Để thấy rõ hơn về các dữ liệu thống kê người ta dùng đồ thị để biểu diễn nó.Bản chất của đồ thị là thể hiện các giá trị số và mối quan hệ của chúng nhờ vào các đường nét hình học, điểm, hình và cả biểu đồ địa lý.
Đồ thị làm cho các số liệu có hình ảnh trực quan, rõ ràng, dễ tiếp thu và phân tích. Đồ thị thống kê cho phép đánh giá bằng thị giác các đặc điểm của hiện tượng nghiên cứu, quy luật vốn có của hiện tượng, xu hướng phát triển, mối liên hệ giữa các chỉ tiêu. Từ xa xưa người Trung Hoa đã nói: "Một hình ảnh bằng cả ngàn từ" hay người Việt Nam chúng ta có câu: "Trăm nghe không bằng mắt thấy". Đồ thị làm cho số liệu thống kê trở nên súc tích và dễ hiểu hơn, dễ tiếp thu hơn đối với đa số số khán thính giả. Đồ thị đã trở thành công cụ giao tiếp khoa học của thông tin thống kê.
Ví dụ: Bảng số liệu thống kê về lưu lượng điện thoại hai chiều từ thành phố Hồ Chí Minh đi Hà nội từ tháng 9 năm 2000 đến tháng 12 năm 2001 thì ta chỉ thấy được số phút điện thoại trao đổi theo từng tháng của từng nhà cung cấp dịch viễn thông mà không thấy rõ sự chia sẻ thị phần giữa các nhà cung cấp dịch vụ:
Lưu lượng điện thoại hai chiều TP HCM HN
Đơn vị tính: 1000 phút
Chú thích:
PSTN – Viết tắt của chữ Pubilc switching telephone network – biểu hiện cho dịch vụ điện thoại cố định truyền thống do VNPT (Bưu điện) cung cấp
178 – thể hiện cho dịch vụ điện thoại VOIP (Voice over internet protocol – điện thoại gọi qua giao thức internet) do Viettel cung cấp
171 – thể hiện dịch vụ điện thoại VOIP do VNPT cung cấp.
177 – dịch vụ điện thoại VOIP do Sài gòn Postel cung cấp.
Thế nhưng nếu bảng số liệu trên được biểu diễn bằng đồ thi thì chúng ta thấy rất rõ: Tổng nhu cầu dịch vụ viễn thông ngày càng có xu hướng tăng, nhưng dịch vụ PSTN thì giảm rõ rệt từ khi xuất hiện dịch vụ điện thoại VOIP 178 có giá cước rẻ hơn do Viettel cung cấp. Dịch vụ điện thoại VOIP 178 có xu hướng tăng dần từ tháng 11/2000 đến tháng 07/2001 và lại có xu hướng chựng rồi giảm lại từ khi VNPT cung cấp dịch vụ điện thoại VOIP 171, dịch vụ VOIP 171 đang có xu hướng tăng thì tăng chậm lại khi xuất hiện dịch điện thoại VOIP 177 của SPT. Sự chia sẻ thị phần giữa các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông được thể hiện thật rõ nét qua đồ thị:
Phân tích số liệu thống kê nên luôn bắt đầu từ đồ thị của chúng. Đồ thị cho phép ngay lập tức nhìn thấy toàn cảnh các chỉ tiêu thống kê, khám phá ra thực chất của xu thế hoạt động và mối tương quan giữa các hiện tượng nghiên cứu. Phương pháp đồ thị là giai đoạn tiếp diễn mang tính logic của phương pháp bảng và nó phục vụ cho mục đích nhận được đặc điểm chung của quá trình, tính chất của hiện tượng số lớn.
Trong việc thể hiện các số liệu thống kê bằng đồ thị người ta thường hướng đến việc trình bày như sau: những giá trị của các hiện tượng được so sánh với nhau, cơ cấu của hiện tượng , sự biến động của hiện tượng theo thời gian, tiến trình thực hiện kế hoạch, sự phụ thuộc của một tiêu thức vào sự biến động của một tiêu thức khác, phân bố các giá trị theo lãnh thổ. Năm vấn đề đầu tiên vừa kể được biểu diễn trực tiếp bằng thành phần của đồ thị. Còn đối với biểu hiện các giá trị trên lãnh thổ người ta dùng đồ thị dạng bản đồ.
Mỗi một đồ thị được xây dựng từ ảnh (kiểu) đồ thị và các thành phần hỗ trợ. Kiểu đồ thị các số liệu thống kê là tập hợp các đường, hình, điểm tạo nên các đường nét hình học theo các dạng khác nhau (hình tròn, vuông, hình chữ nhật) cùng với các đường không liền nét, màu sắc, độ đậm nhạt của tập hợp điểm.
Nhiều loại hình đồ thị được phân loại theo phương pháp xây dựng, theo kiểu dáng (hình thức) và nhiệm vụ biểu hiện các chỉ tiêu thống kê cũng như tổng thểcó thể được biểu diễn theo sơ đồ sau:
Các thành phần hỗ trợ để giải thích cho đồ thị bao gồm: tên đồ thị, lời giải thích các ký hiệu và ý tưởng hình ảnh đồ thị, trục toạ độ, các thang đo, mạng số, dữ liệu số, dùngđể bổ sung và khẳng định độ chính xác các chỉ tiêu biểu hiện. Lời thuyết minh các hình ảnh hình học theo các dạng khác nhau, đường không liền nét, màu sắc cho phép liên tưởng từ hình ảnh hình học sang hình ảnh các hiện tượng và quá trình trên đồ thị.
Tên của đồ thị cần ngắn gọn và chính xác thể hiện nội dung của nó. Lời giải thích có đặt ở biên đồ thị, bên cạnh đồ thị hoặc có thể đưa khỏi biên.
Bất kỳ hiện tượng nào được nghiên cứu bằng thống kê cũng đều có thể biểu diễn bằng đồ thị. Tuy nhiên cần tìm xem dạng đồ thị nào là thích hợp nhất với hiện tượng cần biểu diễn.
Trước khi xây dựng đồ thị cần xác định rõ bản chất của hiện tượng và mục đích thể hiện bằng đồ thị. Đồ thị được chọn cần tương ứng với nội dung bên trong và đặc điểm các chỉ tiêu kinh tế. Ví dụ, để biểu hiện sự biến động của hiện tượng theo thời gian nên chọn đồ thị đường gấp khúc hoặc hình cột. Đường gấp khúc (hoặc hình cột) sẽ cho thấy mức độ thực hiện kế hoạch theo thời gian. Nhưng đường gấp khúc hoặc hình cột sẽ không thích hợp cho việc biểu hiện câu trúc của hiện tượng, bởi vì theo bản chất nó không thể biểu hiện từng bộ phận hoặc từng phần của tổng thể nghiên cứu.
Trong việc xây dựng đồ thị cần thể hiện đúng độ lớn của hiện tượng, điều này phụ thuộc trước hết là vào tỷ xích, tỷ lệ xích là thành phần bắt buộc đối với bất kỳ đồ thị nào. Tỷ xích cho biết giá trị trên đồ thị kém hơn hay nhiều hơn giá trị thực bao nhiêu lần. Nó được lựa chọn từ việc tính toán sao cho trên đồ thị có thể xếp đặt giá trị thể hiện lớn nhất.Theo thang đo tỷ lệ sẽ hình thành đường trục, trên đó đánh dâu các giá trị tỷ lệ. Tất cả các điểm trên thang đo sẽ tương ứng với một giá trị xác định.
Trong thống kê bưu chính viễn thông có thể dùng thang đo tỷ lệ đều bằng đường vuông góc hoặc hình tròn (xem đồ thị a* và b*). Còn thang đo không đều thường dùng cho thang đo logarit, trên thang đo này khoảng cách giữa các điểm không theo tỷ lệ sốthường mà theo tỷ lệ logarit.
Trong đồ thị thống kê thường dùng hệ toạ độ vuông góc, hình tròn và được xây dựng theo nguyên tắc tọa độ cực. Trong đồ thị được xây dựng theo hệ thống toạ độ vuông gócthì trên trục hoành và trục tung sẽ lần lượt xếp đặt theo thứ tự các đặc điểm của hiện tượng biểu diễn, còn trên trường (mặt phẳng) đồ thị sẽ phân bố các dấu hiệu hình học, đó chính là thành phần chính của đồ thị.
Đồ thị được sử dụng rộng rãi trong thống kê bưu chính viễn thông là biểu đồ. Để mô tả và đưa nhận định về sự phát triển của hiện tượng theo thời gian người ta xây dựng biểu đồ. Dạng biểu đồ được lựa chọn phụ thuộc vào dữ liệu ban đầu và mục đích nghiên cứu. Nếu như có dãy số động thái cùng với các mức độ ở các giai đoạn thời gian khác nhau thì sử dụng biểu đồ hình cột vuông, cột tròn. Nếu như số mức độ của dãy số quá lớn thì nên dùng biểu đồ đường gấp khúc. Biểu đồ gấp khúc thuận tiện cho việc biểu diễn dãy số động thái với xu hướng nhất định, để so sánhvài dãy số động thái trên cùng một đồ thị, hoặc so sánh tốc độ phát triển của các hiện tượng.
Để vẽ đồ thị đường thẳng (đường cong, gấp khúc) sử dụng hệ thống tọa độ vuông góc, trên trục hoành đánh dấu các mức thời gian (năm, tháng, ), trên trục tung ghi các mức độ của các quá trình và hiện tượng cần biểu hiện. Để đảm bảo sự rõ ràng của xu hướng, đồ thị xây dựng cần được quan tâm cả tỷ lệ giữa trục hoành và trục tung, nếu không đồ thị sẽ bị kéo giãn ra, các mức độ bị lệch đi và xu hướng phát triển sẽ không xuất hiện.
Ví dụ về đồ thị biểu diễn xu hướng phát triển số máy điện thoại của nước ta trong giai đoạn 1996 2002:
Bảng 2‑18
Phân tích biểu đồ đường gấp khúc nên bắt đầu bằng việc so sánh mức độ của các hiện tượng theo thời gian (năm). Những điểm này nằm trên phần giao nhau của các đường vuông góc tương ứng với thời điểm đầu năm (cuối năm trước) và giá trị số trên trục tung.
Sau khi phân tích tốc độ biến động của hiện tượng tức là xem xét tốc độ phát triển của hiện tượng có phát triển nhanh hơn không hay là chậm hơn thì ta thấy nó cũng tương ứng độ nghiêng của góc tạo giữa các đường gấp khúc với trục hoành. Độ dốc của góc càng lớn tốc độ phát triển càng mạnh, nếu độ dốc không đổi có nghĩa là tốc độ phát triển chững lại giống như năm trước.
Đồ thị trên cho thấy nhìn chung độ dốc giữa đường gấp khúc với trục hoành hàng năm đều nghiêng hơn, đặc biệt là năm cuối (2002), chứng tỏ tốc độ phát triển máy thuê bao ngày càng tăng.
Trên đồ thị đường gấp khúc có thể biểu diễn số liệu thống kê của vài chủ thể hoặc hiện tượng chứ không chỉ một hiện tượng. Ưu điểm của cách biểu diễn này là nó cho phép so sánh đặc điểm biến động giữa các hiện tượng với nhau.
Ví dụ: Đồ thị biểu diễn so sánh doanh thu và chi phí dịch vụ của một doanh nghiệp vật tư Bưu điện.
Bảng số liệu:
Đơn vị tính: triệu đồng
Biểu đồ: (a3*)
Trên đồ thị (a3*) cho thấy điểm bắt đầu của trục tung là 100.000 triệu đồng bởi vì trong phạm vi từ0 đến 100.000 triệu đồng việc mô tả hiện tượng là không có. Sự dịch chuyển gốc toạ độ của đồ thị giúp khả năng tăng tỷ lệ xích (mà không mở rộng hình vẽ) và như vậy biểu đồ gấp khúc được phóng to hơn.
Biểu đồ đường gấp khúc được sử dụng rộng rãi trong việc lập kế hoạch kinh doanh và kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch. Ví dụ biểu đồ thực hiện kế hoạch doanh thu dịch vụ 6 tháng đầu năm của một doanh nghiệp Bưu điện:
Bảng 2‑19Đơn vị tính: triệu đồng
Đồ thị (a4*)
Đồ thị (a4*) cho thấy rõ là tháng giêng và tháng hai đơn vị không hoàn thành kế hoạch, còn các tháng còn lại (ba, tư, năm sáu) đơn vị đều vượt kế hoạch.
Đồ thị đường gấp khúc còn có thể sử dụng để biểu diễn mối tương quan giữa các hiện tượng. Trướckhi xây dựng biểu đồ phân tích cần xác định tiêu thức nào là tiêu thức nguyên nhân và tiêu thức nào là tiêu thức kết quả. Tiêu thức nguyên nhân được phân bố theo trụchoành, còn tiêu thức phụ thuộc được sắp xếp trên trục tung.
Từ bảng chỉ tiêu tài chính và số nhân viên của VNPT, ta có thể tìm ra mối tương quan giữa năng suất lao động và lợi nhuận (trước thuế).
Bảng 2‑20:
Để biểu diễn sự quan hệ giữa lợi nhuận và năng suất lao động trước hết ta cần tính lợi nhuận và năng suất lao động bình quân. Từ bảng trên (a5*) ta tính được lợi nhuận và năng suất lao động năm của một lao động như sau:
Trong trường hợp này năng suất lao động là tiêu thức nguyên nhân, còn lợi nhuận là tiêu thức kết quả.
Trên mặt phẳng toạ độ ta đánh dấu các điểm giao nhau giữa các đường vuông góc với trục hoành và trục tung, vị trí các đường này tương ứng với các giá trị năng suất lao động bình quân và lợi nhuận. Nối những điểm trên ta được một đường gấp khúc. Đường thực nghiệm này cho thấy rõ sự tương quan giữa hai chỉ tiêu: Năng suất lao động của các nhân viên VNPT càng cao thì lợi nhuận càng tăng. Tương tự như vậy chúng ta có thể phân tích và vẽ đồ thị về mối tương quan này cho các doanh nghiệp Bưu điện, tuy nhiên cần chú ý là khi tính lợi nhuận thì phải chú ý lấy doanh thu riêng chứ không tính doanh thu cước vì đây là các đơn vị hạch toán phụ thuộc, ngoài ra do quy mô của mỗi doanh nghiệp khác nhau nên khi phân tích, vẽ đồ thị thì không dùng số tuyệt đối là lợi nhuận mà dùng tỷ suất lợi nhuận thì việc so sánh mới đồng nhất, kết luận mới chính xác hơn.
Nhược điểm của đồ thị đường gấp khúc là trong ý nghĩa nhận thức các chỉ tiêu tuyệt đối và mức tăng của nó, thang tỷ lệ đều nhau sẽ làm biến dạng sự thay đổi của các giá trị tương đối. Ngoài ra, trên đồ thị với thước đo đều nhau không thể biểu diễn dãy số động thái có mức độ biến động đột ngột (mức độ biến động lớn với khoảng thời gian dài). Giải pháp cho nhược điểm này là sử dụng đồ thị nữa logarit,trong đó trên một trục đặt thước đo có tỷ lệ tuyến tính, còn trục kia thang đo logarit (nó sẽ làm giảm dần kích thước của các số lớn). Trong tỷ lệ tuyến tính biểu diễn thời gian (năm, 5 năm), còn ở thang đo logarit mức độ của chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật.
Ví dụ, tính hình phát triển máy điện thoại nước ta trong giai đoạn 1995 2004, số máy năm 2004 gấp 13,3 lần. Nếu biểu diễn trên đồ thị theo tỷ lệ đều sẽ là biểu đồ (a), còn theo biểu đồ nữa logarit sẽ là hình (b).
Bảng số liệu:
Đồ thị:
Sử dụng đồ thị tỷ lệ nữa logarit giúp dễ dàng nêu đặc điểm tình hình biến động máy điện thoại như sau: Nếu như đường cong gần với đường thẳng có nghĩalà tốc độ biến động ở mức ổn định; nếu đường cong lõm so với trục hoành có nghĩa là tốc độ phát triển chậm lại, nếu đường cong lồi tốc độ phát triển có xu hướng tăng. Trên đồ thị (b) cho thấy giai đoạn năm 1995 1999 tốc độ phát triển chậm, giai đoạn 1994 2004 tốc độ phát triển ổn định.
Để biểu diễn dãy số động thái có nhịp điệu biến động xác định theo thời gian (dao động thời vụ)người ta sử dụng biểu đồ rađian: khép kín và xoắn ốc. Trong biểu đồ khép kín để thể hiện chu kỳ biến động trong năm (hoặc ngày) người ta chọn gốc để tính toán là tâm đường tròn, còn trong biểu đồ đường xoắn ốc thì chọn tâm của hình xoắn ốc, điều này cho phép biểu diễn chu kỳ trong cho một dãy các năm (tháng mười hai được bắt đầu từ tháng giêng năm trước)
Trong việc xây dựng biểu đồ khép kín mức độ trung bình tháng (hoặc giờ) của chỉ tiêu được tính như bán kính, đường tròn được chia thành 12 (24) phần và trong sự tương ứng (tăng giảm từng tháng/giờ) với tỷ lệ trên mỗi đường kính ta đánh dấu các mức bình quân tháng (giờ). Nối các dấu này lại, nó này tạo nên giới hạn của của một đường khép kín. Xem hai biểu đồ sau:
Hai biểu đồ khép kín trên cho thấy sự không đồng đều của tải trọng tại Đài 1080 theo giờ trong ngày và tháng trong năm, mức dao động này phụ thuộc vào nhu cầu của người sử dụng theo giờ làm việc và thời vụ trong năm. Biết được quy luật này việc lập kế hoạch công suất sản xuất và sắp xếp lao động trong doanh nghiệp sẽ tốt hơn.
Ưu điểm của biểu đồ khép kín trên cho thấy rõ sự biến động trong một chu kỳ nhưng không thấy rõ tải trọng mức độ thấp cao nhất và thấp nhất bằng đồ thị gấp khúc. Nhưng đồ thị gấp khúc lại không khép kín, không biểu hiện rõ tính chu kỳ. Vì vậy biểu diễn sự biến động tải trọng theo chu kỳ cũng có thể dùng đồ thị gấp khúc:
Đồ thị hình cột là biểu đồ so sánh được sử dụng phổ biến nhất. Biểu đồ hình cột thể hiện số liệu thống kê dưới dạng hình chữ nhật (phẳng hoặc hình khối) với cùng một độ rộng, chúng được xếp thẳng đứng, chiều dài (độ cao) của chúng tỷ lệ với mức độ của các giá trị cần biểu diễn. Điểm đặc biệt của biểu đồ dạng này là các chỉ tiêu so sánh phải cùng đơn vị tính.
Xây dựng biểu đồ hình cột bắt đầu từ các đường cơ sở. Bên trái đường cơ sở theo chiều đứng đánh dấu các thang tỷ lệ, chúng bao trùm toàn bộ phạm vi số liệu cần biểu diễn. Trên đường cơ sở đặt các đoạn cùng độdài làm gốc cho các cột. Ở điểm cuối các đoạn này xây dựng các cột đứng, chiều cao của chúng theo tỷ lệ đặc trưng cho độ lớn các gía trị biểu diễn. Thông thường các cột được tô nền bằng các đường không liền nét, bên trong hoặc trên đỉnh cột đặt các số liệu tương ứng.
Biểu đồ cột dùng để so sánh các giá trị như tốc độ phát triển, cơ cấu của hiện tượng của cùng một tổng thể trên cùng một đồ thị.
Biểu đồ cột thích hợp cho việc biểu diễn số liệu chỉ trong 2 3 năm. Trong trường hợp này nếu thể hiện bằng biểu đồ gấp khúc sẽ không thấy rõ đặc điểm của hiện tượng. Nhưng biểu đồ cột lại không thích hợp khi số liệu quá nhiều (ví dụ dãy số đến 15 năm), nó sẽ rất cồng kềnh, khi đó nên chuyển sang biểu đồ gấp khúc.
Ví dụ:
1. Tình hình phát triển thuê bao viễn thông (điện thoại và internet) trong quý 1 năm 2005 được biểu bằng biểu đồ cột sau (a5*):
2. Biểu đồ chi phí sản xuất sản xuất theo các phân ngành bưu chính viễn thông (a6*):
Các cột ở đồ thị (a5*) cho thấy sự phát triển của mật độ điện thoại và mật độ thuê bao internet trên 100 dân trong quý I năm 2005. Các cột hình khối trong biểu đồ (a6*) cho thấy mức chi phí sản xuất dịch vụ và sự biến động của nó cho từng phân ngành bưu chính, viễn thông và phát hành báo chí trong hai năm. Các đồ thị này đều so sánh sự biến động của các chỉ tiêu.
Một dạng khác của biểu đồ cột là biểu đồ dải băng, cực tính và định hướng. Ví dụ:
Biểu đồ (a7*)
Biểu đồ (a8*)
Phương pháp xây dựng đồ thị so sánh là sử dụng các đường nét hình học, hình ảnh, và ký hiệu theo nguyên tắc: tỷ lệ độ lớn của chúng phải tương ứng với các số liệu thống kê, còn hình ảnh của chúng thì phù hợp với nội dung của hiện tượng. Ví dụ:
Hình (a8*) Tình hình phát triển máy điện thoại cố định và di động trong giai đoạn 1996 1999:
Hiện nay dạng đồ thị hình ảnh như đồ thị (a8*) rất thường được sử dụng, tuy nhiên khi vẽ chúng cần chú ý đến tỷ lệ giữa các số liệu và sự phóng to của hình vẽ: Nếu số liệu Ytương ứng với hình vẽ phẳng B(hình vuông, tròn, chữ nhật) gấp hai lần sốX tương ứng với hình phẳng A thì khi vẽA và B:
-Nếu B là hình vuông có cạnh =1 đơn vị thì ta vẽ cạnh củaA gấp lần cạnh B chứ không vẽ cạnh của A = 2 đơn vị vì các hình phẳng sẽ được biểu diễn tỷ lệ với nhau theo diện tích.
-Nếu B là hình tròn có đường kính = 1 đơn vị thì ta vẽ đường kính củaA gấp lần đường kính của B.
Nếu các hình vẽ là hình khối thì tỷ lệ giữa chúng sẽ được tính theo thể tích tương ứng với các số liệu thống kê.
Một phương pháp đồ thị hình ảnh khác cũng tuân theo quy luật tỷ lệ giữa các hìnhnhư trên đó là: vẽ một hình với một tỷ lệ cố định tương ứng với một số liệu nhất định Z, các số liệu thống kê cần biểu diễn gấp n lần Z thì vẽ n hình tương ứng. Ví dụ: Số thư EMS đi trong nước tại thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1996 đến 1998 là: 1996 282.921 cái; 1997 410.252 cái; 1998 582.725 cái. Nếu ta chọn tỷ lệ: 1 hình vẽ bao thư tương đương với 100.000 bức thư để biểu diễn đồ thị thì đồ thị được thể hiện như sau:
Biểu đồ biến động thư EMS với 1 bao thư = 100.000 thư EMS
Để biểu diễn thành phần của hiện tượng theo giá trị tuyệt đối và tương đối có thể dùng biểu đồ cơ cấu cột (hình chữ nhật phẳng hoặc khối), biểu đồ cơ cấu tròn (phẳng hoặc khối). Ví dụ:
Bảng số liệu
Trong biểu diễn cơ cấu bằng biểu đồ cột diện tích các cột sẽ tỷ lệ với số lượng của tổng thể. Biểu đồ cơ cấu hình cột được cắt ra theo chiều cao thành các hình chữ nhật tỷ lệ với từng bộ phận trong tổng thể. Trong hai biểu đồ trên biểu đồ bên trái chỉ thể hiện tỷ trọng của từng phân ngành trong tổng thể chứ không cho thấy độ lớn của giá trị tuyệt đối trong từng ngành bưu chính hoặc viễn thông. Đồ thị bên phải vừa cho thấy tỷ trọng từng phân ngành đồng thời cho thấy giá trị tuyệt đối từng phân ngành qua các năm đều tăng.
Một dạng biểu đồ khác để biểu diễn cơ cấu là biều đồ quạt. Đó là một hình tròn được chia ra các cánh quạt, diện tích của mỗi cánh quạt tỷ lệ với từng phần hiện tượng cần biểu hiện. Để xây dựng biểu đồ quạt tròn cần chia hình tròn theo độ. Bởi vì 1% tương đương 3,6 độ (360/100 = 3,6) nên các chỉ tiêu kết cấu khi biểu diễn sẽ nhân với 3,6 để xác định góc của cánh quạt. Tuy nhiên nếu vẽ biểu đồ này trên máy tính thì không phải khó khăn trong việc chia độ cho cánh quạt vì tương ứng với các số liệu nhập vào máy tính sẽ tự chia độ. Biểu đồ quạt chỉ nên sử dụng khi kết cấu giữa các bộ phận trong tổng thể có giá trị tương đối lớn và chênh lệch nhau nhiều, nếu chệnh lệch giữa chúng quá nhỏ nên dùng biểu đồ cột mới thấy rõ về cơ cấu của hiện tượng. Ví dụ: Số liệu ởbiều đồ cột trên nếu vẽ theo biểu đồ quạt sẽ có hình sau:
Biểu diễn cơ cấu của một tổng thể có nhiều bộ phận nên dùng biểu đồ quạt khối (hình trụ) sẽ giúp nhìn rõ hơn. Ví dụ:
Để biểu diễn các số liệu thống kê gắn liền với lãnh thổ người ta dùng biểu đồ bản đồ.
Biểu đồ bản đồ thể hiện mật độ theo một tiêu thức nào đó. Để xây dựng biểu đồ bản đồ trước hết cần tính các giá trị mật độtrên một đơn vị lãnh thổ (quận, tỉnh, thành phố, quốc gia) theo tỷ lệ diện tích hoặc số dân cư, ví dụ: mật độ điện thoại số máy điện thoại trên 100 dân hoặc số máy điện thoại trên 1km2; mật độ doanh nghiệp Bưu điện trên 100km2 v.v . Mật độ này sẽ được biểu hiện bằng việc tô màu khác nhau trên các vùng (hoặc các kẻ sọc hay chấm đậm nhạt pattern).
Một dạng khác của biểu đồ bản đồ là trên bản đồ theo từng vùng vẽ các biểu đồ cột, hình ảnh, kích thước của chúng sẽ phản ánh các giá trị thống kê tuyệt đối: số máy điện thoại của một tỉnh, số máy telex, số thuê bao internet v.v Ví dụ:
Như vậy, bảng thống kê giúp trình bày cô đọng các số liệu của hiện tượng nghiên cứu dưới dạng số hữu tỷ, còn đồ thị thống kê cho chúng ta hình dung về mối quan hệ giữa các chỉ tiêu, tốc độ phát triển của hiện tượng, của các quá trình kinh tế xã hội và các quy luật phân bố của các hiện tượng nghiên cứu một cách rõ ràng và dễ hiểu hơn.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét