Thông tin về ebook:
Tên sách: Đubrôpxki
Tác giả: Alecxandre Puskin
Dịch giả: Cao Xuân Hạo
Nguồn: http://cinet.gov.vn/
Kiểm tra và thực hiện ebook: BeforeTheWinter
Ngà y hoà n thà nh: 24/04/2007
MỤC LỤC
a>TẬP THỨ NHẤT
a>Chương I
Mấy năm trước đây có một lão lãnh chúa Nga tên là Kirila PêtơrôvÃch Tơrôiêkurốp, sống tại một trong những điền trang của lão. Nhờ có lắm của, lại dòng dõi quý phái và thường giao thiệp với nhiều kẻ quyền cao chức trọng, nên Tơrôiêkurốp có một uy thế lớn đối với bọn quan lại ở trong vùng. Những người láng giềng của Tơrôiêkurốp đều vui mừng chiều theo những ý thÃch nhỏ nhặt nhất của lão, và bọn quan chức ở trên tỉnh chỉ nghe đến tên lão thôi cũng đủ run sợ; Kirila PêtơrôvÃch chấp nhận những cử chỉ luồn cúi của mọi người như một điều tất nhiên phải có đối với lão; nhà lão lúc nà o cũng đầy những khách khứa sẵn sà ng mua vui cho cảnh sống vô công rồi nghề của chủ nhân, hưởng ứng những trò giải trà ồn à o và đôi khi thô bạo của lão. Không có ai lại dám từ chối một lời mời của Kirila PêtơrôvÃch; đến ngà y lão đã định thì mọi người đều răm rắp kéo đến ấ Pôkrốpxcôiê với thái độ thà nh kÃnh đúng mức. Trong sinh hoạt hà ng ngà y ở nhà , Kirila PêtơrôvÃch tỏ ra có tất cả những thói quen xấu của một kẻ vô học. Được mọi người ở chung quanh chiều chuộng, lão thường quen được thả lỏng cho cái tÃnh khà hung hãn của mình hoà nh hà nh, và là m theo tất cả những ý thÃch của một trà óc không lấy gì là m thông minh cho lắm. Mặc dù có một sức khoẻ phi thường, tuần nà o lão cũng đôi ba lần bị bội thực, và hễ cứ đến t�! ��i là người ta thấy lão chuếnh choáng hơi men.
Một trong những ngôi nhà phụ trong ấp của lão được dà nh riêng cho mười sáu cô hầu gái, ngà y ngà y chăm việc thêu thùa vốn là nghề riêng của giới họ. Các cửa sổ của ngôi nhà nà y đều có chấn song bằng gỗ, cửa ra và o đều khoá bằng ổ khoá, mà chìa khoá thì Kirila PêtơrôvÃch giữ. Cứ đến giờ đã định, những người con gái bị cấm cung nà y được xuống vườn đi dạo với hai bà già có nhiệm vụ kiểm soát họ. Lâu lâu Kirila PêtơrôvÃch lại cho và i cô đi lấy chồng và đưa mấy cô khác và o thay. Đối với nông dân và gia nô lão cư xử rất khắc nghiệt và lại hay dở chứng; tuy vậy, họ rất tận tuỵ với chủ: họ thường dựa và o của cải và danh vọng của lão để lên mặt, và ỷ và o sự che chở của lão để tha hồ bắt nạt những người láng giềng.
Những công việc thường xuyên xưa nay của Tơrôiêkurốp là đi thăm những điền trang rộng lớn của lão, bà y ra những bữa tiệc linh đình và dai dẳng, hà ng ngà y nghĩ ra những trò đùa kỳ quặc mà nạn nhân là một người khách mới quen nà o đấy. Nhưng ngay cả các ông bạn cũ đôi khi cũng không thoát khỏi những trò đùa nà y, trừ một người là Anđrây GavrilôvÃch Đubrốpxki. Ã"ng Đubrốpxki nà y là một viên trung uý cận vệ về hưu, và là người láng giềng gần gũi nhất của Tơrôiêkurốp. Ã"ng ta có cả thảy bảy mươi nông nô. Tơrôiêkurốp vốn hống hách với mọi người, ngay cả với những người quyền cao chức trọng cũng vậy, nhưng đối với Đubrốpxki thì lại kÃnh nể, mặc dù ông nà y chẳng có địa vị hay của cải gì đáng kể. Ngà y trước họ là bạn đồng ngũ với nhau, và Tơrôiêkurốp hồi ấy đã từng có dịpiết rõ cái tÃnh cương trực và quả quyết của ông bạn. Hoà n cảnh khiến cho họ phải xa nhau một thời gian khá lâu. Vì gia tà i gần khánh kiệt, Đubrốpxki buộc lòng phải về hưu. Ã"ng ta về ở trong thôn ấp cuối cùng còn lại của mình. Tơrôiêkurốp biết tin nà y liền ngỏ ý muốn giúp đỡ cho Đubrốpxki, nhưng Đubrốpxki cảm tạ lão ta và tiếp tục sống nghèo nà n và độc lập như cũ. Mấy năm sau, Tơrôiêkurốp cũng về hưu với cấp bậc tướng. Khi lão trở về ở hẳn trên ấp trại của mình, hai người bạn cũ gặp nhau tay bắt mặt mừng. Từ dạo đó ngà y nà o họ cũng đến thăm nhau, vÃ�! � Tơrôiêkurốp, một người xưa nay vốn không bao giờ hạ mình xuống đi thăm ai, bây giờ cũng xuề xoà quá bộ đến ngôi nhà bé nhỏ của ông bạn cũ. Vốn cùng một lứa tuổi, lại đều là dòng dõi quý phái, cùng chịu một lối giáo dục như nhau, họ có nhiều chỗ hợp nhau về tÃnh tình và sở thÃch. Về một phương diện nà o đó thì cuộc đời của hai người cũng có chỗ giống nhau; cả hai đều cưới vợ vì tình yêu, cả hai đều goá vợ sớm, và cùng rơi và o cảnh gà trống nuôi con. Người con trai của Đubrốpxki đi học ở Pêterburg, còn con gái của Tơrôiêkurốp thì ở nhà với bố. Tơrôiêkurốp thường nói với Đubrốpxki: âBác Anđrây GavrilôvÃch nà y, khi thằng Vôlôđia (cách gọi thân mật tên Vlađimia) nhà bác ăn học thà nh đạt, thế nà o tôi cũng gả con Masa (cách gọi thân mật tên Maria) cho, dù nó có nghèo rớt mồng tơi đi nữaâ. Những lúc đó Anđrây GavrilôvÃch thường lắc đầu mà rằng: âKhông được đâu bác Kirila PêtơrôvÃch ạ. Thằng Vlađimia nhà tôi chẳng xứng với cô Maria đâu. Một thanh niên quý tộc nhà nghèo như nó thì thà lấy một thiếu nữ quý tộc nhà nghèo, mà được là m ông chủ trong nhà nà y, còn hơn là về là m quản lý cho một bà con cưng nhà già uâ.
Mọi người đều lấy là m thèm muốn cái không khà hoà thuận giữa lão Tơrôiêkurốp hống hách và người láng giềng nghèo của lão, và đều lấy là m lạ về cái thái độ cả gan của ông nà y, khi ngồi ăn cùng bà n với Tơrôiêkurốp lại dám nói thẳng ý kiến của mình ra, không hề sợ trái ý chủ nhân. Có mấy người cũng muốn bắt chước là m như vậy, và vượt ra ngoà i khuôn khổ vâng dạ một tý, nhưng Tơrôiêkurốp lại lập tức cho họ biết thân biết phận, là m cho họ thất kinh đến nỗi từ đó về sau, không còn ai dám phạm thượng như vậy nữa, và Đubrốpxki vẫn là một người độc nhất ở bên ngoà i luật chung. Một việc đột ngột xảy ra là m thay đổi tất cả.
Một hôm và o đầu mùa thu Tơrôiêkurốp soạn sửa đi săn. Từ hôm trước lão đã ra lệnh cho bọn chăn chó và bọn giám mã chuẩn bị sẵn sà ng từ năm giờ sáng. Lều vải và bếp núc đều được đưa trước ra chỗ Torôiêkurốp sẽ nghỉ ăn trưa. Chủ và khách kéo nhau ra thăm sân nuôi chó. Ở đây có hơn năm trăm con chó săn sống một cuộc đời no ấm, ngà y ngà y ca ngợi lòng bao dung của chủ nhân bằng cái ngôn ngữ chó má của chúng. Ở đây có cả một nhà thương nhỏ cho chó ốm dưới quyền trông nom của thầy lang Timôsca, và có một nơi dà nh cho những con chó cái quý phái của nhà nà y đẻ và cho con bú. Tơrôiêkurốp rất lấy là m hãnh diện về cái chÃnh nghiệp tuyệt vời nà y, và không bao giờ để lỡ cơ hội đem khoe với khách khứa, mặc dù trong số những người nà y mỗi người đã xem đến và i chục lần là Ãt. Lão dẫn khách đi quanh sân, theo sau có Timôsca và bọn giữ chó; thỉnh thoảng lão dừng lại trước một và i ổ chó nà o đó, khi thì hỏi han về tình trạng sức khoẻ của chó ốm, khi thì đưa ra và i điều nhận xét nghiêm nghị và công minh, khi thì gọi một và i con chó quen thuộc đến và nói chuyện với chúng một cách âu yếm. Các tân khách đều nhận thấy có nhiệm vụ tấm tắc thán phục cái sân nuôi chó của Tơrôiêkurốp; riêng chỉ có một mình Đubrốpxki lặng thinh, vẻ mặt lầm lầm. Ã"ng là một người rất ham mê săn bắn. Hoà n cảnh của ông chỉ cho phép ông ! nuôi dăm bảy con chó săn; ông không khỏi thấy ganh tỵ với cái sân nuôi chó thật là hoà n hảo nà y. Tơrôiêkurốp thấy vậy liền lên tiếng hỏi:
- Sao trông bác không được vui? Hay là sân nuôi chó của tôi có chỗ còn chưa là m bác hà i lòng?
Đubrốpxki đáp xẵng:
- Không, sân nuôi chó của bác rất tốt, nông dân nhà bác cũng khó lòng mà có được một đời sống sung sướng như chó săn ở đ
Một tên giữ chó chạnh lòng. Hắn nói:
- Chúng tôi nhờ ơn Thượng đế và nhờ ơn Chúa của chúng tôi đây nên sống cũng được sung túc, không hề than phiền điều gì; thật tình chỉ thương cho một và i nhà quý tộc: có lẽ họ dọn đến một cái chuồng chó ở đây mà ở thì hơn là ở nhà nhiều; họ nhất định sẽ được no ấm hơn.
Kirila PêtơrôvÃch nghe tên nông nô của mình ăn nói hỗn xược như vậy thì cười lên ha hả, và bao nhiêu khách khứa đều bật cười theo, tuy họ cũng cảm thấy rằng câu nói đùa kia rất có thể ám chỉ cả chÃnh bản thân họ nữa. Riêng Đubrốpxki thì tái mặt đi và lặng thinh.
Vừa lúc ấy người ta mang lại cho Tơrôiêkurốp một cái giỏ trong có mấy con chó con mới đẻ. Tơrôiêkurốp ngắm nghÃa một lúc, chọn lấy hai con còn bao nhiêu sai đem dìm nước. Trong khi đó Anđrây GavrilôvÃch lẫn đi mà không ai để ý.
Sau khi đi xem sân nuôi chó, Tơrôiêkurốp cùng với khách khứa trở về ăn bữa chiều, và đến lúc không thấy Đubrốpxki đâu, lão mới hỏi. Người ta trả lời rằng Anđrây GavrilôvÃch đã trở về nhà rồi. Tơrôiêkurốp lập tức sai người cưỡi ngựa đi mời ông trở lại. Xưa nay không bao giờ Tơrôiêkurốp lại đi săn mà không có Đubrốpxki là người có nhiều kinh nghiệm, biết đánh giá một cách tinh vi những cái hay cái dở của chó săn và có khả năng giải quyết tất cả những cuộc tranh cãi có thể xảy ra trong một cuộc săn bắn. Người đà y tớ được phái đi phi ngựa trở về báo với chủ rằng Anđrây GavrilôvÃch nhất định không chịu quay lại. Cũng như thường lệ, mỗi khi rượu say ngà ngà Tơrôiêkurốp nổi nóng lên và bắt người đầy tớ cưỡi ngựa đi mời lần nữa, dặn hắn nói với Anđrây GavrilôvÃch rằng hễ mà ông ta không lập tức đến ấp Pôkrốpxcôiê nghỉ lại đêm nay, thì Tơrôiêkurốp và Đubrốpxki từ nay trở đi không bạn không bạn bè gì nữa. Người đà y tớ lại phi ngựa đi. Tơrôiêkurốp đứng dậy cáo từ khách khứa và o đi ngủ.
Hôm sau câu hỏi đầu tiên của lão là : âAnđrây GavrilôvÃch có ở đây không?â Người ta liền đưa cho lão một bức thư xếp hình tam giác. Tơrôiêkurốp sai người thư ký đọc to lên và nghe được những điều sau đây:
âKirila PêtơrôvÃch tôn huynh các hạ,
Tôi không có ý định đến ấp Pôkrốpxcôiê nữa, cho tới khi nà o tôn huynh chịu cho tên giữ chó Paramôsca sang đây chịu tội và để tôi tuỳ ý trừng trị hay xá tội cho nó; chứ tôi không dung thứ được những câu đùa nhả của nông nô nhà tôn huynh, mà cũng không dung thứ được những câu đùa nhả của chÃnh tôn huynh nữa, vì tôi không phải là một thằng hề, mà là người của một dòng dõi quý tộc lâu đời. Nay kÃnh thư.
Anđrây Đubrốpxkiâ.
Theo quan niệm hồi đó thì bức thư nà y thật là không đúng phép xã giao, nhưng Tơrôiêkurốp nổi giận không phải vì giọng văn kỳ quặc ở trong thư, mà chÃnh là vì nội dung của bức thư. Tơrôiêkurốp chân không nhảy xuống đất, gầm lên:
- Gớm chưa! Cho người của ta sang bên ấy để chịu tội ư? Hắn muốn tha thì tha, muốn trị thì trị à ? Hắn nghĩ thế nà o mà dám nói như vậy? Hắn có biết rằng hắn đang nói với ai đây không? Ã"ng thì ông cho hắn⦠Rồi còn phải khóc với ông! Tưởng chống lại Tơrôiêkurốp nà y mà được à ?
Tơrôiêkurốp mặc áo và lên đường đi săn với tất cả những kiểu cách sang trọng như thường lệ, nhưng buổi săn không có kết quả gì. Cả ngà y chỉ gặp được một con thỏ, mà cũng để sổng mất. Buổi ăn trưa dưới lều vải cũng không ra gì, hoặc giả không vừa ý Tơrôiêkurốp: lão đánh đập đầu bếp, chửi bới khách khứa và trên đường về cố ý cưỡi ngựa băng qua đồng lúa của nhà Đubrốpxki
Đã mấy ngà y trôi qua mà mối hiềm khÃch giữa hai người láng giềng vẫn không dịu bớt. Anđrây GavrilôvÃch không trở lại ấp Pôkrốpxcôiê nữa. Tơrôiêkurốp không có ông ta thì thấy chán ngắt, bực mình văng cả những câu chửi rủa hết sức tục tằn. Những câu nà y được bọn khách khứa của Tơrôiêkurốp bổ sung và thêm thắt lên mà đến tai Đubrốpxki. Rồi một sự việc nữa xảy ra là m tiêu tan mọi hy vọng hoà giải.
Một hôm Đubrốpxki đi thăm khu điền trang nhỏ bé của mình. Đang đi lại gần khóm rừng bạch dương thì nghe có tiếng rìu và một lát sau nghe có tiếng cây đổ. Đubrốpxki vội đi và o rừng và chạm trán với mấy tên nông nô ở ấp Pôkrốpxcôiê đang điềm nhiên đẵn trộm gỗ nhà ông. Thấy Đubrốpxki đến, họ toan bỏ chạy. Đubrốpxki và người đánh xe của ông tóm được hai đứa, trói lại dẫn về nhà . Ba con ngựa của địch quân cũng được giữ lại là m chiến lợi phẩm. Đubrốpxki giận lắm: Trước đây người của Tơrôiêkurốp tuy vốn là những tay đầu trộm đuôi cướp, nhưng không bao giờ dám đụng đến địa phận nhà ông, vì họ biết rằng chúa của họ với ông là chỗ thân bằng cố hữu. Đubrốpxki thấy bây giờ họ đã lợi dụng mối hiềm khÃch giữa hai người để là m cà n, cho nên, trái với tất cả luật lệ thời chiến, ông quyết định mang hai người bị bắt ra và dùng chỗ roi bạch dương mà họ đẵn trộm trong rừng đánh cho họ một trận. Còn mấy con ngựa thì cho đi kéo cà y với bầy ngựa nhà .
Ngà y hôm ấy tin nà y đến tai Tơrôiêkurốp. Lão ta nổi giận đùng đùng, và toan kéo nông nô sang ấp Kixtênhốpca (đó là tên điền trang nhà Đubrốpxki) phá sạch tất cả và vây kÃn dinh thự Đubrốpxki lại – xưa nay Kirila PêtơrôvÃch chẳng e ngại gì mà không thực hiện những chiến công như vậy. Nhưng chẳng mấy chốc ý nghĩ của lão lại chuyển sang một hướng khác.
Đang bước những bước nặng trịch đi đi lại lại trong gian phòng lớn, Kirila PêtơrôvÃch tình cờ nhìn ra ngoà i cửa sổ và thấy một chiếc xe tam mã dừng lại ở trước cổng. Một người thấp bé đội một chiếc mũ lưỡi trai bằng da và mặc một chiếc áo choà ng bằng dạ thô xuống xe và đi và o gian nhà của viên quản lý. Tơrôiêkurốp nhận ra viên bồi thẩm Sabaskin và cho người gọi hắn và o. Một lúc sau Sabaskin đã đứng trước mặt lão, cúi chà o lia lịa và khúm núm đứng đợi lệnh. Tơrôiêkurốp nói:
- Chà o anh, anh tên là cái quái gì nhỉ? Đến đây có việc gì đấy?
- Bẩm quan lớn, con đi ra tỉnh đây ạ, – Sabaskin đáp. – Con ghé và o Ivan Đêmianốp để hỏi xem quan lớn có gì sai bảo không đấy ạ.
- Anh đến thật đúng lúc, anh⦠anh tên là cái quái gì nhỉ? Ta đang cần đến anh đây, nà o uống rượu đi, rồi nghe ta bảo!
Cách tiếp đãi ân cần như vậy là m cho viên bồi thẩm ngạc nhiên và sung sướng. Y từ chối không uống rượu và bắt đầu lấy hết sức bình sinh ra lắng tai nghe Tơrôiêkurốp nói.
- Tôi có một lão láng giềng, hắn là một tên tiểu địa chủ thô lậu, ta muốn chiếm khoảng đất của hắn. Anh thấy thế nà o?
- Bẩm quan lớn, giá có được một số giấy tờ nà o hoặc là â¦
- Thôi đi, là m chó gì có giấy tờ. Thế mới là lệnh cho nhà anh. Chẳng có quyền có hà nh gì hết, mà đoạt lấy điền trang ấy mới nên chuyện! Nhưng khoan, để ta xem⦠Cái điền trang nà y ngà y xưa là của nhà ta bán cho một tên XpÃtxưn nà o đó, rồi sau tên nà y bán cho bố tên Đubrốpxki ngà y nay. Liệu có thể vịn và o đấy được không?
- Bẩm khó lắm, có lẽ mua bán như vậy đều tiến hà nh một cách hợp pháp cả.
- Anh thử nghĩ xem, tìm nữa đi xem có cách gì không nà o?
- Giá m⦠và thử như quan lớn có cách gì lấy lại được văn tự bán đất ở như lão ta, thì cố nhiên là â¦
- Hiểu rồi, nhưng khốn nỗi, dạo trước bên nhà hắn có hoả hoạn, thế là giấy tờ cháy mất cả rồi còn đâu.
- Bẩm sao ạ? Bẩm, quan lớn dạy rằng giấy tờ của lão ta cháy cả rồi à ? Thế còn gì hơn nữa – nếu vậy xin quan lớn cứ hà nh động theo đúng pháp luật, thì thế nà o cũng được như ý thôi ạ.
- Thật hả? Thế thì anh xem hộ nhé. Ta trông mong cả và o anh đấy, và thế nà o ta cũng hậu thưởng cho nghe!
Sabaskin cúi rạp xuống gần sát đất, rồi lui ra. Ngà y hôm đó hắn bắt đầu chạy chọt để lo liệu công việc và nhờ tà i xoay xở của hắn, khoảng chừng một tuần sau Anđrây GavrilôvÃch Đubrốpxki nhận được trát trên huyện gửi về yêu cầu ông phải lập tức đệ trình những giấy tờ cần thiết để là m bằng là ông có quyền chiếm hữu đất Kixtênhốpca.
Anđrây GavrilôvÃch rất kinh ngạc trước cái trát đột ngột đó và lập tức viết một bức thư khá lỗ mãng trả lời rằng thôn Kixtênhốpca là do cụ cố thân sinh của ông để lại, rằng quyền chiếm hữu của ông là quyền thừa hưởng gia tà i của cha, rằng Tơrôiêkurốp không việc gì phải thò mõm và o đấy, và tất cả những sự dòm ngó qua điền trang của ông đều là vu khống và bịp bợm.
Bức thư nà y là m cho viên bồi thẩm Sabaskin rất hà i lòng. Y thấy rõ rằng thứ nhất là Đubrốpxki không am hiểu gì về việc kiện tụng, thứ hai nữa là một con người nóng nảy và thiếu đắn đo như vậy thì rất dễ cho và o tròng.
Sau khi đã xét lại một cách bình tĩnh các yêu sách của viên bồi thẩm, Anđrây GavrilôvÃch thấy cần phải trả lời sao cho thÃch hợp với hoà n cảnh hơn. Ã"ng bèn viết một lá thư khác xác đáng, nhưng do tÃnh thời gian mà bức thư nà y thà nh ra việu.
Vụ án cứ kéo dà i. Tin chắc và o lẽ phải của mình, Anđrây GavrilôvÃch không lo nghĩ gì mấy đến công việc kiện tụng, ông không hề có ý muốn, mà cũng không có khả năng vung tiền ra để lo liệu. Hơn ai hết, Đubrốpxki vẫn thường nhạo báng cái lương tâm có thể đem ra mua bán của bọn nha lại, nhưng ông không hề thoáng có ý nghĩ rằng mình đang là nạn nhân của một vụ vu khống. Về phÃa Tơrôiêkurốp thì lão ta cũng chẳng chú ý gì đến việc kiện tụng nà y – Sabaskin đã lãnh hết mọi trách nhiệm lo toan, lấy danh nghĩa của Tơrôiêkurốp mà hà nh động; hắn doạ nạt, mua chuộc các quan toà , xuyên tạc công văn nà y, vặn vẹo pháp lệnh kia. Dù sao thì đến ngà y mùng chÃn tháng Hai năm 18⦠Anđrây GavrilôvÃch Đubrốpxki cũng được phòng cảnh sát huyện N. chuyển cho một tờ giấy mời ra toà án huyện để nghe tuyên cáo về vụ tranh chấp đất đai giữa ông ta, tức trung tá Đubrốpxki, với tướng Tơrôiêkurốp, và để ký và o bản tuyên án, cho biết là đã chịu án, hay còn chống án. Ngay hôm đó Đubrốpxki lên huyện lỵ; dọc đường, xe của Tơrôiêkurốp vượt qua xe của Đubrốpxki. Họ vênh mặt nhìn nhau, và Đubrốpxki thoáng thấy một nụ cười nham hiểm nở trên môi kẻ thù.
Chương II
Lên đến huyện lỵ Anđrây GavrilôvÃch ghé và o một nhà buôn quen nghỉ lại đêm và sáng sớm hôm sau ra dự phiên toà . Không ai để ý đến ông ta cả. Một lát sau Kirila PêtơrôvÃch và o, mấy viên lục sự liền đứng dậy và cà i bút lông ngỗng lên và nh tai. Các viên chức trong toà đều khúm núm chà o mời, xÃch ghế bà nh lại cho lão ngồi để tỏ lòng thà nh kÃnh đối với danh vị, tuổi tác và dòng dõi của lão. Kirila PêtơrôvÃch ngồi bên mấy cái cửa mở, còn Anđrây GavrilôvÃch thì đứng dựa lưng và o tường. Trong phòng im phăng phắc, và viên thư ký lên giọng sang sảng bắt đầu đọc lời tuyên cáo của toà án.
Chúng tôi xin đăng toà n văn bản tuyên cáo sau đây, trộm nghĩ rằng có lẽ ai cũng sẵn lòng muốn biết một trong những phương tiện mà ở nước Nga nà y ngư̖ể dùng để tướt đoạt điền trang của một kẻ khác, mặc dù kẻ đó có quyền chiếm hữu hợp pháp đến đâu chăng nữa⦠(tiếp đó Puskin dẫn ra một bản tuyên án, một kiểu mẫu của lối văn khuôn sáo và có nhiều lỗi ngữ pháp trong các văn bản pháp lý hồi đó, mà chúng tôi không dịch lại ở đây. Bằng những lối nói lắp lửng đủ mọi kiểu về mặt pháp lý, bản tuyên án đã âchứng minhâ rằng Tơrôiêkurốp là người sở hữu hợp pháp điền trang của Đubrốpxki).
Viên thư ký đọc xong, viên bồi thẩm đứng dậy và cung kÃnh cúi chà o Tơrôiêkurốp một cái, rồi mời lão ký và o tờ giấy; Tơrôiêkurốp đắc chà vớ lấy bút và ký tên xuống phÃa dưới bản tuyên cáo của toà án để tỏ ý hoà n toà n tán đồng.
Tiếp theo đến lượt Đubrốpxki. Viên thư ký đưa tờ giấy cho ông. Nhưng Đubrốpxki cúi đầu xuống, đứng yên, bất động.
Viên thư ký lại một lần nữa mời Đubrốpxki ký và o bản tuyên án để cho biết là đã hoà n toà n và tuyệt đối tán đồng hoặc dứt khoát không tán đồng, nếu như vạn nhất ông thật sự cho mình là phải và có ý định khiếu nại lên những nơi có thẩm quyền trong những thời hạn đã được pháp luật quy định. Đubrốpxki vẫn lặng thinh⦠Bỗng ông ngẩng đầu lên, hai mắt sáng quắc. Ã"ng giẫm chân xuống đất, giơ tay gạt mạnh viên thư ký là m cho hắn ngã ngửa ra, rồi vớ lấy một lọ mực, ông ném thẳng và o mặt viên bồi thẩm. Mọi người đều kinh hãi. Đubrốpxki quát:
- Thế nà o! Bọn bay không kiêng nể gì nhà thờ Chúa cả sao? Cút ngay, phường vô lại!
Rồi quay sang phÃa Kirila PêtơrôvÃch, ông nói tiếp:
- Thưa ngà i, có đời thuở nà o bọn giữ chó lại dắt chó và o nhà thờ Chúa! Chó chạy khắp nhà thờ kia kìa. Tôi sẽ cho ngà i một bà i họcâ¦
Đội lÃnh gác nghe ồn à o cạy và o và chật vật lắm mới giữ nổi Đubrốpxki lại. Họ dẫn ông ra ngoà i và đặt ông ngồi lên xe trượt tuyết. Tơrôiêkurốp ra theo, và tất cả toà án cũng theo sau. Cơn điên đột ngột của Đubrốpxki là m cho trà tưởng tượng của Tơrôiêkurốp bị kÃch động mạnh và phá hỏng mất cái thú đắc thắng của lão.
Bọn quan lại trước đây vẫn mong được hậu tạ, nay không có lấy được một lời ôn tồn. Ngay hôm ấy Tơrôiêkurốp trở về Pôkrốpxcôiê. Trong khi đó Đubrốpxki vẫn mê man trên giường bệnh. Viên thầy thuốc ở huyện lỵ, may thay, cũng có biết đôi chút về thuốc men và đã kịp thời dùng đỉa và ruồi trâu để chÃch máu cho Đubrốpxki. Đến tối thì thấy đỡ, người ốm hồi tỉnh. Hôm sau người ta chở ông về thôn Kixtênhốpca; đất nà y bây giờ đã hầu như đã không phải là đất của ông nữa rồi.
Chương IIIfont>
Một thời gian đã qua, mà bệnh tình của Đubrốpxki vẫn không thuyên giảm. Những cơn điên quả nhiên không phát trở lại nữa, nhưng sức của ông cứ kiệt dần. Anđrây GavrilôvÃch quên hết những công việc trước đây thường phải là m, Ãt khi ra khỏi phòng và suốt ngà y đêm nằm suy nghĩ. Ãgôrốpna, một bà già hiền là nh trước kia nuôi đứa con trai của Đubrốpxki, bây giờ lại trở thà nh u già của ông ta. Bà chăm sóc Đubrốpxki như chăm một đứa trẻ, nhắc cho ông nhớ giờ ăn và giờ đi ngủ, cho ông ăn và dìu ông đi nằm. Anđrây GavrilôvÃch vâng lời u già một cách ngoan ngoãn và ngoà i u ra không còn tiếp xúc với ai nữa. Bấy giờ ông không còn đủ sức nghĩ đến công việc cai quản là m ăn gì nữa, nên u già Ãgôrốpna thấy cần phải báo tin cho con ông là Vlađimia AnđrêêvÃch Đubrốpxki biết mọi việc. Vlađimia tòng ngũ trong một trung đoà n bộ binh của quân cận vệ và bấy giờ đang ở Pêterburg. Thế là u già xé một tờ giấy trong quyển sổ chi tiêu ra và đọc cho người đầu bếp Kharitôn viết: Kharitôn là người biết chữ độc nhất trong nhà Kixtênhốpca. Bức thư viết xong, ngay hôm ấy u già cho mang ra trạm gửi
Nhưng đã đến lúc cần phải giới thiệu với độc giả nhân vật chÃnh của câu chuyện mà chúng tôi đang kể.
Vlađimia Đubrốpxki được ăn học trong một Trường thiếu sinh quân và ra trường với chức thiếu uý quân cận vệ. Anđrây GavrilôvÃch không hề tiếc một điều gì để cung cấp đầy đủ cho con, và chà ng Đubrốpxki trẻ tuổi nà y thường được nhà gửi cho nhiều tiền hơn là chà ng dám mong đợi. TÃnh vốn hà o phóng và hay sĩ diện, chà ng thường tiêu xà i sang trọng, đánh bà i và mắc nhiều công nợ. Chà ng không hề lo nghĩ đến tương lai và tÃnh chuyện không chóng thì chà y sẽ lấy một cô vợ già u: một ước mơ của thanh niên nghèo hồi đó.
Một buổi tối, ở nhà Vlađimia đang có mấy người sĩ quan đến chơi nằm dà i ra trên các ghế đi-văng hút thuốc lá thì Grisa, người hầu phòng của Vlađimia, và o đưa cho chà ng một bức thư. Nét chữ và dấu ấn trên phong bì lập tức là m cho chà ng chú ý. Chà ng hấp tấp xé phong bì ra và đọc thấy những dòng sau đây:
âCậu Vlađimia AnđrêêvÃch, chúa của chúng tôi, u già của cậu đây, có mấy lời để trình cậu rõ về sức khoẻ cụ thân sinh của cậu. Cụ nhà hiện nay mệt nặng, thỉnh thoảng lại mê sảng và cả ngà y ngồi thừ ra như đứa trẻ dại, có sống hay chết là do Chúa định đoạt cả. Cậu về ngay nhé, con phượng hoà ng con yêu quý của u già , u sẽ cho ngựa đến đón cậu ở Pêxốtsnôiê. Nghe toà án huyện định đặt chúng tôi dưới quyền của Kirila PêtơrôvÃch Tơrôiêkurốp: đâu họ nói rằng chúng tôi là người của họ, nhưng kỳ thật chúng tôi xưa nay vẫn là người nhà nhà cậu, – từ bé đến lớn chưa bao giờ lại nghe thấy chuyện lạ như thế. Cậu ở Pêterburg có cách gì trình với đức Hoà ng đế, chắc ngà i sẽ không để cho chúng ta bị ức hiếp. U già đời đời vẫn là tôi tớ trung thà nh của cậu.
U già ký:
Ã"rina Ãgôrốpna Budưriôv
U gửi lời cầu phước của một người mẹ cho con u là thằng Grisa. Nó hầu hạ cậu có được chu đáo không? Ở nhà ta mưa tầm tã đã hai tuần nay và lão chăn cừu Rôđia đã chết và o khoảng ngà y lễ thánh Nhikôlaiâ.
Vlađimia đọc đi đọc lại mấy lần liền những dòng chữ không lấy gì là m mạch lạc trên đây và thấy vô cùng xúc động. Chà ng mồ côi mẹ từ thuở bé và hầu như chưa được biết nhiều về cha, đến năm lên tám chà ng đã được đưa lên Pêterburg ăn học. Tuy vậy chà ng quý mến cha với tình cảm quyến luyến bồng bột và lãng mạn, và vì Ãt được hưởng những thú vui êm ả của gia đình, chà ng lại cà ng thấy yêu thÃch đời sống gia đình hơn nữa.
à nghĩ mình có thể mất cha là m cho lòng chà ng se lại, và tình cảnh của người cha già đau yếu mà chà ng có thể đoán biết qua bức thư của u già là m cho chà ng kinh hãi. Chà ng hình dung cha mình bơ vơ trong một thôn là ng hẻo lánh, phó mặc cho một bà già dốt nát và mấy người gia nô, đang bị một tai vạ đâu đâu đe doạ, và chết dần mòn trong cảnh cô đơn, đau đớn cả thể xác lẫn tinh thần. Vlađimia nghĩ giận mình đã có một thái độ tắc trách tội lỗi. Từ lâu lắm chà ng không nhận được thư từ gì của cha, nhưng cũng không nghĩ đến việc hỏi thăm, cứ yên trà rằng cha mình đang đi đâu vắng hoặc quá bận việc nhà .
Vlađimia AnđrêêvÃch quyết định về với cha và thậm chà sẽ xin giải ngũ, nếu bệnh tình của cha chà ng đòi hỏi phải có chà ng ở bên cạnh. Các bạn bè thấy Vlađimia đang có chuyện lo lắng thì bỏ ra về cả. Ngồi lại một mình, Vlađimia liền viết đơn xin nghỉ phép, rồi châm thuốc hút và bắt đầu suy nghĩ miên man.
Ngay hôm sau đó chà ng đi thu xếp việc xin nghỉ, và ba ngà y sau chà ng đã lên đường.
Vlađimia AnđrêêvÃch đã gần đến chỗ ngôi trạm nơi bắt đầu rẽ về thôn Kixtênhốpca. Chà ng thấy lòng trà n những linh cảm buồn bã, chà ng sợ rằng về đến nhà thì cha chà ng đã không còn ở trên thế gian nà y nữa, chà ng tưởng tượng thấy đời sống tẻ nhạt đang đợi chà ng trong thôn vắng, không bạn bè, nghèo túng và phải cáng đáng những công việc mà xưa nay chà ng không hề hiểu biết một tà gì. Đến trạm, Vlađimia và o gặp viên coi trạm hỏi ngựa. Viên coi trạm hỏi Vlađimia đi đâu, và khi đã rõ, liền cho chà ng biết rằng ngựa ở Kixtênhốpca đưa đến đã chực sẵn từ bốn ngà y nay. Một lúc sau bác đánh xe Antôn và o trình diện với Vlađimia. Hồi chà ng còn bé, Antôn thường dẫn chà ng đi xem các chuồng ngựa và chăm sóc con ngựa con của chà ng. Thấy Vlađimia, Antôn ứa nước mắt, cúi rạp xuống, chà o chà ng, và cho chà ng biết rằng cụ nhà vẫn còn sống, rồi chạy đi thắng ngựa. Vlađimia AnđrêêvÃch từ chối bữa ăn sáng mà người ta định dọn mời chà ng, và hấp tấp lên đường. Antôn đánh xe đi theo những con đường tắt. Hai người bắt chuyện.
- Bác Antôn ạ, cha tôi với Tơrôiêkurốp có chuyện gì thế?
- Có trời biết được cậu ạ⦠chả biết cụ nhà có chuyện gì xÃch mÃch với Kirila PêtơrôvÃch, thế là lão ấy liền đưa ra toà , tuy xưa nay có chuyện gì lão cũng thường tự mình xử lấy cả. Nông nô chúng tôi thì cũng chả dám bà n và o việc các chúa, nhưng quả tình cụ nhà mà sinh sự với Kirila PêtơrôvÃch thì chẳng Ãt lợi gì. Lấy trứng chọi đá sao nổi.
- Thế là cái lão Kirila PêtơrôvÃch ấy muốn là m gì thì là m sao?
- Đúng thế đấy, cụ ạ. Bồi thẩm với cảnh sát trưởng trên huyện thì lão có coi ra gì, họ đều là tay chân của lão, sợ lão một phép. Các ông lớn đều phải đến chà o hỏi lão. Người ta nói có đúng thật: có máng thì khắc có lợn.
- Có thật là lão định cướp đất nhà ta không?
- Ồ, cậu ạ, chúng tôi cũng có nghe như vậy. Hôm trước, lúc là m lễ đặt tên thánh ở nhà lão trưởng thôn, ông thầy dòng bên ấp có nói: âThôi các bố nhé, chơi bời thế là đủ rồi! Bây giờ sắp là m người của Kirila PêtơrôvÃch rồi thì liệu cái thần xác!â Anh thợ rèn Mikita mới bảo với hắn: âThôi xin ông, ông đừng là m phiền lòng người cha đỡ đầu, đừng là m phiền lòng khách khứa ở đây – Kirila PêtơrôvÃch hay Anđrây GavrilôvÃch cũng thế thôi, chúng tôi vẫn là người của Chúa và đức Hoà ng đếâ. Nhưng nói thế chứ chả ai cà i khuy và o miệng ai được.
- Thế các ngươi không muốn về với Tơrôiêkurốp ư?
- Về là m tôi cho Kirila PêtơrôvÃch ấy à ? Lạy Chúa, đừng để chúng tôi lâm và o cảnh ấy! Lão ấy đối với người cũ của lão cũng đã ác chán đi rồi. Người lạ mới đến là m, lão ta không chỉ lột da ra mà thôi đâu, lão còn phanh thịt ra chứ chả chơi. Không ạ, xin Chúa phù hộ cho Anđrây GavrilôvÃch được sống, mà cụ nhà có mệnh hệ nà o thì chúng tôi cũng chỉ biết lấy cậu là m người nuôi nấng. Cậu đừng bỏ chúng tôi, chúng tôi thế nà o cũng bênh cậu. – Nói đoạn, Antôn quất roi giật cương cho ngựa phóng nước kiệu.
Cảm động vì lòng trung thà nh của lão bộc, Vlađimia Đubrốpxki yên lặng và trầm ngâm suy nghĩ miên man. Hơn một giờ trôi qua; bỗng chà ng bừng tỉnh vì tiếng Grisa kêu: âẤp Pôkrốpxcôiê đây rồi!â.
Đubrốpxki ngẩng đầu lên – xe đang đi men theo một cái hồ lớn ăn thông với một dòng sông con chảy quanh co giữa mấy quả đồi; trên một ngọn đồi cao, vượt lên trên một khóm cây rậm rạp, Đubrốpxki thấy mấy cái mái nhà mà u xanh thẫm và tầng sân thượng của một toà nhà đá rất lớn. Trên một quả đồi khác có một ngôi nhà thờ năm tháp và một cái gác chuông cổ kÃnh, chung quanh rải rác những ngôi nhà gỗ có vườn rau và giếng nước. Đubrốpxki đã nhận ra nơi nà y, chà ng nhớ ra rằng chÃnh trên quả đồi nà y, hồi còn bé chà ng đã cùng chơi đùa với cô bé Masa Tơrôiêkurôva. Cô bé kém chà ng hai tuổi và ngay từ dạo đó đã có nhiều hứa hẹn trở thà nh một thiếu nữ xinh đẹp. Đubrốpxki muốn hỏi thăm Antôn về Masa, nhưng cảm thấy ngà i ngại thế nà o ấy, nên lại th
Khi xe đi ngang qua toà nhà , chà ng thoáng thấy một tà áo trắng lướt qua mấy khóm cây trong vườn. Vừa lúc đó Antôn quất ngựa, và tuân theo một tâm lý sĩ diện thông thường của những người đánh xe ở nông thôn, lão cho ngựa phi hết tốc lực qua cầu, vượt qua là ng Pôkrốpxcôiê và bắt đầu lên đồi. Vlađimia trông thấy cánh rừng bạch dương và về phÃa trái, trên một khoảng đất thoáng, một ngôi nhà mà u xám lợp ngói đỏ, và tim chà ng đã bắt đầu đập dồn dập: trước mặt chà ng là là ng Kixtênhốpca và ngôi nhà thanh bạch của cha chà ng.
Mười phút sau xe đã và o đến sân nhà . Chà ng đưa mắt nhìn quanh lòng cảm động không sao tả xiết. Đã mười hai năm nay Vlađimia không về quê. Mấy cây bạch dương năm nà o mới đem về trồng bên hà ng giậu, bây giờ đã thà nh những cây cao lớn, cà nh lá sum suê. Cái sân ngà y trước có ba bồn hoa đều đặn, ở giữa có một lối đi xén phẳng, nay đã trở thà nh một bãi cỏ xanh không có vết liềm. Giữa bãi một con ngựa buộc đang ăn cỏ. Mấy con chó xồ ra sủa, nhưng nhận ra Antôn chúng im bặt và ve vẩy những chiếc đua xù lông. Các gia nô trong mấy túp nhà gỗ chạy ùa ra xúm xÃt xung quanh người chủ trẻ tuổi và chà o mừng huyên náo cả lên. Vlađimia Đubrốpxki phải chật vật lắm mới rẽ được một lối đi trong đám người vồ vập nà y và chạy lên những bậc thềm cũ kỹ. U già Ãgôrốpna đứng đón chà ng ở phòng ngoà i và ôm chầm lấy đứa con sữa của mình mà khóc.
- Chà o u, chà o u, – Vlađimia không biết nói gì hơn, chỉ ôm chặt u già và o lòng. – Thân phụ con đâu hở u, người ra sao?
Vừa lúc đó một ông già cao và gầy, da mặt xanh xao, mình khoác áo choà ng ngủ, đầu đội mũ chụp, khó nhọc nhấc từng bước đi và o phòng. Cụ già cất giọng yếu ớt nói:
- Con đấy à , Vlađimia?
Vlađimia ôm chầm lấy cha. Sự xúc động quá mạnh vì vui sướng là m cho ông già đau yếu lảo đảo. Chân ông khuỵu xuống và nếu không cóVlađimia đỡ lấy, thì ông già đã ngã rồi. Ãgôrốpna gắt:
- Ã"ng bước ra khỏi giường là m gì? Chân thì đứng không vững, mà người ta đi đâu, là y như rằng muốn đi theo sau.
Người nhà khiêng ông già và o phòng ngủ. Ã"ng cụ cố sức nói chuyện với con, những ý nghĩ cứ rối bung lên trong đầu, và ông chỉ nói ra được những câu không có mạch lạc gì cả. Ã"ng già không nói nữa và thiếp đi, Vlađimia nhìn cha lòng đau như cắt. Chà ng dọn chỗ trong phòng ngủ của cha chà ng và xin được ở lại một mình với cha. Mọi người nghe theo và quay về phÃa Grisa, họ dẫn anh ra phòng gia nhân và niềm nở thết đãi anh theo kiểu nông dân, vừa cho ăn uống, vừa chà o mừng hỏi han tÃu tÃt.
Nơi ngà y xưa thường dọn tiệc
Bây giờ đặt chiếc áo quan(1).
Về được mấy hôm Vlađimia Đubrốpxki muốn thu xếp việc nhà , nhưng cha chà ng không đủ sức trình bà y với chà ng những điều cần thiết; Anđrây GavrilôvÃch lại không có người đại biện. Lục lọi giấy má của cha, Vlađimia chỉ thấy được bức thư đầu của viên bồi thẩm và bức thư trả lời viết nháp. Đọc lại bức thư nà y chà ng không hiểu rõ được đầu đuôi vụ kiện, nên quyết định chờ xem kết quả, cho rằng cha mình phải, thì thế nà o công việc cũng ổn thoả.
Trong khi đó sức khoẻ của Anđrây GavrilôvÃch cứ mỗi lúc một kiệt dần. Vlađimia biết trước rằng ông chẳng còn sống được mấy đỗi, cho nên chà ng không rời khỏi cha một bước. Lúc đó ông già đã trở thà nh ngây dại như đứa trẻ.
Trong thời gian nà y hạn khiếu nại đã hết, mà vẫn không có đơn chống án nà o ghuyện. Thôn Kixtênhốpca bây giờ hoà n toà n thuộc quyền sở hữu của Tơrôiêkurốp. Sabaskin đến chà o lão ta và xin cho biết bao giờ thì lão muốn bắt đầu chiếm cứ cái điền trang mới có kia: có thể hoặc thân hà nh sang thu hồi lấy, hoặc uỷ nhiệm cho một người khác. Tơrôiêkurốp thấy hoang mang. Tự bản chất thì lão cũng chẳng tham lam gì, ý muốn trả thù đã đưa lão đi quá xa, và lương tâm lão bắt đầu thấy bứt rứt.
Tơrôiêkurốp biết rõ tình trạng kẻ thù lão hiện nay ra sao; kẻ thù đó đã từng là bạn của lão từ thuở trai trẻ, và bây giờ lòng lão không thể thấy vui vì trận thắng vừa rồi được nữa. Lão hầm hầm nhìn Sabaskin và tìm một cớ gì để chửi bới hắn, nhưng tìm mãi không ra, lão giận dữ nói:
- Thôi cút đi! Tao không hơi đâu mà nghĩ đến mà y.
Sabaskin thấy Tơrôiêkurốp gắt gỏng, liền cúi chà o lão và hấp tấp lui ra. Còn Tơrôiêkurốp ngồi lại một mình, bắt đầu đi đi lại lại, mồm huýt sáo khe khẽ điệu âSấm chiến thắng vang lênâ(2). Hiện tượng nà y bao giờ cũng báo hiệu rằng đầu óc lão đang suy nghĩ lung lắm.
Cuối cùng Tơrôiêkurốp ra lệnh thắng xe ngựa, mặc thêm áo ấm (bấy giờ là cuối tháng ChÃn) và tự đánh xe đi.
Chẳng bao lâu lão thấy xuất hiện ra trước mắt ngôi nhà của Anđrây GavrilôvÃch và những cảm xúc trái ngược thi nhau trà n và o tâm hồn lão. Sự thoả mãn vì đã trả thù xong và lòng hiếu thắng lấn át một phần nà o những cảm xúc cao thượng hơn, nhưng những cảm xúc nà y cuối cùng cũng chiếm phần thắng. Lão quyết định giải hoà với ông bạn láng giềng già và xoá bỏ hết mọi sự hiềm khÃch bằng cách trả lại điền trang cho người bạn cũ. Những ý nghĩ tốt đẹp đó là m cho Kirila PêtơrôvÃch thấy tâm thần nhẹ nhõm hơn; lão đánh xe chạy nước kiệu về phÃa ngôi nhà của Anđrây GavrilôvÃch và cho xe chạy thẳng và o trong sân.
Lúc nà y người ốm đang ngồi trong phòng ngủ,ên cạnh cửa sổ. Ã"ng ta nhận ra Kirila PêtơrôvÃch và nét mặt của ông biểu lộ một sự kÃch động ghê gớm – sắc mặt thường ngà y tái xanh bây giờ bỗng trở thà nh đỏ tÃa, mắt ông sáng lên và môi ông lắp bắp những gì không rõ. Con trai ông lúc ấy đang ngồi soát lại sổ sách ngẩng đầu lên thấy vậy hết sức kinh hoà ng. Ã"ng già giơ tay chỉ ra phÃa sân, sắc mặt lộ vẻ sợ hãi và căm giận. Ã"ng hấp tấp vén tà áo ngủ, định đứng lên. Ã"ng vừa nhỏm dậy thì bỗng ngã nhà o xuống. Vlađimia vùng chạy lại. Cha chà ng nằm sóng soà i trên sà n, mê man bất tỉnh: ông già vừa bị một cơn tê liệt thần kinh đột ngột.
Vlađimia thét:
- Nhanh lên, đi ngay lên huyện mời thầy thuốc!
Một người đà y tớ bước và o:
- Thưa có Kirila PêtơrôvÃch đến hỏi ngà i.
Vlađimia quắc mắt nhìn người đà y tớ:
- Anh ra nói với Kirila PêtơrôvÃch là có khôn hồn thì xéo đi cho nhanh, đừng để tôi phải cho người đuổi ra khỏi sân nhà nà y! Đi đi!
Người đà y tớ mừng rỡ chạy đi thi hà nh mệnh lệnh của chủ. Ãgôrốpna chấp tay khóc lóc:
- Cậu ơi là cậu! Cậu là m như vậy thì thiệt thân cậu thôi! Kirila PêtơrôvÃch hắn ăn thịt chúng mình mất.
Vlađimia giận dữ nói:
- U im đi! U cho Antôn ra huyện gọi thầy thuốc ngay!
Ãgôrốpna lui ra. Không có ai ở phòng ngoà i cả: mọi người đều chạy ra sân xem Kirila PêtơrôvÃch. U già ra trước thềm thì vừa nghe người đà y tớ nói lại lời của chủ cho PêtơrôvÃch nghe. Bấy giờ lão vẫn ngồi trên xe ngựa. Nghe xong mặt lão sa sầm lại, tối hơn đêm, và ỉm cười khinh bỉ, đưa cặp mắt dữ tợn nhìn qua bọn người nhà , rồi đánh ngựa đi bước một qua sân. Trước khi ra khỏi sân, lão còn ngoái cổ lại nhìn cái cửa sổ lúc nãy có Anđrây GavrilôvÃch ngồi, mà bây giờ thì vắng không. Người u già đứng lặng bên thềm, quên cả lời dặn của Vlađimia. Gia nhân đang bà n tán xôn xao về việc mới xảy ra. Bỗng nhiên Vlađimia từ trong nhà bước ra cất giọng nghẹn ngà o, nói đứt quãng:
- Không cần mời thầy thuốc nữa, cha tôi mất rồi.
Nông dân nhốn nháo cả lên. Họ xô nhau chạy ùa và o phòng của chủ. Anđrây GavrilôvÃch đang nằm trên hai chiếc ghế bà nh mà Vlađimia vừa đặt ông xuống, cánh tay phải của ông buông thõng chấm đất, đầu ông gục xuống sát ngực – bây giờ đã không còn có dấu hiệu gì của sự sống trong cái thân thể hãy còn hơi ấm, nhưng đã bị thần chết là m cho biến dạng đi. Ãgôrốpna oà lên khóc gà o thảm thiết. Gia nhân xúm quanh thi hà i của chủ, họ rửa ráy cẩn thận, rồi lấy bộ quân phục may từ hồi 1797 mặc cho Anđrây GavrilôvÃch. Xong họ khiêng thi thể ra đặt trên cái bà n lớn mà bao nhiêu năm họ đã từng dọn ăn cho chủ.
Chương V
gn=”justify”>Ba hôm sau lễ an táng được cử hà nh. Thi thể của ông già đáng thương nằm trên bà n, phủ một chiếc khăn liệm và chung quanh có cắm nến. Gia nhân đứng chật cả phòng ăn. Người ta sửa soạn đưa đám. Vlađimia và ba người đà y tớ nâng quan tà i lên. Người linh mục đi trước, người giúp lễ theo sau hát những bà i kinh cầu hồn. Chủ nhân ấp Kixtênhốpca đi qua ngưỡng cửa của nhà mình lần cuối cùng. Người ta mang quan tà i đi qua khu rừng nhỏ. Nhà thờ ở bên kia khu rừng. Ngà y hôm ấy trời quang đãng và giá lạnh. Lá thu rụng lả tả.Ra khỏi khu rừng nhỏ thì thấy ngôi nhà thờ bằng gỗ của thôn Kixtênhốpca và khu nghĩa địa nấp dưới bóng bồ đề cổ thụ. Đây là nơi yên nghỉ của mẹ Vlađimia. Bên cạnh ngôi mộ của bà ngư̖ã đà o một cái huyệt mới.
Nhà thờ đầy ắp những người nông dân thôn Kixtênhốpca đến từ biệt chủ nhân lần cuối cùng. Vlađimia Đubrốpxki đứng cạnh bệ thờ; chà ng không khóc và cũng không cầu nguyện, nhưng nét mặt của chà ng trông rất khủng khiếp. Buổi lễ buồn rầu đã chấm dứt. Vlađimia đến vĩnh biệt thi hà i cha trước và sau chà ng lần lượt đến các gia nhân. Người ta đến đóng ván thiên về quan tà i, những người đà n bà đến đưa ma khóc nức nở. Bọn đà n ông thì chốc chốc lại đưa nắm tay lên quệt nước mắt, Vlađimia và ba người đà y tớ lúc nãy khiêng quan tà i ra mộ địa. Cả là ng ra theo. Người ta hạ quan tà i xuống, mỗi người đi đưa ném và o huyệt một nắm đất, người ta lấp huyệt, cúi chà o một lần cuối cùng nữa và ra về. Vlađimia vượt lên trước và đi và o khu rừng Kixtênhốpca.
Ãgôrốpna thay mặt chà ng mời linh mục và mấy người phụ lễ dự bữa tiệc tan, phân trần rằng Vlađimia AnđrêêvÃch không có ý định dự buổi tiệc nà y. Thế là linh mục Antôn và vợ của linh mục(3) là Phêđôtốpna và người giúp lễ đi bộ về dinh thự Đubrốpxki, vừa đi họ vừa bà n tán với Ãgôrốpna về đức hạnh của người đã quá cố và về cái số phận đang chờ đợi người con trai của ông. (Việc Tơrôiêkurốp đến thăm nhà Đubrốpxki và cách người ta đón tiếp lão ra sao thì cả vùng đều đã biết, và các giới am hiểu ở đây đều đoán trước là sẽ có hậu quả ghê gớm).
Phêđôtốpna nói:
- Đến đâu thì đến! Nhưng kể ra ấp nà y mà không được cậu Vlađimia AnđrêêvÃch là m chủ thì tiếc thật. Cậu nhà quả là người rất tốt.
Ãgôrốpna ngắt lời:
- Không cậu ấy là m chủ thì còn ai và o đấy được? Kirila PêtơrôvÃch có tác oai tác quái rồi cũng chỉ công toi thôi. Đừng tưởng dễ bắt nạt được Vlađimia. Con ượng hoà ng của tôi sẽ không để cho lão ấy là m cà n đâu. Mà nhờ trời, ân nhân của chúng ta cũng sẽ che chở cho cậu ấy. Lão Kirila PêtơrôvÃch hống hách thật, nhưng hôm thằng Grisa nhà tôi quát: âCút ngay, con chó già ! Bước ngay ra khỏi sân nhà nà y!â – thì lão ấy cũng cứ cụp đuôi mà chuồn như thường!
Người giúp lễ nói:
- Chà ! Bà Ãgôrốpna ạ, là m sao mà anh Grisa nhà bà lại bạo mồm, bạo miệng thế! Tôi thì mắng một ông giám mục may ra còn dám, chứ nhìn và o mặt lão ấy thì cũng xin chịu; hễ thấy lão ta, là cứ sợ cuống lên, và cái lưng cứ tự nhiên khom xuống, cứ thế mà khom xuốngâ¦
- Phù phiếm cả! – ông linh mục nói. – Rồi thì cũng đến ngà y đọc kinh cầu hồn cho Kirila PêtơrôvÃch như hôm nay đọc kinh cho Anđrây GavrilôvÃch. Có lẽ đám tang sẽ sang trọng hơn, sẽ mời nhiều người hơn. Nhưng đối với đức Chúa trời thì cũng như nhau cả!
U già Ãgôrốpna phân trần:
- Ã"i thưa cha! Chúng tôi muốn mời thêm những người ở các là ng bên, nhưng Vlađimia AnđrêêvÃch không chịu đấy chứ! Nà o thức ăn có thiếu gì, tha hồ thết khách, nhưng mà các ông các bà bảo tôi là m thế nà o được?⦠Thôi thì bây giờ có Ãt khách thế nà y, tôi sẽ đãi các vị một bữa thật linh đình.
Lời hứa hẹn êm tai nà y, và mối hy vọng được một bữa ăn ngon là nh là m cho cả bọn rảo bước, và mọi người đều bình yên vô sự đến dinh thự của nhà Đubrốpxki. Ở đây, bà n tiệc đã bà y xong và rượu vốt-ca đã dọn sẵn.
Trong khi đó, Vlađimia đi sâu và o khóm rừng, cố vận động cho thể xác mệt nhọc để át cái đau khổ trong tâm thần. Chà ng đi không có chủ đÃch, không nhìn đường; cà nh cây móc và o áo sầy cả da, chân lún sâu xuống bùn, chà ng cũng chẳng để ý. Chà ng dừng lại bên một khoảnh đất trũng chung quanh đều có rừng bao bọc; một con suối nhỏ yên lặng uốn quanh dướióm cây mà hơi thu đã cuốn gần trụi lá. Vlađimia ngồi trên cỏ lạnh và những ý nghĩ đen tối thi nhau trà n và o tâm hồn chà ng⦠Chà ng cảm thấy một cách sâu sắc nỗi cô quạnh của mình. Chà ng thấy tương lai hiện ra như một bầu trời phủ những đám mây đen đầy vẻ doạ nạt. Mối thù với Tơrôiêkurốp sẽ đưa lại những tai hoạ mới.
Cái gia tà i thanh bạch của chà ng có thể và o tay kẻ khác, và lúc đó chà ng sẽ lâm và o cảnh khốn cùng. Vlađimia ngồi yên một lúc lâu, không cử động, thẫn thờ nhìn dòng nước suối chảy yên lặng, mang theo mấy chiếc lá và ng – và thấy rõ trước mắt những hình ảnh của cuộc sống thường ngà y. Cuối cùng Vlađimia sực nhớ ra rằng trời đã bắt đầu sẫm tối, chà ng đứng dậy tìm lối về nhà . Chà ng đi loanh quanh trong rừng một hồi lâu mới gặp một con đường mòn nhỏ, dẫn thẳng về cổng dinh thự.
Bỗng Vlađimia thấy lão linh mục cùng mấy người nữa đi ngược lại phÃa chà ng. Chà ng thoáng có ý nghĩ rằng đấy là một điềm gở. Chà ng bất giác rẽ sang một bên và lẫn ra sau một khóm cây. Họ không thấy Vlađimia và cứ tiếp tục bà n cãi.
Lão linh mục nói với vợ:
- Hãy tránh điều ác và là m điều thiện(4); mình không có việc gì phải ở lại đấy. Việc nà y về sau sẽ có ra sao, thì cũng chẳng thiệt đến mình.
Vợ lão trả lời một câu gì đấy nhưng chà ng không nghe rõ.
Về gần đến nhà , Vlađimia thấy có một đám rất đông người; nông dân và gia nô đều tụ họp cả trong sân. Từ xa Vlađimia đã nghe thấy tiếng người nói xôn xao và một tiếng ồn à o khác thường. Bên cạnh vựa thóc có hai chiếc xe ngựa đỗ. Trên thềm nhà mấy người mặc đồng phục hình như đang bà n bạc điều gìâ¦
Antôn thấy chủ về thì chạy đến. Vlađimia bực bội hỏi:
- Cái gì thế nà y? Bọn kia là ai thế? Họ đến đây là m gì?
- Ồ! Cậu Vlađimia AnđrêêvÃch ạ! – người lão bộc hổn hển đáp. – Toà án đã đến rồi đấy. Họ định mang chúng tôi trao cho Tơrôiêkurốp, họ định bắt chúng tôi phải xa cậu đấy!â¦
Vlađimia cúi đầu. Nông dân xúm quanh người chủ đáng thương. Họ đến hôn tay Vlađimia và nói:
- Cậu là cha chúng tôi, chúng tôi chỉ muốn là m tôi tớ cho cậu, chứ nhất định không là m cho ai khác cả. Cậu ra lệnh đi, chúng tôi sẽ trị cho bọn toà án nà y một mẻ. Chúng tôi thà chết chứ quyết không chịu bỏ cậu!â¦
Vlađimia nhìn họ, và những cảm xúc kỳ dị quay cuồng trong tâm hồn chà ng, chà ng nói với nông dân:
- Các ngươi đứng yên, còn tôi sẽ nói chuyện với bọn nà y.
Trong đám đông có nhiều tiếng thét:
- Cậu nói rõ cho chúng nó biết! Hãy để cho cái bọn chết rấp ấy biết điều một tÃ!
Vlađimia đến gần bọn nha lại, Sabaskin đội mũ lưỡi trai trên đầu, tay chống cạnh sườn vênh váo nhìn quanh. Viên cảnh sát trưởng là một người cao lớn khoảng chừng năm mươi tuổi, mặt đỏ để râu mép. Thấy Đubrốpxki về, y đằng hắng và cất giọng khà n khà n nói:
- Vậy tôi xin nhắc lại những điều mà tôi đã nói rồi, là theo quyết định của toà án huyện từ rà y bọn các người là người của Kirila PêtơrôvÃch Tơrôiêkurốp mà ông Sabaskin đây là đại diện. Các người phải nhất nhất nghe theo lệnh của ông ta, vì ông ta vốn là người rất thương yêu phụ nữ.
Nói xong câu khôi hà i tị nà y, viên cảnh sát trưởng cười ha hả, và Sabaskin cùng bọn tuỳ tòng cũng cất tiếng cười theo. Vlađimia thấy lòng sôi lên vì công phẫn. Chà ng cố lấy giọng bình tĩnh hỏi viên cảnh sát trưởng đang cười toe toét:
- Xin ngà i cho biết như vậy nghĩa là thế nà o.
- Như vậy nghĩa là chúng tôi đây đến để chuyển cái điền trang nà y sang quyền sở hữu của Kirila PêtơrôvÃch Tơrôiêkurốp và yêu cầu một số người khác liệu mà xéo đi cho sớm.
- Nhưng đáng lẽ ra trước khi nói với nông dân của tôi, thì các ông cũng nên gặp tôi, cho tôi biết là đã mất quyền sở hữu thế nà o chứâ¦
Sabaskin nhìn Vlađimia một cách hỗn xược:
- Anh là ai mới được chứ, quyền chủ nhân là Anđrây con Gavrila họ Đubrốpxki đã chết vì ý Chúa, ta không biết anh là ai, và cũng không cần biết anh là ai hết.
Trong đám đông có tiếng nói:
- Vlađimia AnđrêêvÃch là chúa trẻ của chúng tôi.
Viên cảnh sát trưởng quắc mắt nạt:
- Đứa nà o dám mở cái mõm ra đấy, chúa, chúa nà o, Vlađimia AnđrêêvÃch nà o? Chúa của chúng mà y là Kirila PêtơrôvÃch Tơrôiêkurốp, đã nghe ra chưa, lũ đầu bò!
Giọng nói lúc nãy đáp:
- Đừng hòng!
Viên cảnh sát trưởng quát:
- à ra chúng bây là m loạn à ! Ã, lão trưởng thôn đâu!
Lão trưởng thôn bước
- Lão tìm ngay đứa nà o dám nói với ta như thế, rồi ta cho biết tay!
Lão trưởng thôn quay lại hỏi đám đông xem ai nói, nhưng mọi người đều im lặng; một lúc sau từ phÃa cuối nổi lên một tiếng lầm rầm cứ lan rộng ra và to dần lên; và chỉ trong chốc lát đã trở thà nh những tiếng la ó kinh khủng; viên cảnh sát trưởng hạ giọng và muốn phân trần. Bỗng mấy người nông dân quát:
- Còn đứng nhìn chúng nó là m gì nữa! Anh em ơi! Cho chúng nó một trận! Đánh bỏ mẹ nó đi! – Và đám đông ùa tới.
Sabaskin và bọn quan lại hấp tấp chạy và o nhà đóng sầm cửa lại. Giọng nói lúc nãy thét:
- Anh em ơi! Trói chúng nó lại! Và đám đông bắt đầu đổ xô đến.
Đubrốpxki quát lớn:
- Đừng! Các anh là m cái gì thế, đồ ngốc! Các anh là m luỵ cho các anh, mà hại cho cả tôi nữa. Về nhà đi và để yên đấy cho tôi. Đừng sợ gì hết! Đức vua ngà i rất khoan hồng, tôi sẽ lên cầu xin ngà i. Ngà i sẽ không để cho chúng ta bị ức hiếp. Chúng ta đều là con ngà i cả. Các anh là m loạn lên như vậy, ngà i còn bênh các anh thế nà o được nữa!
Lời lẽ của Vlađimia Đubrốpxki, giọng nói sang sảng và dáng điệu oai nghiêm của chà ng là m cho nông dân thấy kÃnh nể. Họ im dần và giải tán. Bấy giờ trong sân không còn ai nữa, nhưng bọn nha lại vẫn ngồi trong cửa chưa dám ra. Một lúc sau Sabaskin mới từ từ hé cánh cửa ló mặt ra nhìn, rồi bước ra ngoà i thềm, gật đầu lia lịa kÃnh cẩn cám ơn Đubrốpxki đã có lòng tốt can thiệp hộ.
Vlađimia khinh bỉ nghe hắn nói và lặng thinh không đáp. Viên bồi thẩm tiếp:
- Chúng tôi đã quyết định, nếu ngà i cho phép, ngủ lại đây; vì bây giờ tối quá, nếu đi về có thể bị nông dân của ngà i chặn đánh dọc đường. Xin ngà i là m ơn cho chúng tôi một Ãt rạ và o phòng khách được rồi; hễ trời sáng là chúng tôi về.
Đubrốpxki đáp xẵng:
- Các ông muốn là m gì thì là m; tôi bây giờ chẳng còn là chủ nhân ở đây nữa.
Nói đoạn chà ng bỏ và o phòng của cha chà ng và khoá trái cửa lại.
CHƯƠNG VI
>
âThế là hết, – Đubrốpxki tự nhủ, – mới khi sáng ta còn có góc nhà mà ở, còn có miếng bánh mà ăn, thế mà ngà y mai là đã rời bỏ ngôi nhà nà y. Ta đã ra đời trong ngôi nhà nà y, cha ta đã mất trong ngôi nhà nà y, thế mà ngà y mai phải để nó lọt và o tay chÃnh kẻ đã là m cho cha ta phải chết và là m cho ta phải bần cùngâ. Và mắt chà ng đăm đăm nhìn và o bức chân dung của mẹ chà ng treo trên tường. Hoạ sĩ đã vẽ mẹ chà ng đứng tựa lan can, mặc áo dà i buổi sáng mà u trắng, trên tóc cà i một đoá hoa hồng đỏ thắm. âThế bức chân dung nà y sẽ lọt và o tay kẻ thù của gia đình ta; chúng sẽ vứt nó và o trong phòng chứa đồ cũ cùng với mấy chiếc ghế gãy, hoặc đưa treo ở phòng đợi: bọn giữ chó của Tơrôiêkurốp sẽ tha hồ nhạo báng – và trong phòng của mẹ ta, trong cái phòng⦠mà cha ta đã tắt thở, sẽ có một tên quản lý của Tơrôiêkurốp ở, hoặc giả hắn sẽ cho là m nơi chứa gái. Không! Hắn đuổi ta đi, nhưng nhà nà y không thể lọt và o tay hắn đượcâ. Vlađimia nghiến răng lại – những ý nghĩ khủng khiếp nảy ra trong óc chà ng. Tiếng sai bảo của bọn nha lại từ phòng khách vẳng đến; chúng nó lên giọng chủ nhà , yêu sách nà y nọ, giọng nói khả ố của chúng đến quấy rầy Vlađimia trong khi chà ng đang triền miên trong những ý nghĩ buồn bã của mình. Nhưng cuối cùng tất cả đều im lặng.
Vlađimia mở các ngăn kéo ra và điểm qua giấy tờ của Phần lớn đều là những giấy tờ tÃnh tiền và những thư từ về công việc. Vlađimia xé những thứ đó đi, không đọc. Trong tập thư từ nà y có một cái gói đề là : thư của vợ tôi. Lòng bồi hồi khôn xiết, Vlađimia mở ra đọc. Những bức thư nà y viết từ hồi chiến dịch Thổ Nhĩ kỳ(5) từ thôn Kixtênhốpca gửi đến đơn vị Anđrây GavrilôvÃch. Mẹ chà ng tả cho chồng nghe cảnh sống cô đơn ở nhà và những công việc nội trợ mà bà phải cáng đáng, dịu dà ng than thở về nỗi vợ chồng xa cách và cầu mong Anđrây GavrilôvÃch sớm về với vợ hiện đang mòn mỏi ngóng trông. Trong một bức thư bà kể cho chồng nghe nỗi lo lắng của mình về sức khoẻ của cậu bé Vlađimia, trong một bức thư khác bà vui mừng về khiếu thông minh sớm nà y nở của con trai và tin tưởng rằng Vlađimia sau nà y sẽ có một đời sống hạnh phúc và một tương lai rực rỡ. Vlađimia mê mải đọc, quên hết mọi chuyện ở trên đời: tâm hồn chà ng lắng sâu và o cái thế giới của hạnh phúc gia đình; chà ng không để ý gì đến thời gian đang trôi qua nữa. Đồng hồ treo tường điểm mười một tiếng. Vlađimia bỏ tập thư và o túi, và cầm cây nến đi ra khỏi phòng. Trong phòng khách, bọn viên chức trên huyện về đang nằm ngủ ở giữ sà n. Trên sà n có mấy cái cốc không của bọn học uống rượu lúc nãy. Trong phòng nồng nặc mùi rượu rôm. Vlađimia kinh tởm rảo bước qua chỗ họ nằm! và đi ra phòng ngoà i. Cửa đóng kÃn và khoá kỹ. Không thấy chìa khoá đâu, Vlađimia trở và o phòng khách: chìa khoá nằm ở trên bà n. Vlađimia mở cửa ra thì vấp phải một người nép ở góc tường, tay cầm một cây rìu sáng loáng. Giơ cây nến lên soi, Vlađimia nhận ra ÃckhÃp, người thợ rèn. Chà ng hỏi:
- Anh đến đây là m gì?
- Vlađimia AnđrêêvÃch, cậu đấy à ? – ÃckhÃp thì thà o đáp, – Chúa phù hộ cho cậu! May quá, may mà cậu mang theo cây nến!
Vlađimia kinh ngạc nhìn anh thợ rèn. Chà ng hỏi:
- Thế anh nấp ở đây là m gì?
- à tôi⦠tôi đến xem xem có mấ gì không, – ÃckhÃp ấp úng đáp khẽ.
- Thế thì mang rìu đến là m gì?
- Cái rìu ấy à ? Thì thời buổi nà y đi đêm phải mang rìu theo chứ. Cậu cũng biết đấy. Cái tụi nha lại ấy thật là đồ vô lại, cũng nên đề phòng chúng nó.
- Anh nà y say rượu hẳn; quẳng rìu đi, rồi về mà ngủ.
- Tôi say à ? Cậu Vlađimia AnđrêêvÃch, nói có trời chứng giám, tôi không hề uống qua một giọt⦠còn lòng dạ nà o mà uống rượu lúc nà y nữa hả cậu. Có đời thuở nà o bọn nha lại lại dám đến nạt nộ chúng tôi, dám đến đuổi chúng tôi ra khỏi nhà như vậy. à chúng nó ngáy, cái đồ chết rấp – cho chúng mỗi đứa một nhát là xong cả.
Đubrốpxki cau mà y. Im lặng một lúc, chà ng nói:
- Anh nghe tôi, anh ÃckhÃp ạ, anh là m thế không tốt đâu. Bọn họ cũng chẳng phải là thủ phạm trong việc nà y. Anh đốt đèn lên, rồi theo tôi!
ÃckhÃp lấy cây nến trong tay chủ, tìm cây đèn lồng kÃnh sau lò sưởi, thắp lên và cả hai im lặng bước xuống thềm ra sân; người gác đêm đánh và o mảnh gang mấy tiếng; chó sủa ran. Đubrốpxki hỏi:
- Ai gác đấy?
- Thưa cậu chúng tôi đấy ạ, Vaxilixa và Lukêria đây ạ.
- Đi về đi, không cần gác nữa đâu.
ÃckhÃp đệm theo: âDẹp!â
- Cám ơn cậu, cha nuôi chúng tôi, – hai người đà n bà đứng gác nói đoạn đi thẳng về nhà .
Đubrốpxki đi một quãng nữa, thì thấy hai người đang tiến lại phÃa chà ngất tiếng gọi chà ng. Đubrốpxki nhận ra giọng nói của Antôn và Grisa.
- Sao các anh chưa đi ngủ?
- Còn bụng dạ nà o mà ngủ nữa! – Antôn đáp. – Ai ngờ đến nông nỗi nà y!
- Khẽ chứ! U già Ãgôrốpna đâu?
- Trong nhà ấy, trong buồng u ấy, – Grisa đáp.
- Đi gọi u ra ngay, gọi tất cả mọi người ở trong nhà ra. Đừng để sót một người nà o hết, trừ bọn nha lại, còn Antôn đóng ngựa và o chiếc xe đi!
Grisa đi và o và một lúc sau đưa mẹ đến. U già đêm hôm ấy không cởi áo ngoà i: trừ bọn nha lại ra, trong nhà không có ai chợp mắt. Đubrốpxki hỏi:
- Mọi người đã ra đây cả chưa? Còn ai ở trong nhà nữa không?
- Chẳng còn ai! Chỉ còn bọn nha lại thôi, – Grisa đáp.
- Mang rơm ra đây! – Đubrốpxki nói.
Mọi người chạy và o chuồng ngựa, ôm những bó rạ lớn trở ra.
- Chất cả lên thềm. Thế, thế⦠thôi, nà o bây giờ châm lửa!
ÃckhÃp mở nắp kÃnh cây đèn lồng. Đubrốpxki lấy một que đóm châm lửa. Bỗng chà ng quay lại phÃa ÃckhÃp:
- Khoan đã, hình như lúc nãy tôi vội quá quên mở cửa trước, anh đưa chùm chìa khoá đến mở ngay ra.
ÃckhÃp chạy lại phÃa cửa – cửa vẫn mở. ÃckhÃp khoá trái cửa lại, miệng lẩm bẩm:
- Đừng hòng!⦠Nà y thì mở nà y!
Đubrốpxki đưa đuốc châm lửa. Rạ bốc cháy, một ngọn lửa bùng lên, soi sáng cả khoảng sân. Ãgôrốpna rên rỉ:
- Trời ơi! Vlađimia AnđrêêvÃch, cậu là m gì thế hả cậu!
- U im đi! Thôi bây giờ xin từ biệt, tôi đi nhé, Chúa cho đi đâu thì đi đấy; chúc các anh em mạnh giỏi ở lại với chủ mới.
Nông dân nhao nhao nói:
- Cậu ơi! Cha nuôi của chúng tôi! Chúng tôi thà chết còn hơn rời cậu, cậu đi đâu chúng tôi cũng xin đi với cậu.
Ngựa đã sẵn sà ng; Đubrốpxki và Grisa ngồi lên xe ngựa và hẹn với mọi người sẽ gặp nhau ở khu rừng Kixtênhốpca. Antôn quất ngựa và chiếc xe rời khỏi sân.
Gió nổi lên, chỉ trong một phút ngọn lửa đã bùng lên vây kÃn cả ngôi là ng. Một đám khói đỏ quằn quại ở phÃa trên mái. KÃnh nứt vỡ rơi loảng xoảng, những thanh xà cháy gãy sập xuống sà n. Những tiếng kêu la thất thanh nổi lên: âChúng tôi cháy mất! Ai cứu với! Cứu tôi với!â ÃckhÃp bình thản ngắm ngọn lửa, trên môi nở một nụ cười tinh quái:
- Đừng hòng!
Ãgôrốpna khẩn khoản anh thợ rèn:
- Anh ÃckhÃp ơi! Anh cứu cái bọn chết tiệt ấy với, Chúa sẽ phù hộ anh!
- Đừng hòng, – anh thợ rèn đáp gọn.
Lúc đó bọn nha lại ra lại cửa sổ, cố sức phá các khung cửa lắp đôi. Nhưng mái nhà bỗng đổ xuống ầm ầm và những tiếng kêu la im bặt.
Chẳng bao lâu tất cả các gia nhân đều chạy ra khắp sân. Đà n bà ọi nhau à ới, chạy về nhà cứu lấy mấy cái áo rách.
Trẻ con nhảy nhót mừng rỡ xem cảnh cháy nhà . Tà n lửa bay theo gió thà nh từng đám cuồn cuộn như bão tuyết, và chẳng bao lâu mấy ngôi nhà gỗ ở chung quanh bắt đầu bốc cháy.
ÃckhÃp nói:
- Bây giờ thì ổn cả rồi. Xem cháy ghê chưa! Đứng bên Pôkrốpxcoiê mà nhìn sang thì đẹp tuyệt.
Vừa lúc ấy một việc khác xảy ra là m cho anh thợ rèn chú ý: một con mèo đang chạy trên mái nhà kho, loay hoay tìm chỗ thoát – bốn bề đều có lửa. Con vật tội nghiệp cất tiếng kêu thảm thiết để cầu cứu. Bọn trẻ con thấy con mèo hoảng hốt như vậy ôm bụng cười sằng sặc. Anh thợ rèn tức giận quát:
- Cười cái gì mà cười, hở đồ quỉ sứ! Chúng mà y không biết sợ Chúa à , một tạo vật của Chúa sắp chết, thế mà chúng mà y thì vui mừng một cách ngu độn!
Rồi ÃckhÃp dựng một chiếc thang tựa và o mái nhà đang bốc cháy và leo lên bắt con mèo. Con vật hiểu ý anh thợ rèn, lộ vẻ mừng rỡ và biết ơn, hấp tấp bám lấy ống tay áo của anh ta. Anh thợ rèn, mặt mà y cháy xém, mang con mèo tụt xuống. Anh ta chà o mọi người đang ngơ ngác:
- Thôi anh em ở lại nhé, tôi đi đây, chả ở đây là gì nữa. Chúc anh em may mắn, trước nay có gì bỏ quá cho tôi nhé!
Anh thợ rèn đi rồi, lửa còn cháy to một hồi lâu. Cuối cùng ngọn lửa lụi dần và tắt hẳn, nhưng những đống than vẫn còn đỏ rực trong đêm tối. Chung quanh đấy, bóng những người dân bị nạn của thôn Kixtênhốpca vật vờ qua lại.
Chương VII
Hôm sau tin là ng Kixtênhốpca cháy bay đi khắp vùng. Mọi người bà n tán xôn xao, người đoán thế nà y, người đoán thế khác. Người thì cho rằng nông dân nhà Đubrốpxki đưa đám về uống rượu say khướt, rồi vô ý để lửa bén, người thì đổ tội cho bọn nha lại đã quá chén mừng nhà mới, nhiều người lại quả quyết rằng cả Đubrốpxki lẫn bọn nha lại và bao nhiêu gia nhân bên ấy đều đã cháy ra tro cả. Cũng có người đoán biết được sự thật và quả quyết rằng thủ phạm vụ cháy là ng nà y chÃnh là Đubrốpxki vì cùng đường và căm phẫn quá đâm ra tuyệt vọng mà là m liều như vậy.
Cũng ngà y hôm ấy Kirila PêtơrôvÃch Tơrôiêkurốp đến nơi cháy nhà và thân hà nh lập biên bản, thì thấy rằng viên cảnh sát trưởng, viên bồi thẩm của toà án huyện, viên đại biện và viên thơ lại cũng như Vlađimia Đubrốpxki, u già Ãgôrốpna, anh người nhà Grisa, bác đánh xe Antôn và anh thợ rèn ÃckhÃp không biết biến đi đâu cả⦠Nông dân đều là m chứng là bọn nha lại đã chết cháy lúc mái nhà sập xuống; người ta bới được những mẩu xương cháy đen của họ. Hai người đà n bà là Vaxilia và Lukêria nói rằng họ gặp Đubrốpxki và ÃckhÃp mấy phút trước khi cháy nhà . Anh thợ rèn ÃckhÃp thì ai cũng nhận là con sống, và cho rằng anh ta là thủ phạm chÃnh, nếu không phải là thủ phạm duy nhất của vụ đốt nhà . Những mối ngờ vực nặng nề trút lên đầu Đubrốpxki. Kirila PêtơrôvÃch gửi cho quan tỉnh tưởng một tờ biên bản kể lại những việc đã xảy ra, và một vụ án mới bắt đầu được tiến hà nh.
Được Ãt lâu lại có những tin tức mới là m cho dư luận tò mò xôn xao bà n tán. Một bọn cướp xuất hiện ở N. và gieo rắc kinh hoà ng khắp vùng lân cận. Những biện pháp của chÃnh quyền nhằm đối phó với bọn cướp đều vô hiệu. Những vụ cướp mỗi ngà y một táo bạo liên tiếp xảy ra. Đi trên đường cái hay ở trong là ng đều không an toà n tà nà o hết. Những toán cướp cưỡi xe tam mã phóng đi khắp vùng giữa ban ngà y, chặn đường các xe cộ, đột nhập và o các là ng mạc, cướp phá và đốt cháy các nhà địa chủ. Thủ lĩnh của bọn cướp nổi tiếng là người rất thông minh và can đảm, lại có lòng hà o hiệp. Người ta kể những chuyện thần kỳ về người nà y. Tên Đubrốpxki được mọi người nhắc nhở, họ đều tin chắc rằng chÃnh Đubrốpxki là người đứng đầu đảng cướp gan dạ nà y. Chỉ lạ một điều là điền trang của Tơrôiêkurốp chưa bị cướp phá gì cả; bọn cướp chưa từng động đến một vựa thóc nà o, một chuyến xe nà o của nhà nà y. Với cái giọng dương dương tự đắc thường ngà y, Tơrôiêkurốp cho rằng sở dĩ như vậy cũng chỉ vì cái uy danh lừng lẫy của lão ta ở trong vùng cũng như vì sự canh phòng nghiêm ngặt mà lão đã tổ chức trong địa phận của lão. Lúc đầu những người láng giềng đều cười với nhau chế giễu cái thái độ huênh hoang nà y, và mọi người đều chờ nghe tin các quý khách đến thăm ấp Pôkrốpxcôiê, ở đó có lắm việc đáng cho họ là m lắm, nhưng r! ồi cuối cùng họ cũng phải thừa nhận rằng bọn cướp kiêng nể Tơrôiêkurốp hẳn hoi, vì lý do gì không ai hiểu được⦠Tơrôiêkurốp lấy là m đắc chà lắm, và hễ cứ nghe tin Đubrốpxki cướp ở đâu là lão ba hoa nhạo báng bọn tỉnh trưởng, huyện trưởng, nha lại và cảnh sát trưởng đến nay vẫn chưa là m gì nổi Đubrốpxki.
Cho đến ngà y mồng một tháng Mười, ngà y hội nhà thờ ở thôn ấp Tơrôiêkurốp⦠Nhưng trước khi bắt đầu tả lại ngà y hội hè long trọng nà y, chúng tôi phải để độc giả là m quen với những nhân vật mà độc giả chưa biết, hoặc giả chỉ biết sơ sà i vì chúng tôi mới chỉ nhắc qua loa ở đầu câu chuyện.
Chương VIII
Chắc đ;ộc giả cũng đã đoán ra rằng người con gái của Tơrôiêkurốp mà chúng tôi mới chỉ nói qua có dăm câu, là nhân vật nữ trung tâm của câu chuyện nà y. Hồi ấy nà ng được mười bảy tuổi và sắc đẹp của nà ng đang thời kỳ nảy nở. Kirila PêtơrôvÃch quý con như dại, nhưng cũng đối xử với nà ng tuỳ theo những lúc thay đổi tÃnh khà đột ngột mà lão thường có: khi thì lão chỉ chực chiều theo tất cả những ý thÃch dù l nhỏ nhặt nhất của nà ng, khi thì lại là m cho nà ng phải khiếp sợ vì những cách đối xử thô bạo và đôi khi hung ác của lão. Mặc dầu Kirila PêtơrôvÃch biết rằng Masa rất kÃnh yêu mình, lão vẫn chưa bao giờ là m cho con gái tin lão được cả. Nà ng đã quen giấu giếm không cho cha biết những tình cảm, những ý nghĩ của nà ng, vì không bao giờ có thể biết trước được thái độ của Kirila PêtơrôvÃch đối với những tình cảm, ý nghĩ đó sẽ ra sao. Nà ng không có bạn gái, và lớn lên trong cảnh cô đơn. Vợ con những người láng giềng rất Ãt khi đến nhà Kirila PêtơrôvÃch, vì những câu chuyện và những trò giải trà thường ngà y của lão thì chỉ bạn bè nam giới mới thưởng thức nổi, chứ đà n bà con gái thì không thể có mặt những lúc đó được. Ãt khi cô thiếu nữ kiều diễm của chúng ta thân hà nh ra tiếp các tân khách đến tiệc tùng ở nhà Kirila PêtơrôvÃch. Một tủ sách đồ sộ, phần lớn gồm có những tác ph! ẩm của các nhà văn Pháp ở thế kỷ XVIII được dà nh riêng cho nà ng. Cha nà ng không bao giờ đọc sách, có chăng chỉ đọc cuốn âChị đầu bếp tuyệt vờiâ(6), cho nên không thể hướng dẫn nà ng chọn sách đọc, và cố nhiên là sau khi giở qua đủ các thứ sách, Masa chú ý nhất đến tiểu thuyết. Việc dạy dỗ cho nà ng là như vậy đó. Việc dạy dỗ nà y hồi trước do măm-den (tức mademoiselle - tiếng Pháp) Mimi đảm nhiệm. Người nà y được Kirila PêtơrôvÃch rất mực tin cậy và đối xử rất tử tế. Được Ãt lâu thì Kirila PêtơrôvÃch phải kÃn đáo cho măm-den đổi sang nơi ở khác, vì những hậu quả quá ư rõ rệt. Măm-den Mimi ra đi để lại một kỷ niệm khá dễ chịu. Cô ta là một người thiếu phụ tốt, và không bao giờ lạm dụng ảnh hưởng của mình trước Kirila PêtơrôvÃch đối với những người phụ nữ mà lão vẫn thường thay đổi luôn luôn. Còn Kirila PêtơrôvÃch hình như cũng yêu cô ta hơn hết thảy mọi cô khác, cho nên một đứa con trai lên chÃn nghịch ngợm, mắt đen láy, vẻ mặt nhắc nhở những nét đặt biệt miền nam của măm-den Mimi, được nuôi nấng bên cạnh lão ta và được lão nhận là m con; trong khi đó thì một lũ trẻ đi chân không, giống Kirila PêtơrôvÃch như hai giọt nước, chạy chơi ở dưới nhà và bị xem như đà y tớ. Kirila PêtơrôvÃch đã nhờ người bà con trên Mátxcơva thuê một ông thầy giáo ngư̖ để về dạy cho thằng Xasa ấy, người gia sư nà y đến ấp Pôkrốpxcôiê trong khi xảy ra những chuyện mà ! chúng ! tôi kể dở.
Kirila PêtơrôvÃch rất bằng lòng với vẻ mặt sáng sủa và dáng điệu hiền là nh của anh ta. Người gia sư đưa trình Kirila PêtơrôvÃch các tờ chứng chỉ văn bằng và một bức thư giới thiệu của người bà con của Tơrôiêkurốp ở Mátxcơva. Anh ta đã là m gia sư cho người ấy được bốn năm. Kirila PêtơrôvÃch xem qua tất cả giấy tờ. Lão chỉ không bằng lòng một điều: là cái anh chà ng người Pháp nà y trẻ quá. Không phải hễ mắc cái khuyết điểm không lấy gì là m đáng ghét nà y thì không có được đức tÃnh kiên nhẫn và những kinh nghiệm cần thiết để là m nghề dạy trẻ, nhưng lão ta thấy có điều e ngại và quyết định nói ra cho người gia sư biết. Vì thế lão cho gọi Masa đến (Kirila PêtơrôvÃch không nói được tiếng Pháp, nên Masa phải là m thông ngôn cho lão).
- Masa, lại đây cha bảo! Con nói với cái me-xừ nà y là thôi được, cha nhận hắn và o ở đây, nhưng phải nhớ một điều là phải liệu cái thần xác đừng có léng phéng với bọn hầu gái nhà nà y, không thì ông cho cái đồ chó đẻ kia biết tay⦠Thôi dịch đi.
Masa đỏ mặt, và quay sang phÃa người gia sư, nà ng nói bằng tiếng Pháp rằng cha nà ng hy vọng ở thái độ khiêm tốn và hạnh kiểm đúng mực của thầy giáo.
Người Pháp nghiêng mình và trả lời rằng dù không được hưởng đại lượng của chủ nhân chăng nữa, anh ta cũng hy vọng sẽ xứng đáng được chủ nhân nể vì.
Masa dịch câu trả lời sát từng chữ một.
- Được rồi, được rồi, – Kirila PêtơrôvÃch nói, – hắn không cần đến đại lượng hoặc vì nể gì cả. Việc của hắn là chăm cho thằng Xasa và dạy ngữ pháp với địa dư cho nó, dịch cho hắn nghe đi con!
Trong khi dch Maria Kirilốpna (tức Masa) cố là m dịu bớt những lời thô lỗ của cha, và Kirila PêtơrôvÃch cho anh gia sư người Pháp đi về căn phòng dọn rương cho anh ở cuối dãy nhà ngang.
Masa không hề để ý đến người Pháp trẻ tuổi; được giáo dục theo những thà nh kiến quý tộc, nà ng xem những người thầy giáo cũng như những người đà y tớ hay thầy thợ, mà đà y tớ hay thầy thợ thì không thể kể là đà n ông được. Nà ng cũng không để ý đến cái ấn tượng mà nà ng đã gây ra cho me-xừ Đêphoócgiơ, không nhận thấy vẻ bối rối và sự xúc động nó là m cho giọng nói của anh ta thay đổi đi. Luôn mấy ngà y sau nà ng cũng thường gặp anh ta, nhưng cũng vẫn không để ý gì hơn. Cho đến một hôm có một chuyện xảy ra là m cho quan niệm của nà ng về người gia sư thay đổi hẳn.
Trong sân của Kirila PêtơrôvÃch thường có nuôi mấy con chó con. Những con gấu nà y là một trong những trò yêu thÃch nhất của chủ nhân ấp Pôkrốpxcôiê. Lúc còn bé gấu con hà ng ngà y được đưa và o phòng khách cho lão chơi. Kirila PêtơrôvÃch ngồi đùa nghịch hà ng giờ với chúng nó, bắt mèo, chó con đến, rồi thúc giục mấy con vật cắn nhau. Khi gấu lớn lên, người ta đem xÃch lại để đợi ngà y thả ra là m mồi săn. Thỉnh thoảng người ta lại cho chúng ra ngoà i sân phÃa trước cửa sổ của chủ nhân, và lăn ra trước mặt con gấu cái thùng rượu rỗng, đóng đinh tua tủa, mũi đinh chĩa ra ngoà i; con gấu đến ngửi ngửi cái thùng, đưa chân sờ; bị chÃch, con vật nổi xung lên xô và o thùng mạnh hơn, và lại cà ng đau thêm. Nó lồng lên như điên và gầm ghè xông và o cái thùng, cho đến khi người ta chịu mang cất cái đối tượng của sự căm thù vô bổ của nó đi. Cũng có khi người ta mang buộc hai con gấu và o một chiếc xe, bắt một và i người khách ngồi lên và cho gấu kéo xe chạy đi đâu thì chạy. Như cái trò mà Kirila PêtơrôvÃch cho là thú vị nhất là trò sau đây.
Người ta nhốt một con gấu đói và o một căn phòng. Con gấu bị xÃch và o một cái vòng sắt đóng ở lớp tường. Cái dây xÃch rất dà i, cho nên chỉ có phần góc phòng ở bên kia là con gấu không chồm lên được. Người ta thường một người khách mới quen đến trước cửa phòng, bất thình lình đẩy họ và o phòng và đóng ập cửa lại. Thế là nạn nhân bị bỏ mặc một mình với tên tù lông lá. Người khách khốn khổ kia, áo quần rách mướp, da thịt xây xát, chẳng bao lâu tìm thấy cái góc an toà n, nhưng thường phải hà ng hai ba giờ đồng hồ đứng nép sát và o góc tường mà nhìn con thú điên cuồng chỉ cách mình hai bước gầm thét, lồng lộn, đứng thẳng hai chân lên, cố giật đứt dây để vồ mình. Những trò giải trà sang trọng của một lãnh chúa Nga là như vậy đấy!
Người gia sư đến được mấy ngà y thì Tơrôiêkurốp sực nhớ đến anh ta và quyết định đãi anh ta một buổi thăm phòng gấu. Một buổi sáng lão ta dẫn Đêphoócgiơ đi qua mấy dãy hà nh lang tối om. Đột nhiên một cánh cửa bên cạnh mở ra, hai người đà y tớ đẩy người Pháp và o và khoá sập cửa lại. Trấn tĩnh lại, người gia sư thấy một con gấu bị xÃch, con thú gầm gừ tức tối và bắt đầu đánh hơn người khách của hắn, rồi bỗng nhiên đứng thẳng lên và chồm tới⦠Người Pháp không hoảng sợ, không bỏ chạy, cứ đứng yên đợi con gấu đến. Khi con gấu vừa đến sát, Đêphoócgiơ rút trong túi ra một khẩu súng tay nhỏ, đưa sát và o mang tai con thú và bóp cò. Con gấu ngã xuống. Một người ùa chạy lại. Người ta mở cửa ra. Kirila PêtơrôvÃch bước và o, rất ngạc nhiên về cách kết thúc bất ngờ của trò đùa.
Kirila PêtơrôvÃch nhất định tìm cho ra nguyên do của việc nà y – ai nói trước cho Đêphoócgiơ biết mà đề phòng, vì sao anh ta lại mang súng trong người. Lão cho đi gọi Masa. Masa chạy đến và dịch các câu hỏi của cha cho người Pháp nghe. Đêphoócgiơ đáp:
- Tôi không hề biết trong phòng nà y có gấu, nhưng tôi vẫn thường mang súng trong mình, vì tôi không muốn để cho ai là m nhục. Mà thân phận hèn kém như tôi thì bị là m nhục không thể có cách gì khác để đòi hỏi bồi thường.
Masa kinh ngạc nhìn người gia sư và dịch Kirila PêtơrôvÃch nghe câu trả lời đó. Kirila PêtơrôvÃch không nói gì thêm. Lão sai mang con gấu ra và lột lấy da; ngay sau đó, quay lại phÃa người nhà , lão nói: âAnh chà ng nà y cừ thật! Hắn không sợ. Trời! Thế mà hắn không sợ tà nà o!â Từ phút đó lão thấy mến Đêphoócgiơ và không nghĩ đến việc mang anh ta ra thử nữa.
Nhưng đối với tâm hồn Maria Kirilốpna thì câu chuyện đó đã gây nên một ấn tượng còn mạnh hơn. Trà tưởng tượng của nà ng bị kÃch động: nà ng hồi tưởng thấy lại con gấu nằm chết. Đêphoócgiơ điềm nhiên đứng trên xác gấu và bình tĩnh nói chuyện với nà ng. Và nà ng hiểu rằng lòng can đảm và lòng tự trọng không phải chỉ là của riêng gì một đẳng cấp. Từ đó nà ng thấy mến phục người gia sư trẻ tuổi, và lòng mến phục đó ngà y cà ng khiến nà ng chú ý đến Đêphoócgiơ hơn. Họ bắt đầu là m quen với nhau. Masa có một giọng hát rất hay và có nhiều năng khiếu về âm nhạc, Đêphoócgiơ tình nguyện dạy nà ng học đà n. Sau khi đã nói như vậy rồi thì độc giả cũng chẳng khó khăn gì mà không đoán được rằng Masa đã bắt đầu thấy yêu Đêphoócgiơ, mặc dù chưa thú nhận với mình như vậy.
TẬP THỨ HAI
Chương IXt>
Trước ngà y hội một hôm, khách khứa bắt đầu kéo đến. Một số trọ ở trong nhà của chủ nhân và trong hai dãy nhà phụ, một số trọ ở nhà viên quản lý, một số nữa ở lại nhà ông cố đạo, một số khác ở lại nhà những người nông dân khá giả. Các chuồng ngựa đều chật nÃch, các khoảng sân, các nhà chứa đồ xếp đầy xe cộ. ChÃn giờ sáng tiếng chuông nhà thờ gọi con chiên đến xem lễ, và tất cả đều kéo ra ngôi nhà thờ bằng đá do Kirila PêtơrôvÃch dựng lên và hà ng năm cúng tiền tu sửa trang hoà ng. Các con chiên quyền quý đến đông quá thà nh ra nông dân không len nổi và o nhà thờ và đà nh đứng ở bậc thềm hoặc ở ngoà i sân. Buổi lễ chưa bắt đầu – còn phải đợi Kirila PêtơrôvÃch. Lão ta đi xe lục mã đến và long trọng bước và o nhà thờ, đi theo có Maria Kirilốpna. Mắt những người đến dự lễ dù đà n ông hay đà n bà đều đỗ dồn về phÃa nà ng, đà n ông thì thán phục sắc đẹp của nà ng, đà n bà thì chăm chú ngắm nghÃa trang phục của nà ng. Buổi lễ bắt đầu. Đội đồng ca của nhà Tơrôiêkurốp đứng hát ở trên bậc. ChÃnh Kirila PêtơrôvÃch cũng hoà giọng hát theo và khi cầu nguyện không hề liếc mắt sang bên nà y bên nọ; lão cúi mình sát đất với một vẻ từ bi đầy kiêu hãnh khi người là m lễ nhắc đến tên người sáng lập ngôi đền nà y.
Buổi lễ chấm dứt, Kirila PêtơrôvÃch bước lên hôn thánh giá trước tiên. Mọi người đều lần lượt lên theo. Sau đó các tân khách xúm lại kÃnh cẩn hỏi thăm Kirila PêtơrôvÃch. Các bà các cô thì quây quần xung quanh Masa. Ra khỏi nhà thờ, Kirila PêtơrôvÃch mời mọi người đến nhà lão dự tiệc, rồi ngồi lên xe lục mã trở về nhà . Tất cả đều kéo theo sau. Các phòng trong nhà đều chật những khách khứa. Cứ một lúc lại thêm những người khách mới đến. Họ chật vật lắm mới len được lại gần chủ nhân mà chà o hỏi. Các phu nhân mặc áo kiểu cũ sang trọng, nhưng đã sờn, đeo đầy những ngọc và kim cương, trang trọng ngồi quây thà nh hình bán nguyệt. Các vị khách nam giới quây quần bên món trứng cá và mấy chai vốt-ca, cất giọng ồm ồm cãi nhau ầm ĩ. Trong gian phòng khách lớn bà y một bà n tiệc tám mươi người ăn. Bọn đà y tớ đi lại vội vã, đặt chai cốc, sửa lại khăn bà n. Cuối cùng người đầu bếp cả tuyên bố: âTiệc đã dọn xongâ, và Kirila PêtơrôvÃch ngồi và o bà n trước tiên, rồi đến các phu nhân long trọng ngồi và o chỗ theo thứ tự ngôi bậc, các tiểu thư xúm xÃt với nhau như một bầy dê non sợ sệt và chọn chỗ ngồi nép và o gần nhau. Trước mặt các cô các bà là khách nam giới. Người gia sư ngồi ở cuối bà n bên cạnh cậu bé Xasa.
Gia nhân bắt đầu dọn thứ ăn theo thứ tự ngôi bậc, và trong những trường hợp khó xử họ theo phương pháp ức đoán của Laphate(7) một cách rất có kết quả. Tiếng thìa đĩa chạm và o nhau kêu lách cách, chen lẫn với tiếng nói chuyện ồn à o của khách khứa. Kirila PêtơrôvÃch vui vẻ điểm qua bà n tiệc và khoái trá hưởng lấy cái thú của người đãi tiệc⦠Vừa lúc đó một chiếc xe lục và o sân. Chủ nhân hỏi:
- Ai đến đấy?
- Antôn PápnutÃch đấy ạ. – Mấy tiếng trả lời cùng cất lên lao xao.
Cửa mở và Antôn PápnutÃch XpÃtxưn, một người béo phục phịch tuổi khoảng năm mươi, mặt tròn và rỗ, cằm ba ngấn, huỳnh huỵch bước và o phòng ăn, chà o chà o hỏi hỏi, miệng cười nhăn nhó tìm câu xin lỗiâ¦
- Mang thêm một bộ đĩa ra đây! â" Kirila PêtơrôvÃch quát. â" Xin mời ông Antôn PápnutÃch ngồi xuống và kể cho chúng tôi nghe vì sao ông không đến xem lễ, mà đến dự tiệc cũng muộn. Xưa nay đâu có thế? Ã"ng thường mộ đạo lắm, mà cũng thÃch chè chén lắm cơ mà !
Antôn PápnutÃch vừa buộc chiếc khăn tay và o cổ áo vừa đáp:
- Tôi thật là không phải, xin bác Kirila PêtơrôvÃch xá lỗi cho. Quả tình tôi ra đi từ rất sớm, nhưng mới đi được mười véc-xta thì bánh xe phÃa trước bị gãy và nh – biết là m thế nà o được? May mà cũng gần là ng mạc, thế là kéo và o, đi tìm thợ rèn, loay hoay mãi ba tiếng đồng hồ mới xong, không có cách gì khác. Đi tắt qua con đường rừng Kixtênhốpca thì tôi không dám, thế là cứ phải quanh theo đường cái quanâ¦
Tơrôiêkurốp ngắt lời:
- à hê! Thế ra ông bạn nà y cũng chẳng lấy gì là m can đảm cho lắm nhỉ? Thế ông sợ cái gì nà o?
- Chao, sợ cái gì à , thưa bác? Sợ cái thằng Đubrốpxki chứ còn sợ cái gì nữa? Nhỡ chẳng may rơi và o tay hắn thì khốn to – hắn là tay đáo để lắm, hắn chẳng tha ai, còn như tôi đây thì có lẽ hắn lột xác ra chứ chẳng chơi!
- Vì sao hắn lại chiếu cố đặc biệt đến ông như vậy?
- Còn vì sao nữa, thưa bác? Vì cái vụ kiện sinh thời lão Anđrây GavrilôvÃch chứ còn vì sao nữa! Thì chÃnh tôi đã vì bác, nghĩa là ⦠vì lương tâm và công lý, mà là m chứng rằng họ nhà Đubrốpxki chẳng có quyền gì ở ấp Kixtênhốpca, chỉ nhờ bác dung tha cho mà được là m chủ ở đấy chứ còn ai? Sinh thời lão ta (Chúa cứu lấy linh hồn lão!) đã hứa thế nà o cũng cho tôi biết tay, và thằng con của lão thế nà o cũng giữ trọn lời hứa đó. Kể cho đến bây giờ, thì Chúa vẫn phù hộ cho tôi – cả thảy chỉ có một lần tôi bị cướp một cái nhà kho nhỏ, nhưng rồi thế nà o bọn hắn cũng và o đến dinh thự.
- Chà ! Nó mà và o được dinh thự ông thì tha hồ cướp nhỉ! Tôi chắc cái tráp đỏ của ông đầy ứ ra rồi còn gì?
- Đâu có, thưa bác. Dạo trước thì đầy, chứ bây giờ chẳng còn gì.
- Thôi nói dối vừa vừa chứ, Antôn PápnutÃch! Ai còn lạ gì ông: ông thì còn tiêu tiền đi đâu được, ở nhà thì sống như ăn mà y, chẳng bao giờ mời khách khứa gì, nông dân thì ông vơ vét đến tận xương tuỷ, ông chỉ biết nhặt từng đồng xu thôi.
- Bác cứ quá đùa như vậy, bác Kirila PêtơrôvÃch, – Antôn PápnutÃch lầu bầu cười gượng, – chứ chúng tôi, lạy Chúa, quả là đã khánh kiệt thật, – và Antôn PápnutÃch cho và o mồm miếng thịt tẩm bột rán béo ngậy để nuốt trôi câu nói đùa của chủ nhân.
Kirila PêtơrôvÃch buông tha cho hắn và quay sang viên cảnh sát trưởng ngồi ở cuối bà n, gần chỗ người gia sư. Viên cảnh sát trưởng nà y mới được bổ nhiệm, hắn đến nhà Tơrôiêkurốp lần nà y là lần đầu.
- Thế nà o, thưa ông cảnh sát trưởng, ông cũng phải liệu mà bắt cái thằng Đubrốpxki đi chứ?
Viên cảnh sát trưởng luống cuống, cúi đầu, mỉm cười ngượng nghịu, lắp bắp gì trong mồm một lúc và cuối cùng chỉ nói đư̖
- Thưa quan lớn, chúng tôi sẽ cố bắt.
- Hừm, cố bắt, cố bắt! Cố bao nhiêu lần rồi, mà chẳng ăn thua gì. Nhưng mà nghĩ cũng phải, bắt là m gì kia chứ! Những vụ cướp của Đubrốpxki là một dịp may cho các ngà i cảnh sát â" đi công cán nà y, lập biên bản nà y, xe cộ nà y, tha hồ vơ tiền đút túi – tội gì đi bắt một người ân nhân như vậy? Có phải không ông cảnh sát trưởng?
Viên cảnh sát trưởng hoà n toà n rối trÃ. Hắn đáp:
- Thưa quan lớn, chÃnh phải đấy ạ.
Khách khứa cười rộ. Kirila PêtơrôvÃch nói:
- Tôi ưa tÃnh thật thà của cái anh nà y. Nhưng tôi vẫn tiếc anh cảnh sát trưởng Tarát AlếchxêêvÃch chết đi, giá mà anh ta không bị chết thiêu thì bây giờ trong vùng có lẽ yên ổn hơn. Thế còn Đubrốpxki dạo nà y ra sao rồi. Vừa rồi hắn xuất hiện ở đâu?
Một giọng đà n bà nheo nhéo:
- Ở nhà tôi, bác Kirila PêtơrôvÃch ạ, hôm thứ ba vừa rồi hắn ta ăn bữa trưa ở nhà tôi đấyâ¦
Bao nhiêu con mắt đều đổ dồn về phÃa Anna Xavisna Glôbôva, một mụ đà n bà goá giản dị, được mọi người mến vì tÃnh tình vui vẻ và hiền là nh. Ai nấy đều tò mò lắng tai nghe mụ kể.
- Số là cách đây ba tuần tôi cho viên quản lý ra trạm gửi tiền cho thằng Vanhia nhà tôi. Tôi không nuông con đâu, vì cũng chẳng có gì để mà nuông chiều nó, nhưng các ông các bà cũng biết rằng đã là m sĩ quan cận vệ thì cũng phải cho nó tươm tất một tÃ, cho nên tôi có được bao nhiêu cũng gửi ra cho thằng Vanhia. Thế là hôm đó tôi gửi cho hắn hai nghìn rúp; tuy tôi cũng có sợ Đubrốpxki, nhưng tôi nghĩ lên phố gần chỉ độ bảy véc-xta chắc Chúa cũng phù hộ cho. Thế rồi đến tối thấy viên quản lý đi bộ về, mặt tái xanh, áo quần rách mướp; tôi hét lên: âMà y là m sao thế? Việc gì thế?â Hắn thưa: âThưa bà Anna Xavisna, bọn cướp lấy cả rồi, suýt nữa thì chúng nó giết tôi â" chÃnh Đubrốpxki có mặt ở đấy. Hắn định treo cổ tôi, nhưng sau lại thương hại và thả cho về – nhưng mà hắn lấy tất, cả xe ngựa hắn cũng lấyâ. Tôi nghe mà rụng rời: trời đất, kiếm đâu ra tiền cho thằng Vanhia nữa? Thế là tôi đà nh gửi thư cho nó, kể lại mọi chuyện và gửi lời ban phước cho nó mà chẳng kèm một xu.
Một tuần trôi qua, rồi một tuần nữa. Bỗng một hôm có một chiếc xe ngựa đi và o sân nhà tôi. Một ông võ quan nà o đó muốn gặp tôi, tôi nói: âXin mời ông quá bộ và o nhà â. Một người chừng ba mươi lăm tuổi, da ngăm ngăm đen tóc đen, có ria mép và râu quai nón, trông giống y như Kulnhốp(8) tự giới thiệu là bạn đồng ngũ với mồ ma chồng tôi là Ivan AnđrêêvÃch, Ã"ng ta nói là nhân thể đi ngang qua, nghe nói tôi ở đây liền ghé lại thăm người quả phụ của bạn cũ. Tôi kiếm thức ăn thết ông ta, nói chuyện linh tinh, và cuối cùng chuyển sang chuyện Đubrốpxki. Tôi kể cho ông ta nghe cái tai nạn vừa xảy ra cho tôi. Ã"ng võ quan mặt sa sầm lại. âThật là kỳ quặc, – ông ta nói thế, – tôi có nghe nói Đubrốpxki không phải bạ ai cũng cướp, chỉ cướp mấy nhà già u nà o đấy thôi, mà có cướp cũng không cướp cả, chỉ chia lấy một phần; còn như giết người thì chẳng bao giờ nghe ai nói. Có lẽ có điều gì uẩn khúc đây chăng, bà cho gọi viên quản lý ra đây xemâ. Tôi cho gọi viên quản lý ra, hắn trông thấy ông võ quan thì choáng người đi. âAnh kể cho tôi nghe xem Đubrốpxki cướp của anh và toan treo cổ anh như thế nà o nà oâ. Thế là viên quản lý nhà tôi run lên cầm cập và sụp xuống lạy ông võ quan. âBẩm lạy ngà i, con trót dại, con trót nói dối ạâ. â" âNếu vậy, – viên võ quan đáp, – nếu vậy thì anh là m ơn kể cho bà chủ! nghe xem việc xảy ra như thế nà o, ta sẽ ngồi nghe vớiâ. Viên quản lý ấp úng mãi không nói lên lời. Ã"ng võ quan nói: âThế nà o anh kể đi ta nghe, anh gặp Đubrốpxki ở chỗ nà o?â âỞ gần hai cây thông ạ, thưa ngà i gần hai cây thông ạâ. â" âThế Đubrốpxki nói với anh thế nà o? â" âDạ, ông ấy hỏi con là ai, đi đâu, có việc gì ạâ. â" âRồi sao nữa?â â" âRồi ông ấy bắt con đưa thư và tiền cho ông ấy ạâ. â" âThế ông ta là m sao, hả? Thế ông ta là m gì nữa mới được chứ!â â" âDạ ông ấy trả thư và tiền lại cho con, rồi nói: anh đi yên ổn nhé, mang thư ra trạm điâ. â" âThế còn mà y?â â" âDạ con trót dại ạâ. Ã"ng võ quan giọng dữ tợn nói: âTa sẽ cho mà y biết tay, còn bà chủ, bà cho soát rương hòm của tên ăn cắp nà y, và giao hắn cho tôi trị, tôi sẽ cho hắn một bà i học. Bà nên biết rằng chÃnh Đubrốpxki ngà y trước cũng là sĩ quan cận vệ, và không đời nà o lại đi cướp giật của bạn đồng ngũâ. â" Tôi đoán ra quan lớn là ai rồi, tôi chẳng còn gì bà n với ngà i nữa. Bọn xà Ãch trói viên quản lý và o ghế xe – người ta đã tìm ra số tiền; ông võ quan ăn cơm ở nhà tôi xong đi ngay, mang cả viên quản lý đi. Hôm sau người ta tìm thấy viên quản lý nhà tôi ở trong rừng. Bị trói và o một cây sồi, mình mẩy xây xát ra như một thân cây bóc vỏ.
Tất cả mọi người đều im lặng nghe câu chuyện của Anna Xavisna, nhất là các cô thiếu nữ. Nhiều cô thầm mong mỏi cho Đubrốpxki gặp điều may mắn vì thấy chà ng như một nhân vật tiểu thuyết – nhất là Maria Kirilốpna, một cô gái có tâm hồn thơ mộng và say sưa, đầu óc luôn vấn vương với những hình ảnh kinh hoà ng và bà ẩn của RátclÃp(9).
Kirila PêtơrôvÃch lên tiếng:
- Thế là bà Anna Xavisna cho rằng chÃnh Đubrốpxki đến nhà bà đấy. Thế thì bà nhầm to rồi. Tôi không biết người đến nhà bà hôm đó là ai, nhưng nhất định không phải là Đubrốpxki.
- Thế nà o, thưa bác! Không phải Đubrốpxki thì còn ai và o đấy nữa, mà lại có lối chặn đường bắt con người ta mà lục soát như vậy?
- Không biết, nhưng nhất định người hôm đó không phải là Đubrốpxki. Tôi còn nhớ hồi hắn còn bé, không biết bây giờ tóc hắn có thể nà o đen đi được không, chứ hồi đó tóc hắn quăn và và ng, hơn nữa tôi biết chắc chắn rằng hắn hơn con Masa nhà tôi năm tuổi, và như vậy năm nay hắn không phải băm nhăm tuổi, độ hăm ba thôi.
Viên cảnh sát trưởng nói:
- Bẩm quan lớn đúng thế đấy ạ. Tôi có mang theo đây một bản nhân dạng và đặc điểm của Vlađimia Đubrốpxki. Trong giấy có nói rõ là năm nay hắn đúng hai mươi ba tuổi.
Kirila PêtơrôvÃch nói:
- Ã, thế thì đúng lúc lắm: anh đọc lên nghe xem, cũng nên biết nhân dạng đặc biệt của hắn, nhỡ may gặp hắn sờ sờ trước mắt mà cũng không biết thì thậtâ¦
Viên cảnh sát trưởng rút trong túi ra một tờ giấy khá bẩn, mở ra với một dáng điệu long trọng và bắt đầu ê a đọc:
âNhân dạng của Vlađimia AnđrêêvÃch Đubrốpxki lập ra theo lời những người nguyên gia nhân của y tả lại:
Tuổi: hai mươi ba.
Hình vóc: tầm thước.
Mặt: nhẵn (thường cạo râu).
Mắt: nâu.
Mũi: thẳng.
Tóc: mà u hung nhạt.
Đặc điểm cá biệt: không cóâ
- Thế là hết đấy phỏng? â" Kirila PêtơrôvÃch nói.
- Vâng hết đấy ạ, – viên cảnh sát trưởng vừa gấp tờ giấy lại, vừa đáp
- Tôi xin có lời khen ông cảnh sát trưởng. Chà ! Giấy má thật ra trò! Cứ theo bản nhân dạng nà y thì tìm thấy Đubrốpxki dễ như bỡn. Ai mà lại chẳng người tầm thước, tóc hung nhạt, mũi thẳng và mắt nâu kia chứ! Tôi đánh cuộc rằng có thể đứng nói chuyện hà ng ba tiếng đồng hồ liền với chÃnh Đubrốpxki mà không hề hay biết gì đấy. Chả phải nói, đầu óc bọn nha lại thật là â¦
Viên cảnh sát trưởng dáng nhẫn nhục bỏ tờ giấy của y và o túi và im lặng quay ra tấn công và o con ngỗng nấu bắp cải; trong khi đó bọn gia nhân đã đi được khắp lượt bà n ăn mấy lần, rót rượu và o cốc cho từng người. Mấy chai rượu được mở nút kêu bôm bốp, người ta gọi nó là sâm-banh và hân hoan đưa cốc ra hứng lấy. Mấy cái mặt bắt đầu ửng đỏ, tiếng nói chuyện to hơn lên, những câu chuyện nở ra rộn rã hơn, Ãt mạch lạc hơn và vui vẻ hơn.
Kirila PêtơrôvÃch tiếp:
- Không, không còn có được một viên cảnh sát trưởng nà o như sinh thì Tarát AlếchxêêvÃch! Cái anh mới thật ra trò. Thật là đáng tiếc rằng hắn lại chết cháy mất, nếu không thì cả bọn không thoát lấy được một mống. Hắn sẽ bắt được tất, ngay cả thằng Đubrốpxki nữa cũng không lọt nổi hắn. Tiền thì hắn cứ lấy, nhưng người thì hắn cứ bắt, lệ của hắn là như vậy. Rõ rà ng chẳng có cách gì hơn là tôi thân chinh kéo người nhà tôi đi đánh cướp. Đầu tiên là tôi cho độ hai mươi người và o cà n quét khu rừng chúng ở; người của tôi là người gan dạ cả, ai nấy đều đã nếm mùi buồng gấu rồi – họ sẽ không lùi bước trước bọn cướp.
Antôn PápnutÃch nghe nói đến buồng gấu lại sực nhớ đến người bạn lông lá của mình ngà y trước â" có dạo lão ta cũng đã từng là nạn nhân của những trò đùa như vậy, – lão liền hỏi thăm:
- Con gấu của bác có khoẻ không, báKirila PêtơrôvÃch?
Kirila PêtơrôvÃch đáp:
- Con Misa (tên thường dùng để chỉ con gấu) đã mệnh chung rồi, nó đã chết một cái chết vẻ vang vì bà n tay kẻ thù. Kẻ đã chiến thắng nó kia kìa, – Kirila PêtơrôvÃch chỉ và o Đêphoócgiơ. â" Ã"ng nên tôn thờ cái anh người Pháp nhà tôi mới phải. Anh ta đã trả thù cho sự⦠có thể nó là sự⦠của bác, bác còn nhớ đấy chứ?
Antôn PápnutÃch gãi đầu đáp:
- Không nhớ sao được ạ, nhớ lắm chứ! Như vậy là con Misa đã chết rồi. Tội nghiệp cho nó chưa. Con gấu đến là hay! Thật là một con vật thông minh! Khó kiếm đâu ra con gấu như vậy. Nhưng mà tại sao me-xừ kia lại giết nó đi?
Kirila PêtơrôvÃch vô cùng khoái trá bắt đầu kể lại cái chiến công của anh người Pháp của lão, vì lão có cái may mắn là có thể hãnh diện về bất cứ cái gì ở chung quanh mình. Khách khứa chăm chú nghe kể câu chuyện con Misa chết và kinh ngạc nhìn Đêphoócgiơ. Người gia sư bấy giờ không hề hay biết rằng người ta đang nói chuyện về chiến công anh dũng của mình, anh ta điềm nhiên ngồi ở cuối bà n, nghiêm nghị quở trách những cử chỉ thiếu lễ độ của thằng học trò.
Buổi tiệc kéo dà i luôn ba tiếng đồng hồ mới xong; chủ nhân đặt khăn ăn xuống bà n â" ai nấy đều đứng dậy và đi ra phòng khách uống cà -phê, đánh bà i, và tiếp tục cuộc vui đã bắt đầu một cách linh đình trong phòng ăn.
Chương X
Đến khoảng bảy giờ tối và i người khách muốn về, nhưng chủ nhân cao hứng lên vì hơi rượu pun-sờ, ra lệnh đóng các cổng lại và tuyên bố không cho ai ra khỏi nhà từ giờ đến sáng mai. Một lúc sau âm nhạc nổi lên, các cửa ở phòng khách mở ra và cuộc khiêu vũ bắt đầu. Chủ nhân và các bạn thân ngồi ở góc phòng, chén tạc chén thù ngồi ngắm thanh niên vui chơi. Các bà già thì đánh bà i. Cũng như ở bất cứ nơi nà o không có một lữ đoà n kỵ binh đóng, hôm ấy số khách nhảy nam giới Ãt hơn là nữ giới, và hễ người đà n ông nà o nhảy được là bị huy động ra cả. Người gia sư nhảy trội hơn hết, anh ta nhảy nhiều hơn mọi người khác, các tiểu thư đều thÃch chọn anh ta và cho rằng nhảy với anh ta rất dễ. Anh ta nhảy mấy bà i van-xơ với Maria kirilốpna, và các tiểu thư nhìn theo họ cười tủm tỉm. Cuối cùng và o khoảng nửa đêm chủ nhân đã mệt bèn ra lệnh chấm dứt khiêu vũ, cho dọn bữa ăn khuya và cáo từ đi ngủ.
Kirila PêtơrôvÃch đi khỏi rồi thì khách khứa thấy tự do hơn và không khà náo nhiệt hẳn lên â" các khách nhảy nam giới dám đến ngồi bên cạnh các cô các bà â" các tiểu thư cười khanh khách, nói chuyện thì thầm với những người ngồi cạnh; các bà lớn kháo chuyện rất to tiếng qua bà n ăn. Đà n ông thì uống rượu, cãi nhau và cười ha hả – nói tóm lại, buổi ăn khuya đặc biệt huyên náo vui vẻ và để lại nhiều kỷ niệm rất thú vị.
Chỉ có một người không hưởng ứng không khà vui vẻ chung: đó là Antôn PápnutÃch. Lão im lặng ngồi thừ ra, mặt mà y sa sầm xuống, ăn uống một cách lơ đãng và có vẻ hết sức lo lắng. Những câu chuyện cướp bóc đã kÃch động trà tưởng tượng của lão rất mạnh. Lát nữa ta sẽ thấy rằng lão lo lắng như vậy là có lý do.
Khi lấy Đức Chúa trời là m chứng rằng cái tráp đỏ của lão không có gì, Antôn PápnutÃch không hề mắc tội nói dối, – quả thật cái tráp đỏ rỗng tuếch: tiền bạc trước kia cất ở đấy bây giờ đã di chuyển sang một cái túi da mà lão nhét ở trong ngực, dưới lần áo sơ-mi. Chỉ có cách đề phòng cẩn mật như vậy lão mới yên tâm được một phần: lão vốn nghi ngờ hết thảy mọi người và không giấy phút nà o không lo ngay ngáy. Phải ngủ lại nhà người khác, lão sợ rằng người ta sẽ cho lão ngủ trong một căn phòng trơ trọi nà o đó mà kẻ trộm có thể lọt và o. Lão đưa mắt quanh phòng kiếm một người bạn có thể tinậy để ngủ cùng với lão. Và cuối cùng lão chọn Đêphoócgiơ. Dáng người cứng cáp của anh gia sư và nhất là lòng can đảm mà anh ta đã biểu lộ ra trong khi gặp con gấu (nhớ đến con gấu Antôn PápnutÃch không khỏi rùng mình) đã quyết định việc chọn lựa nà y của lão.
Khi buổi ăn khuya đã xong và mọi người đứng dậy, ra khỏi bà n ăn, Antôn PápnutÃch cứ lượn đi lượn lại quanh anh gia sư người Pháp, ho ho, đằng hắng mấy cái và cuối cùng nói với anh ta:
- Hừm, hừm, me-xừ có thể cho tôi ngủ trong phòng của me-xừ một tÃ, vì rằng thì, me-xừ cũng đã rõ là â¦
- Que désire monsieur? (Thưa ngà i cần gì? – tiếng Pháp) â" Đêphoócgiơ lễ phép nghiêng mình hỏi.
- Chà , phiền quá, cái me-xừ nà y chưa học tiếng Nga. Giơ vơ, moa, sê vu cu-sê (Tôi muốn ngủ ở phòng ông – tiếng Pháp bồi), hiểu không?
- Monsieur, très volontiers, – Đêphoócgiơ đáp. â" Veuillez donner des ordres en conséquence (Thưa ông, xin sẵn lòng, vậy xin ông cứ ra lệnh dọn buồng – tiếng Pháp)
Rất hà i lòng về sự thông thạo tiếng Pháp của mình, Antôn PápnutÃch lập tức sai người đi dọn buồng.
Khách khứa bắt đầu cáo từ nhau, và ai nấy đều về phòng riêng dà nh cho mình. Còn Antôn PápnutÃch thì theo người gia sư về căn phòng ở dãy nhà dọc. Đêm hôm ấy trời tối như mực, Đêphoócgiơ cầm đèn soi đường, Antôn PápnutÃch theo sau một cách khá mạnh bạo, thỉnh thoảng lại đưa tay lên sờ sờ cái bọc da giấu trong ngực để cho chắc bụng là tiền hãy còn.
Và o phòng, người gia sư thắp một cây đèn nến lên và hai người bắt đầu cởi quần áo ngoà i; trong khi đó, Antôn PápnutÃch đi đi lại lại trong phòng, xem xét các ổ khoá và các cửa sổ, lắc đầu có vẻ không yên tâm lắm về các thứ đó. Cửa ra và o thì chỉ cà i một then, mà cửa sổ thì chưa lắp khu đôi(10). Lão muốn than phiền với Đêphoócgiơ, nhưng cái vốn tiếng Pháp của lão quá hạn chế, không đủ dùng để nói những điều phức tạp như vậy, cho nên anh người Pháp không hiểu lão nói gì và Antôn PápnutÃch đà nh phải thôi. Giường của họ đặt cạnh nhau, cả hai đều nằm xuống và người gia sư tắt đèn.
- Puốc-qua vu tắt-tê, puốc-qua vu tắt-tê? (Tại sao ông lại tắt đèn? – tiếng Pháp bồi) â" Antôn PápnutÃch kêu lên như vậy: lão chia bừa động từ tắt theo kiểu Pháp. â" Tôi không thể đoóc-mia (ngủ – tiếng Pháp bồi) trong bóng tối thế nà y được.
Đêphoócgiơ không hiểu những lời ta thán đó và chúc lão ngủ ngon giấc. Antôn PápnutÃch trùm chăn kÃn mÃt, miệng lẩm bẩm.
- Rõ đồ chết rấp! Hắn việc gì phải tắt đèn kia chứ. Mặc kệ hắn, ông nhất định không thể tối om thế nà y mà ngủ đựơc. Nà y me-xừ! Me-xừ! Giơ vơ a-véc vu pạc-lê! (tôi muốn nói với ông – tiếng Pháp bồi)
Nhưng người Pháp không trả lời, và được một lúc thì bắt đầu ngáy khò khò. Antôn PápnutÃch tự nhủ: âCái thằng Pháp chết tiệt nà y nó ngáy, thế mà mình thì chẳng nghĩ đến chuyện ngủ được nữa â" không khéo bọn kẻ trộm sẽ mở được cửa lớn hay leo qua cửa sổ mà và o thì bỏ mẹ, còn cái đồ súc vật nà y thì súng thần công cũng không thức hắn dậy đượcâ.
Me-xừ! Nà y me-xừ!⦠Đồ chết rấp!
Antôn PápnutÃch im bặt. Sự nhọc mệt và hơi rượu mạnh dần dần lấn át những nỗi lo sợ của lão: lão bắt đầu thiu thiu, rồi chẳng bao lâu thì ngủ say.
Một cuộc thức giấc kỳ dị đang chờ lão. Trong giấc mơ mà ng lão có cảm tưởng như có ai khẽ kéo cổ áo của lão. Antôn PápnutÃch mở mắt ra â" và trong ánh sáng lờ mờ của một buổi bình minh mùa thu nhợt nhạt, lão thấy Đêphoócgiơ đứng trước một tay tên Pháp cầm một khẩu súng ngắn và tay kia đang mở cái túi da quý báu củ lão. Antôn PápnutÃch choáng người đi. Lão cất giọng run run hỏi:
- Két-xơ cờ xê, me-xừ, két-xơ cờ xê (Cái gì thế? – tiếng Pháp bồi)
- Im ngay! Không được nói! – người gia sư trả lời bằng một thứ tiếng Nga rất thuần tuý. â" Im ngay, không thì chết bây giờ! Ta là Đubrốpxki.
Chương XI
Bây giờ thì chúng tôi xin phép độc giả được giải thÃch rõ câu chuyện trên đây bằng cách kể lại những việc đã xảy ra từ trước, mà chúng tôi chưa có thì giờ nói đến.
Ở trạm N., trong nhà của viên coi trạm mà chúng ta đã có nhắc đến một lần trước kia, có một người hà nh khách có vẻ hiền là nh và nhẫn nhục đang ngồi ở một góc. Bộ dạng của người hà nh khách chứng tỏ hắn ta là người bình dân hoặc là người ngoại quốc, nghĩa là cái thứ người mà và o trạm cũng chẳng có vai vế gì. Chiếc xe ngựa của hắn đỗ ở ngoà i sân, đang đợi người ta cho dầu mỡ. Trong chiếc xe có một chiếc va-li nhỏ, kÃch thước chật hẹp của chiếc va-li chứng tỏ rằng chủ nhân của nó hoà n cảnh cũng chẳng lấy gì là m phong lưu. Người khách không gọi chè, cũng không gọi cà -phê; hắn ngồi nhìn ra cửa sổ và huýt sáo khe khẽ là m cho mụ vợ viên coi trạm ngồi bên kia tấm liếp nghe mà lộn ruột lên. Mụ lẩm bẩm:
- Đấy, trời đã phái một anh huýt sáo đến đây, cha chả là huýt, sao mà huýt mãi được thế, cái đồ chết rấp!
Viên coi trạm nói:
- Thì đã sao nà o!
- Thế ông không biết đấy là điềm gì à ?
- Điềm gì? Thổi sáo thì thổi bay cả tiền đi chứ gì? Ã"i dà o! Bà Pakhômốpna nhà nó ạ, nhà ta thì có huýt hay không huýt cũng chả bao giờ có được tà tiền nà o.
- Thì ông cho hắn đi quách đi có được không, ông XiđôrôvÃch, còn giữ lại là m quái gì nữa. Đưa ngựa ra cho nó, rồi tống cổ đi.
- Để cho hắn đợi đấy bà nó ạ; trong chuồng chỉ còn ba cỗ ngựa, cỗ thứ tư nghỉ, phải phòng có khách sang đến chứ; tôi dại gì để họ đánh cho ốm đòn chỉ vì cái thằng Pháp khỉ nà y. Đây kìa, nghe thấy không, có tiếng ngựa phi. Ãi chà ! Phi rất là nhanh, có lẽ phải đến cấp tướng chứ chả chơi!
Chiếc xe dừng lại ở trước thềm. Một người hầu nhảy xuống mở cửa xe và một phút sau một người trẻ tuổi mặc áo khoác nhà binh và đội mũ lưỡi trai trắng bước và o nhà viên coi trạm – người hầu bưng một cái tráp theo sau và đặt nó xuống khung cửa sổ. Viên sĩ quan cất giọng hách dịch nói:
- Ngựa đâu!
- Có ngay, thưa ngà i, – viên coi trạm đáp. â" Xin ngà i cho xem giấy lộ trình(11).
- Ta không có giấy lộ trình. Ta đi đến⦠Thế anh nà y không nhận ra ta là ai à ?
Viên coi trạm cuống lên và vội chạy đi giục bọn phu trạm. Người khách trẻ tuổi bắt đầu đi đi lại lại trong phòng, rồi sang bên kia tấm liếp và hỏi nhỏ mụ chủ trạm xem người hà nh khách ngồi ở góc phòng là ai. Mụ đáp:
- Có trời biết được, một thằng Pháp nà o đấy. Hắn ngồi đợi ngựa và huýt sáo năm tiếng đồng hồ rồi đấy. Cái thằng cha khó chịu lạ.
Người trẻ tuổi nói với người hà nh khách bằng tiếng
- Ã"ng đi đâu đấy ạ?
- Tôi đi đến thị xã gần đây, và sau đó đi về nhà một lão địa chủ đã nhắn người thuê tôi là m gia sư. Tôi tÃnh ngà y hôm nay là đến nơi rồi, nhưng mà ông coi trạm hình như không muốn như vậy. Ở cái xứ nà y, thưa ngà i sĩ quan, khó tìm đâu ra ngựa lắm.
- Thế anh về là m với lãnh chúa nà o ở vùng nà y? â" viên sĩ quan hỏi.
- Với ông Tơrôiêkurốp ạ, – người Pháp trả lời.
- Với ông Tơrôiêkurốp? Tơrôiêkurốp là ai thế nhỉ?
- Ma foi, mon officier⦠(Thực tình, thưa ông sĩ quan – tiếng Pháp) Tôi nghe người ta nói nhiều điều chẳng là nh về ông nà y. Họ bảo rằng ông ta là người hách dịch, hay dở chứng, mà với người nhà thì đối xử rất hung ác, rằng không ai có thể hợp với ông ấy được, rằng ai nghe đến tên ông cũng phải run sợ, họ lại còn nói rằng ông chẳng kiên nể gì bọn gia sư (avec les outchitels – tiếng Pháp trong nguyên bản. Chữ âoutchitelsâ vốn là tiếng Nga, người ngoại quốc thường dùng để chỉ người gia sư.) và có hai người đã bị ông ta đánh gần chết.
- Trời! Thế mà ông lại định đến ở với một con quái vật như vậy ư?
- Biết là m thế nà o được, thưa ngà i sĩ quan? Ã"ng ta trả lương hậu, mỗi năm ba nghìn rúp, cơm ăn áo mặc. May ra tôi có phúc hơn mấy người trước chăng. Tôi có một mẹ già , một nửa số lương tôi sẽ gửi cho mẹ tôi, còn lại thì trong năm năm cũng có được một số vốn nho nhỏ đủ cho tôi tự lập, và đến lúc đó thì bonsoir (xin chà o – tiếng Pháp), tôi sẽ đi Pari buôn bán.
- Ã"ng có quen biết ai ở Tơrôiêkurốp
- Chả quen ai cả, ông ấy nhắn bà con ở Mátxcơva thuê hộ. Chả bác đầu bếp của người nhà bà con ông ta là chỗ đồng hương với tôi, nên có giới thiệu tôi. Cũng xin ngà i biết cho rằng tôi định là m nghề bánh kẹo, chứ không phải là m nghề gia sư â" nhưng nghe nói ở nước các ngà i là m gia sư kiếm được nhiều tiền hơnâ¦
Viên sĩ quan nghĩ ngợi một lúc rồi nói với người Pháp:
- Ã"ng nà y, nếu có người biếu ông một vạn rúp tiền mặt với điều kiện là ông đi ngay về Pari, thì ông nghĩ thế nà o?
Người Pháp kinh ngạc nhìn viên sĩ quan, mỉm cười lắc đầu. Vừa lúc ấy viên coi trạm đi và o báo:
- Thưa đã có ngựa rồi đấy ạ.
Người đà y tớ cũng và o bảo như vậy. Viên sĩ quan nói:
- Được, các anh ra ngoà i một lát.
Viên coi trạm và người đà y tớ đi ra. Viên sĩ quan nói tiếp bằng tiếng Pháp:
- Tôi không nói đùa đâu, tôi có thể đưa cho ông một vạn rúp, tôi chỉ yêu cầu ông đi nơi khác và để giấy má lại cho tôi.
Nói đoạn viên sĩ quan mở tráp lấy ra mấy tập giấy bạc. Người Pháp giương mắt tròn xoe. Hắn không biết nghĩ thế nà o nữa. Hắn kinh ngạc lắp lại:
- Tôi đi nơi khác⦠để giấy cho ngà i. Đây, giấy tờ của tôi đây⦠nhưng chắc ngà i nói đùa: lấy giấy tờ của tôi là m gì kia chứ?
- Đó không phải là việc của ông. Tôi xin hỏi: ông có bằng lòng hay không nà o
Người Pháp vẫn chưa dám tin là thật. Hắn chìa giấy tờ cho viên sĩ quan trẻ tuổi. Người nà y nhìn qua các giấy tờ đó một lượt.
- Giấy hộ chiếu của ông⦠tốt! Nà o, thư giới thiệu, xem nà o. Giấy khai sinh, tốt lắm. Nà o! Đây tiền của ông, xin ông quay lại Mátxcơva cho. Chà o ôngâ¦
Người Pháp đứng đực ra.
Viên sĩ quan lại quay và o:
- Tà nữa tôi quên điều quan trọng nhất. Ã"ng phải lấy danh dự mà hứa với tôi rằng tất cả chuyện nà y đều phải giữ hết sức kÃn, chỉ có tôi và ông biết thôi, ông phải lấy danh dự mà hứa đi.
- Xin lấy danh dự mà hứa. Nhưng mà giấy tờ của tôi⦠không có giấy tờ thì tôi biết là m thế nà o được?
- Hễ đến thị xã nà o trước là ông trình rằng bị Đubrốpxki chặn cướp. Họ sẽ tin ông và sẽ cấp những giấy tờ cần thiết cho. Thôi chà o ông, chúc ông sớm về đến Pari và gặp mẹ được mạnh khoẻ.
Đubrốpxki ra khỏi phòng, lên xe và phóng đi.
Viên coi trạm nhìn qua cửa sổ và khi xe đi khỏi, liền bảo vợ:
- Bà Pakhômốpna nà y, có biết cái gì không? Đubrốpxki đấy!
Mụ vợ chồm ra cửa sổ, nhưng đã muộn rồi. Đubrốpxki đi đã xa. Mụ quay ra mắng chồng:
- Ã"ng thật không sợ Chúa, ông XiđôrôvÃch ạ, sao lúc nãy ông không nói, để cho tôi xem mặt Đubrốpxki một tÃ, bây giờ thì đời nà o có dịp thấy lại được nữa. Ã"ng thật đến lÃ
Người Pháp vẫn đứng đực ra đấy. Việc thoả thuận với viên sĩ quan, món tiền bỗng dưng nhận được, hắn có cảm tưởng như đều là giấc mộng. Nhưng mấy tập giấy bạc đang nằm sờ sờ trong túi hắn xác nhận rằng cái sự việc lạ lùng vừa xảy ra là có thật.
Hắn quyết định thuê ngựa ra thị xã. Người phu trạm cho ngựa kéo xe đi bước một, và mãi đến đêm họ mới lê đến thị xã.
Khi sắp đến một cái trạm gác – gọi là trạm gác nhưng cũng chỉ có một cái chòi canh đã mục nát chả có ai đứng canh cả – người Pháp cho đỗ xe lại, xuống xe đi bộ và lấy tay ra hiệu nói với người phu trạm là hắn cho anh ta cái va-li và cái xe là m tiền uống rượu. Người phu trạm cũng kinh ngạc trước sự hà o phóng ấy như trước đây chÃnh người Pháp đã kinh ngạc trước lời đề nghị của Đubrốpxki. Sau khi kết luận rằng cái anh chà ng ngoại quốc nà y đã phát điên, người phu trạm cúi sát đất cảm tạ hắn ta, và thấy rằng không nên và o thị xã là m gì, anh ta đánh xe đến một quán rượu quen thuộc, mà chủ nhân vốn là bạn cũ. Người phu trạm la cà suốt đêm ở đấy, và hôm sau đánh cỗ ngựa không về nhà , không có xe, không có va-li, mặt bự ra và mắt đỏ ngầu.
Đubrốpxki cầm giấy tờ của người Pháp ngang nhiên đến trình diện với Tơrôiêkurốp, như ta đã thấy, và và o ở trong nhà lão. Không biết chà ng có ý định gì (về sau chúng ta sẽ rõ) nhưng hạnh kiểm của chà ng suốt thời gian là m gia sư không hề có điều gì đáng chê trách. Quả tình chà ng ta có Ãt chú ý đến việc giáo dục cậu bé Xasa, để cho cậu bé tha hồ đùa nghịch, và cũng Ãt khi quở trách cậu ta về bà i vở – những bà i vở đó chỉ ra cho có lệ – ngược lại Đubrốpxki chăm chú theo dõi những bước tấn tới của Masa về âm nhạc và thường ngồi hà ng mấy giờ liền với cô nữ sinh của mình trước chiếc dương cầm. Ai cũng mến người gia sư trẻ tuổi â" Kirila PêtơrôvÃch thì thÃch cái tÃnh can đảm và sự nhanh nhẹn của chà ng khi đi săn, Maria Kirilốpna thì mến lòng tận tâm không bờ bến và những cử chỉ săn sóc rụt rè của chà ng, Xasa thì ưa tÃnh dễ dãi của chà ng đối với những trò nghịch ngợm của nó, gia nhân thì ưa tÃnh hiền là nh và rộng rãi hà o phóng rất hiếm có ở địa vị chà ng. Còn chà ng thì có vẻ như quyến luyến với cả gia đình và tự xem như đã thà nh một người nhà rồi vậy.
Kể từ khi chà ng đến nhậm chức gia sư cho đến cái ngà y hội đáng ghi nhớ nọ, đã được trọn một tháng, thế mà không hề có ai dè rằng cái anh chà ng gia sư người Pháp hiền là nh nà y lại chÃnh là cái tên đạo tặc ghê gớm mà tên tuổi đang là m cho tất cả các lãnh chúa trong vùng phải khiếp sợ. Trong suốt thời gian đó Đubrốpxki không ra khỏi ấp Pôkrốpxcôiê, nhưng những tin tức về cướp bóc vẫn không thưa thớt, nhờ trà tưởng tượng phong phú của dân là ng cũng có, nhưng cũng có thể là bọn cướp trong khi vắng chủ tướng vẫn cứ tiếp tục hà nh động như thường.
Cùng ngủ chung buồng với một người mà chà ng có thể xem như một kẻ thù riêng, một trong những kẻ đã là m cho chà ng sa cơ lỡ vận, Đubrốpxki không cưỡng nổi sự cám dỗ. Chà ng biết hắn có cái túi da, và quyết định lấy cái túi đó. Chúng ta đã thấy chà ng là m cho lão Antôn PápnutÃch đáng thương kia kinh hoà ng như thế nà o vì sự biến dạng đột ngột của chà ng từ gia sư thà nh tướng cướp.
Và o lúc chÃn giờ sáng các phòng khách khứa ngủ lại ở Pôkrốpxcôiê lục tục đến tụ tập ở phòng khách. Ở đấy Mria Kirilốpna mặc áo dà i buổi sáng đã đốt ấm xa-mô-va pha trà và Kirila PêtơrôvÃch mình mặc áo bông, chân đi già y vải đang uống nước trà trong một cái chén to như cái chậu. Antôn PápnutÃch ra sau cùng; lão ta trông xanh xao và có vẻ hoảng sợ đến nỗi ai cũng phải ngạc nhiên, và Kirila PêtơrôvÃch phải hỏi thăm lão xem có ốm đau gì không. Antôn PápnutÃch trả lời lÃu nhÃu chẳng có mạch lạc gì cả, và chốc chốc lại đưa mắt sợ sệt nhìn anh gia sư lúc bấy giờ đang ngồi đấy, vẻ điềm tĩnh và hiền là nh, như không có việc gì xảy ra cả.
Và i phút một người nhà và o báo với Antôn PápnutÃch rằng xe ngựa đã sẵn â" lão vội vã cáo từ mặc dù chủ nhân thiết tha nà i lão ở lại chơi, lão vẫn hấp tấp ra khỏi phòng và lập tức lên xe đi mất. Người ta không hiểu lão có việc gì và Kirila PêtơrôvÃch kết luận rằng lão ta bị bội thực. Sau buổi tiệc trà và buổi ăn điểm tâm tạm biệt, khách khứa lần lượt ra về, và chẳng bao lâu ấp Pôkrốpxcôiê lại trở lại với nếp sống thường lệ.
Chương XII
Và i ngà y qua, chẳng có việc gì đặc biệt xảy ra cả. Đời sống cO11;a những người ở Pôkrốpxcôiê trôi qua một cách đơn điệu, ngà y nà o cũng như ngà y nà o. Kirila PêtơrôvÃch ngà y ngà y đi săn; Maria Kirilốpna thì xem sách, đi dạo và học âm nhạc – nhất là học âm nhạc. Nà ng đã bắt đầu hiểu được lòng mình, và bất giác bối rối khi nhận thấy rằng mình không hẳn là dửng dưng đối với những đức tÃnh tốt đẹp của chà ng thanh niên người Pháp. Về phÃa người gia sư thì anh ta không vượt quá giới hạn của sự kÃnh cẩn và bao giờ cũng giữ một khuôn phép lễ độ nghiêm khắc, và nhờ thế mà khỏi chạm và o lòng tự trọng của nà ng và tránh khỏi những ý nghi ngại của nà ng. Nà ng ngà y cà ng tin cẩn buông mình theo cái thói quen dễ chịu được sống cạnh chà ng. Không có Đêphoócgiơ thì nà ng thấy buồn chán và khi có chà ng bên cạnh nà ng luôn luôn chú ý đến chà ng, việc gì cũng muốn biết ý kiến của chà ng và bao giờ cũng đồng ý với chà ng. Có lẽ nà ng chưa yêu, nhưng chỉ cần một sự ngăn cản gì, một nỗi éo le trắc trở gì của số phận cũng đủ chon ngọn lửa yêu đương tha thiết bùng lên trong lòng nà ng.
Một hôm nà ng đi và o phòng học nhạc như thường lệ; nà ng rất ngạc nhiên nhận thấy vẻ mặt người gia sư tái xanh đi và trông chà ng có vẻ bối rối. Nà ng mở đà n dương cầm, hát qua và i nốt, nhưng Đubrốpxki kêu nhức đầu và xin lỗi nà ng, bỏ dở buổi học. Khi gấp sách nhạc lại, Đubrốpxki kÃn đáo đưa cho nà ng một mảnh giấy. Maria Kirilốpna không kịp suy nghĩ, cầm lấy mảnh giấy và lập tức thấy hốận, nhưng Đubrốpxki đã đi ra mất rồi. Maria Kirilốpna về phòng riêng, mở tờ giấy ra và đọc những dòng sau đây:
âTối nay, lúc bảy giờ, xin cô ra ngôi nhà bát giác bên bờ suối. Tôi có chuyện rất cần muốn thưa với côâ.
Trà tò mò của nà ng đã bị kÃch động rất mạnh. Từ lâu nà ng đã đoán rằng chà ng sẽ có lúc bà y tỏ, và nà ng vừa mong ước, vừa lo sợ điều ấy. Nà ng muốn được nghe chà ng xác nhận những điều mà nà ng đã phỏng đoán, nhưng nà ng cảm thấy rằng nghe những lời như vậy của một người mà hoà n cảnh không cho phép hy vọng lấy được nà ng là một việc không đứng đắn. Nà ng quyết định đến chỗ hẹn hò, nhưng chỉ còn do dự một điều: nà ng sẽ tiếp nhận những lời bà y tỏ đó như thế nà o, với một thái độ công phẫn quý phái chăng, đưa ra những lời khuyên nhủ ôn tồn chăng, hay là vui vẻ giễu cợt, hay là im lặng? Trong khi chờ đợi, cứ phút phút nà ng lại đưa mắt nhìn đồng hồ. Trời tối dần, người ta thắp nến lên, Kirila PêtơrôvÃch ra ngồi đánh bà i bô-stông với mấy người láng giềng mới đến; đồng hồ trong phòng ăn điểm sáu giờ bốn mươi lăm, và Maria Kirilốpna nhè nhẹ đi ra thềm nhìn quanh một lúc, rồi chạy ra vườn.
Đêm tối như mực, mây đen bao phủ đầy trời, cách hai bước đã không trông thấy gì rồi, nhưng Maria Kirilốpna đi trong bóng tối, lần theo những lối đi quen thuộc và một phút sau đã đến chỗ nhà bát giác. Nà ng dừng lại thở để khi gặp Đêphoócgiơ cho có vẻ thản nhiên và ung dung. Nhưng Đêphoócgiơ đã đứng trước mặt nà ng. Chà ng nói khẽ, giọng buồn rầu:
- Tôi xin cảm ơn cô đã không từ chối lời thỉnh cầu của tôi. Và thử cô không bằng lòng đến thì tôi đến tuyệt vọng mất.
Maria Kirilốpna trả lời một câu đã chuẩn bị sẵn:
- Tôi hy vọng rằng ông sẽ không là m cho tôi hối hận vì sự khoan dung của t
Chà ng lặng thinh một lúc và hình như cố lấy hết can đảm ra. Cuối cùng chà ng nói:
- Hoà n cảnh bắt buộc⦠tôi phải từ giã cô. Có lẽ cô sẽ nghe người ta nói chuyện về tôi, nhưng trước khi ra đi, tôi phải giãi bà y để cô rõâ¦
Maria Kirilốpna im lặng. Nà ng cho rằng đó là những câu mở đầu cho cuộc bà y tỏ tình yêu mà nà ng mong đợi.
Chà ng cúi đầu nói tiếp:
- Tôi không phải như cô vẫn tưởng, tôi không phải người Pháp Đêphoócgiơ, tôi là Đubrốpxki.
Maria Kirilốpna kêu lên một tiếng.
- Cô đừng sợ, tôi van cô, cô đừng sợ tên tôi. Vâng, tôi là con người khốn nạn, đã bị cha cô cướp mất miếng ăn, đuổi ra khỏi nhà và bắt buộc phải đi cướp trên các đường trường. Nhưng xin cô đừng sợ – dù là sợ cho cô hay sợ cho cha cô. Tất cả đều đã qua. Tôi đã tha thứ cho cha cô. Cô biết không, chÃnh cô đã cứu cho cha cô thoát chết. Đáng lẽ hà nh động đẫm máu đầu tiên của tôi sẽ nhằm và o người ấy. Tôi đã đi quanh nhà cô, định sẵn sẽ phóng hoả những nơi nà o, định sẵn sẽ lọt và o buồng ngủ của cha cô bằng lối nà o, là m thế nà o để chặn hết đường tẩu thoát của cha cô â" trong giờ phút đó cô đã đi qua trước mặt tôi, như một bóng thiên thần, và lòng tôi đã dịu xuống, tôi đã hiểu rằng nơi cô ở là thiêng liêng, hiểu rằng những người có liên hệ máu mủ với cô không thể bị tôi nguyền rủa được. Tôi từ bỏ ý định trả thù như từ bỏ một ý nghĩ điên rồ. Có những ngà y tôi chỉ lang thang quanh các khu vườn của ấp Pôkrốpxcôiê, hy vọng được đứng nhìn từ xa xa tà áo trắng của cô. Trong những buổi đi dạo chơi vô tư và bất cẩn của cô, tôi đã đi theo cô, len lỏi từ khóm cây nà y sang khóm cây khác, sung sướng vì nghĩ rằng đang được bảo vệ cô, rằng ở đâu tôi bà mật có mặt được an toà n. Cuối cùng một dịp may đã hiện ra. Tôi đến ở trong nhà cô. Ba tuần lễ đối với tôi là những ngà y đầy h�! �nh phúc, kỷ niệm của những ngà y ấy sẽ là một nguồn an ủi cho cuộc đời buồn khổ của tôi⦠Hôm nay tôi nhận được một tin cho biết rằng tôi không thể ở đây được nữa. Tôi phải xa cô kể từ hôm nay⦠kể từ giờ nà y⦠Nhưng trước khi đi, tôi phải bà y tỏ với cô để cô đừng nguyền rủa tôi, đừng khinh tôi. Xin cô thỉnh thoảng nghĩ đến Đubrốpxki. Xin cô biết cho rằng con người đó đáng lẽ sinh ra để sống một cuộc đời khác, rằng tâm hồn người đó đã biết yêu cô, rằng không bao giờâ¦
Đến đây chợt có tiếng huýt khẽ, và Đubrốpxki im bặt, chà ng cầm lấy tay Masa áp và o đôi môi nóng bừng của chà ng. Lại có tiếng huýt, Đubrốpxki nói:
- Xin lỗi cô, người ta gọi tôi, chỉ một phút nữa là tôi có thể nguy. â" Chà ng bỏ đi. Maria Kirilốpna đứng yên. Đubrốpxki bỗng quay lại và nắm lấy tay nà ng.
- Nếu bao giờ, – chà ng nói rất âu yếm, giọng cảm động, – nếu bao giờ cô có vịêc chẳng may xảy đến mà cô không biết trông mong ai giúp đỡ hay che chở, cô có hứa với tôi là cô sẽ nhờ đến tôi, đòi hỏi tôi là m tất cả những gì có thể cứu cô được không? Cô có hứa là sẽ không hắt hủi lòng tận tuỵ của tôi vì cô không?
Maria Kirilốpna im lặng khóc. Tiếng huýt lại nổi lên một lần thứ ba. Đubrốpxki giục:
- Cô là m tôi phải chết mất. Tôi nhất định không đi, nếu cô chưa trả lời. Cô có hứa với tôi như vậy hay không?
- Tôi xin hứa, – người con gái đáng thương nói khẽ.
Maria Kirilốpna trở và o nhà , lòng vô cùng xúc động vì cuộc gặp gỡ với Đubrốpxki. Nà ng thấy hình như người trong nhà đang chạy nhốn nháo, cả nhà đều kinh động lên, trong sân lố nhố những i, dưới thềm có một cỗ xe ba ngựa đỗ. Nà ng nghe tiếng Kirila PêtơrôvÃch nói xa xa và nà ng hấp tấp trở và o nhà , sợ người nhà để ý thấy nà ng vắng mặt mà sinh nghi. Trong phòng khách nà ng gặp Kirila PêtơrôvÃch, khách khứa đang xúm quanh ông bạn quen của chúng ta là viên cảnh sát trưởng mà hỏi han rối rÃt. Viên cảnh sát trưởng mặc áo đi đường, võ trang từ đầu đến chân, trả lời họ với một dáng điệu bà mật và quan trọng.
Kirila PêtơrôvÃch hỏi con:
- Nãy giờ con ở đâu hả Masa? Con có gặp Đêphoócgiơ không?
Masa cố bình tĩnh trả lời là không gặp.
- Mà y thử tưởng tượng, – Kirila PêtơrôvÃch nói tiếp, – thằng cha cảnh sát trưởng nà y đến đây để bắt hắn và nói quả quyết với tao rằng hắn là Đubrốpxki thì có lạ không chứ!
Viên cảnh sát trưởng kÃnh cẩn nói:
- Bẩm quan lớn theo nhận dạng thì đúng là hắn đấy ạ.
Kirila PêtơrôvÃch ngắt lời:
- Ã, cái anh nà y, anh mang tờ giấy nhận dạng của anh xéo đi đâu thì xéo. Ta sẽ không nộp cái thằng Pháp ấy cho anh đâu, phải để ta tự điều tra lấy việc nà y đã. Là m sao mà tin được cái thằng cha Antôn PápnutÃch, một thằng dát như cáy và suốt đời nói dối; hắn nằm mơ thấy anh gia sư muốn cướp tiền của hắn chứ gì? Thế sao sáng hôm ấy hắn lại không nói cho ta biết?
Viên cảnh sát trưởng đáp:
- Bẩm quan lớn, tên Pháp doạ nạt hắn, và bắt hắn thề là sẽ im hơi lặng tiếng.
- Toà n chuyện láo cả, – Kirila PêtơrôvÃch kết luận, – ta sẽ là m cho ra ngô ra khoai ngay bây giờ. Nà y anh gia sư đâu? lão hỏi người đà y tớ mới đi và o.
- Dạ, bẩm chả thấy đâu cả ạ, – người đà y tớ đáp.
- Thế thì phải đi tìm ngay đi. â" Tơrôiêkurốp quát, bây giờ lão ta bắt đầu thấy nghi nghi. – Đưa cái tờ nhận dạng trứ danh của anh đây ta xem nà o!
Viên cảnh sát trưởng lập tức đưa tờ giấy cho lão.
- Hừ! Hừ! Hai mươi ba tuổi⦠Đúng thế, nhưng vẫn không phải là một bằng chứng. Thế nà o, thằng gia sư đâu?
Người ta đáp lại:
- Thưa không tìm thấy đâu cả ạ.
Kirila PêtơrôvÃch bắt đầu lo lắng. Maria Kirilốpna như người mất hồn. Cha nà ng nhận xét:
- Con xanh lắm Masa ạ, bọn chúng là m cho con sợ phải không?
- Thưa cha không ạ, con chỉ nhức đầu thôi ạ.
- Con và o buồng mà nằm đi, đừng lo lắng gì cả.
Masa hôn tay bố và vội đi và o phòng riêng; nà ng lăn ra giường khóc nức nở trong một cơn ưu uất dữ dội. Bọn đà y tớ gái chạy và o cởi áo cho nà ng, lấy nước vã và o mặt và cho uống đủ các thứ rượu thuốc; họ đặt nà ng nằm yên và nà ng thiếp đi.
Trong khi đó người ta vẫn chưa tìm ra anh người Pháp. Kirila PêtơrôvÃch đi đi lại lại trong phòng khách vẻ dữ tợn mồm huýt sáo điệu âSấm chiến thắng vang lênâ. Khách khứa ghé và o tai nhau thì thầm, viên cảnh sát trưởng vẫn cứ đứng đực ra đấy â" anh người Pháp vẫn không thấy đâu cả. Có lẽ hắn đã có thì giờ trốn đi, vì đã được báo trước. Nhưng ai báo, bằng cách gì, cái đó vẫn còn là một điều bà mật.
Đồng hồ đã điểm mười một tiếng, mà chẳng ai nghĩ đến chuyện đi ngủ. Cuối cùng, Kirila PêtơrôvÃch giận dữ nói với viên cảnh sát trưởng:
- Thế nà o, thôi chứ? Chả nhẽ anh lại ở đây đến sáng à ? Nhà ta có phải là cái quán hà ng đâu, cái thá anh thì có mà bắt được hắn, nếu hắn quả là Đubrốpxki. Về nhà đi và từ rà y cố khôn ngoan lên một tÃ. Mà cả các ngà i nữa, – lão quay sang phÃa khách khứa nói tiếp. â" Cũng đến lúc nên về rồi đấy. Các ngà i bảo thắng ngựa đi cho, còn tôi thì đã buồn ngủ lắm rồi.
Nói xong lời cáo biệt không lấy gì là m lịch sự đó, Tơrôiêkurốp bỏ đi ngủ.
Chương XIII
Một thời gian trôi qua. Không có gì quan trọng xảy ra cả. Nhưng và o khoảng đầu mùa hạ năm sau, có nhiều biến đổi lớn trong đời sống gia đình của Kirila PêtơrôvÃch.
Cách nhà lão độ ba mươi véc-xta, có một khu điền trang lớn của công tước Vêrâyxki. Công tước lâu nay sống ở nước ngoà i để lại ruộng đất, nhà cửa cho một viên thiếu tá về hưu quản lý, và giữa hai ấp Pôkrốpxcôiê và Ãcbatôvô, không có liên hệ giao dịch gì cả. Nhưng và o cuối tháng Năm công tước ở ngoại quốc về: từ bé đến lớn, công tước về quê lần nà y là lần đầu. Quen chơi bời ở nơi đô hội, Vêrâyxki không chịu được cảnh cô quạnh ở nhà , và về được ba bốn hôm thì công tước đến ăn tiệc ở nhà lão Tơrôiêkurốp mà công tước đã từng quen ngà y trước.
Năm ấy, công tước khoảng độ năm mươi tuổi, nhưng trông lão có vẻ già hơn. Những lối chơi bời quá độ đã là m cho sức khoẻ của lão suy sụp, và để lại những dấu vết không thể xoá được. Tuy vậy trông lão cũng dễ ưa, vì quen giao thiệp nhiều trong xã hội thượng lưu nên lão có những kiểu cách rất nhã nhặn, nhất là đối với phụ nữ. Lão luôn luôn cần đến những trò giải trà và luôn luôn thấy buồn chán. Kirila PêtơrôvÃch rất bằng lòng với vị khách quý và xem cuộc viếng thăm nà y như một dấu hiệu chứng tỏ lòng kÃnh nể một con người lịch duyệt, trải đời. Vẫn theo lệ thường, lão dẫn khách đi xem các tổ chức của lão và cuối cùng dẫn khách và o sân nuôi chó. Nhưng công tước suýt chết ngạt trong cái bầu không khà sặc mùi chó nà y, và phải vội và ng lấy khăn mùi-soa tẩm nước hoa bịt mũi bỏ đi ra. Khu vườn kiểu cổ trồng bồ đề xén lá, với cái ao vuông vắn và những lối đi đều đặn không là m cho công tước hà i lòng; lão nà y vốn thÃch những khu vườn kiểu Anh và cái thứ gọi là âthiên nhiênâ hơn, nhưng lão vẫn hết lời khen ngợi và thán phục; một người đà y tớ đến báo rằng thức ăn đã dọn xong. Họ về ăn bữa trưa. Công tước mỏi chân và i cuộc đi chơi đã bắt đầu đi khập khiễng và đâm ra hối hận về cuộc viếng thăm nà y.
Nhưng đến phòng khách thì họ gặp Maria Kirilốpna ra đón và lão già đa tình lập tức bị sắc đẹp của nà ng quyến rũ. Tơrôiêkurốp xếp lão ngồi bên cạnh nà ng. Công tước được ngồi bên cạnh người đẹp, cao hứng lên, cười nói vui vẻ và nhiều lần là m cho Maria Kirilốpna chú ý bằng cách kể những chuyện rất kỳ lạ. Kirila PêtơrôvÃch rủ công tước cưỡi ngựa đi chơi, nhưng công tước xin lỗi, chỉ và o đôi ủng bằng nhung và vui vẻ chế giễu cái bệnh thống phong của mình. Lão nói là thÃch đi dạo bằng xe ngựa hơn để khỏi xa cô bạn láng giềng đáng yêu của lão. Người ta thắng xe ngựa, hai lão già và cô con gái ngồi trên xe đi dạo. Câu chuyện vẫn tiếp tục, Maria Kirilốpna đang vui thÃch ngồi nghe những lời lẽ vui vẻ và nịnh đầm của lão già lịch thiệp, thì bỗng Vêrâyxki quay sang Kirila PêtơrôvÃch hỏi cái ngôi nhà cháy đổ kia là thế nà o và có phải của lão không. Kirila PêtơrôvÃch cau mà y; toà dinh thự cháy đổ nà y gợi lên trong lòng lão những kỷ niệm rất khó chịu. Lão đáp rằng đất nà y bây giờ là của lão, nhưng ngà y trước là của Đubrốpxki, Vêrâyxki
- Của Đubrốpxki à ? Thế nà o, cái tên tướng cướp nổi tiếng ấy à ?
- Của cha hắn, – Tơrôiêkurốp đáp, – nhưng cha hắn thì cũng là một tay tướng cướp thôi.
- Thế bây giờ cái anh chà ng Rinanđô(12) ấy ở đâu? Còn sống không, đã bị bắt chưa?
- Hắn vẫn còn sống, vẫn tự do, và chừng nà o mà bọn cảnh sát trưởng vẫn còn thông đồng với bọn cướp, thì chả ai là m gì nổi hắn, à nà y, thưa công tước, thế Đubrốpxki có đến thăm trại Ãcbatôvô lần nà o không?
- Có, hình như năm ngoái hắn có đến cướp bóc hay đốt phá cái gì đấy⦠Cô Maria Kirilốpna nà y, giá mà là m quen đôi chút với cái anh chà ng nhân vật tiểu thuyết ấy cũng thú vị đấy nhỉ?
Kirila PêtơrôvÃch nói:
- Là m quen! Nó thì quen Đubrốpxki quá đi rồi, thằng cha ấy dạy âm nhạc cho nó suốt ba tuần lễ, nhưng cũng may, nhờ trời nó chẳng lấy tiền công gì cả.
Đến đây, Kirila PêtơrôvÃch bắt đầu kể lại câu chuyện anh gia sư người Pháp, Maria Kirilốpna thấy như đang ngồi trên bà n chông. Vêrâyxki chăm chú nghe kể, vẻ mặt trầm ngâm, rồi nhận xét rằng câu chuyện thực là kỳ lạ và nói lảng sang chuyện khác. Khi trở về, công tước bảo đánh xe ra, và mặc dầu Kirila PêtơrôvÃch hết lời khẩn khoản lão ở lại, lão vẫn nhất định ra về ngay sau buổi trà . Nhưng trước khi đi, lão mời Kirila PêtơrôvÃch cùng quý nữ đến chơi nhà lão và cái lão Kirila PêtơrôvÃch kiêu căng ấy cũng ưng thuận, vì rằng sau khi xét cái tước công của Vêrâyxki, hai ngôi sao(13) và con số ba nghìn nông nô của lão, Kirila PêtơrôvÃch cũng thừa nhận một phần nà o rằng Vêrâyxki là người ngang hà ng với lão.
Hai ngà y sau, Kirila PêtơrôvÃch cùng với con gái đến nhà c Vêrâyxki, khi gần đến Ãcbatôvô lão không thể không thán phục cái vẻ sạch sẽ và vui tươi của các túp nhà gỗ là m cho nông dân ở và toà nhà bằng đá của chủ nhân xây theo kiểu lâu đà i Anh. Trước mặt nhà , có một bãi cỏ xanh um toả rộng, trên bãi những con bò cái giống Thuỵ Sĩ đang ăn cỏ, nhạc đeo ở cổ kêu leng keng. Một khu vườn rộng bao bọc bốn phÃa nhà . Chủ nhân ra đứng ở bậc thềm đón khách và đưa tay cho Masa vịn; họ đi và o một căn phòng lớn trang hoà ng lộng lẫy. Trên bà n ăn đã dọn sẵn ba bộ đồ ăn cho ba người. Công tước dẫn khách ra cửa sổ và một phong cảnh tuyệt đẹp hiện ra trước mặt khách. Sông Vônga chảy dưới cửa sổ, trên sông những chiếc sà -lan chở nặng căng buồm trôi, những chiếc thuyền đánh cá mà người ta thường gọi một cách bóng bẩy là thuyền mất mạng đi lại tròng trà nh. Bên kia sông, những quả đồi và những cánh đồng chạy dà i, lác đác có và i thôn xóm là m cho phong cảnh thêm sinh động. Sau đó họ đi xem các dãy phòng bà y những bức họa mà công tước đã mua từ nước ngoà i mang về. Công tước trình bà y cho Maria Kirilốpna nghe nội dung của các bức tranh, tiểu sử của các hoạ sĩ, chỉ rõ những ưu khuyết điểm của tranh. Công tước khi nói về hội hoạ không dùng những lời lẽ rập khuôn của những người chơi tranh rởm đời và khoe khoang, trái lại lão tỏ ra là một ngườ! i thưởng thức hội hoạ có tâm khà già u trà tưởng tượng. Maria Kirilốpna nghe công tước nói rất lấy là m vui thÃch.
Họ ra bà n ăn, Tơrôiêkurốp hết lời khen ngợi rượu của chủ nhân và tà i nấu bếp của người nhà Vêrâyxki. Còn Maria Kirilốpna thì hoà n toà n không thấy có gì gượng ngập hay miễn cưỡng trong khi nói chuyện với một người mà nà ng mới gặp lần nà y là lần thứ hai. Sau bữa ăn, chủ nhân mời khách ra vườn. Họ uống cà -phê dưới mái nhà bát giác, bên bờ một cái hồ rộng, rải rác có những hòn đảo con con nhô lên. Bỗng nhiên có tiếng nhạc vẳng lại và một chiếc thuyền sáu người chèo cặp bến sát dưới chân nhà bát giác. Họ lên thuyền đi trên mặt hồ, quanh các hòn đảo, thỉnh thoảng lại ghé lên xem một và i hòn. Trên một hòn đảo có một pho tượng cẩm thạch, trên một hòn khác có một cái động vắng vẻ, trên một hòn thứ ba nữa lại có một đà i kỷ niệ đề những dòng chữ bà ẩn kÃch thÃch tÃnh tò mò của người con gái, mà những câu nói úp mở nhã nhặn của chủ nhân không thể là m thoả mãn được. Thời gian trôi qua rất nhanh mà không ai để ý. Trời đã bắt đầu xâm xẩm tối. Công tước lấy cớ là sương xuống lạnh hối hả mời khách về. Ấm xa-mô-va đã đun sẵn đợi họ. Công tước thỉnh cầu Maria Kirilốpna đóng vai chủ nhà cho bữa tiệc trà của người độc thân thêm phần ấm cúng. Nà ng vừa rót trà vừa nghe những câu chuyện thao thao bất tuyệt của vị chủ nhân lắm lời mà nhã nhặn ấy. Bỗng nhiên có tiếng nổ lốp bốp và một chiếc pháo bông ! toả sáng rực lên trên nền trời. Công tước giúp Maria Kirilốpna quà ng khăn san và o người và mời nà ng cùng Tơrôiêkurốp ra lan can. Trước mặt nhà , trong bóng tối, những ngọn lửa muôn mà u nổ bùng ra, xoay tÃt, bay cao lên, toả ra thà nh những bó lửa, những chiếc lá dừa, những vòi nước và rơi xuống như mưa, như sao băng, tắt đi rồi lại cháy bùng lên. Maria Kirilốpna vui thÃch như đứa trẻ. Công tước Vêrâyxki rất mừng khi thấy Masa vui thÃch như vậy, còn Tôrôiêkurốp thì rất bằng lòng với chủ nhân, vì lão cho rằng tous les frais (tất cả các chi phà – tiếng Pháp) của công tước là một bằng chứng cho thấy rằng công tước kÃnh nể và muốn chiều lão.
Bữa ăn tối cũng sang trọng chẳng kém gì bữa ăn trưa. Hai quý khách được đưa và o các phòng ngủ dà nh riêng cho họ, và sáng hôm sau họ chia tay với vị chủ nhân nhã nhặn kia, hứa với nhau rằng sẽ sớm gặp lại nhau.
Chương XIV
Maria Kirilốpna đang ngồi thêu trong phòng riêng, trước khung cửa sổ. Nà ng không lẫn đường kim như tình nhân của chà ng Cônrát(14), vì mơ tưởng đến người yêu mà thêu hoa hồng bằng chỉ xanh. Dưới mũi kim của nà ng, đường thêu mô phỏng đúng y như hình mẫu. Tuy vậy ý nghĩ của nà ng không để và o công việc, ý nghĩ của nà ng đang gửi đến một chốn nà o xa xăm lắm.
Đột nhiên một bà n tay nhè nhẹ thò và o khung cửa sổ; có người vừa đặt một bức thư lên bà n thêu và biến mất trước khi Maria Kirilốpna kịp trấn tĩnh lại. Vừa lúc đó một người đà y tớ và o gọi nà ng ra cho Kirila PêtơrôvÃch. Nà ng bồi hồi giấu bức thư và o khăn quà ng và vội và ng đến phòng là m việc của cha.
Kirila PêtơrôvÃch không ngồi một mình. Công tước Vêrâyxki cũng đang ở đấy. Khi Maria Kirilốpna bước và o, công tước yên lặng đứng dậy cúi chà o nà ng với một dáng điệu lúng túng mà trước đây lão không hề có.
Kirila PêtơrôvÃch nói:
- Con lại đây Masa, cha cho con biết một tin mà cha hy vọng sẽ là m cho con vui mừng. Đây, vị hôn phu của con đây: công tước đến hỏi con đấy.
Masa vô cùng kinh ngạc. Mặt nà ng tái xanh đi như người chết. Nà ng lặng thinh. Công tước đến gần nà ng cầm lấy tay nà ng và có vẻ cảm động hỏi nà ng có bằng lòng ban hạnh phúc cho lão ta không. Masa lặng thinh.
Kirila PêtơrôvÃch đỡ lời:
- Bằng lòng, nhất định bằng lòng rồi! Nhưng công tước còn lạ gì, đà n bà con gái chúng nó cũng khó nói thẳng ra như vậy. Nà o, các con hôn nhau đi chứ, chúc các con hạnh phúc.
Masa đứng đờ ra, không nhúc nhÃch. Công tước hôn tay nà ng. Đột nhiên hai giọt nước mắt từ từ lăn trên khuôn mặt tái xanh của nà ng. Công tước hơi cau mà y.
- Thôi đi đi, đi đi, – Kirila PêtơrôvÃch nói, – đi mà lau nước mắt đi và trở lại đây mặt mà y cho tươi tỉnh.
Rồi lão quay sang phÃa công tước nói tiếp:
- Ấy đà n bà là họ thế cả đấy mà , cứ đến lễ đÃnh hôn là thế nà o cũng khóc, cái thói ấy đã thâm căn cố đế lắm rồi⦠Công tước ạ, bây giờ chúng ta bà n về công việc thôi, nghĩa lề số tiền hồi môn ấy mà â¦
Maria Kirilốpna vội và ng lợi dụng cơ hội để xin phép lui ra. Nà ng chạy về phòng riêng khoá cửa lại và để mặt cho nước mắt tha hồ tuôn chảy. Nà ng hình dung phải là m vợ lão công tước già ; nà ng bỗng dưng thấy lão khả ố và kinh tởm lạ lùng⦠nà ng thấy ghê sợ việc hôn nhân như ghê sợ tử thần. Nà ng đau đớn tự nhủ: âKhông! Không! Thà chết, thà đi tu, thà lấy Đubrốpxki còn hơnâ. Đến đây nà ng sực nhớ đến bức thư và vội vã đưa ra đọc, vì nà ng đoán chắc đó là thư của Đubrốpxki. Đúng thế, chÃnh là thư của chà ng viết; trong thư chỉ vắn tắt có mấy chữ:
âMười giờ tối nay, ở chỗ cũâ.
Chương XV
Trăng sáng, đêm tháng Bảy yên tĩnh. Thỉnh thoảng có một ngọn gió hây hây thoảng qua và một tiếng rì rà o nhè nhẹ đi khắp vườn.
Như một cái bóng nhẹ, cô thiếu nữ đến gần chỗ hẹn hò. Nà ng còn đưa mắt tìm kiếm, thì bỗng Đubrốpxki từ phÃa sau nhà bát giác bước tới. Chà ng nói, giọng dịu dà ng và buồn rầu:
- Tôi biết hết rồi, xin cô nhớ giữ lời hứa.
Masa đáp:
- Anh hứa che chở cho tôi, nhưng â" xin anh đừng giận â" tôi sợ sự che chở đó lắm. Bây giờ anh sẽ giúp tôi bằng cách nà o?
- Tôi có thể giúp cô thoát hẳn con người mà cô thù ghét.
- Trời ơi! Anh đừng động đến người ấy, anh không được động đến người ấy, nếu anh yêu tôi. Tôi không muốn vì tôi mà gây nên một việc gì khủng khiếp
- Tôi sẽ không động đến người ấy, ý muốn của cô đối với tôi là thiêng liêng. Hắn sẽ nhờ cô mà khỏi chết. Không bao giờ tôi lấy danh nghĩa vì cô mà là m tội ác. Ngay trong những tội ác của tôi, cô vẫn phải được trong trắng. Nhưng tôi là m thế nà o để cô thoát khỏi người cha ác nghiệt ấy?
- Vẫn còn hy vọng được. Tôi hy vọng sẽ là m cho cha tôi động lòng, thấy tôi khóc, thấy tôi tuyệt vọng mà thương tôi. Cha tôi rất khó đổi ý kiến, nhưng cha tôi quý tôi lắm.
- Cô đừng hy vọng hão: thấy cô khóc, cha cô cho đó là những giọt nước mắt lo lắng và ghê sợ của bất cứ người con gái nà o khi họ đi lấy chồng không phải vì tình yêu mà vì lý trÃ; nếu cha cô nhất quyết tự mình xây dựng hạnh phúc cho cô, mặc dù cô không muốn, bức bách cô đến trước bà n thờ để vĩnh viễn gửi cuộc đời và o tay một người chồng già , thì cô tÃnh sao?
- Nếu thế⦠thì mặc, anh đến với tôi, tôi sẽ là vợ anh.
Đubrốpxki run lên, khuôn mặt đang nhợt nhạt của chà ng đỏ ửng lên, rồi phút chốc lại trở lại nhợt nhạt hơn. Chà ng cúi đầu im lặng hồi lâu.
- Cô hãy lấy hết sức van lơn cha cô, lạy lục cha cô, cô hãy vạch rõ cho cha cô thấy tất cả cái tương lai khủng khiếp đang chờ cô, cái tuổi trẻ của cô sẽ phải chịu tà n tạ bên một ông già ốm yếu và truỵ lạc. Cô phải có can đảm nói một cách quyết liệt rằng: nếu cha cô cứ một mực không lay chuyển, thì⦠thì cô sẽ tìm đến một sức bảo vệ vô cùng kinh khủng⦠cô sẽ nói rằng của cải không thể đem lại cho cô được một phút nà o hạnh phúc⦠Sự xa hoa chỉ an ủi được những người nghèo vì họ không quen xa hoa, mà cũng chỉ an ủi được trong chốc lát. Cô không được để cho cha cô ngồi yên lấy một phút, cô đừng sợ những cơn giận dữ, những lời doạ nạt. Tôi van cô trong khi hãy còn hy vọng, dù chỉ là một tia hy vọng mong manh, cô cũng đ rời cha cô một phút. Nhưng nếu không có cách gì nữaâ¦
Đến đây, Đubrốpxki đưa hai tay lên bưng lấy mặt, chà ng như nghẹn thở. Masa khócâ¦
Đubrốpxki thở dà i cay đắng:
- Không hiểu sao tôi lại khổ thế nà y? Tôi sẵn sà ng hy sinh cả cuộc đời vì cô. Được đứng xa xa mà nhìn cô, được chạm và o tay cô là những phút sống thần tiên. Và đến lúc có thể ôm cô và o bên trái tim xúc động của mình mà nói: âNà ng tiên của tôi ơi, chúng mình hãy cùng chết bên nhauâ, thì tôi lại phải sợ cái hạnh phúc ấy, phải lấy hết sức mà gạt nó ra⦠Tôi không dám quỳ xuống chân cô để cảm ơn trời đã cho tôi một phần thưởng quá lớn lao mà tôi không xứng đáng được hưởng. Ổ, đáng lẽ tôi phải oán con người đã⦠Nhưng tôi cảm thấy rằng trong lòng tôi không còn chỗ để chứa đựng oán thù nữa.
Chà ng dịu dà ng ôm lấy tấm thân mảnh dẻ của nà ng và âu yếm ép và o lòng. Nà ng tin cẩn ngả đầu và o vai người tướng cướp trẻ tuổi. Họ im lặng.
Thời gian trôi nhanh.
Cuối cùng Masa nói:
- Thôi anh ạ, đã đến lúc phải chia tay rồi.
Đubrốpxki như bừng tỉnh một giấc mơ. Chà ng cầm lấy tay nà ng và đeo một chiếc nhẫn cho nà ng. Chà ng nói:
- Nếu Masa nhất định tìm đến tôi, xin Masa đem bỏ chiếc nhẫn và o cái hốc ở chân cây sồi nà y. Tôi sẽ biết là phải là m gì.
Đubrốpxki hôn tay nà ng và lát sau đã khuất sau rặng cây.
Chương XVI
Việc dạm hỏi của công tước Vêrâyxki không còn là một điều bà mật gì đối với những người lân cận nữa. Kirila PêtơrôvÃch đã bắt đầu nhận được những lời chúc mừng. Người ta chuẩn bị lễ cưới. Masa ngà y nà y qua ngà y khác vẫn thoái thác không chịu trả lời dứt khoát. Trong khi đó, thái độ của nà ng đối với công tước rất lạnh nhạt và gượng gạo. Công tước không hề băn khoăn về điều đó. Lão ta không đòi hỏi Masa yêu mình. Lão chỉ cần nà ng im lặng và nhẫn nhục như vậy.
Nhưng thời gian trôi qua, và cuối cùng Masa quyết định hà nh động. Nà ng viết một bức thư cho công tước Vêrâyxki; nà ng cố gắng thức tỉnh trong tâm hồn lão những tình cảm cao thượng, và nói thẳng thắn rằng nà ng không hề có chút cảm tình gì với lão, van lơn lão đừng hỏi nà ng là m vợ nữa, và xin lão tự mình đứng ra nói hộ với cha nà ng. Nà ng bà mật trao thư cho công tước Vêrâyxki: lão mang thư về đọc một mình, nhưng không mảy may cảm động vì những lời lẽ chân thà nh của Masa. Trái lại, lão thấy cần tiến hà nh thật gấp công việc cưới xin và muốn vậy lão bèn đưa bức thư cho bố vợ tương lai xem.
Kirila PêtơrôvÃch giận điên lên. Công tước khẩn khoản mãi lão mới thoả thuận là sẽ không lộ ra cho Masa biết rằng lão đã xem bức thư nà y. Nhưng lão quyết định tiến hà nh công việc thật gấp, và định đến ngà y hôm sau là cho là m lễ cưới. Công tước thấy như vậy là rất phải. Lão đến gặp vị hôn thê và nói rằng bức thư của nà ng đã là m cho lão rất buồn, nhưng lão hy vọng rằng với thời gian, lão sẽ là m cho nà ng mến lão hơn, rằng chỉ nghĩ đến việc thiếu Masa thôi, cũng đủ là m cho lão khổ tâm quá chừng. Lão không thể ưng thuận bản tuyên án xử tử hình mình được. Nói đoạn, lão kÃnh cẩn hôn tay Masa và ra về, không nói gì với nà ng về quyết định của Kirila PêtơrôvÃch.
Nhưng công tước vừa đi khỏi sân, thì Kirila PêtơrôvÃch hầm hầm bước và o phòng con, và không chút kiêng dè ra lệnh cho Masa chuẩn bị sẵn sà ng để mai là m lễ cưới. Maria Kirilốpna đã xúc động mạnh vì cuộc nói chuyện với công tước, nghe cha nói vậy thì khóc nức nở và quỳ xuống chân Kirila PêtơrôvÃch van lơn:
- Ba ơi, ba đừng để con phải chết, con không yêu công tước, con không thể là m vợ ông ấyâ¦
Kirila PêtơrôvÃch giận dữ nói:
- Như thế là nghĩa lý gì? Mấy hôm nay mà y vẫn im lặng ưng thuận, rồi đến bây giờ mọi việc đã xong xuôi thì mà y lại giở chứng ra như thế à ? Mà y đừng có bà y trò với tao, cái lối ấy không ăn thua gì đâu.
Ba đừng để con phải chết, vì sao ba lại đuổi con đi, bắt con ở với một người mà con không yêu, ba chán con rồi chăng, con chỉ muốn ở với ba như trước thôi, ba ạ, không có con rồi ba sẽ buồn, và sẽ buồn hơn khi nghĩ rằng con đang sống khổ sở. Ba ơi, ba đừng ép uổng con, con không muốn lấy chồngâ¦
Kirila PêtơrôvÃch cảm động, nhưng cố giấu đi và gạt con ra, sừng sộ nói:
- Toà n là những chuyện vớ vẩn, mà y nghe chưa? Tao biết rõ hơn mà y: cái gì cần cho hạnh phúc của mà y. Khóc lóc cũng chẳng ăn thua gì đâu. Ngà y kia là là m lễ cưới.
Masa kêu lên:
- Ngà y kia! Trời ơi! Không! Không thể được, không thể như vậy được. Ba ạ, ba nghe con nói đây, nếu ba nhất định bắt con phải chết như vậy thì con sẽ tìm một người bênh vực cho con mà ba không thể ngờ tới, rồi ba sẽ thấy, ba sẽ phải kinh hoà ng khi thấy ba đã đẩy con đến chỗ nà o.
- Cái gì? Cái gì? Doạ à ? Mà y lại doạ tao à , con cái hỗn xược thế à ? Mà y có biết tao sẽ là m cho mà y một việc mà mà y không thể tưởng tượng không? Mà y dám đưa một người bênh vực ra mà doạ tao à ? Xem nà o, cái người bênh vực ấy là ai nà o?
- Vlađimia Đubrốpxki, – Masa tuyệt vọng đ
Kirila PêtơrôvÃch tưởng nà ng đã phát điên, kinh ngạc nhìn nà ng. Lão im lặng một lúc, rồi nói:
- Được lắm, mà y hy vọng ai giải thoát cho mà y thì cứ hy vọng, còn bây giờ thì mà y hẵng tạm ngồi trong phòng nà y cho đến khi là m lễ cưới.
Nói đoạn, Kirila PêtơrôvÃch đi ra và khoá trái cửa lại.
Người con gái đáng thương ngồi khóc giờ lâu, hình dung thấy tất cả những việc đang chờ mình; nhưng cuộc gặp gỡ nói chuyện quyết liệt vừa rồi là m cho nà ng thấy nhẹ nhõm, và bây giờ nà ng đã có thể bình tĩnh suy nghĩ về số phận của nà ng và về những việc mà nà ng sẽ phải là m; cần nhất là phải thoát khỏi cuộc hôn nhân quái gở nà y; là m vợ một anh tướng cướp, Masa thấy là một cảnh thiên đường so với số phận mà người ta đang dà nh cho nà ng. Nhìn chiếc nhẫn mà Đubrốpxki để lại, nà ng tha thiết mong được gặp chà ng một lần nữa trước cái phút định đoạt và bà n bạc cho kỹ với chà ng. Nà ng có linh cảm rằng tối nay Đubrốpxki sẽ đến chỗ nhà bát giác như lần trước, và nà ng quyết định tối đến là sẽ ra đấy đợi chà ng. Hoà ng hôn xuống, Masa sửa soạn ra đi, nhưng cửa đã khoá. Người hầu phòng trả lời qua tấm cửa rằng Kirila PêtơrôvÃch cấm không được để cho nà ng ra ngoà i. Nà ng đã bị giam. Tủi nhục không sao kể xiết, nà ng ra ngồi bên cửa sổ và ngồi đấy mãi cho đến khuya, mắt đăm đăm nhìn bầu trời tối mịt. Gần sáng nà ng thiếp đi, nhưng những giấc mơ buồn thảm cứ chập chờn trong giấc ngủ của nà ng và những tia sáng đầu tiên của mặt trời mọc đã đánh thức nà ng dậy.
Chương XVII
Nà ng vừa thức giấc thì trong tâm trà lại hiện ra rõ mồn một tất cả cái tình cảnh khủng khiếp của nà ng. Nà ng rung chuông gọi, mộ;t người đà y tớ gái và o và khi nà ng hỏi thì cho biết rằng tối hôm quKirila PêtơrôvÃch đi sang ấp Ãcbatôvô và trở về muộn, rằng lão đã ra lệnh cấm ngặt không cho nà ng ra khỏi phòng và không để cho một ai được tới nói chuyện với nà ng, rằng ngoà i ra không thấy có những việc chuẩn bị gì đặc biệt để là m lễ cưới, chỉ thấy ra lệnh cho ông cố đạo là không được ra khỏi là ng bất cứ vì lý do gì. Trả lời xong, chị ta đi ra và khoá cửa lại.
Lời người đà y tớ gái là m cho cô thiếu nữ bị giam cầm vô cùng căm tức, đầu nà ng như muốn vỡ ra, máu nà ng như muốn sôi lên; nà ng quyết định cho Đubrốpxki biết hết mọi việc và bắt đầu nghĩ cách bỏ chiếc nhẫn và o hốc cây sồi. Vừa lúc ấy có ai ném một viên sỏi và o cửa sổ nà ng. Biết là Xasa rất mến mình, Maria Kirilốpna mừng lắm. Nà ng mở cửa sổ.
- Em Xasa đấy à ? Em gọi gì chị thế?
- Em đến xem chị có cần gì không. Ba đang giận và cấm cả nhà không cho ai đến gần chị, nhưng chị muốn gì cứ bảo, em là m hộ cho.
- Cám ơn em lắm, em Xasa rất ngoan của chị ạ, em nghe đây, em có biết cây sồi già có cái hốc ở gần nhà bát giác không?
- Em có biết chị ạ.
- Vậy nếu em thương chị, em chạy thật nhanh ra đấy và bỏ chiếc nhẫn nà y và o hốc, nhưng đừng để cho ai trông thấy đấy nhé.
Nói đoạn, nà ng ném chiếc nhẫn cho Xasa và đóng cửa sổ lại.
Xasa nhặt chiếc nhẫn lên và cắm cổ chạy thật nhanh, chỉ ba phút sau là đến chỗ cây sồi. Đến đây, nó dừng lại thở hổn hển, nhìn quanh quất một lúc và bỏ chiếc nhẫn nà y và o hốc cây. Là m tròn nhiệm vụ rồi, nó toan chạy về báo với chị, thì bỗng một đứa trẻ mắt lác, tóc hung đỏ, ăn mặc rách rưới nấp sau nhà bát giác, chạy ra thò tay và o hốc cây. Xasa nhanh như một con sóc, nhảy đến chộpứa trẻ. Nó cất giọng hách dịch nói:
- Mà y là m gì ở đây?
- Việc gì đến mà y? – đứa trẻ con vừa vùng vẫy vừa đáp.
- Mà y đưa ngay chiếc nhẫn đây, đồ tóc hung đỏ, nếu không tao sẽ cho mà y biết tay.
Thằng bé không đáp, nó thúc mạnh và o mặt Xasa, nhưng Xasa không buông hắn ra và bắt đầu kêu giật giọng:
- Có trộm! Có trộm! Đây, phÃa nà y nà y.
Thằng bé cố vùng chạy, cứ trông bề ngoà i thì nó hơn Xasa độ hai tuổi và khoẻ hơn nhiều, nhưng Xasa lại nhanh nhẹn hơn. Hai thằng bé vật nhau một lúc và cuối cùng đứa trẻ tóc hung thắng thế. Nó vật ngã Xasa xuống đất và chộp lấy cổ thằng bé.
Nhưng lúc đó, có một bà n tay gân guốc túm lấy bộ tóc hung lởm chởm như bà n chải của thằng bé và người là m vườn Xtêpan nhấc bổng nó lên.
- Ã, cái thằng tóc hung nà y, sao mà y dám đánh con chúa.
Xasa đã óc thì giờ đứng dậy và trấn tĩnh lại. Nó nói:
- Mà y nắm phải nách tao, chứ không thì tao chả ngã đâu. Giả chiếc nhẫn đây và cút đi.
- Đừng hòng! – đứa trẻ đáp, và bỗng quẫy mạnh một cái, nó giật đầu tóc ra khỏi nắm tay của Xtêpan. Nó toan bỏ chạy. Nhưng Xasa đã đuổi kịp, xô và o lưng nó là m cho nó ngã nhoà i ra. Người là m vườn lại tóm lấy nó và lấy thắt lưng trói lại.
- Trả chiếc nhẫn đây! â" Xasa thét.
- Cậu đợi một tÃ, – Xtêpan nói, – ta sẽ mang nó về cho ông ấy trị cho một trận.
Người là m vườn dắt tù nhân và o sân nhà chủ, Xasa thì đi theo, lo lắng nhìn cái quần thụng rách bẩn của mình. Đột nhiên cả ba thấy mình đứng trước mặt Kirila PêtơrôvÃch, bấy giờ lão đang ra xem xét chuồng ngựa. Lão hỏi Xtêpan:
- Việc gì thế?
Người là m vườn vắn tắt kể lại sự việc. Kirila PêtơrôvÃch chăm chú nghe. Lão quay sang Xasa hỏi:
- Còn mà y, đồ quỷ sứ, sao mà y lại đi đánh nhau với nó?
- Nó ăn cắp chiếc nhẫn trong cây sồi ba ạ, ba bảo nó giả chiếc nhẫn cho con.
- Nhẫn gì? Trong cây sồi nà o?
- Thì chị Maria Kirilốpna bảo con⦠nhưng mà chiếc nhẫn nà y⦠â" Xasa đâm hoảng, lúng túng.
Kirila PêtơrôvÃch cau mà y. Lão lắc đầu nói:
- Maria Kirilốpna có dÃnh dáng gì đến việc nà y. Mà y phải thú hết, không thì tao đánh cho một trận nhừ tử.
- Trời ơi, ba ạ, con⦠ba ạ, chị Maria Kirilốpna không sai con là m gì cả ba ạ.
- Xtêpan mà y đi lấy cho tao một cây roi bạch dương thật tươi và o đâyâ¦
- Khoan đã ba ạ, để con nói, con xin nói hết. Lúc nãy con chạy chơi ở ngoà i sân, chị Maria Kirilốpna mở cửa sổ ra, thế là con chạy lại â" và chị ấy vô ý để rơi chiếc nhẫn, thế là con giấy và o cây sồi, và ⦠cái thằng nà y định ăn cắp chiếc nhẫn.
- Chị ấy vô ý đánh rơi, thế là mà y mang giấu và o cây sồi⦠Xtêpan, đi lấy cho tao cây roi, nhanh lên.
- Ba ạ khoan để con kể hết. Chị Maria Kirilốpna sai con chạy đến cây sồi và bỏ chiếc nhẫn và o trong hốc, thế là con chạy đi bỏ chiếc nhẫn â" và thằng bé khốn khiếp nà yâ¦
Kirila PêtơrôvÃch quay sang thằng bé khốn khiếp và dữ tợn hỏi:
- Mà y là người nhà ai?
- Tôi là nông nô của các chúa Đubrốpxki, – thằng bé tóc hung đáp.
Mặt Kirila PêtơrôvÃch sa sầm lại:
- Mà y có vẻ không muốn nhận tao là chúa của mà y nhỉ. Được, thế mà y là m gì trong vườn của tao?
Thằng bé hết sức điềm nhiên trả lời:
- Tôi hái trộm mấy quả mâm xôi.
- Ã, ra tớ cũng như chủ. Mèo nà o mưỡu ấy. Nhưng ở nhà tao thì cây sồi cũng sinh ra quả mâm xôi à ?
Thằng bé lặng thinh.
- Ba ạ, ba bảo nó trả chiếc nhẫn đây.
- Thằng Xasa im ngay, mà y đừng quên rằng mà y còn phải đền tội với tao. Đi và o phòng mà ngồi. Còn mà y, thằng lác kia, mà y có vẻ láu cá lắm. Đưa trả chiếc nhẫn đây mà đi về nhà .
Thằng bé chìa tay không, ra điều không có gì cả.
- Nếu mà y chịu thú cả, tao sẽ không đánh mà y, lại cho thêm năm xu ăn kẹo. Nếu không thì đừng có trách ông. Thế nà o?
Thằng bé im lặng và cúi đầu , là m ra vẻ một thằng ngu ngốc thực sự.
- Thôi được, giam nó lại và cẩn thận kẻo nó trốn, nếu lột xác cả nhà chúng bay ra.
Xtêpan dẫn đứa trẻ đến chuồng bồ câu, giam nó và o đấy và bắt mụ chăn gà vịt Agaphia đứng trông. Kirila PêtơrôvÃch đứng nhìn theo thằng bé, rồi nói:
- Ra huyện gọi cảnh sát trưởng về đây ngay. Mà nhanh lên đấy.
âBây giờ không còn ai nghi ngờ gì nữa. Con bé vẫn có liên lạc với thằng Đubrốpxki chết tiệt kia, nhưng chả nhẽ nó lại cầu cứu thằng ấy thật à ? â" Kirila PêtơrôvÃch ngẫm nghĩ, đi đi lại lại trong phòng, mồm huýt sáo khe khẽ âSấm chiến thắng vang lênâ. â" Có lẽ lần nà y thì tìm được dấu vết của hắn, phen nà y hắn khó lòng mà thoát. Phải lợi dụng cơ hội nà y. Ã, có tiếng nhạc ngựa, đúng là thằng cảnh sát trưởngâ.
- Ã, dẫn thằng bé bị bắt ra đây!
Trong khi đó, chiếc xe ngựa đã và o đến sân, và viên cảnh sát trưởng quen biết của chúng ta đi và o phòng, quần áo lấm tấm bụi đường.
Kirila PêtơrôvÃch nói:
- Một tin bất hủ: ta đã bắt được Đubrốpxki.
Viên cảnh sát trưởng là m ra vẻ hân hoan nói:
- Bẩm quan lớn, thế thì hay quá, thế hắn đâu rồi ạ?
- Nghĩa là không phải bắt được chÃnh Đubrốpxki, nhưng bắt được một tên lâu la của hắn. Thằng nà y sẽ giúp ta tìm manh mối bắt luôn cả thằng chủ tướng. Sẽ cho dẫn hắn đến đây ngay bây giờ.
Viên cảnh sát trưởng tưởng đâu là một tên cướp hung dữ, nên rất ngạc nhiên khi chỉ thấy một thằng bé khoảng mười ba tuổi, trông có vẻ hơi ốm yếu. Hắn ngơ ngác quay sang phÃa Kirila PêtơrôvÃch và đ lão giải thÃch thêm. Kirila PêtơrôvÃch bắt đầu kể lại câu chuyện xảy ra hồi sáng, nhưng không nhắc đến Maria Kirilốpna.
Viên cảnh sát trưởng chăm chú nghe lão nói, chốc chốc lại nhìn thằng ranh con. Thằng bé là m ra vẻ đần độn và không chú ý gì đến những việc ở chung quanh.
Viên cảnh sát trưởng nói:
- Bẩm quan lớn, xin phép quan lớn được thưa chuyện riêng.
Kirila PêtơrôvÃch dẫn hắn và o một căn phòng khác và đóng cửa lại.
Nửa giờ sau hai người lại ra phòng khách, nơi tên tù đang đợi người ta định đoạt số phận của nó. Viên cảnh sát trưởng nói:
- Cụ chủ đây muốn bỏ mà y và o nhà tù trên huyện, cho lÃnh nọc mà y ra đánh, rồi đưa mà y đi đà y, nhưng tao đã thưa với cụ lớn tha cho mà y. Cởi trói ra cho nó.
Người nhà cởi trói cho thằng bé.
- MÃ y cảm ơn cụ chủ đi.
Thằng bé lại gần Kirila PêtơrôvÃch và hôn tay lão.
Kirila PêtơrôvÃch nói với nó:
- Đi về nhà đi! Và từ rà y đừng có hái trộm mâm xôi ở hốc cây sồi nữa đấy!
Thằng bé đi ra, vui sướng nhảy xuống bậc thềm và cắm cổ chạy ra đồng thẳng một mạch về Kixtênhốpca, không ngoái cổ lại. Chạy đến nơi, nó dừng lại trước một túp nhà gỗ ở đầu là ng và giơ tay gõ và o cửa sổ mấy cái. Cửa sổ mở và một bà già thò đầu ra.
- Bà ơi, cho cháu miếng bánh, – thằng bé nói, – cháu từ sáng chả ăn tà gi chết đi được.
- A, mà y đấy hở, Michia, chứ mà y đi đâu mất mặt thế, đồ quỷ sứ, – bà già đáp.
- Rồi cháu kể, bây giờ bà cho cháu ăn miếng bánh đã.
- Thế và o đây đã nà o!
- Không kịp bà ạ, cháu còn phải chạy đi nơi khác. Bánh đâu, trời ơi, đưa bánh đây nà o!
- Cái đồ ôn con, – bà già là u nhà u, – đây, nà y cầm lấy một khúc, – và bà già đưa cho nó một khoanh bánh mì đen. Thằng bé hối hả gặm một miếng và vừa nhai vừa chạy biến đi.
Trời bắt đầu xâm xẩm tối, Michia len lỏi qua các vườn rau, các nhà phơi thóc và chạy lên khu rừng Kixtênhốpca, đến một nơi có hai cây thông đứng sừng sững như hai tên lÃnh gác tiền tiêu của khu rừng, nó dừng lại, nhìn quanh một lúc, huýt lên một tiếng chói tai và đứt quãng, rồi lắng tai nghe ngóng, có tiếng huýt khẽ và kéo dà i đáp lại, một người ra khỏi lùm cây và đi về phÃa nó.
Chương XVIII
Kirila PêtơrôvÃch đi đi lại lại trong phòng khách, mồm huýt sáo khoẻ hơn bao giờ hết cái điệu quen thuộc của lão. Cả nhà đều nhộn nhịp hẳn lên â" gia nhân chạy đi chạy lại, bọn hầu gái xun xoe sắm sửa, trong nhà xe, người ta đang chuẩn bị thắng xe ngựa. Ngoà i sân, người đứng đông nghịt. Trong phòng trang điểm, trước một tấm gương soi, một bà mệnh phụ có nhiều đà y tớ gái giúp đỡ đang trang điểm cho Maria Kirilốpna bấy giờ đứng yên như khúc gỗ, mặt tái ngắt. Đầu nà ng mệt mỏi trĩu xuống dưới sức nặng của chiếc mũ dát kim cương; nà ng khẽ giật mình khi một bà n tay vô ý nà o nhỡ đưa kim chÃch phải nà ng, nhưng nà ng im lặng, mắt đờ đẫn nhìn và o tấm gương.
Ngoà i cửa sổ có tiếng Kirila PêtơrôvÃch hỏi:
- Sắp xong chưa?
- Xong ngay đây, – bà mệnh phụ đáp, – Maria Kirilốpna đứng dậy xem nà o, thế nà y đã được chưa?
Maria Kirilốpna đứng dậy và lặng thinh. Cửa mở.
Bà mệnhphụ nói với Kirila PêtơrôvÃch:
- Cô dâu đã sẵn sà ng, xin ngà i cho lên xe thôi ạ.
- Chúa phù hộ chúng ta, – Kirila PêtơrôvÃch đáp, và lấy một bức ảnh thánh ở trên bà n, lão cất giọng cảm động nói: – Masa, con lại đây, cha cầu phước cho conâ¦
Người con gái đáng thương sụp xuống dưới chân cha mà khóc nức nở:
- Ba, ba ơi⦠â" nà ng lắp bắp, nghẹn ngà o không nói được nữa.
Kirila PêtơrôvÃch hối hả là m dấu cầu phước cho con – người ta đỡ Masa dậy và vực lên xe. Bà mẹ chủ hôn và một người đà y tớ gái lên xe với nà ng. Họ và o nhà thờ. Ở đấy chú rể đã đứng đợi sẵn, lão ra cổng đón vị hôn thê và bối rối khi thấy khuôn mặt xanh xao và phong độ khác thường của nà ng. Họ cùng đi và o ngôi nhà thờ lạnh lẽo và vắng vẻ. Người ta đóng cửa lại. Lão linh mục từ bà n thờ bước ra và bắt đầu là m lễ. Maria Kirilốpna không thấy gì hết, không nghe gì hết, nà ng chỉ nghĩ đến một điều: từ sáng sớm nà ng đã đợi Đubrốpxki, không một chút nà o nà ng thôi hy vọng, nhưng khi linh mục quay về phÃa nà ng hỏi những câu thường lệ. Nà ng rùng mình và lặng đi, – nà ng vẫn muốn trì hoãn, nà ng vẫn đợi. Linh mục không chờ cho nà ng đáp lại. Lão đọc lên những lời không bao giờ còn có thể hoán cải được nữa.
Hôn lễ x cảm thấy cái hôn lạnh giá của người chồng, nà ng nghe những lời chúc tụng vui vẻ của những người đến dự, mà vẫn chưa thể tin được rằng cuộc đời của nà ng thế là vĩnh viễn bị giam cầm, chưa thể tin được rằng Đubrốpxki không bay đến cứu nà ng. Công tước quay sang nói với nà ng những lời âu yếm, nhưng nà ng không hiểu; họ đi khỏi nhà thờ. Trên thềm, nông dân ở Pôkrốpxcôiê đứng đông nghịt, nà ng đưa mắt lướt nhanh qua đám đông, và trở lại đờ đẫn như trước. Cô dâu chú rể ngồi lên xe và đi về Ãcbatôvô. Kirila PêtơrôvÃch cũng lên xe đi trước về sẵn đấy để đón họ.
Ngồi một mình trong xe với người vợ trẻ, công tước không chút nao núng trước cái vẻ lãnh đạm của nà ng. Lão không bắt nà ng phải nghe những lời giãy bà y vờ vĩnh hay phải chứng kiến những cơn mừng rỡ lố bịch. Lời lẽ của lão giản dị và đều không đòi hỏi nà ng phải trả lời. Họ đi như thế trong khoảng mười véc-xta, ngựa học chạy nhanh trên những mô đất của con đường tắt, và nhờ những chiếc dÃp Anh, chiếc xe hầu như không lắc một chút nà o. Đột nhiên có tiếng quát tháo, chiếc xe dừng lại. Một tốp người có khà giới vây xe và một người bịt mặt đến mở cửa xe ở phÃa có công tước phu nhân ngồi. Người đó nói:
- Cô đã được tự do, cô ra đi.
Công tước kêu lên:
- Cái gì thế, mà y là ai?
- Đấy là Đubrốpxki, – công tước rút một khẩu súng tay đặt bên cạnh và bắn và o người bịt mặt. Công tước phu nhân kêu lên một tiếng và kinh hoà ng đưa tay lên bưng lấy mặt. Đubrốpxki bị thương ở vai, máu chảy đỏ loang tấm áo. Không để lỡ một phút, công tước rút ra một khẩu súng khác, nhưng chưa kịp bắn thì cửa xe đã mở tung ra và những nắm tay rắn chắc đã kéo lão ra khỏi xe và giật khẩu súng đi. Những con dao sáng quắc vung lên loang loáng trên đầu lão
- Đừng chạm và o người ấy, – Đubrốpxki quát; các thủ hạ của chà ng lui ra.
Đubrốpxki quay lại phÃa người con gái mặt tái xanh đang ngồi trong xe nói tiếp:
- Cô đã tự do.
- Không, muộn rồi, tôi đã là m lễ cưới, tôi là vợ của công tước Vêrâyxki.
Đubrốpxki tuyệt vọng kêu lên:
- Cô nói gì vậy? Không, cô không phải là vợ hắn, cô đã bị ép uổng, cô không bao giờ có thể ưng thuậnâ¦
NÃ ng quả quyết trả lời:
- Tôi đã ưng thuận trước bà n thờ Chúa, công tước là chồng tôi, xin anh bảo họ cởi trói cho công tước và để tôi đi với ông ấy. Tôi không hề lừa dối anh. Tôi đã đợi anh đến phút cuối cùng⦠nhưng bây giờ tôi xin nói với anh rằng đã quá muộn rồi. Anh thả chúng tôi ra.
Nhưng Đubrốpxki không còn nghe nà ng nói gì nữa. Vết thương đau buốt và sự xúc động quá mạnh đã là m cho chà ng lịm đi. Chà ng ngã xuống bên cạnh bánh xe ngựa, toán cướp xúm quanh chủ. Chà ng cố sức nói với họ mấy tiếng, họ vực chà ng lên ngựa, hai người đỡ chà ng, một người nữa dắt cương ngựa, và tất cả bỏ đi, để lại chiếc xe ngựa giữa đường, gia nhân của Vêrâyxki vẫn còn bị trói gô lại, nhưng họ không lấy một tà gì và không là m đổ một giọt máu nà o để trả thù cho vết thương của chủ tướng.
Chương XIX
Giữa một khu rừng rậm rạp, trên một khoảng đất hẹp câyc thưa thớt có d921;ng lên một cái đồn nhỏ bằng đất, có một cái luỹ và một cái hà o, phÃa sau có mấy mái nhà lá và mấy túp lều.
Bên ngoà i có một toán đông người mà cứ trông cách ăn mặc hỗn tạp và các thứ vũ khà họ mang cũng đủ đoán biết họ là những tay kẻ cướp. Họ để đầu trần và ngồi ăn uống quanh một cái chảo lớn. Trên luỹ, gần khẩu súng thần công nhỏ có một người gác ngồi xếp chân bằng tròn; anh ta đang vá một cái áo, và cầm kim một cách khéo léo, tỏ rằng trước kia anh ta là một người thợ may có kinh nghiệm. Cứ chốc chốc anh ta lại nhìn ra khắp bốn phÃa.
Mặc dầu cái gáo rượu đã được họ chuyền tay mấy lượt, họ vẫn im lặng một cách khác thường. Ăn xong, họ lần lượt đứng dậy, rồi người thì đọc kinh cầu nguyện, người thì chui và o lều, người thì tản và o rừng hay lăn ra đánh một giấc, theo phong tục Nga.
Người ngồi gác đã vá xong. Anh ta giũ giũ cái áo, ngắm nghÃa chỗ vá, gà i kim và o ống tay, ngồi cưỡi lên khẩu súng thần công và cất giọng oang oang hát một bà i dân ca cổ buồn bã:
Hãy nÃn lặng hỡi rừng xanh yêu mến,
Để cho ta, chà ng tráng sĩ, trầm tưâ¦
Vừa lúc đó, cánh cửa một túp nhà lá mở ra, và một bà già đội mũ vải trắng, ăn mặc sạch sẽ và có vẻ hơi cầu kỳ, hiện ra trong khung cửa, bà già giận dữ nói:
- Có im đi không, Xtêpan. Chủ thì nằm nghỉ mà anh thì cứ gà o tướng lên, anh thật chẳng có lương tâm, chẳng có lòng thương người gì hết.
- Tôi xin lỗi, Ãgôrốpna ạ, – Xtêpan đáp, – thôi chả hát nữa, chủ nhân cứ việc ngủ yên cho chóng khỏi.
U già đi và o và Xtêpan bắt đầu đi đi lại lại trên luỹ
Trong túp nhà lá có u già vừa đi ra lúc nãy, sau một tấm liếp, Đubrốpxki bị thương nằm trên một cái chõng. Trước mặt chà ng, trên một cái bà n có đặt mấy khẩu súng tay, còn thanh kiếm của chà ng treo trên đầu giường. Sà n và vách của túp nhà lá có trải những tấm thảm sang trọng và trong góc có một bộ dụng cụ trang điểm của phụ nữ bằng bạc, và một tấm gương. Đubrốpxki cầm một quyển sách mở, nhưng mắt chà ng nhắm nghiền, và u già lúc ấy đang quan sát chà ng qua tấm liếp, không thể biết là chà ng đã ngủ hay chỉ là đang nghĩ ngợi liên miên.
Bỗng Đubrốpxki giật mình: trong đồn có hiệu lệnh báo động và Xtêpan chạy đến thò đầu và o cửa sổ. Anh ta thét:
- Cậu ơi! Vlađimia AnđrêêvÃch! Người của ta báo hiệu là có người đến đây.
Đubrốpxki nhảy xuống giường vơ lấy vũ khà và ra khỏi nhà . Những tay kẻ cướp đang ồn à o ở ngoà i sân thấy chà ng thì im bặt. Đubrốpxki hỏi:
- Tất cả có mặt ở đây chưa?
- Thưa đủ cả đấy ạ, trừ mấy người canh bên ngoà i.
Đubrốpxki quát:
- Về chỗ!
Mọi người chạy về vị trà chiến đấu đã định.
Vừa lúc ấy ba người gác chạy về cửa đồn. Đubrốpxki ra đón họ, chà ng hỏi:
- Việc gì thế?
- Quân lÃnh đã và o đến rừng, chúng ta bị vây rồi!
Đubrốpxki ra lệnh đóng chặt các cổng lại, và thânà nh đến xem khẩu súng thần công. Trong rừng có tiếng người nói, ngà y cà ng gần. Toán cướp im lặng chờ. Bỗng nhiên ba bốn người lÃnh trong rừng đi ra, và lập tức lùi lại nổ súng để báo hiệu cho đồng đội.
- Chuẩn bị chiến đấu! – Đubrốpxki hô lớn, và trong hà ng ngũ quân cướp có tiếng lÃch kÃch một lúc, rồi tất cả lại im lặng.
Lúc đó, đã có tiếng quân lÃnh tiến đến rầm rập, vũ khà đã lấp lánh sau rặng cây và chừng một trăm rưỡi bộ binh xông ra khỏi rừng, vừa hô xung phong vừa xông lên đánh đồn.
Đubrốpxki châm ngòi â" phát súng thần công rất trúng đÃch, một tên lÃnh bị mất đầu, hai tên khác bị thương. Trong hà ng ngũ quân lÃnh có vẻ nao núng, nhưng viên sĩ quan xông lên, quân lÃnh ùa theo và chạy xuống hà o, toán cướp dùng súng trường và súng tay bắn và o quân lÃnh và lăm lăm cầm rìu để bảo vệ luỹ, vì lúc đó những tên lÃnh hăng máu đã bắt đầu trèo lên, để lại dưới hà o hết hai mươi tên bị thương. Một trận giáp lá cà bắt đầu. Quân lÃnh đã trèo được lên luỹ, toán cướp bắt đầu lùi, nhưng vừa lúc ấy Đubrốpxki gà súng và o ngực viên sĩ quan và bóp cò. Hắn ngã nhà o xuống. Mấy tên lÃnh vội và ng xốc nách khiêng viên sĩ quan và o rừng, những tên khác thấy mất người chỉ huy, liền ngừng lại. Toán cướp phấn khởi quay lại đánh tới tấp và lùa họ xuống hố. Họ bỏ chạy, toán cướp reo hò đuổi theo. Trận thắng đã rõ. Đubrốpxki biết chắc rằng quân địch đã hoà n toà n bị thương, tăng cường canh phòng và cấm không ai được vắng mặt, Đubrốpxki và đồng đảng và o đồn đóng chặt cổng lại.
Các biến cố vừa rồi là m cho chÃnh phủ phải chú ý đặc biệt đến những hà nh động táo bạo của đảng cướp. Người ta thu thập tà i liệu về sà o huyệt của Đubrốpxki. Một đại đội bộ binh được phái đến bắt sống hoặc giết chết Đubrốpxki cho kỳ được. Họ bắt được và i người trong toán cướp, và những người nà y cho biết rằng Đubrốpxki không ở với ọ nữa.
Mấy ngà y sau⦠(tiếp đó trong bản thảo có một đoạn bỏ trống), Đubrốpxki đã tập hợp tất cả đồng đảng lại, nói với họ rằng chà ng có ý định vĩnh biệt họ và khuyên họ thay đổi cách sinh sống.
- Dưới sự chỉ huy của tôi, các anh đã trở nên già u có. Mọi người đều đã có đủ giấy tờ tuỳ thân để có thể đến một nơi nà o đó thật xa mà là m ăn lương thiện và sống phong lưu cho đến già . Nhưng mà các anh toà n là những tay đầu trộm đuôi cướp cả và có lẽ các anh cũng chẳng muốn bỏ cái nghề nà y.
Nói đoạn, Đubrốpxki từ biệt tất cả, chỉ đem theo một người là X. Không ai biết chà ng đi đâu, lúc đầu người ta còn nghi ngờ những lời khai trên đây, vì ai cũng biết rằng tất cả toán cướp đều hết lòng quý mến chủ tướng của họ. Người ta cho rằng họ muốn nói dối để cứu chủ tướng, nhưng những sự kiện về sau xác nhận là những điều họ nói đều đúng. Những cuộc đột nhập kinh khủng, những vụ đốt nhà và cướp của ngừng hẳn, các tuyến đường đều được yên tĩnh. Theo một và i nguồn tin khác thì Đubrốpxki đã trốn ra nước ngoà i.
1833
Cao Xuân Hạo dịch
PHỤ LỤC
Tiểu thuyết nà y bắt đầu được viết ngà y 21 tháng Mười năm 1832 ở Pêterburg. Thời điểm cuối cùng công việc viết tác phẩm nà y đến nay còn đư907;c biết: 6 tháng Hai năm 1833. Dự định của tiểu thuyết nà y được gợi ra do một chuyến đi có thật mà Puskin đã được anh bạn thân thân Paven VôinôvÃch Nasôkin (1801-1854) kể cho nghe: một quý tộc nhỏ người Bêlôruxia, họ Ã"ơrốpxki, kiện cáo với người hà ng xóm về đất đai, thua kiện bị truất khỏi trang ấp, đã cùng với gia nhân trở thà nh kẻ cướp (tiểu thuyết nà y thoạt đầu cũng mang tên là âÃ"xtơrốpxkiâ). Qua người quen của Nasôkin – viên quan chức Đ.V. Kôrốtki – Puskin lấy được bản sao chép tay về vụ kiện có thực ở toà án huyện Côdơlốp tháng Mười năm 1832. Tà i liệu nà y Puskin đã đưa đầy đủ và o chương hai, chỉ thay đổi tên họ và chức vụ nhân vật. Ngoà i ra trong tác phẩm nà y cũng phản ánh câu chuyện Puskin được biết về cuộc nổi loạn của nông dân dưới quyền địa chủ vùng Pơxkốp là Đubrốpxki, xảy ra năm 1737, trong đó chÃnh viên địa chủ đứng về phÃa chống chÃnh phủ. Tác phẩm nà y của Puskin còn dở dang. Theo dự định thì Đubrốpxki về sống ở Mátxcơva, về sau do sự tố cáo của một hạ thủ của ông, ông đã bị cảnh sát bắt.
Lần đầu tiên được in (với nhiều chỗ lược bỏ và xuyên tạc) năm 1841, trong tập X, Tuyển tập tác phẩm của Puskin. Nhan đề âĐubrốpxkiâ là do người xuất bản đặt.
1 Đề từ trÃch trong bà i ca tụng âNhân cái chết của công tước Mêserxkiâ (1779) của nhà thơ Nga G.R. Đergiavin (1713-1816). – 138.
2 Câu đầu một bà i hợp xướng trÃch từ bà i thơ của Đergiavin, âm nhạc của Ã".A.Côdơlốpxki viết nhân việc quân đội Nga chiếm được pháo đà i Thổ Nhĩ Kỳ Idơmain (1791). – 139.
3 Linh mục của giáo hội Nga có thể có vợ. – 141
4 Lời trong Kinh thánh (điều 33, câu 15). – 143.
5 à nói đến cuộc chiến tranh Nga – Thổ Nhĩ Kỳ những năm 1787-1791. – 146.
6 Có lẽ ở đây muốn nói đến cuốn sách dạy nấu nướng. Có thể đó là cuốn tiểu thuyết nổi tiếng một thời của nhà văn Nga thế kỷ XVIII M.Tsunkốp âChị đầu bếp tuyệt vời, hay Những cuộc phiêu lưu của người đà n bà trác tángâ. – 152
7 Ở đây muốn nói đến cách xem tướng của Laphate I.C. (1741-1801) – nhà văn có tiếng thế kỷ XVIII của Thuỵ Sĩ chuyên xem tướng người ta qua cấu tạo của hộp sọ và nét mặt. – 156.
8 Kulnhốp Iakốp PêtơrôvÃch (1763-1812) – một danh tướng tử trận trong cuộc chiến tranh chống Napôlêông (1812) ở Kliaxtitxư. Sau khi ông mất, ảnh chân dung in thạch bản của ông được phổ biến rộng rãi. – 159.
9 RátclÃp Anna (1764-1823) – một nữ văn sĩ Anh nổi tiếng chuyên viết loại tiểu thuyết kể về những cuộc phiêu lưu bà ẩn và những chuyện khủng khiếp đủ loại, cuối cùng bao giờ cái thiện cũng được ban thưởng, và điều ác phải bị đền tội. – 160.
10 Mùa đông ở Nga các nhà thường hay lắp hai khung cửa kÃnh. – 164.
11 Giấy chứng chỉ được dùng ngựa ở trạm. – 166.
12 Rinanđô – nhân vật chÃnh trong quyển tiểu thuyết âRinanđô Rinanđini – chà ng tướng cướpâ (1797) của nhà văn Đức Kh.A. Vulpius (1762-1827). Tiểu thuyết nà y là một chuỗi những cuộc phiêu khó tin là có thật, không có liên quan gì đến nhau, trong đRinanđô xuất hiện khi thì như một chà ng tướng cướp dũng cảm, lúc lại như một đấng tình nhân dịu dà ng. – 177.
13 Hai ngôi sao – hai huân chương cao nhất thường tặng cho những đại thần dưới thời Nga hoà ng. – 177.
14 Cônrát – nhân vật chÃnh trong thiên trường ca âCônrát Valenrốtâ (1828) của nhà thờ Ba Lan Ađam MÃtxkiêvÃch (1798-1855). Do lơ đãng, người tình của chà ng đã thêu hoa hồng bằng chỉ xanh và thêu lá bằng chỉ đỏ. – 179.


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét