Vọng cổ
Đàn và ca vọng cổ là điệu phổ thông và được thưởng thức nhất ở miền Nam sau này cho đến nổi mà đối với một số người Bắc mới vào Nam và có một số người Nam thế hệ trẻ, cổ nhạc miền Nam là vọng cổ và chỉ có vọng cổ. Kỳ thực thì cổ nhạc miền Nam có nhiều bài cùng điệu vọng cổ (điệu oán) mà hay hơn vọng cổ rất nhiều như các bài Tứ đại, Văn thiên Tường, hay là Trường tương tư, nhưng các bài ấy vì khó đàn khó ca nên sau này bị lãng quên mà chỉ còn có vọng cổ được tồn tại phổ thông vì dễ đàn và dễ ca.
1. Lịch sử :
Một số người Nam cho rằng vọng cổ phát xuất từ người Chàm ở miền Nam Trung phần (nhớ tiếc thuở xa xưa). Nhưng thuyết ấy không có chứng minh. Dù sao, đến cuối thập niên 1920, hồi thời ” máy hát quay tay hiệu con chó có cái loa ” (La voix de son maitre), thời dĩa hát hiệu ” con gà ” của hãng ” Pathé “, hồi đời ” Thầy Năm Tú ở tại Mỹ Tho “, đời mà khi diễn xong một tuồng hát, thì toàn ban ra trước sân khấu hát bài ” Ma-Đờ-Long ” (Madelon) để từ giã, thì trong Nam đã có bản nhạc ” vọng cổ hoài lang “, 20 câu, mỗi câu có 4 nhịp ; đến đầu thập niên 30, lối năm 1935, 36, thì có nhóm nhạc sĩ ở Bạc Liêu đàn bản vọng cổ này mà kéo dài ra mỗi câu có lẽ 16 nhịp, nên lúc ấy trong Nam gọi là ” vọng cổ Bạc Liêu ” (hay là vọng cổ nhịp 16). Kể từ đó và suốt hết thập niên 40 là ” thời kỳ vàng son ” của vọng cổ với trọn 20 câu, mỗi câu có 16 nhịp, với các nghệ sĩ lừng danh trong cả Nam kỳ như các nhạc sĩ Sáu Tửng (đàn kìm), Chín Kỳ (đàn tranh), Hai Phát (đàn cò), các nam ca sĩ Năm Châu và Bảy Nhiêu, các nữ ca sĩ Cô Hai Đá, cô Ba Bến Tre, cô Tư Sạng, và nhất là cô Năm Phỉ (trong tuồng cải lương ” Xử Án Bàng Quý Phi “). Các nhạc sĩ và ca sĩ trên còn đàn và ca được những bài Oán khác như Tứ Đại, Văn Thiên Tường, và trường Tương Tư).
Đến những thập niên 1950, 1960, tân nhạc Việt Nam theo lối nhạc Tây phương tràn ngập vào miền Nam và cổ nhạc miền Nam, nhất là những bản nhạc khó đàn và khó ca, bị lu mờ dần rồi bị lãng quên hẳn, chỉ còn có vọng cổ, rút ngắn lại còn có sáu (6) câu đầu, với nam ca sĩ ” ăn khách ” nhất là ông Út Trà Ôn, và nữ ca sĩ ” ăn khách ” nhất là cô Thanh Nga.
2. Nghe đàn và ca sáu (6) câu vọng cổ.
Khởi đầu cuộc trình diễn thì các nhạc sĩ ” Rao ” (rao điệu Oán : xem ở đoạn trước). Rao một lúc thì ca sĩ bắt đầu ” nói lối ” trong lúc nhạc sĩ vẫn rao ; khi nói lối gần xong thì nhạc sĩ ngừng rao, chờ cho ca sĩ xuống giọng để vô nhịp Hò đầu (của câu 1) thì nhạc sĩ ” bắt ” nốt Hò đó để vào bản nhạc và tiếp tục đàn luôn. (Thường thường nếu ca sĩ xuống giọng để ” vào nhịp Hò ” ấy mà nghe êm tai, mùi mẫn lại ăn khớp với tiếng đàn ” bắt ” nốt Hò đó thì khán giả vỗ tay rầm rầm).
Ca đến hết câu 1 thì ” xuống nhịp Cống “, cho nên bài ca vọng cổ nào chữ cuối cùng của câu 1 cũng là một chữ có dấu sắc, hoặc có khi dấu hỏi hay dấu ngã, mới ” ăn ” với nốt ” Côôống)
Cuối câu 2 thì ” xuống nhịp Xang “, cho nên bài ca vọng cổ nào chữ cuối cùng của câu 2 cũng là một chữ không dấu mới ” ăn ” với nốt Xàãang. (miễn cưỡng lắm mới dùng chữ có dấu huyền thì phải đọc lờ đờ như là không dấu).
Câu 3 và câu 4 đều ” xuống nhịp Hò ” thì bài ca thường thường cuối câu 3 và cuối câu 4 là một chữ có dấu huyền mới ” ăn ” với nốt Hò (miễn cưỡng lắm mới dùng một chữ không dấu).
Cuối câu 5 thì ” xuống nhịp Xề ” nên trong bài ca chữ cuối của câu 5 nhất định phải là một chữ có dấu huyền, mà đọc phải gằng giọng và kéo dài để cho “ăn” với nốt ” Xềêê “.
Cuối câu 6 thì xuống nhịp Hò (như 3 và 4) mà phải đọc nhẹ để chấm dứt bài ca cho êm tai.
Hồi xưa nếu còn tiếp tục ca nữa thì đặc biệt đến câu 9, xuống nhịp ” Xự “, thì trong bài ca chữ cuối cùng của câu 9 phải là một chữ có dấu nặng mới ” ăn ” với nốt ” Xưựư “.
Trong suốt thời gian đàn và ca thì có một nhạc sĩ vừa đàn vừa ” cầm canh ” nghĩa là giữ nhịp cụ để ” chấm nhịp ” thì phải gõ nhịp nghe một tiếng ” cóc ” ở nhịp thứ 12 và nhịp thứ 16 của mỗi câu (trừ câu 1 thường thường chỉ có 12 nhịp, vì cho rằng ” Rao ” đã mất hết 4 nhịp, nên phải gõ nhịp ở nhịp 8 và 12).
Đến câu 6, ở nhịp thứ 12 thì phải gõ vào nhịp cụ hai lần (nghe cóc cóc) để báo hiệu rằng còn 4 nhịp nữa hết câu thì sẽ stop, ngưng đàn và ca. Thì nhạc sĩ bắt đầu đàn lơi lơi và chậm lại dần (theo nhạc Tây phương là Rall hay Rallentando) và ca cũng hơi chậm chậm lại cho đến cuối câu nghe nhịp một cái ” cóc ” nữa là ngưng đàn và ca. Hồi xưa khi còn đàn và ca vọng cổ đủ cả 20 câu, thì đến đây không nghe nhịp hai cái cóc cóc thì nhạc sĩ và ca sĩ không đàn và ca chậm lại và hết câu 6 thì đi luôn qua câu 7.
Sau này còn có cái lối không đàn và ca luôn hết sáu câu, mà đến hết câu 3 thì :
- Hoặc ngừng rồi rao, nói lối, rồi xuống giọng để trở vô nhịp Hò đầu của câu 4, rồi đàn và ca luôn đến hết câu 6 ;
- Hoặc ngừng rồi rao, ca đệm vài câu của bản ” Xuân Tình ” hay bản ” Chuồn Chuồn ” rồi nói lối và xuống giọng để vô nhịp Hò đầu của câu 4 rồi đàn và ca luôn đến hết câu 6. Trên đây là những điều cơ bản có thể nói những "quy luật" khi sang tác và ca một bài ca vọng cổ. Tỷ như khi ca sĩ khi xuống giọng bắt nốt "Hò" mà "mùi" thì khán giả vỗ tay tán thưởng, mà nếu có không được mùi lắm thì cũng vỗ tay khích lệ. Điều này làm cho vọng cổ có sức hấp dẫn đặc biệt. Khi đã nghe quen rồi, mình biết được ca sĩ ca tới câu nào, câu nào, sắp xuống nhịp nào, và nhất là lắng nghe xem ca sĩ xuống nhịp có "ăn" không. Để minh họa, tôi xin gửi các bạn bản vọng cổ " Bạch Thu Hà" của soạn giả Viễn Châu. Xin nói thêm là nếu ở thể loại Tân Cổ giao duyên thì thay vì Nói bằng các câu thơ như đã nói ở trên, nhạc sĩ có thể sáng tác vài đoạn tân nhạc, hay mượn vài câu của một bài tân nhạc nào đó. Võ Đông Sơ, Bạch Thu Hà là hai bản vọng cổ rất nổi tiếng của Viễn Châu, tôi có Bản Võ Đông Sơ do Nghệ sĩ Minh Cảnh ca, còn Bạch Thu Hà thì Lệ Thủy ca. Tiếc là do quy định diễn đàn không gửi File Media, chứ các bạn nghe bản Bạch Thu Hà do Lệ Thủy ca vào những năm sáu mấy, bảy mươi thì thiệt là cầm lòng không đậu.
Bạch Thu Hà
Tân nhạc :
Trong khói hương mơ màng tung bay
Đêm tóc tang u buồn nhớ ai
Nửa chừng duyên kiếp chia phôi
Ai đi cách mấy phương trời
Duyên trúc mai vĩnh viễn xa rồi.
Ai biết đâu một lần chia tay
Riêng thiếp cam chịu nhiều đắng cay
Mối sầu bao thuở cho nguôi
Ly tan nhớ tiếc muôn đời
Bao đắng cay than chẳng nên lời.
Câu 1 :
Lối : Võ lang ơi đôi ngã sâm thương uyên ương rã cánh, thiếp đành cam gãy gánh chung … tình. (HÒ)
Gió kép mưa đơn, thiếp thui thủi một mình. (HÒ)
Chàng hy sinh đền ơn xã tắc
Thiếp nghẹn ngào tím ruột bầm gan. (XÊ)
Rảo bước theo đám quân canh đến trước tùng đình
Thiếp ngập ngừng chưa dám bước vào trong. (XANG)
Bởi thiếp đây đâu dám ngờ rằng
Võ đông Sơ đã ra người thiên cổ. (CỐNG)
Câu 2 :
Đàn đứt dây rồi phím đã long
Làm sao dạo được bản tương phùng. (HÒ)
Thiếp gởi niềm đau theo giọt lệ ly tình. (HÒ)
Trống thành tây mấy dùi khoan nhặt
Lòng thiếp hãi hùng như tiếng trống tàn canh. (XÊ)
Bẽ bàng thay tuổi đầu xanh
Đầu xanh vương lấy nợ tình mà chi. (XANG)
Để rồi chịu cảnh chia ly
Một buổi phân kỳ lệ hận trào tuông. (XANG)
Nói:
Lỡ giấc mơ tình giữa tuổi xuân
Lầm than gió bụi biết bao lần
Thiên thu điệp mộng hồn trinh nữ
Vạn cổ tình hoài vọng cố nhân
Câu 4 :
Lối : Thiếp muốn xé tan áng mây trên tầng cao diệu vợi, để hỏi thử cao xanh ông ghét ghen chi mà để tội kẻ chương … đài. (HÒ)
Một kiếp quần thoa lận đận biết bao ngày. (HÒ)
Nhưng mảnh kiên trinh thiếp nguyền vẹn giữ
Cho trọn lời đoan thệ cùng ai. (XÊ)
Thôi rồi đá nát vàng phai
Cầu Ô lỡ nhịp mộng đời dở dang. (XANG)
Nhìn lên trướng rủ màu tang
Chàng đi để thiếp khóc than một mình. (HÒ)
Câu 5 :
Ánh nguyệt mới nhô lên đã bị phủ che bởi vầng mây xám.
Cũng như đời thiếp vừa thoát cơn khổ nạn
Đã đành cam vắng bạn chung tình. (HÒ)
Quấn mảnh khăn tang thiếp quỳ trước tùng đình. (HÒ)
Chàng ra đi muôn đời không trở lại
Chén rượu đào thiếp đưa tiễn ai đây. (XÊ)
Rượu sanh ly dưới làn hương khói
Trước linh sàng thiếp thổn thức từng cơn. (XANG)
Rượu đôi chung, lễ người thiên cổ
Tiễn đưa ai đi mãi không về. (XỀ)
Câu 6
Võ lang, Võ lang,
Trời ơi thiếp đã gào lên mấy lượt
Sao chàng vẫn im lìm trong cỗ áo quan. (CỐNG)
Bạch lạp lờ mờ như đổ lệ sầu than
Như khóc cho đời thiếp bẽ bàng duyên hương lửa. (XANG)
Lời đoan thệ đã bay theo ngọn gió
Thì còn tiếc chi thân của Bạch Thu Hà. (XỀ)
Võ lang ôi, thiếp mượn lưỡi báu đao phủi rồi nợ thế. (XANG)
Để nơi miền âm cảnh, Bạch Thu Hà hội ngộ Võ đông Sơ. (HÒ)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét