá ra. Bừa, trục, đạp lúa… người ta cũng đi theo vòng ví như đi cày.    

(2) Bộ tam sinh (thường đọc trại là tam sênh) của người Việt gồm hột vịt luộc, tôm luộc và thịt heo luộc (Theo Cao Đài tự điển, caodaism.org)

Giao thoa văn hóa Việt – Chăm nhìn từ một số di tích ở Bình Định

Nguồn: http://www.mientrung.com/content/view/5592/128/

Hành trang người Việt mang theo trên con đường Nam tiến từ thế kỷ XVI về sau là truyền thống văn hoá lâu đời. Trên vùng đất mới, người Việt đã ảnh hưởng tiếp thụ rồi tiếp biến tín ngưỡng cư dân Chăm bản địa.

* Điểm giao thoa của hai truyền thống

Có một thực tế, trong tâm thức người Việt, núi vốn có ý nghĩa đặc biệt, là nơi con người trông về, ngưỡng vọng. Ngay từ thời Lý, Trần, những nơi có núi cao cảnh đẹp, đều được dựng chùa thờ Phật. Còn với cư dân Chăm, bản thân những ngọn tháp Chăm đã là biểu tượng cho ngọn núi Mêru – ngọn núi thiêng trong tín ngưỡng Ấn Độ giáo. Phải chăng, sự gặp nhau của hai truyền thống ấy, đã tạo điểm giao thoa, dung hoà cho tâm thức Việt – Chăm.

(Tượng "Phật Voi" Ganesa ở chùa Linh Tượng xã Bình Nghi, huyện Tây Sơn)

Biểu hiện của sự tiếp biến ấy, trước hết, thể hiện ở chỗ không ít tượng Chăm được dân phát hiện, đưa vào thờ tự tại chùa và được gắn thêm một chữ "Phật". Ví như Phật Chuông vì giống cái chuông; Phật Voi chùa Linh Tượng (Tây Sơn); tượng Tu sĩ (Phật Lồi) ở chùa Linh Sơn (Nhơn Hải). Còn tượng Phật bằng đồng ở chùa Thầy Mười (Nhơn Lý) thực ra là tượng Avalokitesvara, một dạng Bồ tát trong đạo Phật phái Đại Thừa, niên đại thế kỷ IX-X… Ở chùa Nhạn Tháp (An Nhơn), có hai tượng thần Hộ pháp lớn nhất trong nền nghệ thuật điêu khắc Chăm, được người dân đưa vào thờ chung trong Chùa. Nhân dân quanh vùng cho rằng đây là tượng hai người Việt là Huỳnh Tấn Công và Lý Xuân Điền đã có công giúp vua Chăm đánh quân Xiêm.

Bên cạnh đó, cũng như nhiều địa phương khác, ở Bình Định, quá trình tiếp biến này thể hiện ở việc Việt hóa việc thờ Bà mẹ xứ sở, nữ thần Y Na trong tín ngưỡng Chăm. Ở Vĩnh Thạnh, có việc thờ thần Y Na làm thành hoàng. Miếu này tên chữ là Thiên Y miếu, nhân dân ở đây quen gọi là miếu ông Chu vì ông Chu từng làm chủ từ rất lâu, nay đã mất. Trước năm 1945, người dân vẫn tế xuân thu nhị kỳ, cúng tam sinh, hoặc ít nhất là heo, bò; nhưng nay chỉ tế vào 12 tháng giêng âm lịch. Đi vào miếu, ở góc phải có bố trí một miếu âm hồn gọi là Âm Linh Miếu. Miếu Thiên Y ba gian hai chái, có hàng cửa, nhân dân cho biết mở quanh năm suốt tháng. Gian giữa ngay trên tường có một chữ Thần, hai gian bên cũng viết ngay trên tường các chữ: Tả ban, hữu ban. Trên bàn thờ là bài vị hai nữ thần, nhìn từ ngoài vào bên phải có bài vị: Cao sơn Đào Thị Nương, nương chi tôn thần vị, bên trái là sắc phong Thiên Y Na diễn ngọc phi thượng đẳng thần, thần vị. Miếu còn là nơi hội họp của cộng đồng, tương tự như hội quán của người Hoa, duy chỉ có điểm khác biệt là nếu không có các cuộc họp, dân vẫn ra đây tụ họp, uống trà, hút thuốc, tán chuyện… 

* Miếu Thanh Minh: nhà tưởng niệm tiền nhân lớp đầu?

Trong khu vực tháp Đôi có hai di tích khá thú vị. Một miếu nhân dân gọi là miếu Bà, đã bị phá trước năm 1975, nhưng có người lại bảo là thờ Võ Di Nguy, điều tra hồi cố chưa xác minh chính xác. Một kiến trúc khác có tên chữ là Thanh Minh tự, nhân dân gọi là miếu Thanh Minh. Hàng năm nhân dân quanh khu vực này thường họp nhau lại, làm lễ cúng hai con heo, đi tảo mộ và tổ chức hát bội vào buổi tối. Mỗi nhóm đi tảo mộ được người quản thủ của miếu phát cho một bó gân lá dừa. Giẫy được mả nào thì bẻ một khúc gân lá dừa nhỏ. Khi về, người quản thủ đếm đủ số lượng thì thôi, nếu thiếu thì phải đi giẫy thêm để không sót một mả nào.

(Miếu Thanh Minh tại Tháp Đôi, Quy Nhơn)

Các nhà nghiên cứu cho rằng miếu Thanh Minh duy nhất chỉ thấy ở Bình Định. Phải chăng đây là nhà tưởng niệm những tiền nhân lớp đầu vào định cư vùng đất mới. Cuộc sống di cư khi ấy còn lang bạt, khi mất không người hương khói nên cộng đồng tưởng nhớ đến họ, hàng năm vẫn hương khói ?

(Theo báo Bình Định)


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét