Thứ Hai, 28 tháng 10, 2013

8 truyen ngan thoi chien tranh.html

8 truyen ngan thoi chien tranh.html


TẬP TRUYỆN NGẮN

Nguồn : quansuvn.net
Đánh máy : chienvit, trachvandung, hoacuc, chuongxedap, Triumf

MỤC LỤC :

BẠN CHIẾN ĐẤU

Ở MỘT TRẠM GIAO LIÊN

GIẾNG TRONG

NGÀY KHÔNG BÌNH THƯỜNG

CHUYẾN XE ĐÊM

MẶT TRỜI BÉ CON CỦA TÔI

RỪNG ÁO TRẮNG

LÍNH CỐI



BẠN CHIẾN ĐẤU

Tác giả: Trần Ninh Hồ


-515 gọi 583! 515 gọi 5831 (Những khẩu lệnh đều trao đổi bằng mật hiệu. Đây ghi thành ngôn ngữ thường để theo dõi. 01 là bộ chỉ huy). Đây là lần thứ hai trong năm phút, đại đội trưởng gọi tăng 583 không thấy trả lời. Mũi đột kích vào phía bắc thị xã của đơn vị anh coi như đã hoàn thành. Sau gần hai giờ chiến đấu, ba khu phố lớn đã lọt thêm vào tay bộ binh ta. Một tiểu đoàn lính biệt động và hai đại đội cảnh sát dã chiến nguỵ đã bị đánh bật ra khỏi những công sự vững chắc của chúng. Trong những căn nhà và trên đường phố, bộ binh ta đang củng cố công sự, và tiếp tục lấn lên. 18 gờ 32 phút. Các xe khác luôn luôn có báo cáo đều đặn. Sáu phút trước, tăng 853 còn báo cáo đã ra tới ngã ba Chú Tàu Thuốc Bắc. Trước mắt anh hiện ra một đường phố dài chừng năm trăm mét, có nhiều ngã ba, ngổn ngang công sự, dây thép gai, cột điện đổ, những tấm tôn lợp nhà lỗ chỗ vết đạn trải lộn xộn trên mặt đường. Tăng 853 có bộ binh phối thuộc đã thọc sâu một mũi vào lưng địch, sau đó sẽ mở một lối vu hồi cắt đường phố ấy về hợp điểm đại đội vào khoảng thời gian này.


Nhưng tăng 853 đã gặp tình huống gì? Máy bay địch xuất hiện ngày càng nhiều và những cụm khói bom không ngừng bốc lên hướng tăng 583.

-Đạn xuyên! Tăng chính diện 200 mét! Bắn!

Trong ráng chiều nhập nhoạng, chiếc M.41 vừa nhô ra đầu một góc phố thì khựng lại. Từ thân nó nhoằng lên một quầng chớp. Khối lửa sẫm như tiết, giống lửa đốt nhựa đường cứ bùng to mãi. Viên đạn xuyên, từ xe của đại đội trưởng đã kho! an vào nổ âm trong ruột nó.

-01 đây! 515 đâu!

-515 nhận rõ!

-Một lữ dù nguỵ mới đổ xuống. Chúng đang tổ chức chiếm lại những khu phố bị mất. 515 cùng bộ binh tổ chức phản xung phong ngay!

-Rõ!

A, thì ra bọn M.41 kia định mở đường cho bọn lữ dù. Xe 583 thọc sâu rồi, sẽ gặp khó khăn đây! Đại đội trưởng phát lệnh triển khai đội hình tiếp tục tiến công cho toàn đơn vị.

Chừng năm phút, đại đội trưởng lại gọi tăng 583 một lần, nhưng vẫn không thấy trả lời.

Tăng 853 gồm có 4 người, Hồng trung đội trưởng kiêm xe trưởng, Hưng pháo thủ 1. Quế pháo thủ 2. Bình lái xe.


Lẽ ra lái xe của Hồng ở lần xuất kích này là Quang. Nhưng trước trận đánh mấy ngày, một cơn sốt rét kha khá đã buộc Quang phải đi viện. Tay lái của Quang, Hồng đề nghị đại đội thay vào một kỹ thuật viên.
Nhưng trước trận đánh hai ngày, đại đội trưởng báo cho Hồng lên gặp tiểu đoàn trưởng.

-Hiện nay có một anh chàng ngày nào cũng gây sự với tớ-tiểu đoàn trưởng tủm tỉm cười-Ngày có ba bữa cơm là cả ba bữa hắn gạ tớ cho hắn xuống lái xe, "ông" ạ. "Ông" có đoán được ai không?

-A!-Hồng suýt sặc khói thuốc-Tôi đảm bảo với thủ trưởng là sẽ đoán đúng ngay câu đầu tiên.

-Ai!

-Bình!

-Đúng. Sao "ông" biết chắc thế?

-Báo cáo thủ trưởng, lần nào tôi có việc lên tiểu đoàn, cậu ấy cũng bảo tôi: "Kể ra nhiệm vụ cách mạng không được đòi hỏi, nhưng anh là trung đội trưởng cũ, chuyện này em chỉ nói riêng với anh thôi…!".

Tiểu đoàn trưởng cười phá lên, cắt ngang lời Hồng:

-Cái thằng! Nó cũng nói với tôi một câu đúng y như thế. Cậu ta cũng bảo "chuyện này em chỉ nói riêng với thủ trưởng thôi!". Ba lần riêng thì là một lần chung chứ gì?

Tiểu đoàn trưởng đứng lên rút dưới gối ở chiếc giường song song với giường của ông một tập sách in rô-nê-ô:

-Giường cậu cả Bình đấy. Đấy "ông" xem.

Thoáng nhìn tập sách, Hồng đã biết đấy là cuốn "kỹ thuật lái tăng". Nhưng tiểu đoàn trưởng vẫn đem đến tận trước mắt Hồng. Ông mở cuốn tài liệu, lặng lẽ chỉ vào những chỗ được gạch dưới bằng chì đỏ. Những chỗ thừa trong hành văn diễn giải bị gạch đi, và những chỗ in mờ được tô đậm lại. Cứ đến mỗi chỗ trong cuốn sách cần được giới thiệu với Hồng ấy, t! iểu đoàn trưởng lại nháy mắt cười với anh như muốn nói: "Đã ghê chưa, đã ghê chưa!".

-Cứ xểnh việc là cậu cả nhảy sang trung đội kỹ thuật, chui vào mấy cái tăng đang sửa. Gọi về, mặt cứ nhọ nhem, chân tay nhếch nhác, ngượng cả với khách đến công tác. Vừa tức, vừa buồn cười. Nhưng biết làm thế nào?-Tiểu đoàn trưởng lắc đầu tỏ vẻ bất lực!-Hắn là tay "xế" cũ mà

Đúng. Bình là tay "xế" cũ ở trung đội Hồng. Cách đây hai năm, đến tuyển quân ở một vùng trung du bạt ngàn rừng cọ và có nhiều nương chè bao quanh những thung lũng lúa vàng óng, anh đã đưa về đơn vị một cậu học sinh lớp mười, mười tám tuổi. Mặt tròn vạnh, dạ bánh mật, tóc cứ dựng ngược lên. Cặp môi hơi doe khiến cậu ta có cái cười rất con nít. Đấy là một học sinh trường huyện. Theo lời giáo viên chủ nhiệm lớp cho biết thì cậu ta đang nung nấu hai mơ ước ngang nhau: đi bộ đội hay vào Đại học Bách khoa ngành cơ khí. Nguyên tắc cấu tạo và vận hành hệ thống điện của động cơ rơ-le là một khoa mục khó. Vậy mà giá nửa đêm có ai đánh thức dậy hỏi ngay thì cậu ta cũng có thể trả lời: nó có tất cả sáu bộ phận, chưa kể nút khởi động, cấu tạo của bộ phận thứ nhất… Hơi láu táu một chút, đánh bóng chuyền hay bỏ chỗ, nhưng sổ sách ghi chép thì phải xem là mẫu mực. Nó là kết quả tất nhiên của một niềm say mê khôn nguôi. Người ta dễ có cảm tưởng cậu ta sẽ không thể nào đọc được sách kỹ thuật nếu trên túi ngực không có đủ hai loại bút chì xanh và đỏ!


Bình đã đánh hai trận do Hồng là trưởng xe và cả hai trận, Bình đều rỏ ra dũng cảm, sắc sảo trên ghế lái của mình. Buồng thao tác của lái xe là nơi Hồng không phải kiểm tra nhiều. "Xin mời", mũi Bình choăn lại khi cậu ta nhoài ra khỏi cửa xe để nhường chỗ cho Hồng vào kiểm tra. "Các cậu đã ăn cái bạt tai này của trung đội trưởng chưa"? Có lần Hồng đã nghe Bình hỏi khẽ hai anh bạn pháo thủ cùng lứa tuổi. Hồng bật cười. Cũng là vô tình thôi, nhưng đ! ã thành thói quen, mỗi khi kiểm tra buồng nào trong xe thấy hài lòng là anh không nói, nhưng tặng nhẹ người phụ trách buồng ấy một cái bợp tai. Không có gì là không bị nó nhận xét. Đầu thằng ấy tóc đến là cứng.


Sau hai trận đánh ấy, Hồng đã báo cáo tỉ mỉ thành tích của Bình, có nhận xét của tổ Đảng gửi lên trên đề nghị Bình lên trưởng xe và anh sang xe khác. Chính tiểu đoàn trưởng đã gặp anh hỏi kỹ trường hợp Bình. Hai tuần sau quyết định được gửi về, không như điều anh dự tính mà là quyết định điều động Bình lên làm liên lạc cho tiểu đoàn.


Hồng không khỏi băn khoăn. Anh đã tâm sự điều đó với đại đội trưởng. Hồng cho rằng cách sử dụng chiến sĩ kỹ thuật như thế là phí phạm.

-Cậu chưa hiểu tiểu đoàn trưởng-Đại đội trưởng mỉm cười-Trừ trường hợp cậu và tớ ở trường ra, còn hầu hết các cán bộ trung đội, đại đội trẻ ở tiểu đoàn này, đều đã từng làm liên lạc cho ông ấy. Ông ấy thích chọn liên lạc là những chiến sĩ đã trải qua chiến đấu. Đấy là cách trực tiếp huấn luyện cho cán bộ cho đơn vị của ông bên cạnh những khoá tập huấn chính thức của trên. Bình sẽ có quyết định vượt cấp lên trung đội phó.  Tiểu đoàn trưởng rất hay hỏi ý kiến anh em liên lạc của mình về những trận đánh…


… Bình đã đi tắm về, "chạy ngược chạy xuôi dồn các thứ vào ba lô. Tiểu đoàn trưởng vừa gấp quần áo giúp vừa rủ rỉ với cậu ta:

-Gấp quần là phải chú ý đến cái ly của nó. Gấp áo thì phải sao cho cái cổ áo không xoăn vỏ đỗ, khi vội, mặc vào là phẳng ngay, nó không cụ! p lại n! hư tai chó mới được!

-Dạ!

-Cậu có về dưới ấy thì đừng vì mê xe quá mà quên mất tớ. Chả gì ta cũng sống với nhau bốn tháng 3 ngày. Hơn nữa cậu còn mắc nợ tớ một phương án đánh đồi X theo đội hình trung đội nữa đấy!

-Thế là thế nào?-Hồng hỏi Bình.

-Có gì đâu. Cứ mấy ngày thủ trưởng lại ra cho em một tình huống để lập phương án đánh! Khi thì đánh độc lập, khi thì đánh theo đội hình trung đội rồi lại cả đại đội nữa nhé! Cứ lung tung lên thôi…

-Chưa hết đâu!-Còn phương án đánh theo đội hình tiểu đoàn nữa kia cậu ạ…

-Dạ. À, thủ trưởng đưa giùm em cái khăn mặt.

-Thuốc đánh răng?

-Dạ.

-Bút chì xanh đỏ?

-Dạ.

-Cầm lấy hai bao thuốc lá này về mời anh em "cảnh cũ người xưa". Nhiều, ít là cái chuyện vô cùng. Nhưng khi đi đâu về có tí quà thì nó thêm vui cửa vui nhà. Mấy tờ giấy pơ-luya đây, xin tặng bạn để viết thư cho người yêu… Không có người yêu à? Nói dối. Quê cậu, con giai có tục lấy vợ từ 13 tuổi cơ mà…

-Thế mới gọi là "tục". Ngày xưa mới thế thủ trưởng ạ.

-A, được đấy!-Tiểu đoàn trưởng cười lớn. Ông chụp cái mũ mềm vào đầu Bình-Thôi tạm biệt. Chúc đồng chí thắng lợi.

Tiểu đoàn trưởng đột ngột mở rộng cả hai tay ôm choàng lấy người chiến sĩ trẻ của mình.

Ở những khu phố còn lại chưa bị ta chiếm, bằng những chiếc trực thăng do Mỹ lái, bọn sĩ quan lữ dù Hai liều lĩnh xua lính xuống sân thượng, qua các tầng gác phối hợp với đám tàn binh định chiếm lại một khu phố trong đó có ngã ba Chú Tàu Thuốc Bắc và ngã tư đầu cầu. Bọn lính dù này đánh lên án ngữ đường vu hồi về hợp điểm của xe tăng 583.

-Sân thượng, bên phải 300 mét, một cụm bộ binh!

Bình thông báo mục tiêu chưa dứt câu thì pháo tăng 583 đã gầm lên. Hưng pháo thủ 1, vốn là anh chàng nhanh chí. Khói trùm kín nửa phần trên toà nhà. Bóng những chiếc mũ sắt biến mất.

-Còn bao nhiêu đạn các cỡ?-Hồng hỏi Quế, pháo thủ 2.

-Báo cáo! Năm đạn nổ, ba đạn xuyên. Ba hòm 12 ly 7. Tám băng đạn đại liên.

-Nghe rõ!

Những con số đạn đã dùng và những mục tiêu địch bị diệt lướt qua rất nhanh trong trí nhớ của Hồng. Một tăng M.41, hai xe vận tải, ba ổ trung liên, bốn cụm bộ binh… So với số đạn đã dùng, chưa thật cao. Nguyên nhân chủ yếu là ở mình, cương vị trưởng xe, phát hiện và ước định mục tiêu chưa nhanh nhạy, chính xác. Riêng đối với Bình thì anh cảm thấy hoàn toàn hài lòng. Đường lái chính xác. Các động tác chuyển khá êm. Lái đấy mà cậu ta cũng thính mục tiêu lắm. Nhiều lúc Hồng có cảm tưởng cậu ta biết trước hay ít nhất là cũng nghĩ với anh và pháo thủ 1về một mục tiêu nào đó ở phía trước cần diệt. Dù hành tiến, dừng xe hay tạm dừng, lúc nào Bình cũng chủ động giữ cho xe một cái thế khá thích hợp để pháo thủ 1 lấy thước ngắm. Chỉ phải cái tội không hiểu khoái cái gì mà t! hỉnh thoảng cậu ta lại huýt sáo véo von. Thở không ra hơi mà còn đến lắm chuyện! Hồng cứ phải nhắc luôn để đảm bảo liên lạc.


Kéo cần bên phải xuống nấc phân ly cho xe lượn một vòng rộng theo độ cong của đường rẽ về bên phải, Bình kết hợp ấn nút súng máy mũi xe, quét một luồng đạn hình rẻ quạt vào những tên lính vặn vện đang liều lĩnh vượt quãng đường trước mặt. Đường phố chỗ này rộng, phẳng, lại có độ lượn xe chạy số 3, đấy là những điều kiện khá tốt để súng máy ở mũi xe phát huy hoả lực. Nhưng kìa, phía bên trái mặt con sông chạy song song với hướng xe Bình liên tiếp dựng lên những cột nước. Coi chừng bom của bọn phản lực. Bình cài lại số 2 để phòng khi cần có thể hãm tức thì.. Vả lại chỗ đường sắp đến có những cột điện và những mảng tường đổ.


Có lẽ những cột nước ở mặt sông kia đã làm cho bọn phản lực nhận thấy cần phải điều chỉnh hướng bom để tiêu diệt chiếc tăng đang như một lưỡi dao cắt ngang lữ dù vừa đổ xuống. Chiếc tăng ấy với khẩu 12 ly 7 gắn trên tháp còn như một chiếc roi lửa quất vào mặt chúng mỗi khi chúng bổ nhào và gây không ít khó khăn cho bọn trực thăng chi viện. Tên lửa, bom, rốc két… sáu chiếc phản lực không ngừng đan nhau trút xuống.

-Dừng!

Tiếng quát của trưởng xe chưa dứt, thì Bình đã kéo mạnh hai cần lái đạp phanh. Toàn bộ động tác hãm tưc thời đã được thực hiện triệt để đến thế mà sao xe cứ trôi mãi nhỉ? Khói bụi và bóng tối của trời chiều cứ vần vũ trước kính lái.

Tiếng Hồng thì thầm:

-Mấy quả bom vừa nổ xung! quanh xe! . Một quả nổ ngay trước mũi xe. Xa sa hố rồi. Mất liên lạc với đại đội.
Bình không nói gì. Anh gài số 1, hạ thấp chân dầu rồi lại cho tăng dần đến vòng quay thích hợp, tạp cho xích xe mọt sức bám chặt nhất xuống mặt đất. Tiếng xe gầm lên mỗi lúc một thêm dữ dội nhưng vô hiệu. Bình đẩy nắp xe ra ngoài ngắm địa thế xem có thể dùng cáp tự cứu.

Quế pháo thủ 2 báo cáo:

-Bom văng mất 12 ly 7 trên tháp. Thành hố bom cao vượt tháp, pháo không bắn được. Bộ binh ngồi sau tháp pháo bốn người, hy sinh hai, mới tìm thấy một.

Hồng với khẩu AK vượt ra khỏi xe:

-Hưng, Quế và hai đồng chí bộ binh lên cảnh giới miệng hố bom.

-Rõ!

-Có thể dùng cáp tự cứu được không?-Hồng hỏi Bình.

-Thành hố bom dựng quá, lòng hố hẹp. Nhưng cũng cứ thử xem.

Hai người dùng hết sức để vần cây gỗ dự trữ to gần bằng người, cho nó lên từ đuôi xe xuống gầm rồi bới đất buộc cáp…

Chiếc tăng lại gầm lên từng hồi bền bỉ, nhưng vẫn không lên được.

-Hưng, Quế đâu?

-Có!-Hai pháo thủ xuống lòng hố bom.

-Bây giờ thế này-Tiếng Hồng trầm xuống trong bóng tối đã đặc lại-Hưng, Quế, Bình sẽ cùng hai đồng chí bộ binh tìm liên lạc với đơn vị. Đánh địch mà về. Tôi sẽ ở lại giải quyết xe. Đi đi, trời đã…

-Nằm xuống!

Cùng lúc với tiếng thét của hai đồng chí bộ binh cảnh giới, một quả cối M.79 nhoàng lên trong lòng hố bom phía đầu xe. Các đồng chí bộ binh đã nghe thấy tiếng "toóc" đầu nòng của nó.

-Có ai việc gì không?-Hồng hỏi.

-Không!

-Tất! cả lê! n đi!

Những loạt AK nối nhau rít lên. Có tiếng hô xung phong của đồng chí bộ binh. Dù là họ hô up hiếp địch thì cũng có nghĩa là chúng đã đến gần. Hưng và Quế xách AK chạy lên, cùng lúc những nhớp lựu đạn họ tung về phía trước. Đạn liên thanh của địch đỏ lừ đan chằng chịt trên miệng hố bom.

-Bình đâu?

-Báo cáo, tôi đang lấy thêm thủ pháo-Tiếng Bình từ trong xe nói ra.

-Vào trong ấy làm gì nữa? Để xe đấy cho tôi… Ơ kìa!

Hồng kêu lên kinh ngạc. Chiếc cửa xe cuối cùng bị Bình kéo lại rất nhanh. Tiếng chốt thép khô và lạnh.

-Ra! Ra!-Hồng thúc báng AK vào thành xe và hét. Nhưng không còn cách nào nữa.

-Xong chưa?-Hưng kéo áo Hồng-Có một lối rút được, theo hai đồng chí bộ binh.

-Còn thằng Bình đây này!-Hồng gắt.

Hưng sững người. Bình đã chui vào trong xe khoá lại. Cả hai cùng ứa nước mắt trước khối thép im lặng.

Nghe tiếng từng loạt AK cứ xa dần, im, rồi lại xa hơn về phía bờ sông, Bình biết các bạn mình đã rút và bọn địch cũng đã đến gần. Đấy,  mấy tiếng nổ trên tháp, xung quanh xe, không phải chỉ là cối cá nhân nữa mà là cả lựu đạn. Những quả còn nghe thấy tiếng "bịch" trên mặt đất hay tiếng "chát" vào thành xe rồi mới nổ là lựu đạn. Đạn cối rơi xuống là nổ tức thì. Trong ánh lửa nhoáng nhoàng buồng xe. Bình gài lại nút cuối cùng của cuộn băng. Khi còn ở bên ngoài, sau tiếng nổ của quả M.79-Bình thấy bắp đùi bên trái tê lạnh đi. Biết mình đã bị thương nhưng khi Hồng hỏi, Bình đã kêu không. Một tiếng kêu bị thương lúc đó sẽ khiến tình hình thêm rối ren. Chậm một phút, địa hình trũng của hố bom sẽ là cái phễu đựng tất cả các loại đạn cối và lựu đạn của địch. Một quyết định bùng cháy trong lòng Bình. Mình sẽ ở lại với xe thay anh Hồng… Khi trườn lên xe một cách khó nhọc, Bình càng thấy quyết định của mình là cần thiết. Với cái chân bị thương này, mình sẽ trở thành một trở ngại rất lớn trên đường tìm về đơn vị của các đồng chí ấy. Bình biết rằng nếu có vì bảo vệ Bình mà bị hy sinh các đồng chí cũng vẫn sẵn sàng. Vì thế chỉ có cách chui vào xe đóng cửa lại mới buộc họ phải đi.


Nếu bọn địch dùng súng chống tăng từ xa để huỷ xe thì cái đó cũng không có gì lạ. Mình sẽ hy sinh, nhưng cái xe lúc đó cũng chỉ còn là một cục sắt, người chiến sĩ sẽ không phải ân hận vì đã để vũ khí nguyên vẹn lọt vào tay địch. Nếu chúng kéo đến gần, chất thuốc nổ huỷ xe thì mình sẽ chọn thời c! ơ dùng lựu đạn đánh trả những đòn đậm nhất. Nếu chúng bỏ đi, thì mình sẽ biến chiếc tăng này thành một công sự mai phục, đánh những đòn bất ngờ vào bất cứ bọn địch nào đi qua sau này…


Bình nhẹ nhàng mò trong bóng tối kiểm tra lại từng quả thủ pháo, lựu đạn. Có ba khẩu AK, Hưng, Quế, anh Hồng đã cầm đi. Chẳng cần. Lựu đạn, cối vẫn nổ chít chát ngoài xe. Nước non gì. Còn là bắn, còn là ném. Phải mười phút nữa là ít thì chúng mới dám mò đến, cái bọn cáy ấy. Bình khẽ co đầu gối. A, được. Nếu dùng để đỡ toàn thân khi chạy bộ thì không nổi, nhưng co duỗi thì vẫn được. Bình nhướn nhẹ bàn chân trái vào bàn đạp ly hợp và khẽ nhếch mép cười.


Những tiếng nổ liên miên quanh xe không làm Bình bận tâm nữa. Như thế có nghĩa là bọn địch chưa dám đến gần. Chưa khi nào Bình cảm thấy lòng mình thanh thản đến thế. Trong chiến đấu dù gặp tình huống nguy ngập đến đâu, người chiến sĩ vẫn có thể hoàn toàn bình tĩnh, đến gần như thản nhiên nữa, nếu đã kịp thời vạch ra được những phương án và quyết sống mái với kẻ thù. Hình như đã có lần tiểu đoàn trưởng nói với Bình điều đó. Bình với can nước. Ờ, bây giờ mới thấy khát. Khát quá. Dòng nước mát đã làm Bình tỉnh táo thêm rất nhiều và… Bình mở hòm lương khô. Rõ chán, anh Hồng lại bỏ quên gói thuốc lá. Bình bỏ túi giữ cho anh. Anh ấy bảo thèm thuốc nhất là những lúc đánh nhau xong, nhảy từ trên xe xuống. Bình thì ghét nhát thuốc lá. Nhiều nhà khoa học đã chứng minh một cách không ai chối cãi được về những ảnh hưởng rất xấu của thuốc lá đến trí nhớ. Học ! toán cao! cấp, làm một người nghiên cứu khoa học kỹ thuật mà trí nhớ kém thì sẽ gặp khó khăn. Tức thật, giá không có bọn Mỹ và bọn tay sai chó má này thì mình đang học năm thứ ba bách khoa rồi đây.


Bùng. Đoàng. Chát. Bùng. Đoàng… "Cẩn thận" gớm nhỉ. Năm phút rồi chớ ít à? Vẫn chưa dám đến. Còn là ném, còn là bắn. Mình thò ra lúc này nguy hiểm và cũng chưa cần thiết. Bình cắn một miếng lương khô. Không biết bây giờ bầm mình ở nhà đang làm gì nhỉ? Cái vị ngọt ngăm ngăm của miếng lương khô đã khiến Bình nôn nao. Thằng Chính em mình năm nay lên năm rồi. Cu cậu háu ăn mà vẫn sợ lương khô. Lần đầu mình mang về, nó chộp rồi phun phì phì kêu "đắng ngắm, kẹo cơ!". Họ trộn sữa, đường với cà phê hay cacao nhỉ. Ồ? Sao miếng lương khô này lại mặn thế nhỉ? Nước mắt à? Mình khóc ư? Bình khóc thật. Nước mắt giàn ra lúc nào Bình không biết. Bình khẽ nhếch mép cười tự nhạo mình. Trước mắt Bình thoáng trải ra một sân kho mênh mông thóc và ánh nắng. Bầm anh đầu đội nón trắng đang đều tay kéo cái trang gỗ. Một khuôn mặt sạm nắng có cái quai mũ bằng da bao quanh ghé qua cửa sổ lớp 10B xin phép giáo viên dạy toán cho được gặp Bình. Đấy là bố anh, trước khi cùng đơn vị vào mặt trận đã ghé qua trường thăm đứa con lớn.

-Bố đi, con ở nhà gắng giúp đỡ bầm và các em. Phải học giỏi hơn nữa và khi cần thì nhập ngũ.

Lần ấy không hiểu sao ông lại đưa tay cho Bình bắt. Bình đã lúng túng đến mấy giây. Có bao giờ Bình bắt tay bố mình đâu! Và hôm ấy Bình cũng khóc. Giữa lúc Bình khóc thì bố Bình lại cười ầm lên. Ông bảo: "Con giai gì mà mau nư! ớc mắ! t!". Không! Không! Con khóc, nhưng sẽ biết sống xứng đáng với cuộc đời chiến đấu của bố…!.

Sự im lặng gần như tuyệt đối và rất đột ngột của một chuỗi tiếng nổ tưởng như không bao giờ dứt quanh xe đã khiến không gian như hẫng đi.

-Cho hai trái lựu đạn nữa xuống gầm xe cho chắc ăn, bọn bay!

Hai tiếng nổ như bị bóp nghẹt dưới bụng tăng. Cùng lúc, cả bốn phía xe chúng quạt tiểu liên chan chát. Được rồi, cứ xuống đi, thiếu gì chỗ thả lựu đạn. Bình tự nhủ. Có ánh đèn pin loang loáng, rồi lại những loạt tiểu liên lia dưới gầm tăng. Có tiếng ra lệnh từ trên miệng hố bom:

-Ba thằng gác nóc xe, thế. Hai thằng gác dưới gầm, thế.

-Thưa đại uý, cả trên cả dưới hổng có cửa nào mở được cả. Có lẽd chúng nó bỏ chạy hết rồi ạ.

Bình nhẹ nhàng nhoài lên chỗ ghế trưởng xe. Cái quan trọng là đừng gây tiếng động. Chỗ ấy có lỗ để thả lựu đạn ra. Sẽ đánh một cú đậm nhất, bất ngờ nhất.

-Bọn bay nhìn thấy mấy đứa chạy ra hướng bờ sông?

-Dạ, sáu bóng đen!

-Sao mà nhiều vậy?

-Dạ đúng. Cho nhồi thuốc nổ huỷ thôi, đại uý.

-Khoan!

Có tiếng đá lăn lộc cộc vào chắn bùn và xích xe. Thằng đại uý xuống chăng? Bình cố nhoài nhanh hơn. Cái chân bị thương thỉnh thoảng lại va vào các đầu ốc đau tưởng đến ngất được. Ghế trưởng xe đây…

Có tiếng giày gắn cá sắt trèo từ đầu xe qua tháp pháo. Một tiếng nói hách dịch cất lên từ đỉnh xe:

-Gọi thông tin đến đây tao. Chiếc xe mới cảo bọn bay nè!

Bình đang định thả lựu đạn ra ngoài nhưng lại thôi! "Chiếc xe mới cảo… gọi thông tin đến…". Có lẽ chúng nó cho c! ần cẩu bay đến trục xe mình về chăng? Được. Chưa cần đánh bây giờ. Phải cho chúng nó tin rằng trong xe không có người. Một dự định mới đã khiến Bình bị kích động đến run người lên. Chúng mày đừng hòng dùng chiếc xe này vào bất cứ việc gì. Bình khẽ cắn một miếng lương khô. Không thấy vì gì, cứ lạo xạo như cát. Như thế là vị giác của mình không nhạy.. Mình chưa bình tĩnh hoàn toàn đâu!… Chúng nó vẫn ở trên nói léo nhéo. Thằng đại uý gọi mật hiệu qua vô tuyến. Không rõ nó gọi gì, nhưng cứ chờ xem.


Đất và xe của Bình rung lên đều đều. Có tiếng gầm của máy nổ. Tăng địch? Lợi dụng tiếng động bên ngoài, Bình trườn xuống ghế lái. Nếu cùng kỳ lý thì sẽ dùng hết sức đẩy cái thằng ngồi trên cửa lái xe mà nhô người ra đánh.

Đúng là tăng địch. Có ánh quét của đèn pha rồi. Bình sờ lại tất cả các bộ phận trong buồng lái. Có tiếng đập chan chát ở chỗ móc cáp đầu xe, và tiếng cãi nhau của bọn lính. Đúng rồi, chúng nó không dùng cần cẩu máy bay mà dùng tăng để kéo Bình về. Sẽ có một thằng tăng địch bẹp dúm với Bình…


Bùng. Bùng. Bùng… Tiếng xe địch rú ga nổ to như tiếng đạn cối bắn cấp tập. Bây giờ thì giương kính lái lên quan sát được rồi. Bình vừa đẩy kính lái lên từ từ vừa lắng nghe. Lửa từ ống xả khói của xe tăng địch phụt ra tung toé trước kính xe của Bình, như có ai đập nắm đóm rực tàn vào đây. Thừng này lái tồi, phun dầu sớm quá, nhiên liệu không cháy hết nên lửa ống xả mới toé dữ như vậy.


Chiếc 583 rùng mình một cái và Bình cảm thấy chỗ ngồi cứ dốc ngược, dốc ng�! �ợc mã! i. Tiếng xích chuyển ken két. Khoẻ thế này nếu không phải là M.48 thì ít nhất cũng M.41, chứ không thể là cái loại bì bẹt M.113. Lên đi. Điều cần thiết là ngồi cho thật ngay ngắn trên ghế lái, sao cho những cú kéo giật cục không làm đổi tư thế ngồi, có thể đạp ly hợp dận ga, ấn nút khởi động, gài số lao vào nó bất cứ lúc nào…


Bắp đùi trái bây giờ mới cương lên nhức nhối. Bình co đi duỗi lại rất đều cho nó khỏi cứng liệt mất chân, mà mỗi lần cử động vẫn cứ thấy vất vả quá. Mồ hôi toá ra ướt đẫm cả áo quần.

Cả người Bình hơi xô về phía trước một cái. Ghế lái đã ở thế thăng bằng. Lên mặt đất rồi. Bên trái là sông, bên phải là đường trở lại tuyến bộ binh của ta. Bình căng mắt nhìn qua kính lái cứ he lên lại tụt xuống. Để khỏi lộ, Bình chưa đẩy kính lên hết nấc. Những chớp đạn từ xa hắt đến làm hai đường dây cáp nhoáng lên. Cùng lúc, Bình nhận ra chiếc tăng địch không phải là M.41 mà là M.48. "Mình sẽ lao thẳng vào nó cho bẹp dúm cái buồng động lực của thằng M.48 này và dùng sức dập giữa mũi xe mình và đuôi xe nó cắt đứt dây cáp. Cái mũi xe tăng 583 vát như một lưỡi búa vụt hiện trước mắt Bình…


"Bắt đầu này!" Bình tự nhủ khẽ như một mệnh lệnh cho mình và đang định đẩy hẳn kính lên, nổ máy, thì hai thằng nguỵ chạy ra từ một luồng đèn pin lao đến trước mũi xe. Quần áo chúng bay chấp chới. Một cơn lốc bụi quấn lấy nó. A, cơn lốc là do cần cẩy bay quạt xuống? Động cơ M.48 nổ to quá, ngồi trong xe kín mít, thần kinh lại quá căng thẳng, bây giờ lắng nghe, Bình mới thấy tiếng phành ph�! ��ch xa x! ôi trên cao của trực thăng đang hạ thấp dần.

Hai chiếc dây cáp đã được hai tên nguỵ tháo tuột khỏi xe Bình và Bình chỉ thoáng thấy nó bị cái M.48 kéo lê đi một đoạn ngắn…

Tiếng xe tăng 583 gầm lên một cách dữ dội gần như bất ngờ với cả chính Bình. Mới cách có một giờ im lặng mà nay nó gầm nghe khoái lạ! Bình cười mà nước mắt lại như muốn ứa ra.

-Chúng mày chết!

Chiếc tăng địch M.48 chừng như đã biết thế chênh vênh ven sông bất lợi, nó mới ngúc ngoắc xoay một nửa vòng định chạy, nhưng không kịp nữa. Chiếc xe tăng 583 đã chồm đến như một con sư tử. Sau tiếng gầm lộng óc của hai khối thép khổng lồ va nhau, là tiếng ầm ầm của một thác đá đổ cuốn theo chiếc M.48. Mặt sông dềnh lên loáng dưới ánh sao.


Đã chưa! Bình đánh mặt qua vai lau vội những giọt mồ hôi tràn trên mặt rồi kéo mạnh cần trái xuống nấc hãm, lấy xích trái trụ, Bình dấn ga, tay phải bấm nút súng máy. Chiếc tăng 583 quay tròn một vòng, hai vòng… Đạn súng máy mũi xe toé ra thành những vòng tròn lửa…

Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn xe tăng vui vẻ bước ra cửa hầm:

-Hay quá! Vào đây. Khoẻ rồi chứ Nghĩa? Tớ vừa pha xong một ca sữa đặc mà chưa có ai "phối thuộc".
Chiến sĩ bộ binh tên là Nghĩa rất trẻ. Dáng mảnh khảnh, nhưng tay này từ tuổi hai mươi trở lên chắc là sẽ vạm vỡ lắm đây. Da cậu ta còn xanh. Cậu ta ngượng nghịu nắm lấy tay tiểu đoàn trưởng:

-Báo cáo thủ trưởng, em khoẻ rồi. Đơn vị em ở cách đây một tiếng. Em qua chào thủ trưởng, em về.

-Đã báo cáo thủ trưởng thì xưng tôi chứ không xưng em, phải không nào?

-Dạ. Phải ạ. Nhưng… thủ trưởng bằng tuổi bố em, xưng tôi nó thế nào ấy! Có điều không nên dùng ở hội nghị và… không "gia đình chủ nghĩa" là được!

-A!-Tiểu đoàn trưởng hơi ngạc nhiên. Nói đúng hơn ông cảm thấy lý thú trước lối nói thẳng thừng của anh bạn trẻ này. Cái cánh trẻ bây giờ nhiều khi ông cũng thấy lạ. Hồn nhiên thì vô cùng mà lý lẽ thì cũng thật ra dáng. Không biết có vị chỉ huy nào chỉ nhìn thấy cái sự khiêm nhường bẽn lẽn mà không thấy hết cái tự trọng của họ, rồi cho rằng "sợ" mình không? Ông nảy ra ý vặn thử cậu ta-Vậy theo cậu thì thế nào là "gia đình chủ nghĩa?"

-Dạ, là à uôm, là tình cảm một chiều, là không tôn trọng nguyên tắc, và thiếu dân chủ ạ.

-Ha ha-Tiểu đoàn trưởng cười sảng khoái-Nhưng dù sao thì hãy ngồi nghỉ đàng hoàng đã. Để tớ viết cho cái giấy về bên ấy. Thủ trưởng tiểu đoàn cậu là anh Cống chứ gì?

Được tin Nghĩa đã khoẻ và đang đợi mình ở tiểu đoàn bộ, Bình rất hồi hộp. Bình báo ! cáo ngay với anh Hồng rồi vừa mặc áo vừa chạy.

Không biết mặt mũi nó thế nào nhỉ? Tiểu đoàn trưởng bảo đã đến thăm nó ở bệnh viện rồi.

Bữa ấy, sau những loạt súng máy, Bình cho xe lao dọc bờ sông. Vừa đến ngã tư đầu cầu thì gặp tăng 515 của đại đội trưởng đánh xuống. Đại đội trưởng ra hiệu cho phép xe Bình cứ về, rồi xe của anh vọt đi.

Cánh rừng le quen thuộc lại phủ kín chiếc xe tăng 583.

Tì hai tay vào mép cửa, Bình cố nhoài ra ngoài xe cho thoáng. Bình ôm lấy tháp pháo ướt lạnh sương đêm và nham nháp bụi.

-Nước!

Mới đầu Bình ngỡ là mình mệt quá buột mồm nói mê, nhưng lần thứ ba thì Bình kinh ngạc.

-Ai?

-Tớ đây!

-Tớ nào đấy?-Bình nghiến răng trườn quanh tháp pháo về phía đuôi xe.

Một người nằm ngửa, duỗi thẳng chân tay trên mặt buồng động lực ngay chân tháp pháo. Khẩu tiểu liên Mỹ dài ngoằng gác ngang người.

Các chiến sĩ trong đại đội tăng trực ở nhà đã ùa ra. Không hỏi gì, họ đặt hai người lên cáng thương đưa vào hầm y tá. Sau đêm ấy, Bình nằm ở bệnh xá trung đoàn còn cái anh chàng nằm sau tháp pháo tên là Nghĩa thì được đưa lên bệnh viện của ban chỉ huy mặt trận. Nghe nói vết thương của Nghĩa khá nặng. Cậu ta bị một viên đạn tiểu liên vào bụng và mấy mảnh cối cá nhân…


Sau những thủ tục giới thiệu hai anh bạn trẻ, tiểu đoàn trưởng đặt hai cốc sữa đã có lời mời trước mặt hai chiến sĩ, rồi lẳng lặng ra khỏi hầm.

-Này-Bình hỏi Nghĩa-Hôm ấy cậu ở đâu ra thế?

-Tớ là một trong bốn bộ binh bám xe cậu. Cậu t! hì ngồ! i ở trong xe không biết được tớ đâu. Mà tất nhiên là tớ cũng không biết cậu! Mấy lần tớ nhìn qua kính xem các cậu ngồi ở đâu, nhưng nó là loại lăng kính, tớ chẳng thấy gì bên trong xe.

-Ừ, đã đành. Hai đứa có nhìn thấy nhau đâu mà biết. Nhưng cậu bám vào xe tớ lúc nào mà nhanh thế chứ?

-Hì hì-Anh bạn bộ binh cười-cái chùm bom đánh xung quanh xe mình ấy làm tớ ngất đi và bị đất lấp nửa người.

-Ngất có lâu không?-Bình láu táu, không nén được hồi hộp, cái miệng cứ doe ra. Tay này tài ghê. Bình nghĩ.

-Đã gọi là ngất thì còn biết gì nữa mà lâu hay chóng. Nhưng mà cậu đừng hỏi cắt ngang thì tớ mới nói đầu đuôi được…

-Ừ, không cắt ngang.

Ngất rồi, lúc tỉnh dậy, tớ thấy chỗ xe cậu ồn ào như họp chợ ấy. Lố nhố mũ sắt dễ đến mười mấy đứa. Cần cẩu bay hạ thấp. M.48 nổ máy ầm ầm. Này, có khi chính cái đám ồn ào ấy đánh thức tớ đấy nhé. Hí hí…

Cấm người ta cắt ngang, mà mình thì lại cười lâu thế. Bình thầm trách và đang định giục thì cậu ta tiếp:

-Nắn khắp người, không thấy xây xát gì, mừng quá. Nhưng sờ quanh chẳng thấy AK đâu…

-Tất nhiên. Đến người cậu còn văng đi đến hai chục thước nữa là súng!-Bình tức mình về những câu kể thừ của anh bạn lẹm cằm trán dô này.

-Ừ, thì tớ nói thế cho có đầu có đuôi mà lỵ. Cánh các cậu ở tăng thế nào chứ, cánh tớ mà mất AK thì tiếc lắm. Tất nhiên là tớ đã chọn cho mình một khẩu AR.15 trong cái đám xác lính dù xung quanh, nhưng loại đó so thế nào được với AK! Băng của AR.15 này cũng chỉ có hai mươi viên, cho nên tớ phải thủ năm băng. Cái loại băng ngắn choằn ấy của bọn Mẽo bỏ túi ngực cũng vừa. Năm quả lựu đạn da láng. Kể lúc đó, cứ thế, luồn đằng sau chúng nó cũng đi về được…

-Đúng. Lần ra mé bờ sông-Bình xác nhận-Mấy tay bên cậu và anh Hồng bên tớ về lối ấy.

-Nhưng mà bọn chúng nó đứng quanh chỗ xe cậu đông quá, bỏ thì tiếc lắm. Phải "giải tán" cái đám này đi. Tớ mới trườn đến một cái hố bom gần hơn đánh chắc ăn. Nhưng cũng vừa mới định nhô lên đứng quạt tiểu liên cho đã, thì xe cậu bắn và gầm dữ quá. Khoái thật nhưng hút chết. Tý nữa cậu lia cả tớ!

-Hí hí!-Bình cười-Thì tớ ở trong xe có nhìn thấy cậu đâu.

-Ừ, là nói thế. Bọn nó chạy chí chết. Tớ góp ba quả da láng đã tay rồi nhìn say thấy xe cậu đã định hướng không quay nữa, biết cậu sắp đi, tớ vội phốc lên. Tớ cũng không hiểu sao lúc ấy bọn bó không bắn tớ!

-Nó tưở! ng cậu cũng là cánh nó bám theo đánh xe tớ…

-Xì!-Nghĩa choăn mũi lại-Bộ binh nó có mặt nào dám thế mà tưởng. Nó hoảng quá không kịp bắn hoặc bắn trượt. Thật tình tớ hơi ngại cái thằng M.48 nữa, cách xa cái thằng M.48 lộn cổ xuống sông chừng ba chục mét. Nhưng thật đổ đốn, thằng ấy lại bỏ chạy trước cả bọn bộ binh cậu ạ. Máy bay cần cẩu thì vổng tí lên trời. Xem ra vũ khí không quyết định bằng con người!-Nghĩa lý luận một chút để cho anh bạn xe tăng của mình thấy rõ mình không phải là tay xoàng-Này, nhưng mà sao xe cậu xóc thế? Hay tại cậu liá…-Nghĩa nháy mắt một cách tinh quái-Nó cứ chực hắt tớ xuống.

-Xe tăng dứt khoát là êm hơn ô tô. Tớ mà lái thì… Nhưng vừa đi tớ vừa bắn vừa ủi những ụ đất đá mà tớ nghi là có hoả điểm địch.

– Ừ, thế cũng phải. Có địch thật ấy chứ nghi gì. Nhưng mà lúc ấy tớ cáu ghê lắm. Mấy lần định nhảy xuống dò đường ra phía bờ sông, nhưng lại lo bọn DK nguỵ nó nện vào đuôi cậu.

-Đúng. Tớ có loáng thoáng nhìn thấy mấy thằng lính dù mang súng chống tăng chạy trên vỉa hè, ngược chiều xe tớ. Cậu có thấy nó không?

-Không. Tối mò tối mịt lại ngồi ở đằng sau thì nhìn thế đếch nào được. Chúng nó còn ở cả trên gác bắn xuống nữa ấy. Cứ thoáng thấy thằng nào chạy bên đường, bất kể nó mang gì là tớ rẹt thôi. Xóc quá, tớ mới nghĩ ra cách lấy thắt lưng neo người vào mấy cái quai trên nắp buồng máy nổ ở đuôi xe ở ngay chân tháp pháo ấy. Có dây "bảo hiểm" rồi, cứ gọi là thả cửa.

-Thế lúc buộc dây rồi cậu ngồi hay nằm?

-Nằm chứ ai dại! gì ng�! �i để ăn đạn? Nằm mà lia hai bên đường và phía sau xe. Này, sao ở chỗ chân tháp pháo đằng sau ấy, họ không làm cho phẳng mà để mấy cái ốc chồi lên, khi nằm nó đâm vào người đến tức.

-Mấy cái ốc ấy có liên quan đến cái nắm bảo vệ những bộ phận bên trong của xe đấy-Mặt Bình trở nên nghiêm trang-Cái gì ở tăng của mình là đều được tính toán rất khoa học. Nó là một nhà máy tổng hợp…

-Kinh nhỉ! À nhưng mà còn cái này. Chỗ tớ với cậu, tớ hỏi thực. Tớ có một thằng bạn hồi học lớp chín, bây giờ nó cũng lái tăng. Có lần nó kể với tớ là trong xe tăng vẫn có chuột! Kín thế thì chuột nó vào đằng nào được nhỉ?

-Có chứ. Có chứ. Thế mới gọi là chuột! Chúng tớ phải nuôi mèo đấy! Chẳng là khi hành quân, gạo, muối, đường, sữa, rau dưa… chúng tớ để tất ráo cả vào trong ấy. Lúc mình mở cửa lau chùi, là nó lẻn vào. Cu cậu chỉ không đào được hầm thôi! Nổ máy chết khối. Kêu chít chít ấy nhá.

-Hí hí hí-Nghĩa khoái quá.

-Nhưng mà nằm ngủ trong đó thì lại không có muỗi đâu.

Hai anh bạn vui chuyện quá, quên cả uống sữa. Mấy lần tiểu đoàn trưởng dừng lại cửa hầm rồi lại mỉm cười quay ra với cuốn sách mở trên phiến đá bờ suối. Lần thứ tư cũng đến cửa hầm, sực nhớ ra điều gì, ông quay phắt lại. Ờ phải rồi, nắng sớm nay tươi quá. Có anh nhà báo đeo máy ảnh đang nằm bên hầm trợ lý chính trị. Phải nhờ anh ấy chụp cho hai anh bạn trẻ này một kiểu kỷ niệm không rồi anh ấy lại bận đi đâu mất thì tiếc lắm. Thế còn mình? Ông hơi đỏ mặt. Nếu chụp hai anh bạn trẻ này mà còn phim thì mì! nh cũng ! đứng vào chụp chung một kiểu chứ nhỉ. Ừ, tất nhiên rồi, nhưng sẽ chụp chung ở kiểu thứ hai…

Nắng sớm nay tươi quá!

Phân đội X Thiết giáp
                     miền đông Nam Bộ, 6 – 1974

MỘT TRẠM GIAO LIÊN

Tác giả: Trần Ninh Hồ


Sau mỗi chặng hành quân, cái điều mà người ta thường nghĩ tới là những trạm giao liên. Tất nhiên ở mỗi cương vị người ta nghĩ một khác. Ví dụ như các đồng chí chỉ huy thường lấy đó làm cái "mốc" để tính đoạn đường đã đi, còn phải đi, chương trình cho các cuộc hội ý Đảng, Đoàn, tham mưu, tác chiến,… Những anh cấp dưỡng thì thường nhẩm tính xem đến đó gạo, muối, rau, thịt còn lại bao nhiêu, có thể lấy thêm được gì. Có anh quản lý đại đội còn tỉ mỉ hơn, dò xét đến cả tính nết của những người coi kho ở cái trạm sắp tới kia để lựa lời "moi" sao cho được những thứ cần thiết cho đơn vị mình, v.v. Còn đối với những anh lính trẻ thì có trời mà đoán được dự định của họ. Tắm một cái? Giặt một chầu? Ngủ một giấc? Không. Trước tiên phải tìm bằng được mấy thằng bạn cùng học, cùng làng, nghe đâu nó đang đóng ở quanh đấy. Và thực tình không ít anh tưởng tượng một cách say đắm rằng ở cái trạm giao liên sắp tới kia biết đâu mình sẽ được gặp chính người con gái mình yêu (chả khối cuốn tiểu thuyết tả như thế là gì!), hay ít ra cũng gặp được những người chủ dịu dàng tươi tắn là những đơn vị nữ bộ đội, nữ thanh niên xung phong như những trạm giao liên mà họ đã hành quân qua…


Ấy thế, nhưng ở trạm giao liên này lại không có một người con gái nào mà đến cả con trai nữa cũng chỉ vẻn vẹn có một người!


Trạm giao liên nằm bên bờ một con sông rộng. Vì gần thượng nguồn nên dòng sông chảy xiết và cũng rất đồng bóng: con nước khi to khi nhỏ thất thường. Bên kia bờ là vùn! g địch. Cái nhóm lô cốt boong-ke tiền tiêu của bọn Mỹ-nguỵ chỉ cách trạm giao liên một bãi cát bên kia, chiều rộng con sông, bãi cát bên này rồi đến một cánh rừng hẹp. Ở gần địch như thế nhưng cái trạm giao liên này cũng có đủ thành phần cấu tạo của nó: có giường, bàn, có bãi khách và gần đấy có cả kho tàng nữa. Kho súng đạn, kho dược phẩm, kho thực phẩm. Đặc biệt, trạm cũng có nhận điều trị thương binh. Và, khi nó đã có đầy đủ bộ lệ như thế thì nó cũng có đầy đủ mọi công việc phải làm, phải cần nhiều bàn tay để đụng đến tất cả mọi cái "có" kia.


Vậy mà chỉ có một anh. Người ta gọi là Quảng cao, Quảng đen, Quảng lầm lì, Quảng bác sĩ nữa, cũng vẫn chỉ là anh, tuỳ theo lần gặp gỡ của những người đi qua.


Cách đây một tháng, tiểu đội trinh sát chúng tôi được lệnh đến bắt liên lạc với trạm giao liên để nắm tình hình sơ bộ, sau đó vượt sông tiếp tục đi sâu điều tra một số cứ điểm giặc, chuẩn bị cho một trận đánh lớn.
Ở nhà, chúng tôi đã được tham mưu trưởng cho biết giờ hẹn và địa điểm mới nhất của trạm giao liên bằng toạ độ trên bản đồ. Thế là yên trí. Trên đường, không may cho chúng tôi, khi gần đến nơi lại chạm trán một ổ thám báo có ba tên nguỵ. Đã quen rồi, chúng tôi diệt cả ba tên này không khó khăn gì, nhưng kể từ lúc phát hiện ra chúng, triển khai lực lượng, rượt đuổi tên thứ ba, cộng lại cũng mất hơn ba mươi phút. Không còn cách nào bù đắp thời gian đã mất nên chúng tôi đã đến chậm.


Đêm đen đặc. Chỗ hẹn vắng lặng lạ lùng.

-Có lẽ muộn giờ, ! anh ta đ! ã bỏ đi?

-Có lẽ nghe tiếng súng nổ, anh ta cho rằng chúng tôi đã bị phục kích?

-Có lẽ anh ta còn luẩn quẩn ở quanh đây?

Sau khi làm những tiếng động ám hiệu đủ ba lần liền, không có tiếng trả lời, chúng tôi quyết định cắt người gác rồi mò vào mấy cái hang gần đấy mà tôi cũng như các chiến sĩ trong tiểu đội đều linh cảm-cái linh cảm khá lạ của cánh trinh sát-là có người!

-Ai?

Một tiếng quát khe và đanh. Tiếng quát gần bật ra từ trong lòng hàng sâu nghe bí ẩn và rờn rợn. Theo một phản xạ rất nhanh, chúng tôi lăn giạt ra hai bên tìm những tử giác, nhưng oái oăm thay, chỗ này hang thắt hẹp lại không quá năm mươi phân và hai bên vách thì dựng đứng.

-Đồng Nai Xanh!

Chả còn cách nào khác, tôi bật thốt ra mật hiệu.

-Sài Gòn Đỏ!


Ta rồi! Chúng tôi thở phào khoan khoái. Một tia sáng mảnh của chiếc đèn pin đã bị bịt gần kín mặt bật ra từ phía người kia. Chúng tôi nhận ra cả tiểu đội trinh sát đều bị hai vách hang thu hẹp kẹp lại thành một hàng thẳng, rất lợi cho từ phía trong kia xả súng ra xuyên táo. Chọn chỗ này để đón đối phương ban đêm thì lợi hại thật. Tay này cũng gớm đây!


Quảng đen, Quảng cao, những cái tên ấy thì cho mãi đến sớm hôm sau, khi cái dáng lênh khênh và nước da cháy sạm của anh hiện ra giữa ban ngày, ban mặt, chúng tôi mới công nhận được, nhưng còn Quảng lầm lì, Quảng bác sĩ thì ngay tối hôm ấy chúng tôi đã phải thừa nhận ngay.


Leo lên, tụt xuống, rẽ phải, rẽ trái, lúc cần gù, lúc cần bò, khi đi trong hang giữa đêm tối dễ sứt đầu mẻ trán, khó khăn như thế này, lẽ ra, người dẫn đường dù là có đèn pin đi nữa ít nhất cũng cần có vài lời "thuyết minh" thêm, nhưng Quảng thì không. Hay là nói sợ lộ? Không, vì vào sâu lắm rồi, vả lại thỉnh thoảng có vụ cộc, vấp, bước hụt hay vụ "huỵch" nào là chúng tôi được tự do bật cười thành tiếng kia mà. Hay anh ta cho rằng chúng tôi là lính trinh sát, cái nghề mò mẫm quen rồi nên không cần phải nhiều lời để thử cái "giác quan thứ 6" của chúng tôi?…

-Bây giờ là 12 giờ rưỡi. Các đồng chí nghỉ-Quảng bấm đèn lướt qua một khoảng hang rộng phình ra như một căn phòng rồi dừng ánh đèn một chút ở một góc hang có trải cỏ, ý nói là giường đấy-Sáng mai tôi xin báo cáo tình hình và đêm mai mới vượt sông được. Các đồng chí có cần ăn uống gì không?

-Có!

Tôi suýt phì cười vì tiếng "có" của khá nhiều chiến sĩ cùng bật ra một lúc, trong đó tiếng tôi có lẽ to hơn cả. Nó bật ra ngay, vì suốt từ sáng đến giờ chúng tôi mới chỉ được một bữa, bây giờ khuya rồi, ruột gan ại càng cồn lên. Nó bật ra ngay vì một ý nghĩ chợt thoáng qua: "Với cái tay lầm lì này mà mình khách khí thì nó chả mời đến câu thứ hai đâu!".


Một cái bếp cồn xếp bằng đá được nhóm lên, ánh sáng chờn vờn hư hư thực thực làm vòng hang chợt như mở rộng ra, chao đi chao lại, vách hang đầy những bóng người nhấp nhoá.


Một cái "xoong" to, chắc là nhiều nước vì Quảng phải nặng nề bê bằng cả hai tay. Một xấp kha khá những tấm lương khô bọc bằng giấy thiếc đỏ như màu đồng điếu. "Giàu đấy chứ nhỉ!". Lại còn cái gì nữa kia? Bông, băng, thuốc tiêm và xơ-ranh?

-Các đồng chí ăn bánh và đun nước giúp. Còn viên cồn đây. Tôi đi thay băng một tí.

-Anh bị thương?

-Không. Hai đồng chí thương binh của một đơn vị đi đánh đồn gửi lại đây. Ít hôm nữa họ về đón.

-Áy chà, đồng chí vạn năng quá. Trách nào mọi người gọi đồng chí là "bác sĩ"!

Khi đến nơi nào gặp người chủ lạnh lùng với mình thì đừng vội trách họ mà phải tự xem mình có ! cởi mở không, có biết bắt chuyện làm vui lòng họ hay không. Tôi hy vọng với điều tâm niệm gần thành một phương châm xử thế và sau câu đùa ấy, Quảng sẽ trả lời tôi. Câu chuyện sẽ từ đó có đà dẫn đi, nhưng tôi đã thất vọng, Quảng chỉ dè xẻn cho tôi có nửa nụ cười ngượng nghịu rồi, tay ôm gói bông băng, tay cầm cái ống tiêm đã khử trùng, lầm lũi mò đi.

Lại một thời cơ nữa để sớm làm thân. Hai tay Quảng đều bận cả thế kia, ai sẽ bấm đèn pin cho Quảng đi?

-Anh đi có xa không? Chúng tôi cho người bấm đèn giúp.

-Không xa. Tôi quen đường rồi.

Thế là hết sách!

-Cứ bí mật âm u như trong chuyện mả Tào Tháo ấy các cậu ạ!

Chờ cho tiếng chân và những tiếng lịch kịch từ phía Quảng không vọng lại nữa, Đạo, "cây Tam Quốc" trong tiểu đội tôi, kêu lên. Bốn "trạng ăn" cũng đưa ra một nhận xét:

-Sao mà có những cái hang ngóc ngách liên thiên thế không biết.Giá bây giờ ngoài cửa hang kia có bày một mâm cỗ toàn thịt lợn ba chỉ với mắm tôm chanh ớt, bún gạo dự nữa, tớ cũng chịu không lần ra mà xơi được.

-Không, vấn đề là quen thuộc đường đất thôi chứ có gì lạ! Tớ mà ở đây bốn, năm năm như cậu ta thì tớ sẽ vứt cái đèn pin kia đi ngay từ năm đầu tiên cơ!

-Đúng, đúng. Quang "vấn đề” nói đúng! (mọi người vẫn hay gọi Quang như thế vì câu nói nào, cậu ta cũng phải cho bằng được hai tiếng "vấn đề” vào. Theo Quang thì đó là thói quen từ khi còn làm bí thư xã đoàn ở nhà). Tay Quảng này có vẻ kiêu kiêu thế nào ấy các cậu ạ.

-Không phải kiêu. Có gì mà kiêu? Cũng m! ay thỉn! h thoảng còn có những cuộc đưa đón quân hoặc có bọn mình qua lại như thế này, chứ nếu không, cứ sống một mình mãi, có khi hắn quên mất cả tiếng nói cũng nên!

-Ờ mà giá nay mai có thành tích, được rời khỏi cái kho này, được đề bạt và điều đi chiến đấu thì không biết hắn sẽ chỉ huy được mấy người nhỉ, hơ hơ!

Đúng là tiếng cười của Hưởng "bốc".

-Thế theo cậu-Đạo "Tam quốc" vội đứng lên khoát tay ra hiệu mọi người im lặng, hỏi Hưởng-Ai là những người dễ trở thành chỉ huy hơn cả?

-Ờ ờ…-Đang cao hứng, Hưởng bỗng trở nên lúng túng, tuy nhiên cậu ta vẫn tỏ vẻ cứng-Ví dụ như mỗi chiến sĩ trinh sát chúng mình chẳng hạn!

-Ừ, thì cứ cho là trinh sát chúng mình có khả năng như thế. Bây giờ tớ ví dụ như cậu-Nguyễn Đình Hưởng-nếu được đề bạt, cậu có thể chỉ huy được bao nhiêu?

-Trừ trinh sát (!) mình có thể chỉ huy được độ khoảng… À, mà chỉ huy cũng hơi khó, nhưng làm cán bộ tham mưu chẳng hạn thì chưa biết chừng!

-A ha!-Đạo bỗng reo lên với tất cả sự vui mừng của kẻ đã tìm ra chỗ hở của đối phương-cả tiểu đội làm chứng lời "bác" Hưởng cho tôi nhé. "Bác" ấy bảo có thể làm ngay cán bộ tham mưu thì tức là ít nhất cũng phải ở cấp tiểu đoàn trở lên vì đại đội có tham mưu đâu, đúng thế không nào?

-Đúng, đúng cái đếch gì?-Đôi má phính phính của Hưởng đỏ bừng lên trong ánh lửa và đôi mắt trẻ con vừa như ngơ ngác lại vừa như giận dỗi-Là tớ nói chung về khả năng của cánh trinh sát chúng mình chứ riêng gì tớ. Mà… mà tớ cũng nói đùa cho vui thế thôi ch! ứ!
!
Tất cả cười ồ lên. Thấy câu chuyện có vẻ còn kéo dài và cũng muốn cứu nguy cho Hưởng "bốc", tôi phải làm mặt nghiêm:

-Thôi, ngủ đi không mai lại phải để thủ pháo vào lưng mà giật mới mở mắt ra được đấy!

Quả nhiên, Hưởng đã nhìn tôi bằng một cái nhìn tỏ ý "biết ơn" và chỉ vài phút sau chúng tôi đã ngủ thiếp đi.
Một bàn tay nặng, chắc, bóp vào vai tôi.

-Dậy! Dậy!

Đúng là cái giọng ồ ồ của Quảng.

-Sáng rồi à?-Tôi hỏi anh.

-Chưa. Sương còn đặc lắm. Rét thế mà bọn Mỹ vừa mới sang sông bằng xuồng.

-Đông không? Ở đâu?

Không ai bảo ai, mọi người đều choàng dậy, nháo nhào hỏi Quảng.

-Khoảng một đại đội ở ngoài bãi cát bờ sông cách đây hai cây số. Có một đồng chí thương binh vừa bị ngất gay lắm. Chờ tôi tiêm trợ lực một mũi, tôi ra ngay. Các đồng chí chuẩn bị.

Một khẩu AK, ba băng đạn, hai quả thủ pháo, toàn bộ gia tài của một anh trinh sát chỉ có thế; khi ngủ lại không bao giờ tháo giày; không biết thật hay bịa, ở cánh xung kích có lưu hành một câu chuyện: có một anh trinh sát về phép, đêm đầu tiên vẫn quen thói, đi chơi khuya về để cả giày chui vào màn ngủ, bị vợ nó đuổi ra! Gọn như vậy thì có gì mà phải chuẩn bị? Vì thế, cả thời gian Quảng để cho chúng tôi chuẩn bị cũng là cả thời gian chúng tôi bồn chồn chờ anh. Hai phút thôi mà sao lâu quá!

-Thật là hấp! Bây giờ mà còn tiêm với chả băng…

-Để cho tay này chi thì chết ráo cả. Chỉ huy thì phải biết việc nào lớn, nhỏ, trước sau chứ!

Tiểu đội trưởng ạ, ta phải tìm mấy cậu gác cửa hang đêm qua bảo nó đưa ra ngoài xem sao đi.

Những câu hỏi cứ dồn dập đặt ra. Tôi chưa kịp trả lời ra sao thì Quảng đã đến và một viên cồn được anh đốt lên. Nom những cử chỉ và vẻ m�! ��t của Quảng có cái gì ngượng ngịu, tôi ngờ những câu các chiến sĩ trinh sát của tôi vừa nói anh đã nghe thấy. Tự nhiên tôi thấy thương Quảng quá. Anh bận bao nhiêu việc, lúc nào cũng tất bật. Anh đã bị xúc phạm ít nhiều vì những lời đánh giá ấy. Tôi phát bẳn lên:

-Trật tự! Trật tự!

Tất cả im lặng. Giọng Quảng run run:

-Nhiệm vụ của các đồng chí là vào trinh sát vùng địch chứ không phải tiêu diệt địch. Tôi cũng là một chiến sĩ, tôi không biết chỉ huy, nhưng tôi nắm được địa hình ở đây. Bọn Mỹ không biết chúng ta ở đây đâu, nhưng nếu chúng vượt rừng mà vào thì các đồng chí cho tôi được bố trí lực lượng…

Đúng là Quảng có nghe những điều bình phẩm ấy, nhưng như thế là anh không giận chúng tôi, anh vẫn đủ bình tĩnh để hiểu những gì mà anh phải làm. Sự chân thành, độ lượng của Quảng đã làm chúng tôi xúc động. Những tiếng "nhất trí đấy", "tán thành thôi" nhao nhao lên.

Chừng như cũng hiểu lòng chúng tôi, lúc này mặt Quảng tươi hẳn lên:

-Bây giờ các đồng chí lắp giúp tôi những cái này.

Quảng đưa ra một góip kíp và chỉ vào đống mìn khoảng hơn ba chục quả. Thôi thì đủ loại, có cả những quả đại bác không biết anh đã vần ở đâu ra và vào lúc nào.

-Báo cáo xong!

-Báo cáo xong!…

-Toàn tiểu đội, hàng một, theo tôi ra ngoài hang!

Sau gần mười phút, một trận địa mìn đã được bố trí xong trước cửa hang. Hai đồng chí trinh sát của chúng tôi được phân công gác cửa hang đêm hôm qua được Quảng điều đi theo dõi địch trở về cho biết bọn Mỹ đã vượt ! qua bãi ! cát bờ sông, đang ăn, có lẽ chờ trời sáng hẳn, bọn chúng sẽ vào sâu trong rừng.

-Đơn vị ta cần chia làm đôi-Quảng phân công-Đồng chí nào là tiểu đội phó?

-Tôi!-Đạo "Tam quốc" bước ra.

-Vâng. Đề nghị bốn đồng chí nữa đứng ra chỗ đồng chí Đạo (Tiu, Nhân, Bốn, Bé bước sang). Tiểu đội phó và bốn đồng chí gấp rút chíêm gò cao trước mặt ngoài trận địa mìn kia, chặn hướng giặc từ bờ sông vào. Trước khi đi, mỗi đồng chí giao lại cho đồng chí Hữu, tiểu đội trưởng, một băng AK. Đồng chí Hữu đâu?

-Có tôi!-Tôi bước ra vòng hai tay ôm đủ năm băng AK của cánh Đạo "Tam quốc" giao lại. Như vậy là mỗi cậu chỉ còn có hai băng thôi à? Thế này là thế nào nhỉ?

-Vâng. Thế là tốt rồi. Bây giờ đồng chí Hữu cùng sáu đồng chí còn lại theo tôi.

Chỗ Quảng dẫn tôi và sáu trinh sát viên đến cũng là một cửa hang, cách cửa hang này khoảng bảy, tám trăm mét nhưng nó không mở ra ở sát mặt đất mà ở lưng chừng một vách đá dựng đứng, có một lợi thế tuyệt đối để phong toả bãi cát và khúc sông trước mặt. Cái hang này xuyên qua một quả núi, thông sang một cánh rừng hướng tới toạ độ tập kết đã định với nhóm của tiểu đội phó Đạo "Tam quốc" và Quảng.

-Các đồng chí cứ phục kín ở đây. Lúc nào bọn Mỹ chạy qua mới được nổ súng và nhớ là bắn điểm xạ chứ đừng bắn liên thanh, nó không sợ đâu. Bây giờ tôi quay lại chỗ đồng chí Đạo.


Trời sáng dần. Hình như càng gần lúc có mặt trời càng giá buốt. Từ cửa hang nơi phục kích, chiếu thẳng ra bờ sông, bằng mắt thường chúng tôi c�! �ng có t! hể nhìn rõ mười một chiếc xuồng có gắn máy của bọn Mỹ đậu bên cạnh bãi lau. Bọn chúng sang bằng xuồng thì láy nữa giả dụ có bị đánh bật ra khỏi rừng, chúng cũng sẽ dùng xuồng mà chuồn chứ tại sao chúng nó lại phải vòng lên đây qua tầm súng của bảy đứa chúng tôi? Hay là Quảng cố tánh chúng tôi ra khỏi trận đánh để đảm bảo nhiệm vụ trinh sát cho một chiến dịch lớn, còn anh và các đồng chí khác ở lại dử địch, chịu phần hy sinh?

Pụt… ù… ùng! Một tiếng nổ dữ dội lẫn cả tiếng bùng của lửa. Quang "vấn đề” rướn người hích vào sườn tôi.

-Đánh rồi!… Tiếng B.40. Đích là tiếng B.40. Nhưng vấn đề là lấy đâu ra? Lạ nhỉ.

-Lạ gì?-Hưởng "bốc" giải thích-Làm thủ kho thì muốn bắn loại súng nào mà chả được.

Sau phát đạn B.40, cả rừng vang lên tiếng các loại súng. Tiếng rẹt rẹt liên hồi của tiểu liên cực nhanh Mỹ bắn như đổ đạn. Tiếng rít như xé vải của đại liên và tiếng đanh, chắc của từng loạt AK. Nhưng chỉ chừng mươi phút rộ lên như thế rồi im lặng. Im lặng dễ đến năm phút.

-Sao thế nhỉ?

-Hay là bên ta hết đạn? Tại sao Quảng lại bắt bọn Đạo đưa mình những năm băng AK nhỉ?

-Ông Hữu cũng lạ. Mình thì ních cho nhiều đạn để rồi ngồi đây…

Mọi người cứ nhấp nhỏm muốn vùng cả dậy lao đến đánh thốc vào sườn của bọn Mỹ. Là một tiểu đội trưởng, dù thế nào cũng cố gắng giữ bình tĩnh hơn các chiến sĩ của mình, nhưng trong lòng tôi không khỏi cảm thấy bứt rứt, cồn cào đến xót xa. Còn có gì khó chịu hơn khi súng đạn đầy đủ (nếu chưa nói là có phần hơn) mà phải ngồi yên nhìn đồng đội bị tiến công?


Chúng tôi còn đang ngơ ngác thì cả dòng sông trước mặt bỗng chao nghiêng đi, tiếp theo là một dãy những tiếng nổ dữ dội. Những tiếng nổ xô vào vách đá cuộn đi như sấm rền, như từ trong lòng núi trùng điệp cũng đang xảy ra một vụ sụt lở kinh khủng của đất đá, hang động. Cả cánh rừng nơi đang xảy ra trận đánh như bị một cơn lốc sắp bốc lên khỏi mặ! t đất mù mịt khói, bụi, cây, cành…

-Mìn rồi! Mìn rồi!

Không ai bảo ai, tất cả chúng tôi đều thốt lên. Trong khi đó Hưởng cuống qút kéo áo tôi, reo đến líu cả lưỡi:

-Ô kìa, ngoài sông. Xuồng… xuồng!

Tôi nhin theo tay Hưởng chỉ. Chỗ bọn Mỹ để xuồng cũng đang bị tiến công. Tiếng thủ pháo, tiếng AK quét hàng nửa băng một. Mấy chiếc xuồng vội nổ máy mới lao ra được vài mét thì tự nhiên quay tít đi và cứ thế trôi theo dòng. Chắc bọn Mỹ gác xuồng định tẩu thoát bằng những chiếc xuồng đó nhưng đã bị ăn đạn trong khi máy xuồng vẫn nổ…

-Chuẩn bị chiến đấu!

Tôi vừa kịp truyền lệnh và ghếch nòng súng lên thì những tên Mỹ đầu tiên chạy bổ từ trong rừng ra đang hùng hục lao về phía chúng tôi. Cả bọn lao ra tìm xuồng không thấy cũng ngược bãi cát bờ sông bổ nháo bổ nhào lên đây. Chúng nhập với nhau thành một bọn khoảng hơn năm chục tên, tơi tả không ra hàng lối nào.

-Bắn!-Tôi hét lên khi những cái mặt tái xám của bọn Mỹ chỉ còn cách khoảng mươi mét.

LoạtAK đầu tiên của chúng tôi quất và giữa đám tàn quân này đã chia chúng ra làm ba loại. Những thằng chết tại chỗ. Những thằng chạy vượt lên lao bừa xuống sông. Những thằng cuống quá nép vào hẻm đá ngay dưới cửa hang, dưới chân chúng tôi. Không thể chúc súng xuống mà bắn được, chúng tôi thả thủ pháo xuống hắt những tên này chết giụi vào vách đá.

-Anh Hữu! Anh Hữu! Chỗ này sông nông, bọn nó đang lội kia kìa.

A, lạ nhỉ. Sông nông thật. Đây là thượng nguồn mà. Có thằng đã chạy ra gần giữa dòng mà nước chưa đến thắt lưng. Thế này mà cũng phải vượt sông bằng xuồng. Dáng chừng sớm nay bọn lính cậu hèn đớn này sợ rét. Đã thế chúng ông cho chúng mày chết. Bây giờ thì tôi hiểu vì sao Quảng dồn thêm đạn cho chúng tôi án ngữ khúc sông này khi anh dự kiến trước sẽ dìm xuồng của chúng.


Bọn Mỹ sau những phút hoảng loạn đã tổ chức lại lực lượng. Những tên đã xuống sông thì cứ hướng bờ bên kia mà lội. Còn những tên trên bờ bên này lẩn vào sau những mô đá bắn trả chúng tôi khá dữ dội, nhưng vô ích. Cửa hang này thật là một điểm cao lợi hại. Nó hơi nhô ra khỏi mặt phẳng của vách đá dựng đứng lại vừa theo chiều hếch lên thành thử ở trên bắn xuống rất lợi thế mà ở dưới thì không tài nào bắn thẳng vào miệng hang được. Đạn liên thanh của chúng chỉ khiến bụi đá bay mù lên mà thôi. Trừ những tên nhanh chân, khoảng hơn hai chục đứa, lội trước sang được bờ bên kia, còn bọn ở lại bắn chặn đã bị chúng tôi bình tĩnh điểm xạ ba phát một, quật ngã đến th! ằng cuối cùng, không tên nào vượt quá mép nước…

Có tiếng chân người chạy trong hang phía sau. Giật mình quay súng lại, chúng tôi nhận ra Đạo "Tam quốc".
-Còn Quảng, Bốn, Tiu, Bé, Nhân đâu?-Tôi lo ngại

-Không sao, không sao, bình an vô sự. Cánh ấy theo anh Quảng chuyển hai thương binh sang địa điểm mới rồi. Ta rút thôi chứ?

Chúng tôi theo Đạo luồn hang vượt cánh rừng phía sau đến một hang đá mới, cách bốn cây số. Hình như không nén nổi cái háo hức còn nóng bỏng của trận đánh, vừa đi, Đạo vừa không ngừng thuyết minh về diễn biến của trận đánh bên ấy mà Đạo đã mệnh danh cho nó là "mặt trận phía đông" mới khiếp chứ! Theo Đạo cho biết thì phát B.40 mở màn trận đánh là do Quảng bắn. Quảng đã diệt ngay tên mang điện đài sau một hốc cây cách anh năm mươi mét. "Có như thế thì bọn máy bay và pháo tầm xa ở những cứ điểm bên kia sông mới mù mắt, mới câm như hến đến bây giờ chứ!". Sau đó cánh Đạo vừa đánh vừa rút vào hang, bắn lẹt rẹt như tuồng sắp hết đạn. Được thể, bọn Mỹ tràn tới, có những thằng đứng hẳn lên dàn hàng ngang xăm xăm dồn cánh Đạo vào hang. "Vào hang mà hết đạn thì Việt cộng có mà thoát đằng trời!", chắc là bọn chúng nghĩ như vậy. Nhưng chúng có ngờ đâu hang có một lối ra nữa ở sườn núi phía sau và điều thứ nhất là chúng đã bò lồm cồm như cua trên trận địa mìn ba mươi quả trước cửa hang đây. Thế là tung xác lên…

-Tớ cho là cách bố trí mìn mới lạ-Đạo nói bằng một giọng đầy thán phục-Cứ như "bát quái trận đồ" ấy. Lúc chôn mìn, mình không hình dung ra, nhưng đến khi nó nổ từng c�! ��m lửa! toé lên mới thấy lạ. Vào cũng chết. Ra cũng chết, mà đứng tại chỗ cũng chết!

-Này, thế nhưng còn ai đánh xuồng ngay sau đó?-Một chiến sĩ hỏi Đạo.

-Quảng, Bốn và Bé chứ ai?-Đạo kêu ầm lên như mọi người không hiểu hết cái diễn biến kỳ lạ của trận đánh và như chính cậu ta đang sắp bị hiểu lầm một điều gì oan uổng lắm-Sau phát B.40, tớ, Nhân, Tiu ở lại nhử địch và đánh mìn, còn Quảng dẫn Bốn, Bé chạy tắt sang bãi lau tiến công bọn gác xuồng…

-Ờ, ghê thật đấy-Quang ngắt lời Đạo-Vấn đề như thế là đã rõ, nhưng còn vấn đề nữa. Theo cậu thì trận này có thể sánh với trận nào trong Tam quốc?

Mọi người thấy câu hỏi hơi bất ngờ, cười ồ cả lên. Biết Quang lại bắt đầu "gây sự" và gợi chuyện đây, nhưng Đạo cũng mủm mỉm cười và không kém nhanh trí.

-Xích Bích! Xích Bích! Kể ra so sánh như thế thì cũng chưa đúng lắm, nhưng này nhé, có cả bến, cả thuyền, chỉ thiếu có tý "liên hoàn phóng hoả" nữa thôi!

Sực nhớ ra Hưởng "bốc" không hiểu trầm tư những gì mà từ nãy đến giờ vẫn im, tôi quay sang phía cậu ta:
-Còn theo cậu thì cứ lấy trận này làm bằng cứ, Quảng có khả năng chỉ huy được bao nhiêu quân?
Không như mọi lần "chưa khảo đã xưng", lần này Hưởng tỏ ra đăm chiêu, chín chắn hẳn lên. Có nhẽ phải đến một phút, Hưởng mới trả lời tôi:

-Bao nhiêu thì chưa thể nói, nhưng theo tôi nhẩm tính từ nãy đến giờ, nếu cứ cộng tất cả số người trong những trận đánh của các đơn vị đã qua đây do Quảng bố trí sắp đặt, à quên, chỉ huy, trong suốt năm năm qua thì có dễ phả! i đến ! một trung đoàn chứ chả ít!

Thật là một con tính kỳ khôi.

Địa điểm mới đây rồi. Tiu, Bé, Nhân, Bốn đang ngồi nhai lương khô trên một bãi cỏ chạy ùa ra đón chúng tôi. Còn Quảng thì chỉ hơi cười, một nụ cười bao giờ cũng như ó cái gì ngượng nghịu. Anh đang lấy thuốc vào ống, chuẩn bị tiêm cho hai đồng chí thương binh nằm cạnh đấy. Gương mặt bình thản của Quảng khiến tôi cứ ngỡ đây mới là lần đầu tôi nhìn thấy anh…

1970

GIẾNG TRONG


Truyện ngắn . LÊ TẤN HIỂN


Cánh đồng Chó Ngáp – nghĩa là cánh đồng dài, rộng quá, đi hết, đến chó cũng phải ngáp. Có thể, những đoàn quân đầu tiên đi qua đây đã đặt tên như thế. Dẫu có hơi quá quắt, nhưng quả thật, lính mình không ngoa. Giữa chiến trường, cái quá quắt cuả ngôn từ lại có gì như dễ thương, thậm chí, cần thiết nữa.
Đơn vị tôi đang hành quân qua cánh đồng mang cái tên khôi hài dữ tợn này.
Đêm ấy không trăng. Nhưng trời đầy sao. Chúng tôi đã thấm mệt. Mồ hôi ướt đẫm lưng áo, thấm sang cả ba lô, rồi lại khô. Cứ thế đến mấy lần, mà vẫn chưa đi hết cánh đồng. Tiểu đội hậu cần, vốn đã lủng củng nồi xoong, lại dắt thêm con cầy tơ – đổi được của đồng bào dân tộc, nghe đâu bằng một cái chăn chiên. Biết lính trung đội mê món "mộc tồn", mấy cậu anh nuôi cố giữ, định đến vị trí tập kết làm bữa khao quân trước khi vào trận mới. Nhưng chưa hết nửa cánh đồng, con chó đã nằm rịt, không chịu đi, tròng dây kéo cũng không nổi. Đành để cu cậu nằm lại. Tội nghiệp. Nó chưa ngáp, nhưng chắc gì sống nổi giữa đồng đất bao la nà. Mấy thằng tích giữ củ riềng trong túi cóc chép miệng tiếc. Có ai đó lên tiếng: "Dào, nó chưa chết là may. Ngay tao cũng sắp… ngáp đến nơi rồi. Khát khô cổ…"
Người vừa nói là Vinh. Vinh "ba toác”. Nó là thằng đa ngôn bạo mồm nhất đại đội. Thằng ruột ngựa, nhiều khi đến sống sượng. Nhưng chẳng một ai giận được nó bao giờ, mặc dù nhiều khi phát chối, phát ngượng vì nó.
Không giận nổi, vì nó luôn nói đúng. Hồi còn ở pháo, thời huấn luyện, có đoàn kiểm tra c�! �a "sư" xuống thăm. Vinh đang "đóng vai trực chiến". Thấy không mang mũ sắt trên mâm pháo, một ông trợ lý hỏi: "Sao không đội?", nó tỉnh bơ: "Dạ trực vờ, đội làm gì. đánh nhau thật, khỏi nhắc. Mới lại, cơm đã ít, nặng đầu chỉ chóng đói…". Mấy đứa cùng khẩu đội tức lắm, mà không nhịn được phải quay đi, cười. Vậy mà nó được việc. Ngay hôm sau đoàn về, thấy cơm nhiều hơn. Không ai nói ra, nhưng biết đấy do công thằng "ba toác".
Một lần khác, hồi còn trên đất Bắc, đơn vị chuẩn bị ăn tết. Có mấy thằng lính nhớ nhà không chịu nổi, trốn ra đường cái, vẫy xe "vù. Ú ớ thế nào vớ ngay phải xe trung đoàn bộ. Thế là cả tốp bị mời về. Hôm sau hội bỏ ngũ phải lên đọc kiểm điểm trước đại hội. ông chính uỷ dự nghe, bảo: "Khuyết điểm rõ rồi. Còn tự nhận kỷ luật, chưa thấy ai nói…".
Bỗng từ dưới hàng quân, một người bước lên, giậm gót, đứng nghiêm chào. Thì ra là Vinh. Nó dõng dạc: "Tôi xin bảo lãnh và cam đoan với danh dự chiến sĩ, đây sẽ là lầm lỗi cuối cùng của chúng tôi trước lúc ra trận!". Chính ủy nhíu mày, nhưng xúc động nhiều hơn là ngạc nhiên: "Đồng chí nhân danh gì?" – "Dạ, đồng hương" – Vinh đáp gọn lỏn. Kết quả thật không ngờ. Mấy tay trốn hụt được về hàng. Kỷ luật cũng được xí xóa. Ông chính ủy thay vì "lên lớp" nán lại hàng giờ với đại đội, kể chuyện kỷ niệm thời tân binh…
Từ đó, Vinh "ba toác" trở thành niềm tin cậy và chỗ dựa của lính tráng đại đội. Bất kể đầu bò đầu bướu đến đâu, hễ Vinh đã nói một tiếng là răm rắp.
Trước ngày vào B, Vinh được đề ! bạt A t! rưởng.. Rời đất Bắc, nó được phong trung đội phó. Hành quân được hai trạm, tay trung đội trưởng "khung" lăn ra sốt rét, phải nằm lại. Thế là "ba toác" được chỉ định nắm quyền. Lên cán bộ, nhưng mồm miệng nó vẫn thế, có khi còn bỗ bã hơn. Được cái nó làm ra trò, từ chỉ huy, quản lý, phân công, cách đánh, cách lui… một mình nó một kiểu. Nhưng trận nào cũng thắng. Lính các trung đội khác, trông sang mà thèm.
Chỉ còn chừng cây số nữa là hết cánh đồng. Quân lính anh nào cũng khát. Nước trữ trong bi đông vắt giọt đến mấy bận, khô cong. Dẫu Tào Tháo ở đây cũng khó mà động viên nổi binh sĩ. Vinh cho trung đội dừng lại, bảo: "Xóm làng kia rồi. Nhưng liên lạc tiền trạm chưa báo. Địch ta khó biết. Cứ đi. Chỉ được qua. Cấm dừng. Khát ráng chịu, còn hơn tất cả phải ăn đòn".
Đến khi qua cái làng ấy, nghe tin đơn vị khác mấy thằng suýt chết vì uống phải nước giếng có thuốc độc. Cả trung đội lè lưỡi. Thoát nạn. Chúng nó xúm nhau vào tung Vinh lên, reo hò, khâm phục.
Nhưng vẫn không có nước. Lại suốt một ngày nhai lương khô thay cơm, bụng dạ ráo như bánh đa. Đến mồ hôi cũng không còn mà ra nổi. Ai cũng biết, nhịn ăn một ngày, còn dễ. Chứ nhịn uống, khó lắm… Vinh vừa đi ngược hàng quân, vừa nói: "Thằng nào có tiếu lâm, kể đi. Giời bể, đông tây, yêu đương, ma quái gì cũng được. Hay thằng nào có giọng, thì hát, nhạc vàng, nhạc đỏ, nhạc xanh, cho phép tất. Cố lên vài chặng nữa. Cây cỏ sống được thì mình sống được. Lính chưa gặp đạn bom, muốn chết cũng khó…"
Tang tảng sáng. May thay, có liên lạc của C báo: "Vùng an toàn.! Cho quân! nghỉ nấu cơm. Nhắc các đơn vị tuyệt đối chấp hành chính sách dân vận!". Vinh nghe xong, cười ha hả. Đợi cậu liên lạc đi khuất, bảo: "Lại có "chất tươi" rồi. Nghe đây, thằng nào thằng nấy cất kỹ "chim đi"! Đứa nào để sổng, để bay, cứ đúng luật thời chiến mà xử: Chặt!".

Các A trưởng báo: Anh em xin được đi kiếm nước uống. Vinh lệnh: "Giữa nguyên hàng quân. Tạt vào ven đường mắc võng. Sẽ có người mang nước đến tận mồm. Mệnh lệnh cứ ào ào, bỗ bã như thế, mà nghiêm. Xuống tới tiểu đội quân chấp hành tắp lự. Cấm thấy tiếng kêu ca phàn nàn gì. Lính trung đội quen rồi. Vinh đã nói là làm. Vả lại, càng vào sâu vùng lửa đạn, họ càng biết rằng, nắm giữ sinh mạng chiến sĩ, không ai khác, chính là người chỉ huy trực tiếp này.

Vinh đi kiểm tra một lượt hàng quân. Rồi lấy thêm hai người – Chi và Tối – hai vị đồng hương trốn hụt hồi tết năm ngoái cùng đi. Tối, thực ra tên là Tôi. Điểm danh trung đội đến lần thứ hai, Vinh bảo: "Tên gì nghe khó chịu bỏ mẹ, vào đánh nhau rồi lẫn lộn, chết oan có ngày. Đổi! Từ nay gọi là Tối. Xấu một tó, nhưng đố thằng nào dám nhầm…"

Vinh – Chi và Tối, thành cái bộ ba "tam cúc", cũng chẳng ra ra "tướng sĩ tượng" hay "xe pháo mã" gì, chỉ biết, cứ hành quân hay đánh trận thì thôi, nhưng hễ có chặng nghỉ, lại kè kè, không thể thiếu. Thấy Chi có vẻ giữ ý, Vinh to tiếng tuyên bố trước trung đội: "Chúng tao đồng hương thân nhau hơn là đương nhiên. Đừng thằng nào thắc mắc ghen tỵ gì. Luật chiến trường không ai cấm móc ngoặc. Mẹ, toàn súng, đạn với cát – tút, thằng nào cũng có cả. Móc cái gì?". Vinh bằng tuổi Tối. Còn Chi kém hai. Thấy hai đứa cứ "anh anh, em em", Vinh phát khùng: "Tao hỏi thật, chúng mày gọi tao là anh, vì sao?". Cả hai thằng đang ngớ ra, chưa hiểu, Vinh tiếp: "Vì tao là chỉ huy hay vì hơn tuổi?", rồi thẳng một lèo: "Thôi cứ mày ta! o mẹ nó đi cho dễ, anh em rồi có lúc phải nể, phải nhường. Nể, nhường ngoài mặt trận khó xử lắm…" Tối, vốn dân đại học văn hoá lý lẽ: " Thôi, đã là anh em, căn vặn làm gì. Cũng chẳng nệ tuổi tác hay chức vị. Chúng mình kết nghĩa. Xong chưa?". Tư đó, Vinh mới chịu nghe, nhưng còn dặn thêm: "Thằng nào không thực lòng, vào trận, cho dính đạn chết quách. Giả dối, chả cứ anh em, sống cũng bằng thừa".
Ba người vào làng. Vinh bảo: "Tao đi lo nước cho anh em. Thằng Chi, kiếm nhà nào không có con cái, mình vào mắc võng, làm một giấc. Còn thằng Toói, xem đâu có hoa quả gì, "dân vận" một ít về đây.
Độ một tiếng sau, thấy từ trong làng, bốn nă cô gái, chừng như cũng vừa thay bộ cánh mới, lũ lượt gồng gánh tiến ra. Họ mang nước tới tận hàng quân. Chè tươi hẳn hoi. Lính tráng được dịp thoả thuê, đem hết bình tông, cả thùng lương khô ra chứa. Lại lâu lắm mới có dịp gặp dân, nhất là con gái, anh nào anh nấy ra sức khua môi múa mép. Pha trò, châm chọc. Lính mà, ở đâu chẳng thế. Ai giận được.
Chi đi khắp làng, rồi quay về thẽ thọt: "Khó quá, nhà nào cũng có, ít nhất một cô gái, anh Vinh ạ…" Vinh thở dài: "Thôi cũng đành! Chọn lấy một nhà, mắc võng ngoài vườn… Mà mình có ngủ với chúng nó đâu mà sơk"
Còn Tối, sở dĩ Vinh phân đi kiếm hoa quả, cũng có lý do của nó. Thằng này cứ như thể sinh ra là để làm chỉ huy, biết người biết của, ranh mãnh ra phết. Chả là có một banạ, ba đứa vừa mắc võng giữa rừng, đang đung đưa kể chuyện quê, chợt Tối nhìn lên tán lá phát hiện một cành quéo, có quả hẳn hoi. Tối la lên. Ba đứa chụm đầu nhì! n, nuốt! nước miếng. Ở rừng, vớ được thứ hoa quả vườn, cứ như bắt được vàng, lại là của chua, quý lắm. Hoá ra, họ nằm ngủ cách một cây quéo rừng có dăm mét mà không biết. Nhưng khốn nỗi, cây cao chót vót, thân to lì chẳng thấy cành chạc gì, xung quanh lại toàn giống săng lẻ trơn tuồn tuột, khó mà trèo hái. Chỉ có bắn tỉa từng quả là chắc ăn nhất, đạn thì không thiếu, nhưng tiếng súng, sợ lộ bí mật hành quân. Đành chịu chết. Tối chót mạnh mồm: "Tao vốn dân trèo me trèo sấu thành thế, cao thế chứ cao nữa cũng chưa là gì…". Vinh cười khẩy: "Nói phét! Tao thách. Thằng Tối mà hái được mươi quả xuống đây, tao xin… giặt quần cho mày!" Bị kích động, Tối nghĩ mưu, nối ba cái thắt lưng to vào nhau, buộc ngang lưng như kiểu dây an toàn của thợ điện. Loay hoay một hồi cũng leo được tới ngọn. Bữa ấy, chẳng phải mươi quả, mà cả trung đội ăn canh chua một tuần mới hết quéo.
Trưa. Lính trung đội mệt, ăn uống xong là lên võng ngủ hết. Tối, Vinh và Chi chọn ba gốc cây sau vườn, mắc võng thành hình tam giác. Mà nào đã ngủ được. Chi ngây thơ: "Làng xóm gì chỉ thấy rặt con gái!". Vinh quát: "Ngu, thế mà cũng mở miệng nói. Có về làng mình, bây giờ cũng thế. Khác gì. Trai tráng ra mặt trận cả, gì mà không chỉ còn con gái… Thế con bé nhà mày đâu mà chưa thấy mặt mũi ra sao cả?" – "Chắc nó thẹn…" – "Thẹn? Tao cam đoạn nếu đang trong nhà, thế nào nó cũng nấp khe cửa nhìn trộm chúng mình…". Rồi cả ba phá lên cười.
Nửa đêm hôm ấy, liên lạc báo, chúng tôi mới được lệnh thu võng hành quân. Đời lính, kiểu thoắt đến thoắt đi, oái ăm thế là! thườn! g. Nhưng với Vinh lần này, thấy nó cứ ngơ ngẩn đến khó hiểu. Chi nháy tôi: "Lại có chuyện gì rồi!".
Quả nhiên, độ ba giờ sau, đi qua một cánh rừng khộp lưa thưa, Vinh lệnh cho trung đội dừng lại, đặt ba lô, tập hợp thành hàng ngũ hẳn hoi. Giữa đường hành quân, chuyện như thế là hiếm. Nên mọi người đều đoán hẳn có việc gì hệ trọng sắp xảy ra.
Sáng trăng suông. Vinh đứng trước hàng quân dễ đến mấy phút, chẳng nói năng gì. Không khí lặng lẽ, hồi hộp. Cuối cùng nó nói, giọng run run là lạ:
 - Chúng ta từ đất Bắc vào đây, sướng khổ, sống chết có nhau. Lòng dạ như cái bánh chưng, chẳng giấu giếm lừa dối nhau điều gì. Từ ngày trên bảo tôi làm chỉ huy, tôi đã biết số phận bọn mình gắn bó với nhau rồi. Biết anh em tin, tôi cũng cố xứng đáng với anh em, bấy nay chẳng nề hà phân biệt…
 Ngưng một lát, Vinh tiếp:
– Nhưng hôm nay, tôi đã phạm tội lừa dối anh em, hưởng vui thú một mình… Tôi muốn dừng lại đây, để trung đội xử tội, đúng luật chiến trường, như tôi đã nói…
Cả trung đội ngạc nhiên, ngơ ngác chưa biết chuyện gì. Như hiểu ra, Vinh nói:
Đêm qua, cũng là lần đầu tiên trong đời, không làm sao giữ nổi… tôi… đã ngủ với một cô gái trong làng. Anh em không biết, trên không biết, nhưng tôi biết. Tôi phải chịu kỷ luật trước anh em. Tất cả có thế, anh em xử đi…!
Cả trung đội im phăng phắc, không biết xử lý sao. Anh em ngạc nhiên và bàng hoàng nhiều hơn vì cái tính cách "thẳng thừng" đến độc đáo chưa từng thấy ở người chỉ huy của họ. Cuối cùng, các tiểu đội xin phép được hội ý, ! thảo lu! ận, rồi cùng thống nhất uỷ quyền Chi và Tối truyền đạt ý kiến anh em tới Vinh. Đại ý là: "đẻ bảo đảm hành quân chiến đấu, trung đội tiếp tục lên đường. Khuyết điểm B trưởng chưa có căn cứ và nhân chứng, chưa thể quyết định kỷ luật. Đợi hết chiến dịch luc xét lại. Mệnh lệnh chiến đấu là trên hết, ai cũng phải chấp hành. Vừa mềm vừa rắn, lại có tình có lý, ấy thế mà cũng phải mỏi mồm mới thuyết phục nổi Vinh. Trước lúc hành quân tiếp, Vinh còn nói: "Chúng mày quá đáng lắm. Nghĩ cho kỹ mà xem. Đừng tưởng vậy là tốt với tao. Người đời bảo "nhất tội nhì nợ", đáng tao chỉ mắc một, giờ lại phải đeo hai… Tội còn cho – nợ lỡ tao chết, ai trả?… Rồi cứ thế lùi lũi đi. Suốt đêm hành quân ấy, không thấy nó nói gì.
… Chiến dịch nối tiếp chiến dịch. Trung đội đã cùng C phối hợp đánh chiếm và giải phóng nhiều chốt điểm và địa danh quan trọng. Trên gọi trung đội là "trung đội Nguyễn Quang Vinh", nên thành đơn vị điển hình với nhiều cách đánh táo bạo và dũng cảm. Các tiểu đội cũng đều đã có đứa hy sinh. Bận rộn, tất bật, chuyện của Vinh với cô gái đó, cũng không ai nhắc nữa.
Cho đến một đêm, giải phóng xong thị trân Đ., trung đội nghỉ trong một rừng cao su bên sườn đồi. Ba người lại mắc võng bên nhau, thức rất khuya. Vinh hỏi: "Mai mốt toàn thắng, nếu được về, việc đầu tiên chúng mày sẽ làm gì?". Tối nói sẽ trở lại trường địa học. Chi bảo sẽ "cưới vợ trước đã, rồi làm gì thì làm. Nó chờ lâu quá rồi". Còn Vinh, sau khi im lặng hồi lâu, nó nói:
Việc đầu tiên là tao sẽ đào một cái gi�! �ng, th�! �t sâu, cho mẹ tao tắm. À, ừ, phải xây một cái nhà tắm đàng hoàng nữa. Tội nghiệp bà cụ, tao đi rồi, phải gánh nước mà dùng. Chùng mày còn nhớ không, cái ngày hành quân qua đồng "Chó ngáp ấy. Càng khát, tao càng thương mẹ ở nhà, đến rớt nước mắt. Quê mình nghèo quá, mang tiếng gần thành phố, mà đến hạt nước lã cũng chẳng mấy nhà sắm nổi làm của riêng…
Ngừng một lúc như nuốt cơn nghẹn ngào, Vinh trầm ngâm: "Rồi cũng từ cái giếng, mới sinh ra chuyện của tao với người con gái làng chiến khu ấy…"

Rồi nó kể:

"Tối hôm ấy, sau khi cho trung đội giải tán về ngủ lấy sức hành quân, tao cũng về võng, ở cái vườn nhà cô bé mà thằng Chi chọn ấy, đặt lưng, ngủ liền. Được một giấc khá dài, tự nhiên tao thức dậy. Khôn gian im ắng. Trời trăng suông, mà sáng lắm. Trong gian nhà vẫn thấy có ánh đèn. Tao thấy nóng nực nhớp nháp, bỗng muốn đi tắm. Mà của đáng tội, nào đã biết cái giếng ở đâu. Thế là trở dậy, đánh bạo và vô tư nữa, vào gõ cửa. Có tiếng con gái đáp ngay, chứng tỏ cô ta vẫn đang thức. Ngọn đèn khêu to, rồi cửa mở. Trời, chúng mày có biết không, khó mà tưởng tượng nổi, một cô bé trẻ, chừng hai mươi, đẹp, tóc buông sau vai trong bộ đồ ngủ, nói không quá, cứ như tiên giáng tràn. Giọng nói nữa, sao mà nhẹ nhàng duyên dáng đến thế. Tao sững lại một lúc, đâm lúng túng, mãi mới nói nổi câu hỏi. Cô bé gọi tao là "thủ trưởng. Chứng tỏ đã theo dõi sinh hoạt của trung đội từ sáng. Dẫn tao ra cái giếng sau nhà, nhìn phía sau, dưới ánh trăng, thân hình cô bé cân đối, chắc lẳn và nói thật, hấp dẫn nữa. Ra tới giếng, c! ô ta cò! n hướng dẫn "thay đồ chỗ này, để quần áo chỗ kia, múc nước ở đó…" ròi bảo "Cứ tắm tự nhiên, qua giếng nhà em, thủ trưởng không tắm cũng uổng…" và quay vào.
Khi múc nước tắm, tao mới hiểu ý câu cô bé vừa nói. Cái giếng tròn và to hiếm thấy, đầy ắp, múc không cần dây. Nước mát, ngọt và cảm giác trong sạch tinh khiết kỳ lạ. Đang giội ào ào, lại thấy cô bé đi ra, tao vòng sang thành giếng bên kia, thụp thấp người xuống, quay lưng lại. Nghe tiếng cô bé: "Em mang xà bông để anh dùng. Mấy bữa nay kẹt ở khẩu, không mua được thứ tốt. Xài tạm nghen…" Tao chờ cô bé vào hẳn, mới quay ra tắm tiếp. Xong xuôi rồi, mát mẻ, thơm tho, tìm áo mặc chẳng thấy đâu nữa. Thì ra, lúc ra đưa xà phòng, cô bé đã cầm cái áo của tao vào nhà. Tình thế thật quá quắt, nhưng không biết đây là âm mưu hay vô tình, tao đang luống cuống thì có tiếng vọng ra, nhỏ nhẹ: "Tắm rồi há, áo của anh mang vô đây rồi. Vô nhà mà thay…" Chết cha, đến nước này còn biết làm gì hơn. Thế là tao khép nép, khúm núm bước vào. Cánh cửa khép hờ, đèn khêu đủ sáng, tao thấy rõ ái áo của mình vắt trên sợi dây thép căng trong nhà, bên trên có tấm khăn tắm trắng tinh. Đẩy cửa bước vào, trong nhà không có ai. À, ra thế, cô gái tế nhị nhường chỗ cho tao thay đồ. Có phần yên tâm hơn, tao máy nhỏ ngọn đèn, rồi bình tĩnh lấy khăn lau người.
Có tiếng chốt cửa rất khẽ, tao quay ra, chúng mày tin nổi không, trong bóng tối mờ mờ. Cô bé, và cả tao nữa, như chết lặng, đứng im mấy giây, nhìn nhau, rồi đột nhiên cô lao vào ôm lấy tao, ghì xiết…
Cuối cùng, trước lúc tao về võng, cô bé m�! �i bảo:! "Hết chiến tranh, anh về đây nhé. Ba má em giặc bắn. Anh hai cũng hy sinh rồi…" Tao xúc động quá, quay vào ôm chặt cô bé, nghẹn ngào; "Tan giặc, nhất định anh sẽ về. Anh sẽ lấy em!" Sực nhớ, còn giữ được tấm ảnh, tao giở túi lấy ra đưa cho cô, rồi quay về võng.
Cũng may, chỉ lát sau có lệnh hành quân, thú thực, không thì, một là tao sẽ lại vào nữa, hai là sẽ nằm mà khóc suốt đêm ấy mất. Tao thương cô bé vô cùng. Đơn vị đi, tao cũng chẳng kịp nói với cô ấy lời nào. Nhưng, chúng mày tin tao không, cái câu tao nói lúc ấy là nói thật đấy. Hết chiến tranh, tao sẽ lấy cô ấy, rồi đưa về Bắc với mẹ tao."
Chi và tôi lặng đi, không ai nói thêm nữa. Câu chuyện kể như một lời tự thú, mà họ lại cảm thấy không gợn chút tội lỗi nào. Có tiếng pháo địch ì ầm từ xa, kéo ba dòng suy nghĩ chân thành và non trẻ trở về với thực tại. "Ôi, chiến tranh bao giờ mới hết. Bao giờ đất nước sạch bóng quân thù."
Và họ cùng đi vào giấc ngủ với những mộng mơ khác nhau. Nhưng thảy đều trong trẻo, hiếm hoi và thật xa lắc, mênh mang với thực tại.

Sớm hôm sau, trước lúc lên đường, tự nhiên Tối và Chi nắm chặt tay Vinh. Mà sao lại bắt tay? Cùng trong hàng quân cả mà. Vinh bảo: "Kỳ này ác liệt đây. Sẽ lâu mới gặp lại". Tối như bịn rịn: "Gì thì gì, tan trận, tìm nhau nhé". Còn Chi, mắt nó long lanh: "Còn sống, thì chúng mình trước sau cũng gặp lại. Nhưng anh Vinh, anh phải về với cô ấy nhé, cô gái có giếng nước trong ấy…"
Mệnh lệnh hành quân thần tốc. Đơn vị được lệnh phối hợp cùng các binh chủng tiến về Sài Gòn. Trung đội phải xé lẻ ra, đi với! tăng, v! ới thiết giáp, với pháo… Bộ ba, mất liên lạc với nhau từ sớm hôm ấy. Và họ không thể ngờ rằng, đêm qua, lại là đêm cuối cùng còn được mắc võng bên nhau.

Chiến tranh qua đi. Đã hai chục năm đất nước im tiếng súng. Với một cuộc đời, thời gian ấy cũng dài. Nhưng với những người lính của trung đội, một phần năm thế kỷ yên bình sao mà nhanh, và ngắn ngủi. Dư âm của đạn bom cùng những kỷ niệm chiến trường, trong mỗi chiến sĩ trung đội, vẫn còn rõ nét lắm. Tất cả như vừa mới hôm qua…

Cả trung đội, ngoài những người vĩnh viễn nằm xuống ngoài mặt trận, cứ rơi rớt, thưa thớt mỗi năm… Tất tật chỉ còn non nửa. Non nửa, theo cách gọi của chiến trường, nghĩa là trung đội vẫn còn.
Họ thỏa thuận với nhau một cái nếp: hàng năm, cứ đúng ngày kỷ niệm hội tòng quân, tất cả mọi người, bất kể xa gần bận rộn, họp nhau về bên nếp nhà tranh ở một xã ngoại thành, nhà liệt sĩ Nguyễn Quang Vinh – gặp mặt. Họ góp nhau xây đào cho bà cụ Vinh một cái giếng, có căn nhà tắm xinh xinh. Cứ mỗi lần về đây, họ lần lượt ra tắm. Cái giếng nước mát, trong lạ kỳ, nhìn thấu tới đáy. Một điều lạ, giữa lòng giếng, trồi lên một vật gì lấp lánh, như tỏa sáng. Những hạt bọt nước li ti cứ từ đó nổi lên liên tiếp không ngừng.
Lần nào cũng vậy, khi vặn đài sen xả nước đầy mặt mũi, nước giếng mát lạnh, mà cảm giác những giọt nước ấm nóng ứa ra từ khóe mắt mỗi người còn rõ lắm. Họ vừa tắm, vừa thầm khóc thương nhớ Vinh, không sao cầm lòng nổi…

Đoạn kết

Chi đã lấy vợ, vẫn cô bạn chờ đợi từ ngày đăng lính. Họ đã có hai đứa con gái. Cậu ấy tốt nghiệp bác sĩ, lại vừa đi tu nghiệp ở Pháp về. Còn Tối được giữ lại giảng dạy ở trường đ! ại học. Ngành văn.
Cuối năm vừa rồi, họ quyết định rủ nhau trở lại miền Nam, thăm những vùng đất xưa họ đã đi qua một thời lửa đạn. Và đặc biệt, họ muốn tìm lại cái làng chiến khu có người con gái mà từ lâu, họ đã coi như người thân của trung đội.

Làng xóm đã thay đổi nhiều quá, phải mất non hai ngày đường, họ mới tìm tới được cái làng ngày xưa. Đây rồi, căn nhà có giếng nước to tròn, và vườn cây ngày ấy mặc võng. Ra đón họ là một phụ nữ tóc điểm hoa râm nhưng vẫn còn đọng nhiều nét xinh đẹp thuở thiếu nữ. Giữa gian nhà xây khang trang, dáng dấp một trụ sở làm việc nhiều hơn là nhà ở, tấm ảnh Nguyễn Quang Vinh được phóng to lồng trong khung kính trân trọng, tuyệt không thấy một dải băng đen. Nghĩa là, chị ấy chưa biết Vinh không còn nữa? Hay cũng có thể, chị không muốn nghĩ rằng anh ấy đã chết? Dẫu sao họ không thể biết, và không ai bảo ai, hai người tự thấy phải tôn trọng những điều mà người phụ nữ này ước muốn. Chi chỉ lên tấm ảnh Vinh, chưa kịp hỏi,
thiếu phụ đã lên tiếng, vô tư và vui vẻ: "Chồng tôi đấy. Ảnh đi xa, chưa về!"
 Không biết như thế có là tàn nhẫn không, hai người đồng đội im lặng trong niềm xúc động trào dâng. Và họ quyết định không nói ra sự thật đau đớn về người chồng thân yêu của chị.

Họ ở chơi tới trưa, và được biết chị là phó bí thư và kiêm chủ tịch xã. Hai người được tiếp đãi nồng hậu hơn khi chủ nhà biết rằng họ cũng là những người lính vượt Trường Sơn năm ấy.
Cuối cùng, họ xin phép được ra giếng tắm. CáI giếng đã gắn bó một mối tình thủy chung, sắt son mà chỉ mình họ biết. Hai người l�! �ng lẽ, trầm ngâm bên thành giếng. Và kìa, lạ chưa, dưới đáy nước trong suốt, một điểm sáng lấp lánh trồi lên. và từ đó, những hạt bọt nước li ti cứ nổi lên, liên tiếp, không ngừng.
Nước giếng long lanh. Và trên khóe mắt hai người đồng đội, hai cựu chiến binh cũng long lanh ướt.
                                                                                                                         
                                                                                                                        

NGÀY KHÔNG BÌNH THƯỜNG

Truyện ngắn . PHẠM HOA


 Trời đã sắp sáng. Bạo biết thế vì cô đã thức được một lúc lâu. Ðêm qua, Bạo bồn chồn như đứa trẻ ngủ trong đêm ba mươi Tết, chỉ thấp thỏm mong trời mau sáng. Một loạt bom xa xa làm cô chợt tỉnh. Từ lúc đó, Bạo không nhắm mắt được nữa. Cô nằm im một lát mới nhỏm dậy. Căn nhà hầm tối, đen như trong hộp, râm ran tiếng ngáy của đồng đội. Cô rón rén bước ra cửa.

Bên ngoài, trời sáng lờ mờ mát lạnh. Bạo cảm thấy tỉnh táo và khỏe khoắn. Một cảm xúc háo hức là lạ. Cô muốn chạy vù ra sân. Muốn gọi tất cả mọi người dậy. Bạo dừng lại ngắm những giọt sương đang từ từ tròn hạt. Lúc quay vào nấu cơm ăn sáng, cô đụng đổ cây đèn, rồi lại đụng đổ cả chiếc xoong đựng nước uống trên bàn. Cô phì cười vì sự vô ý của mình.

Sạp nằm có tiếng cựa mình. Chị Thành quát:

– Ðứa nào đấy?

Bạo bịt miệng cười:

– Em đây.

Một lát sau, ở góc hầm có ánh lửa cháy bập bùng. Không riêng gì Bạo, ngay sau đó các cô gái khác đều trở dậy cả. Mới năm giờ sáng, họ dậy sớm hơn mọi khi. Căn nhà hầm nhộn nhịp, chứa đựng vẻ khác thường.

Ðó là một buổi sớm của ngày hai mươi – Ngày không bình thường của tiểu đội thông tin trên đèo Văng Mu, điểm chốt của điểm cao trên một ngàn mét. Là ngày vui của các cô gái. Hôm nay họ sẽ nhận được thư nhà, thư bè bạn, thư người yêu. Mỗi một tháng họ được nhận thư một lần vào ngày hai mươi. Thư gửi đến sẽ dồn về ban chỉ huy đại đội, cơ quan đóng cách họ những mười lăm cây số dưới thung lũng. Dưới! đó, anh liên lạc sẽ dần bóc thư của từng người một đọc dõng dạc qua máy điện thoại. Họ không còn cách nào tốt hơn. Chính năm cô gái trên Văng Mu yêu cầu đại đội làm như vậy. Nếu không chờ thư đến tay các cô lại chậm thêm vài chục ngày nữa. Những lần đầu, bao nhiêu bí mật gia đình, bí mật tình yêu bị bóc trần như ban ngày, các cô rất ngượng. Lại có thêm vài anh tủm tỉm cười, chế nhạo, các cô la lối lên. Ðại đội trưởng phải ra lệnh cấm không được ai bén mảng lên nhà đại đội khi cậu liên lạc đọc thư vào máy. Tất cả quen dần thành nếp sống bình thường của năm chiến sĩ thông tin trên điểm cao. Từ đó, ngày hai mươi trở nên gần gũi thân thiết, là ngày mong chờ của các chiến sĩ. Một ngày vui thực sự, ngày họ được hòa nhập vào đời sống hằng ngày của những người thân ở phương xa. Ðó là ngày thiêng liêng và đặc biệt quan trọng đối với những người đang yêu như Bạo. Nhất là chỗ ở của các cô gái lại chót vót trên cao một ngày hàng chục trận bom giội xuống, thiên nhiên lại tàn khốc, là nơi bom đạn ác liệt, là nơi mà nhiều bạn bè không quen biết…

Bạo vẫn hí húi nấu cơm trong góc hầm. Cô mặc chiếc áo mỏng không có tay, mặt đỏ rực lên vì nóng. Sáng nay Bạo có vẻ bận rộn và vụng về. Ðánh đổ đèn, đánh đổ xoong là Bạo. Bỏ quên hộp thịt đã mở dưới đất cho kiến vào cũng là Bạo. Chốc chốc lại thấy chị Thành hỏi vọng vào:

– Ðứa nào đổ nước ra cửa hầm tràn cả vào nhà đây?

Bạo chạy ra cửa xem, tủm tỉm cười:

– Em.

– Lại em. Ðãng trí quá em ạ.

Trong hầm, ! các cô ! gái vội vã thu dọn những đống dây điện, đống cuốc, xẻng vào góc. Căn hầm sáng sủa và rộng rãi hơn. Một điều lạ nữa là hôm nay: không ai bảo ai, các cô đều chải tóc soi gương tỉ mỉ như trong ngày sẽ có khách đến chơi.

Tiểu đội có Minh là nhỏ nhắn, thanh mảnh được coi là đẹp gái nhất. Minh rất hay tỉa tót làm dáng, nhưng cô vẫn thầm ghen với nước da đỏ thau của Bạo. Minh đẹp một cách yếu ớt, Bạo đẹp một cách khỏe khoắn và tháo vát. Ðó là một đôi bạn rất thân và cũng rất hay giận nhau. Thế quái nào Minh lại yêu anh đại đội trưởng pháo, to và đen nhẻm. Bạo lại yêu anh chàng sinh viên có phần yếu đuối, lịch sự và kiểu cách. Anh sinh viên ấy cùng tuổi với Bạo. Bạo rất bực với cách xưng hô “tôi” trong mỗi lá thư của anh ta gửi đến. Nhưng đó chỉ là nhược điểm nhỏ thoáng qua. Bạo vẫn yêu anh ta nhiệt tình và say đắm.

Cả tiểu đội có năm chị em. Chị Thành không giống các cô. Chị cao và nhỏ người, nắng chiến trường làm nước da chị đen sạm và khắc khổ. Chị hơn các cô một tuổi. ý thức làm chị của Thành rất rõ. Các cô gái ở đây đều rất nể và sợ Thành. Có lẽ chỉ có Bạo là người dám nói đùa với chị. Thành cũng rất mến Bạo. Mặc dù Bạo có ngang tàng đôi chút, nhưng lại dũng cảm, việc phá mìn vướng, cả đại đội không ai giỏi hơn Bạo.

Bạo bê nồi cơm nóng hổi đặt ra tảng đá. Cùng lúc đó, chiếc máy điện thoại đặt trên bàn nứa rung lên bần bật. Một hồi chuông dài và gắt. Thành dẹp sổ theo dõi công việc sang bên, chạy tới cầm máy. “Hồng Hà đâu…”. Một giọng đàn ông ồm ồm c�! �c lốc ! của ông trung đoàn trưởng pháo. Ông nói một câu ngắn của người quen ra mệnh lệnh:

– Khu vực dê sáu tám (D68) bị mìn vướng, đứt toàn bộ dây. Yêu cầu sáng nay phải nối cho họ trực chiến.

Thành buông máy nhẩm tính toán luôn. Chị có thói quen sắp xếp công việc ngay sau khi nhận điện. Tổng số dây điện khu vực tiểu đoàn pháo vị chi là hai ki-lô-mét. Vừa phá mìn vướng vừa rải dây, nối dây, mất đứt hai người một ngày vất vả. Sau đó chị giục mọi người đi ăn cơm. Trong đầu Thành thoáng linh cảm thấy rằng: công việc hôm nay sẽ rối mù lên cho mà xem. Nắng đẹp thế này, nhất định nó sẽ đánh mạnh.

Năm người con gái ngồi xúm quanh chiếc bàn ăn nhỏ. Chiếc ghế buộc bằng ba đoạn nứa võng xuống phát ra tiếng kêu kẽo kẹt. Minh sốt sắng nhất. Nhỏ người nhưng rất nhanh. Ba cô cướp được ba cái bát lành. Bát của chị Thành tất nhiên là không cô nào dám tranh. Còn lại là chiếc bát thủng trôn vì bom bi. Bạo phải dọn bếp núc nên chậm chân ra sau. Cô cầm chiếc bát hỏng lên, nhất định không chịu thua.

– Hôm nay đến lượt đứa nào ăn bát thủng !

– Cái Minh.

– ứ! Hôm qua em ăn bát thủng rồi.

– Mới có buổi chiều. Phải cả sáng nay nữa mới đủ một ngày.

– Không.

– Này.

– Không.

– Này.

Giằng nhau một lúc, Bạo cười:

– Thế mày gọi tao là chị tao nhường cho.

– Thì chị. Nào chị Bạo ơi!

– Dạ đi.

– Dạ. Ðược chưa.

– Ðược. Em ngoan ăn cơm rồi đi phá mìn cho giỏi nhé. Chị cưng, ch! ị thư�! �ng.

Bạo còn đáo để vuốt đầu Minh mấy cái, chị Thành giục, họ mới bắt đầu bưng bát. Miếng cơm vừa trôi khỏi miệng, lại có điện thoại. Lần này là điện dưới đại đội công binh gọi lên. Ðường dây từ đơn vị gọi lên sở chỉ huy sư đoàn tiền phương bị đứt. Một giờ đêm qua ở dưới đó có một quả bom nổ chậm bất chợt nổ.

Bữa ăn lại được tiếp tục. Vẫn cái đà vui vẻ một cách khác thường ấy, Bạo dọa sẽ mách tay đại đội trưởng pháo là Minh ghẻ ruồi. Bao giờ Minh cũng yếu lý lẽ hơn. Cô chỉ còn biết chê cái tên của Bạo, cái tên thô như một người lên gân. Ai lại Quang Bạo, Minh Bạo hay là Thành Bạo dù sao nghe vẫn vương vướng. Cái tên này phải hình dung ra một cô gái to béo gân guốc, đáo để…

Một loạt bom. Rồi một loạt nữa. Ba loạt cả thảy. Cả hầm lắc mạnh như sắp vỡ đôi. Sau đó là tiếng phản lực sà rất thấp, có cảm giác như các ngọn cây cũng bị gió quật tung. Các cô gái nhìn nhau, đoán:

– Chắc ở cây số mười.

– Không! Cây số mười bốn.

– Có khi sát chân đèo.

Họ còn đang xác định vị trí bom rơi thì có điện. Từ lúc đó, điện gọi tới tấp lên tổ chốt thông tin. Ðơn vị nào cũng la ầm lên đường dây liên lạc của họ bị đứt. Các cô gái phải ăn cơm nhanh hơn. Thành hết nhận điện của đơn vị này lại cắm phích nghe đơn vị khác. Anh nào cũng to mồm đòi phải nối dây ngay tức khắc, Thành phát bẳn lên, quát vào máy:

– Từ từ đã nào. Làm gì mà các ông hét ầm lên như thế? Phải hiểu cho người ta chứ.

Thành buông máy sững s! ờ giây lát. Chị giắt lại mấy sợi tóc vương trên má, nhẩm tính. Dê sáu tám hai người. Ðại đội công binh một người buổi sớm, buổi chiều lên sư đoàn bộ. Xuống lèn đá một người. Rồi chị tặc lưỡi thầm nghĩ: bận mấy cũng chẳng bằng đêm hôm kia. Ba lần B.52 ném bom luôn xuống đèo. Quả nổ, quả không. Vừa rải dây, nối dây mất một ngày một đêm mới xong. Cùng lắm chỉ bằng hôm đó chứ mấy? Các cô gái đã biết trước tình thế. Họ đứng dậy sau bữa ăn. Cô nào cũng trong tư thế sẵn sàng. Có cô đã đội mũ sắt, khoác súng vào người.

Chị Thành và miếng cơm cuối cùng rồi đứng dậy nốt… Chị phân công việc luôn. Năm người đều ra mặt đường cả. Bạo và chị sẽ xuống Dê sáu tám. Khi đi mang theo dụng cụ phá mìn vướng.

Thoắt một cái họ đã đứng ở ngã ba rẽ đi các hướng. Họ vội vã chia tay nhau. Ðến chỗ ngoặt, Minh vẫn còn ấm ức với Bạo. Cô giơ nắm tay nhỏ xíu lên dọa:

– Tối nay, nối dây về sớm “ông” nhận thư của mi qua điện thoại cho coi, “ông” sẽ nhận là Bạo.

Bạo cười to:

– Thách Minh đấy! Thách đấy!

Bạo khoác tấm lá chắn cao ngang đầu đi trước. Tấm lá chắn là vật che mảnh đạn hình tam giác, được kết bằng những nùn rơm to và chắc như bắp tay. Dụng cụ phá mìn còn có cây sào dài bảy tám mét, có chạc dùng để quơ những sợi dây mìn vướng nhỏ như sợi tóc. Loại mìn vướng này rất nhạy và rất hiểm độc. Một cơn gió thoảng qua cũng có thể làm cho mìn nổ. Hai người còn luồn qua sào phá mìn một cuộn dây điện nặng chục cân.

Bạo là cô gái siêng năng v�! � chăm c! hỉ. Khi yêu, tình yêu của cô cũng rất mạnh mẽ. Trong tâm hồn cô gái trẻ này có một khoảng rộng yên tĩnh, đằm thắm và thiết tha dành cho người mình yêu. Vốn sinh ra trên đồng đất trồng màu ven sông Hồng, Bạo rất chân thật và hơi vụng về. Gần như cô không biết viết thư, không biết nói những câu hoa hòe hoa sói. ở giữa điểm cao như vùi mình trong bom đạn, đời sống đơn giản đi nhiều lắm. Công việc bình thường ở đây là ăn ngủ, phá mìn và nối dây điện. Không hề có thứ công việc nào xen lẫn, không khái niệm thứ bảy, chủ nhật. Không có một giờ rảnh rỗi. Vậy mà trong mỗi lá thư bao giờ Bạo cũng mở đề bằng câu: “Hôm nay nhân tiện ngày chủ nhật” hay “Hôm nay nhân tiện trời mưa…”; có hôm cái Minh vớ được mẩu thư viết dở, nó tò mò xem rồi đọc toáng lên. Bạo đứng đực ra nhìn, mặt đỏ gay, một lúc mới biết chạy tới giằng miếng giấy lại. Thế mà Bạo còn làm thơ gửi cho anh sinh viên rất giỏi chữ nghĩa. Ðại khái cũng câu ba câu bảy gập ghềnh như đá dưới lòng suối cạn:

Bèo hợp lại tan

Hoa nở rồi tàn

Nhưng tình yêu giữa đôi ta không đứt

Như sợi dây em nối đêm ngày…

“Tìm bảy ngày cũng không thấy vần” – Vẫn cái Minh ranh mãnh nó vớ được, đọc xong nó nói như vậy. Từ đó, mỗi lúc hậm hực điều gì muốn trả thù, Minh lại lấy giọng ê a ngâm:

“Bèo hợp rồi lại tan…” thế là đủ để Bạo toát mồ hôi, chịu thua. Mãi sau này Bạo phải mặc cả đổi chỗ nằm gần cửa hầm cho Minh, nó mới chịu quên cái đoạn thư khổ sở đó đi cho.

Thế nào chi�! �u nay B�! ��o cũng có thư. Cô tin rằng lá thư sẽ rất dài. Từ chiều hôm qua Bạo đã linh cảm như vậy. Niềm tin ấy làm Bạo bồn chồn thích thú. Cô vui khác ngày thường. Bạo cảm thấy mình yêu cuộc đời hơn, yêu mảnh đất chiến trường mà cô đang sống và yêu mọi người. Cô tự hứa từ nay cô sẽ dễ dãi hơn đối với Minh. Không kể chuyện ma con khỉ độc dọa nó nữa. Cô yêu cả con đường gập ghềnh này, cả những ngọn cây cỏ xanh này, cho đến con chim đang hót xa xa…

Hai người đi sâu vào cánh rừng le tốt ngập đầu. ở đó lác đác có những cây cọ rừng mập mạp xanh tốt, lá vươn dài như lá dừa. Thỉnh thoảng mới thấy những cây khộc già nua đầu cành đang nứt những búp lá non tơ. Cho đến lúc nghe tiếng ho của một pháo thủ và con gà cục ta cục tác trong khẩu đội gần đó, thì họ dừng lại. Ðã đến khu vực mìn vướng nổ. Nhiều trái tự hủy, để lại một đám đất nát bét và một khoảng cây cối giập, gãy xơ xác.

Chị Thành quan sát xung quanh rồi nhận xét:

– Dây mìn đấy, Bạo ạ! Mắt thường mà cũng trông thấy một quả kia kìa!

Bạo nhìn theo hướng bàn tay Thành. Một trái mìn mầu xám xù xì nấp dưới một cành cây nhỏ. Cô quạt bằng mũ sắt, tắc lưỡi:

– Kệ nó chị ạ. Chọc một cái là nó nổ, sợ gì!

Bạo nói rồi vẫn ung dung ghếch AK lên đùi, cầm mũ sắt quạt. Trời nóng. Trên đôi má đỏ chín của Bạo đã có mấy giọt mồ hôi. Khi đã buộc tóc lại thật gọn, xắn quần xắn tay áo, họ mới đứng dậy bắt đầu công việc. Bạo dựng lá chắn lên, chống thật chắc chắn. Cô ngồi thụp phía sau như một đứa trẻ đi trốn. C! hị Thà! nh đứng xa hơn làm nhiệm vụ rải dây. Bạo đưa sào lên phía trước. Cô chỉ cần vung sào, khuấy động cành cây ngọn cỏ, chạm vào bốn sợi dây vướng nổ là trái mìn sẽ nổ. Trái mìn đầu tiên Bạo phá hôm đó lại không phải là trái chị Thành trông thấy. Ðó là quả vùi sâu trong đống lá mục. Cô vừa tung sào bất thần đã có tiếng nổ. Bạo giật bắn người rồi lại cười khanh khách. Bụi chưa tan, cô đã dịch lá chắn về phía trước rồi giải lao một phút. Cô hỏi chị Thành.

– Sinh viên đại học chắc họ sống sướng lắm chị Thành nhỉ? Ông bạn em ông ấy viết thư, em cảm thấy các ông ấy sang trọng lắm. Có đúng không chị?

– Ðấy là em cảm giác thế. Họ cũng vất vả lắm. Họ ở một phòng mười hai người cơ đấy!

Bạo lẩm bẩm:

– Có thể là như vậy.

Bạo lại thu mình sau tấm lá chắn. Cô đưa sào về phía trước. Trái mìn lần này gan góc hơn. Bạo phải quơ chục lần nó mới nổ. Tiếng nổ vẫn rất to làm Bạo giật nảy mình, cô đưa ống tay áo quệt mồ hôi trên mặt rồi quay về phía Thành nói chuyện tiếp.

– Em có một miếng vải hoa rất đẹp. Em sẽ cắt một chiếc áo lót thật nghịch ngợm. Cổ theo kiểu trái tim xoay về vai trái. Hàng khuyết sẽ xẻ bên hông.

Nói xong chưa kịp nghe Thành trả lời, cô lại ngồi thụp xuống, dịch tấm lá chắn về phía trước. Bạo phá mìn say mê tỉ mỉ và ung dung làm người khác đến phát thèm lên được. Ðó là cung cách phá mìn rất bình tĩnh, thông minh mà chị Thành cũng khâm phục. Công việc này rõ ràng không thể để một người vội vàng, hấp tấp làm được.

– Ngày còn ở nhà ấy mà, cái “lão” người yêu của em bấy giờ còn nhỏ và yếu hơn em cơ. Có hôm đi chăn bò ngoài bãi sông Hồng, em dọa cho sợ, phải đuổi bò về cơ đấy.

Thành cười:

– Thật là đáo để.

Thành cũng có biết qua người yêu của Bạo. Cái anh chàng quá trẻ ngồi vắt chân qua lan can thềm nhà chụp một kiểu ảnh rất điệu. Thành không chê gì anh ta. Chị chỉ thoáng ngờ vực trong lòng một điều, hình như Bạo sắc sảo hơn anh ta quá nhiều. Trong cuộc đời thực, liệu đôi trai gái này có sánh vai nhau được không? Bạo đã phá đến trái mìn thứ năm, thứ sáu… Họ đã trông thấy khẩu đội pháo xa xa. Rất lạ là hôm nay, Bạo không quen được với tiếng nổ. Mỗi một tiếng mìn dội lên Bạo vẫn giật nảy mình quay lại cười khanh khách. Chị Thành thấ! y Bạo có vẻ chủ quan quá, quát vọng lên:

 

– Bạo! Chú ý vào. Coi chừng đấy!

Bạo cười, đôi môi đỏ chót rất xinh.

– Chị yên tâm. Một mình em đã phá hàng nghìn quả mìn rồi.

Niềm vui ấy lan sang cả Thành. Phải, chị rất tin tưởng Bạo, nhưng điều ấy cũng có thể xảy ra lắm chứ? Công việc quen thuộc của Bạo là phá mìn, nhưng ai biết đâu được, bất cứ một sự chủ quan nào chẳng gây ra tai nạn? Phía trước kia, trong những bụi cây lòa xòa hiền lành, một ụ đất mấp mô, hay dưới đám lá mục, là những cái chết bất thần đang rình núp chờ đón; nhất là hôm nay Bạo lại có vẻ coi thường. Nghĩ như thế, tự nhiên Thành muốn ứa nước mắt. Chị yêu Bạo quá. Chị muốn đối xử dịu dàng với Bạo, muốn cho Bạo cái gì. Ðứng trước những người tốt người ta thường có những ý nghĩ trong lành hơn. Chị Thành đứng ngẩn người ra nhìn Bạo hồi lâu. Cô ấy vẫn cúi lom khom sau chiếc lá chắn. Và hễ cứ sau một trái mìn nổ, Bạo quay lại chuyện trò. Vẫn là dòng suy nghĩ sôi nổi của Bạo về bạn, về người yêu. Sau khi nói xong chẳng cần biết Thành có nghe hay không, cô lại quay về phía trước, dịch tấm lá chắn lên.

Họ trở lại Văng Mu lúc sương mù đã kết thành từng cụm đặc sánh trên đầu. Bất ngờ lý thú là lúc đi cả tiểu đội chia tay nhau ở chỗ rẽ, lúc về lại gặp nhau đúng chỗ ấy. Ðủ mặt cả năm người, Bạo trông thấy từ xa Minh đi trước. Nó thất thểu vì đói và nhọc.

Cứ sau một ngày lăn lộn ngoài đèo khuôn mặt đầy đặn của nó lại bị vơi đi một tí. Bạo vẫn tỉnh như không gọi rối rít:

! – ! Tớ cứ tưởng cậu về lâu rồi!

– Thì người ta cũng tưởng đằng ấy về lâu rồi.

– Tớ làm mà cứ nóng cả gan ruột. Chỉ sợ cậu về trước mệnh danh tớ, nhận thư.

– Tớ mà về trước xem, chả phải bàn.

– Thôi thôi các cô! Chóng lên. Còn khối việc phải làm ra đấy.

Họ vào đến trước sân, chị Thành đã buộc xong hai chiếc tăng vào những gốc cây nhỏ. Những chiếc tăng xòe nặng buộc thõng xuống để hứng sương đêm lấy nước dùng. Mỗi đêm một tấm tăng rộng có thể hứng được một lít nước. Mười chiếc tăng hết đêm họ sẽ dồn được mười lít nước. Thứ nước kết tinh từ hơi sương trong ngăn ngắt. Trừ khi bom đánh gần, hơi sương qua khói thuốc đạn sẽ đắng ngắt như pha thuốc ký ninh. Các cô gái lần lượt căng những chiếc tăng ra đón nước. Sương dày làm ướt cả mặt, cả tóc. Khu đèo lạnh hẳn xuống vài độ.

Tối hôm đó các cô gái ăn cơm rất nhanh chóng. Hầu như ai cũng vội, cũng mong cho đến cái giờ phút mong chờ ấy. Các cô không đùa ầm ĩ nữa. Cái Minh nhỏ bé lại còn tỏ ra chín chắn, nó nói:

 

– Biết mình có thư không mà trông. Cái gì đến sẽ đến, cái gì không đến sẽ không đến.

Bạo vạch mặt:

– Rõ đồ nói khoác. Có thật không mong thư không? Thế thì cử cậu đi sửa đường dẫn lên sư bộ nhé.

– Ứ, tớ cũng có mong.

Bạo cười ha hả. Chưa đến sáu giờ tối, các cô đã xúm xít bên tảng đá. Ai cũng tỏ ra bình thản. Chỉ có Bạo vẫn xông xáo đứng trong cùng, là người cầm ống nghe máy điện thoại. Phải đến hai chục phút rồ! i, Bạo ! vẫn chưa liên lạc được với đại đội. Thỉnh thoảng lại nghe tiếng sét nổ sàn sạt, rầm rầm trong máy điện thoại, cầm lấy ống nghe giật nẩy tay lên.

Bạo sốt ruột gắt:

– A-lô… Thăng Long đâu. Cắm dây cho chặt vào.

Cuối cùng sự mong chờ của các cô gái đã được thỏa mãn. Tiếng cậu liên lạc rõ mồn một trong máy. Cậu ta bảo mọi người đều có thư, trừ chị Thành. Tất cả các cô thở phào một tiếng. Thư của Bạo được đọc trước. Mặt cô đỏ ửng lên, cô đứng vào nghe máy, nụ cười bỗng nở trên môi ngượng ngập.

Mọi người chăm chú nhìn Bạo. Họ không được nghe đọc thư, nhưng tò mò muốn biết Bạo có tin lành hay dữ. Tin buồn hay vui. Bắt đầu mặt Bạo đỏ chín, nghe đọc thư, cứ thế cô tái dần đi. Một tay Bạo buông thõng xuống. Các cô ngạc nhiên sợ hãi nhìn Bạo. Giây phút căng thẳng ấy cũng chấm dứt khi Bạo chuyển ống điện thoại cho Minh. Mặt Bạo chợt đỏ bừng, mấy giọt nước mắt nóng hổi lăn rất nhanh qua má. Cô ấm ức dằn từng tiếng:

– Hắn vẫn chẳng xưng anh với mình. Cóc cần!

Các cô gái nhìn nhau rồi phá lên cười. Cứ thế lần lượt từng cô. Họ xếp hàng chờ đến lượt mình vào nghe cậu liên lạc đọc thư. Thời gian vẫn trôi. Ở Văng Mu, một tháng lại có một ngày không bình thường như vậy. Nhưng nói cho cùng, cái ngày ấy cũng chỉ là ngày bình thường trong suốt bốn năm trời dài đằng đẵng trên điểm cao Văng Mu của những người lính.

CHUYẾN XE ĐÊM


Tác giả : Ma Văn Kháng


Chiếc xe lại hỏng.

Lần này là lần thứ mấy, kể từ lúc nó rời biên giới?

Ngồi ở băng ghế sau, người phụ nữ phương Tây xinh xắn không nhớ, nhưng khó chịu và buồn lo lộ ra mặt. Bởi vì lúc này trời đã tối. Trời tối ở một vùng đất xa lạ, còn ngổn ngang, bừa bộn vết tích của chiến tranh. Đất hoang lạnh, loang lổ những vết cháy. Cây xém, ủ rũ cạnh những đống vỏ đạn pháo lớn và những vòng thép gai bò loằng ngoằng gớm guốc. Đường đã vắng từ lúc chập tối.

Giờ thì chẳng còn sự sống trên mặt con đường gập ghềnh, lồi lõm hố đạn pháo. Không có xe đi ngược chiều và cùng chiều, kể cả những chiếc xe bò kéo, bánh xe to một cách cổ lỗ và như là vô lý của những người dân vừa ra khỏi cuộc chiến tranh đang tìm đường trở về quê cũ. Không còn tiếng nó lăn lọc cọc đều đều trong hành trình giống như trong một cuộc viễn du vô định.

Giờ, chiếc xe trở nên cô đơn.

Họ đã phải đổi xe ở biên giới. Chiếc Mazda sang trọng được thay thế bằng chiếc com-măng-ca cũ kỹ, mình đầy bụi, lam lũ, không có biển số. Trông nó đã nao cả lòng, nhất là khi nghe người sĩ quan dặn người lái xe: “Chú ý: gặp ai, không được nói cho họ biết xe chở ai, đi đâu. Dọc đường, không cho bất cứ ai đi nhờ xe”.

Người phụ nữ hiểu ngay từ lúc đó: tính mạng của họ trên đất nước xa lạ này hoàn toàn phụ thuộc vào chiếc xe và anh lái xe, một chiến sĩ Việt Nam nhỏ nhắn hiền lành. Ôi chao! Chiếc xe thì quả là không tin cậy được. Giờ, nó lại chết giữa vùng đất mênh mang, nhìn đâu cũng chỉ thấy mờ mờ những cây thốt nốt cao lớn, chơi vơi trên vòm trời, chẳng có gì chơi vơi, chông chênh như loài cây ấy vào lúc này.

Thấy xe hỏng, người đàn ông phương Tây ngồi cạnh người phụ nữ, từ nãy vẫn lim dim như hoài niệm cái gì đó, choàng tỉnh, đẩy cửa xe, chui ra. Đó là một người đàn ông cao lớn, vạm vỡ, bụng xệ. Cái bụng xệ không gây ấn tượng chậm chạp, nặng nề. Vì cái quần gin bó tôn người ông cao lên, rất hòa hợp với cái áo bu-dông bó gọn thân trên và cái vẻ háo hức trẻ trung trên khuôn mặt dãi dầu, từng trải. Ông là phóng viên của nhiều tờ báo lớn trên thế giới, quen với những khung cảnh chiến trường, nỗi hiểm nguy và những sự kiện mới mẻ, sôi động của hành tinh.

– Rô-da, em cứ yên tâm.

Người đàn ông ghé mắt vào cửa xe, an ủi người phụ nữ. Cạnh ông, chị nhỏ bé, non nớt như một cô em út. Họ mới lấy nhau. Và người đàn ông đã thuyết phục được vợ mới cưới thuận theo cái ý muốn phản ảnh cái máu mê nghề nghiệp của mình: hưởng tuần trăng mật trên con đường thiên lý của nghề nhà báo, ở một đất nước xa xôi, đầy bí hiểm: “Em có biết không? Bọn cai trị ở nước ấy bắt đàn ông, đàn bà phải sống cách biệt trong các trại tập trung. Chúng chỉ định người đàn bà này lấy người đàn ông kia. Chúng cũng tổ chức cưới cho họ. Cưới hàng chục cặp ghép đôi như ghép gà, ghép lợn rồi ai lại về trại nấy. Không ai được phép có một c�! �i gương. Ai soi mặt dưới bóng nước, bắt gặp chúng đập chết liền”. Nghe người chồng nói vậy, người vợ rùng mình. Thật kinh khủng và quái gở. Làm sao có thể tin được? Tính tò mò được khơi dậy, chị bằng lòng. Và họ bay đến Việt Nam rồi bây giờ quá cảnh ở đây, vùng đất nước vừa mới thoát khỏi cái tai ương khủng khiếp vô nhân đạo nhất kia, mới có ít ngày.

Được sự an ủi của chồng, người phụ nữ yên dạ. Chị gật đầu hơi nũng nịu. Và người đàn ông hôn vợ rồi đi lên phía đầu xe lúc này nắp ca-bô đã mở, hất lên; ở đó, lúi húi bóng người lái xe bé nhỏ.

– Xe làm sao thế, anh người Việt? Người đàn ông hỏi, giọng cố tỏ ra không sốt ruột.

– Thủng két nước, ông ạ. Người lái xe đáp khẽ, nhưng lại chợt giật mình chồm lên, gào vào trong xe lúc đó ánh đèn vừa lóe dậy vàng đục; Tắt đèn! Tắt đèn đi, chị ơi!

Người đàn ông quay đầu lại. ánh đèn trong xe vừa bật – chắc là người phụ nữ định tìm cái gì đó – đã tắt ngấm. Người phụ nữ kêu len the thé chừng như bực bội.

Người đàn ông bước lại xe nhún vai. Trong xe, im thin thít. Cả hai đều tự hiểu một cách thật sâu xa rằng, ánh sáng lúc này là mục tiêu của bao điều hung hiểm. Tốt nhất là im lặng trong đêm và chờ đợi. Nhưng mà chờ đợi bao lâu nữa? Thủng két nước giữa chốn này!

Người đàn ông đứng tựa lưng vào cửa xe như chở che cho vợ, nhìn anh lái lúi húi ở đầu xe, chốc chốc lại thở dài vô vọng.

Nhưng bỗng, thình! Nắp ca-bô xe đập xuống. Người đàn ông bước nhanh lên đầu xe. Người lái xe đang lau tay.

Lát sau, ông quay lại, mở cửa xe, gieo mình xuống cạnh vợ, thở phào sung sướng:

– Thủng két nước! Nhưng, thật là kỳ diệu! Thật là kỳ diệu!

– Chữa được rồi. Bốp? Người phụ ! nữ níu vai chồng riu ríu: Chữa xong thật rồi à! May quá!

– Anh ta đã chữa. Bằng gì em có biết không? ở Cu-ba năm sáu mươi, anh cũng gặp một ca như vậy. ở Ăng-gô-la vừa rồi chiếc xe chở anh cũng rơi vào tình cảnh tương tự, người lái xe bít lỗ thủng bằng xà phòng. Còn ở đây, bây giờ, anh lái xe người Việt này chít các lỗ thủng bằng cứt trâu! Thật là kỳ lạ!

Thật là kỳ lạ! Lúc chiều tối, họ đã gặp những chiếc xe từ chiến trường về, đi ngược chiều với họ. Nhiều chiếc không kính. Có chiếc dùng đèn pin thay đèn pha và cả hai vợ chồng đều cười như nắc nẻ khi thấy một chiếc xe trên nóc buồng lái đặt một phuy xăng hỏng. Xăng đã theo vòi cao su rỏ thẳng xuống đầu máy, chắc là bơm xăng hỏng. Họ đã băn khoăn tự hỏi: những người chiến sĩ kia, vì lẽ gì mà vất vả thế? Họ đem thân họ đến đây nào có phải giải phóng cho đồng bào họ? Ai cũng biết người Việt đã trải qua hơn ba chục năm chiến tranh trên đất nước của chính mình rồi. Người phóng viên đã hỏi câu đó với một vị chỉ huy ở biên giới. Người chỉ huy nguyên là một thầy giáo dạy tiếng Pháp. Ông không trả lời thẳng vào câu phỏng vấn của nhà báo: “Theo chỗ tôi biết, trong ngôn ngữ tất cả các nước châu Âu, đều có chữ tình. Tình yêu, tình bạn, tình gia đình, tình thầy trò – Ông nói điềm đạm – Nhưng trong tiếng Việt chúng tôi, cạnh chữ tình còn có chữ nghĩa: nghĩa, về phương diện nào đó, là kết tinh của chữ tình, nghĩa vợ chồng, nghĩa bạn bè, nghĩa xóm giềng lân bang…”. Đó là một điều mới lạ nữa đối với người phóng viên.

Và bây giờ thì xe đã chữa xong, tiếp tục lăn bánh, người phóng viên lại có cảm giác ngỡ ngàng, mỗi bánh xe lăn là một bước đi vào những điều chưa biết, từ cảnh quan tới không khí, cảnh trời.

“Mùa khô kéo dài sáu tháng. Người đàn ông nhớ tới một trang sách trong cuốn sách khảo cứu về đất nước này mà ông đã được đọc rất kỹ trước khi qua đây. Bạn c! ó thể nhìn thấy cây thốt nốt xa tít ở chân trời chỉ còn nhỏ bé, đơn côi như ngọn cỏ, đứng chơ vơ như chứng nhân từ tiền sử. Đất phù sa cổ khô, chờ mưa xuống sẽ xuê ra, tơi tả. Lúc ấy người Khơ-me sẽ sạ lúa, cứ mỗi mẫu là 60 cân hạt. Cây lúa cao lên, họ sẽ bừa ào đi. Cây yểu tự chết. Cây nào sống sót thì sống mạnh mẽ, mãnh liệt, y hệt con người ở xứ sở này. Đất nước sống bằng gạo và khô cá này ngờ đâu đã có lịch sử từ 2500 năm trước Công nguyên, đã trải qua các vương quốc, vương triều…”.

Bánh xe chạm đánh kịch vào gờ một chiếc cầu, cắt đứt dòng suy tưởng của người đàn ông. Cả hai vợ chồng cùng hơi bị xô về phía trước. Và họ cũng nhìn thấy lố nhố trong bóng đêm ba bốn cái mũ sắt cùng mấy ngọn súng tiểu liên. Người lái xe ngoảnh ra cửa, đưa tay lên chào những người gác cầu, nói cái gì đó và chiếc xe lại lăn đi ngay.

Sự gặp gỡ thỉnh thoảng một chiếc cầu và các trạm gác vừa làm cho vợ chồng người phóng viên yên lòng, lại vừa gây cho họ cảm giác phấp phỏng.

Xe cách cầu được một quãng, người lái xe trẻ tuổi quay lại, vẻ như bâng quơ:

– Không có bộ đội thì trong vòng một ngày, chiếc cầu sẽ bị bọn phỉ phá sập ngay.

Người phụ nữ co người lại sau câu nói đó. Nhất là lúc này đêm bỗng trở nên nhờ nhờ sáng, người đàn ông háo hức vì nghề nghiệp, đã chuyển lên ngồi ở ghế trước và không khí trở nên hắt hiu khác thường. Đêm mờ càng hiện ra sự vắng vẻ, cái vắng vẻ chứa chấp những bất trắc khôn lường.

– Một đất nước huyền thoại và trữ tình, R�! �-da ạ.! Người chồng quay lại, đắm chìm trong suy tưởng, thoát khỏi cái hiện thực lạnh lẽo ngoài kia. Người vợ đã bíu lấy cổ chồng, giọng lạnh run:

– Bốp. Lạy chúa! Sao chúng ta không đợi sáng mai hãy đi.

– ờ, nghề nghiệp của anh, Rô-da à, trong tĩnh lặng buổi đêm ta nhìn được chiều sâu của các sự kiện.

– Lạy Chúa! Em vừa đọc xong “Chùm nho uất hận” của Stenbéc. Sao em có cảm giác chúng ta đang ngồi trong chiếc xe Hudson của gia đình Tôm đi về miền Ca-li-phoóc-nia xa xôi, vô định quá.

– Đừng nghĩ u ám thế, Rô-da.

– Lạy Chúa, trong cuộc di cư tuyệt vọng ấy, thoạt đầu là ông nội Tôm chết, kế đó bà nội Tôm…

Người đàn ông lắc đầu, im lặng. Cái rùng mình từ người phụ nữ lan sang ông, lướt qua ông, để lại trong ông một cảm giác lửng lơ. Và khi thấy xe chạy gần một tiếng đồng hồ nữa mà không gặp lại một chiếc cầu nào thì ông thấy nỗi lo sợ của người vợ là hợp lý. Ông cũng thấy mình như đang chờ đón một cái gì đó như là sự may mắn, điều rủi ro, và các chức phận cảm giác của ông căng dần lên, làm ông khó chịu.

Thấm nhiễm khắp không gian là cơn tê giá của những hãi hùng tưởng tượng mà hết sức đáng sợ. Trời đất trống tuếch, nhưng dường như ở bất cứ nơi nào đó cũng có thể nẩy ra một cái gì đó rất bất ngờ, ở ngoài sự phỏng đoán của con người.

Sự tương phản tình cảm ở trong xe, đối cực với trạng thái tâm lý của người phụ nữ và phần nào của người đàn ông, là trạng thái tinh thần của anh lái xe. Anh còn rất trẻ trong bộ quần áo lính, những bộ quần áo lính không bao giờ mới, nhưng bao giờ cũng làm cho người mặc trẻ ra. Chỉ độ hăm mốt, hăm hai, anh có một khuôn mặt không thật đặc sắc, nhưng dễ mến, nhìn bán diện, cái trán hơi dô, gò mũi cao và cái cằm thon lẹm, nhỏ, hệt cằm con gái. Song đáng chú ý nhất là con mắt. Xe chạy không đèn. Nhưng mắt anh là ngọn đèn. Hình như nó phát ra hai luồng sáng. Và con người trẻ tuổi ấy lại diễn tả sự bình tĩnh đến mức người đ�! �ng tuổi vốn có ưu thế này, phải ghen tị. Sự bình tĩnh thuần thục và tự nhiên làm sao. Đó không phải là sự lên gân cố tình, hay thái độ vô tư lự, không hiểu biết. Cũng chẳng phải là sự phớt lờ, khinh bạc. Sự bình tĩnh vì từng trải, vì làm chủ được sự vật, hòa hợp một cách thật nhuần nhuyễn với cái gì đó như là một bản lĩnh chiến sĩ, có thể hiện lên thành hình hài cho một kiệt tác điêu khắc.

Người phóng viên phương Tây cảm nhận điều đó không thật rõ ràng, nhưng ông muốn ghi lại hình ảnh này trong ký ức và ông đang tìm từ ngữ, phong điệu để định hình sự diễn đạt. Nhưng, ông bị đột ngột.

– Ông nên ngồi ra ghế sau đi.

Người lái xe bỗng ngoảnh sang người phóng viên, nói khe khẽ, nét mặt không hề thay đổi, nhưng đó là một nét mặt khó miêu tả nhất vì đằng sau cái thần thái tự nhiên ấy là cái mênh mang, sâu thẳm của tinh thần. Người phóng viên dò doán, cố nắm bắt cái tinh thần ấy thì người lái xe đã thêm:

– Ngồi trên ghế trên này nguy hiểm đấy, ông ạ.

Lần này giọng nói của người lái xe có vẻ nghiêm trang. Lập tức, người phóng viên cảm thấy bị xúc phạm.

– Tôi đã từng ở mặt trận Pa-lét-xtin. Tôi đã ở bãi biển Hi-rôn Cu Ba khi bọn Mỹ bị đánh trả tơi bời. Tôi vừa ở Ap-ga-ni-xtăng về…

Người lái xe quay lại, hai con mắt thông minh chớp chớp. Anh hiểu ông nhà báo, nhưng hơi mỉm cười:

– Ở đây, bọn tàn quân Pôn Pốt nó ranh ma lắm, ông ạ. Phát súng đầu tiên nó dành cho người lái. Phát sau là một quả B41. Tháng trước có một ông bị vạ lây với tôi vì thế, may ch! ỉ bị ! thương. Vả lại đừng nên để bà ấy ngồi một mình.

Cơn tự ái của người phóng viên tan ngay sau câu nói ấy. Ông hiểu rồi: không phải người lái xe coi thường ông. Nhân cách này cao cả và lạ lùng: anh ta chỉ muốn một mình mình hứng chịu nỗi hiểm nguy.

Xe dừng lại một phút để người đàn ông chuyển về hàng ghế sau. Và khi xe tiếp tục chuyển bánh ông lại rơi vào một trạng thái tâm lý dở dang, lừng chừng rất quen thuộc. Y như cái cảnh tranh tối tranh sáng nhuốm một vẻ bâng khuâng ở ngoài xe: đồng hoang trải rộng chập chờn những đám sương trắng mỏng mảnh như khói, ẩn giấu đâu đó nỗi kinh dị về những huyền tượng yêu ma, quái đản.

Xe đã gặp lại một chiếc cầu. Trên dặm đường thăm thẳm đó là nỗi an ủi duy nhất của nó. Lần này trời sáng hơn. Và vì người lái dừng xe xin thuốc lá người gác nên người phóng viên nhìn rõ gương mặt, những anh bộ đội Việt Nam: những người lính rất trẻ, tỉnh táo và mắt lấp lánh nhiệt tình khi nhận ra trong xe có hai người phương Tây, nhất là lại có một phụ nữ.

Nhưng, cuộc gặp gỡ như định kỳ ấy lại khiến người phụ nữ thấp thỏm. Về tâm linh, chị tinh tế hơn chồng. Sau phút yên lòng, chiếc xe đi vào nỗi bơ vơ, đơn chiếc. ở mỗi đoạn đường, hai cây cầu là hai điểm nương tựa, an toàn và chỉ có vậy thôi, còn khúc giữa dằng dặc là dặm đường đầy những bất hạnh khôn lường.

Người phụ nữ níu tay chồng dồn dập hơi thở:

– Bốp! Thật là kinh khủng! Chỉ với cái không khí này em cũng đã hiểu bọn người xưa kia thống trị xứ sở này tàn ác như thế nào. Nhưng, sao ta lại dấn thân vào đất này? Thật là mạo hiểm! Mà em cũng chẳng hiểu: Tại sao người Việt lại dính vào công việc ở đây. Họ rỗi việc quá hay sao, nên thấy đám cãi nhau liền xô lại can.

– Không phải! Bọn Pôn Pốt đánh họ đấy chứ! Người đàn ông cải chính.

Người phụ nữ lắc đầu:

– Em không thích, Bốp ạ. Chúng ta sống yên ổn, thái bình và buôn bán với ai thỏa thuận với ta. Sao họ không như ta?

Lần này người đàn ông không giải thích cho vợ nữa! Chị là một phụ nữ xinh đẹp, đảm, yếu đuối và ngây thơ. Vậy thôi. Nhưng người lái xe sau khi nghe người đàn ông dịch lại câu nói của người phụ nữ, gần như nhoai nửa người qua lưng ghế, anh chỉ lái có một tay.

– Chị chưa hiểu dân tộc tôi. – Anh nói – Chị tôi, năm trước xung phong đi xây dựng kinh tế ở Tây Nguyên. Hăm hở lắm. Nhưng vừa rồi tôi v�! �� phép thì gặp bà ấy bồng bế tất cả con cái về làng. Không phải là bà ấy không chịu được khổ. Trên ấy sung túc là khác. Nhưng bà ấy về vì… nhớ quê. Cái làng quê Việt Nam giữ chặt chân người ta lắm. Người ta chẳng muốn rời khỏi làng mình, xã mình, huyện mình, tỉnh mình, chứ đừng nói đi tới nước khác. Người Tàu thì khác! Với ba củ lạc rang, họ đi khắp thế giới. Họ đến đất này thoạt tiên xin ngủ nhờ đầu hè nhà người Khơ-me. ít lâu sau, họ mở sòng bạc, cửa hàng tạp hóa. Rồi họ lấy vợ người địa phương. Rồi bắt đầu mua đất. Người Cam-pu-chia đánh bạc hết tiền, cầm đất. Hết đất, thế là vợ chồng con cái lên xe cho bò kéo đi. Thực dân một cách êm thấm là cái cách của người Tàu. Còn chúng tôi, tất nhiên không phải thế. Nhưng nói thế nào để chị hiểu nhỉ? ờ, vấn đề chính trị, ờ, đúng là Pôn Pốt đã gây sự với chúng tôi… nhưng không phải chỉ có thế…

Hình như lúng túng về cách diễn đạt, người lái xe trở lại tư thế bình thường, hai tay xoay nhè nhẹ vòng tay lái:

– Ông bà trông kìa, có giống cánh đồng ma không? Người Khơ-me có câu thành ngữ rất hay: “Người Tàu đuổi người Khơ-me, người Khơ-me đuổi ma”. Đó, cầm đất cho người Tàu xong, người Khơ-me lại lặn lội đến các cánh đồng hoang, bắt đầu khai phá.

“Anh ta hiểu biết vấn đề một cách sâu xa”. Người phóng viên nghĩ. Nhưng, câu chuyện về tội ác của bọn người cai trị đất nước này lẽ ra có thể kể lại rất nhiều nữa nhưng đã bị dừng lại. Dường như không muốn gây những ấn tượng nặng nề cho người phụ nữ, cảnh ở ngoài xe đã đủ lắm rồi, anh lái, sau một vòng cua hẹp, giọng bỗng trở nên nhẹ tênh:

– Đến Cam-pu-chia, ông nên đưa bà ấy đi xem Ăng-co.
– Anh đã đi chưa? Người phóng viên hỏi.

– Tôi đã đưa khách đến đó một vài lần. Chà! Thật là cả một kỳ quan. Mùa khô này, ông bà nếu xem ở phía đông nên xem từ quãng tám giờ đến mười giờ sáng. Lúc ấy mặt trời vàng như mật ong, tượng các vũ nữ rực rỡ, lộng lẫy nét hình, đẹp hơn tượng trong hoàng cung nhiều. ừ, đẹp nhất là tượng phụ nữ. Mà phụ nữ Cam-pu-chia đẹp thật. Bà chị tôi 38 tuổi đã xồ xề. Phụ nữ dân tộc này 40 vẫn thon gọn vóc dáng đầy sức sống nữ tính – Anh lái xe mỉm cười: Ông bà nên đến Ăng-co. Đến đó, ông thử nghĩ, giả dụ ông có một người xóm giềng tài năng như thế…

Người phụ nữ bị nỗi sợ hãi ám ảnh giày vò, không để ý tới ý tứ chứa đựng trong từng câu nói của anh lái xe, nghe chồng chị dịch lại chưa hết, đã lắc đầu quầy quậy:

– Không! Không! Tôi chẳng đi đâu cả! Lạy Chúa! Đến Phnôm-pênh tôi mua vé máy bay về ngay nước tôi thôi. Bốp! Thôi đừng kể những chuyện khủng khiếp nữa.

Những câu nói gay gắt của người phụ nữ làm không khí trong xe trở nên nặng nề. Không ai nói nữa. Và lúc này, xe đang đi vào vùng tối âm u. Bóng đen từ khu rừng cao su rậm tỏa ra, vệt đường trước kính xe chìm lẫn trong cõi mông lung.

Mắt căng, rọi cái nhìn tập trung về phía trước, anh lái xe cho xe chạy chậm chậm như vừa chạy vừa dò đường. Người phụ nữ nép vào bên chồng, run rẩy. Chị lẩm nhẩm như đọc kinh: “Bốp! Chắc chắn họ đã dò mìn cẩn thận rồi chứ”. “Bốp, sao mãi không đến một chiếc cầu nào?”, “Bốp, dừng lại ở trạm gác cầu sắp tới ! nhé. Em ! chịu không nổi nữa rồi!”.

Và nỗi sợ hãi của chị đã tới cực điểm, đã thành sự thật. Chị bỗng ôm chặt chồng, rú lên một tiếng khiếp đảm và tắt nghẽn.

Đoành! Đoành! Đoành! Đạn vừa nổ ba tiếng phá vỡ bóng đen. Đó là tiếng súng bắn chiếc xe của bọn tàn quân.

Người phóng viên chồm lên, thét một tiếng còn kinh hãi hơn tiếng rú của người phụ nữ, ông nhìn thấy người lái xe đập mặt xuống vành tay lái:

– Trời!

Ông run hết cả người, cảm thấy mất hết tự chủ. Cảnh tượng trước mắt ông là sự thật mà như ác mộng. Tên phỉ thiện xạ nào đó bắn thật chính xác, ba viên đạn xuyên qua ngực người lái xe, phá chếch ở phía lưng anh. Anh gục xuống, lưng hơi cồm dậy, ở đó máu đã ứa ra đen thẫm. Vậy là hết rồi! Hết rồi! “Phát đạn đầu chúng dành cho người lái xe. Phát thứ hai là một quả B41″. Bọn tàn quân vẫn giữ cái lối xử sự như thời chúng còn thống trị đất này: chúng không ưa bắt tù binh, không sử dụng trại giam. Chúng giết người ngay tại chỗ, gọn ghẽ và chóng vánh.

Người đàn ông lảo đảo đứng dậy, mất hết tri giác. Nhưng ông bỗng nắm lấy lưng ghế trước. Sao lạ thế này? Trong cái phút hoàn toàn tuyệt vọng này, khi người vợ yêu quý đã chết ngất bên mình, kỳ lạ quá, người đàn ông bỗng thấy trọng lượng thân thể mình sụt xuống, ông hẫng người, chông chênh trong một cảm giác mờ mờ ảo ảo: ngoài cửa xe, cảnh bỗng chuyển dịch như các khuôn hình của một cuốn phim.

“Xe vẫn chạy”. Người đàn ông bàng hoàng khi thấy phía sau xe vụt qua một luồng hơi nóng ngột và một tiếng nổ lớn. Ông ngồi xuống nghiến chặt răng.

Quả thật chiếc xe có khựng lại, nhưng chỉ một giây thôi. Và bọn tàn quân chưa kịp phóng quả lựu đạn hủy diệt vào nó, nó đã tiếp tục lăn bánh.

Chiếc xe không chết! Nó lao vùn vụt, tốc độ xem ra có phần còn nhanh hơn lúc nãy. Tựa như có một lực vô hình đẩy nó. Tựa như có một phép thần nào điều khiển nó. Tựa như trong nó vừa xuất hiện một bầu năng lượng mới chưa từng có. Bởi vì anh lái xe người Việt vẫn gục trên tay lái, máu càng lúc càng đẫm khoảng lưng áo. Bởi vì anh lái như đang ở trong giây phút hấp hối: thỉnh thoảng anh lại nghểnh lên giống như là quằn quại, nhìn về phía trước, rồi lại giụi mặt xuống tay lái, đau đớn hực hực thở hắt ra.

Mười phút sau, chiếc xe đỗ lại ở một cây cầu có những người lính gác. Anh lái xe đã bất tỉnh, nhưng chân vẫn còn đặt hờ trên chân ga, tay vẫn nắm chặt vành tay lái.

*
*   *

Câu chuyện về chiếc xe vượt qua cõi chết vô cùng khó hiểu đã trở thành một trong những chuyện kỳ lạ của chiến tranh. tính toán chi li thì với ba viên đạn xuyên qua phỏi, anh lái xe người Việt coi như đã gục ngay tại chỗ rồi. Cũng không phải chiếc xe đã chạy theo quán tính. Đường rừng ở đây ngoằn ngoèo, không theo một sơ đồ cố định nào. Vả lại, tính ra, nó đã chạy được tới gần mười cây số để tới sự sống an toàn.

Câu chuyện gây xôn xao cho các bác sĩ và các phóng viên.

Hai vợ chồng ngư�! �i phóng viên phương Tây đến bệnh viện. Anh lái xe người Việt chưa chết. Đến bên giường anh, người phụ nữ đặt bó hoa lên cái bàn nhỏ cạnh anh, nước mắt giàn giụa. Còn người đàn ông, thói quen nghề nghiệp lại hòa vào xúc động của ông.

Ông nắm tay người lái xe trẻ tuổi, rưng rưng:

– Thật là kỳ diệu! Vì sao lại có thể như thế được, anh người Việt ơi?

Mặt nhợt vì mất máu, anh lái xe mấp máy đôi môi nhỏ:

– Lúc ấy tôi như chết rồi. Nhưng ông bà là người tôi có trách nhiệm phải đảm bảo an toàn, ông bà như mọi người, cần phải sống. Ông bà lại mới lấy nhau. Tôi như chết rồi, nhưng chân ga chưa chết, mắt cũng như tay cố sống thêm, cố gắng để sống thêm.

Ngước lên nhìn người phụ nữ mi mắt đầy nước, anh lái xe nhoẻn cười, nụ cười in dấu cơn đau, méo xệch:

– Ông bà nên đi thăm Ăng-co đi. Đó mới là sự kỳ diệu…

Anh nói thế đã là quá sức rồi. Người phóng viên vội ghi lại ngay những lời của anh. Vì đó có thể là những lời cuối cùng của một người đã tự biểu hiện một cách hết sức tự nhiên và khiêm tốn nhân cách dân tộc mình: một dân tộc vị tha, sống, chết vì người khác, điều đó đã thành một đạo lý, một nguồn năng lượng vô tận của họ…

MẶT TRỜI BÉ CON CỦA TÔI

Tác giả : Thùy Linh


Tôi gặp cậu bé Nguyên lần đầu tiên ở nhà một người bạn. Tối hôm ấy đến chơi nhà Hà – đứa bạn thân nhất hồi tôi còn là sinh viên – thấy Hà đang ngồi chơi với một cậu thiếu niên mười bốn, mười lăm tuổi mặc bộ quần áo bộ đội rộng thùng thình. Chẳng hiểu sao tôi bị chú bé ấy thu hút suốt buổi nói chuyện. Có lẽ tại đôi mắt! Đôi mắt như mượn của người lớn lắp vào khuôn mặt còn đầy lông tơ, trông dè dặt và buồn mênh mang. Khi nó cười, thì khuôn mặt bị biến dạng đi, còn vẫn không xua được ánh buồn. Lúc nó về, tôi hỏi Hà được biết, năm Nguyên lên tám tuổi thì bố mẹ nó bỏ nhau. Thằng anh mười sáu tuổi ở với bố, Nguyên ở với mẹ. Được nửa tháng, thằng anh nhớ em quá nên đến xin bố cho hai anh em cùng về ở với mẹ. Vài tháng sau, mẹ đi lấy chồng. Theo yêu cầu của người chồng mới, người mẹ bỏ hai đứa con để theo ông ta. Không chịu theo mẹ về ở với bố dượng, hai anh em tự kiếm sống ở với nhau. Năm Nguyên mười ba tuổi, cậu anh bị bắt đi tù vì tham gia mấy vụ ăn cắp trong nhà máy. Từ đó Nguyên sống một mình.

Hà kể đến đây thì có khách. Khi về suốt dọc đường tôi cứ nghĩ về cậu bé đáng thương kia. Nhưng tình thương ấy cũng chỉ là cơn gió lạ tràn qua, khiến tôi có cảm giác se lạnh trong chốc lát nếu không có một buổi chiều…

Gần hết giờ làm, tôi xin phép trưởng phòng để đong gạo. Đầu tháng, lại sắp tết nên cửa hàng gạo khá đông. Trước tôi có khoảng bốn chục chỗ xếp lằng nhằng đủ thứ: bao tải, nón rách, gạch, làn… tôi ngao ngán xếp bao tải vào cuối hàng rồi lên trên đứ! ng. Trước ô cửa bán người ta đứng túm tụm chẳng ra hàng lối. Ai ghi sổ xong phải lách mãi mới ra được chỗ lấy gạo. Tiếng cô bán hàng đang nói với người mua.

– Đong hết nhé, một cân gạo nếp, bảy cân gạo, năm cân mỳ, năm đồng tám.

– Chị cho em đong một nửa thôi – người mua là một chú bé.

– Hôm nay không có bao lẻ – Cô ta gắt gỏng.

– Dạ… nhưng… em không đủ tiền.

Hai bên đôi co, những người đứng phía sau nhao nhao:

– Đi đong gạo không mang đủ tiền thì làm sao?

– Thôi tránh ra cho người khác lên mua. Mấy ông bà phía trên xích lên cho, đừng để ai chen vào.

Chú bé không mua được gạo lách đám đông chui ra. Hóa ra là Nguyên. Mặt nó đỏ bừng, tay cầm cái bao tải bị rách mấy chỗ được buộc túm lại, giận dữ nhìn những người đứng sau vừa phản đối, nó lẩm bẩm câu gì đó rồi bỏ đi. Sau giây phút ngỡ ngàng, tôi chạy theo gọi giật lại:

– Nguyên, quay lại chỉ bảo.

Nhận ra tôi, đôi mắt dịu đi nó khẽ cười:

– Chị cũng đi đong gạo ạ!

– Em không mang đủ tiền hả? Chị có đây này, quay lại đong đi.

Nguyên lắc đầu, tôi nắm cánh tay nó lắc nhẹ:

– Tết đến nơi rồi, em còn định để đến hôm nào nữa?

– Dạ… – Nó ngập ngừng – Em hết tiền rồi… Vay chị lấy đâu mà trả. Em chẳng đong nữa đâu – Nó hất nhẹ tay tôi như giạn dỗi, bỏ đi. Tôi đứng nhìn theo cái dáng lòng khòng trong bộ quần áo bộ đội rộng thùng thình ấy, cái đầu ngẩng cao vẻ bất cần, tôi chợt hiểu: Nguyên đã khước từ sự thương ! hại c�! �a tôi.

*
*   *



Với hoàn cảnh riêng của mình tôi không mặn mà lắm trong việc đón năm mới. Sáng ba mươi tôi dậy sớm đi chợ, nấu nướng. Cả mấy ngày tết, tôi chỉ làm cơm có ngày này, trước là để cúng tổ tiên, ông bà, bố mẹ, sau là để ăn lai rai cả tuần lễ, khỏi phải lịch kịch.

Làm xong, ngồi ăn một mình thấy chán ngắt. Mời mấy đứa bạn nhưng chúng đều từ chối. Cũng phải, tết nhất nhà nào chẳng muốn sum họp đầy đủ, người nào không được may mắn ấy phải chịu. Ăn xong, tôi lấy đĩa thịt gà, đĩa xôi, một khoanh giò, hai cái bánh chưng, gói riêng từng thứ vào tờ báo để đem xuống nhà Nguyên. Sau buổi gặp nó ở cửa hàng đong gạo, tôi nảy ra ý định sẽ tìm đến nhà nó. Mục đích để làm gì tôi không nghĩ đến, chỉ biết Nguyên là đứa trẻ rất đáng thương. Thêm người bạn nhỏ tuổi ấy cũng tốt chứ sao!

Qua ngã tư Cửa Nam, tôi mua một bó hoa hồng trắng. Nhà Nguyên ở gần nhà Hà, nhưng tôi không qua rủ Hà vì sợ mối quan hệ láng giềng sẽ làm Nguyên ngại ngùng. Phòng bốn mươi nhăm, bốn mươi sáu, bốn mươi bảy – đây rồi! Tôi ngập ngừng gõ cửa. Liệu có bị chú bé đuổi ra với túi đồ này không nhỉ? Thái độ của nó hôm đong gạo làm tôi chờn chờn.

– Chị! Sao chị biết nhà em? – Nguyên mở cửa, cười rất tươi chào tôi. Chiếc áo bộ đội mặc vội vẫn chưa cài hết cúc.

Tôi bước vào giữa phòng và chưa biết phải làm gì. Căn phòng ngoài rộng chừng mười hai mét vuông, giữa nhà sát tường kê chiếc bàn nhỏ và bốn chiếc ghế. Trong góc nhà có một cái tủ con, cánh đã bị mọt thủng lỗ chỗ. Có thể đó là gia sản duy nhất của bố mẹ nó để lại. Nguyên vào buồng trong, lúc sau đi ra, thấy tôi vẫn đứng như trời trồng giữa nhà, nó kêu lên:

– Chết, chị ngồi xuống ghế đi. Đun bằng "tầu ngầm" đấy chị ạ, nhanh không? – Nó giơ ấm tích nước còn nghi ngút khói lên, rót ra hai chiếc chén để chỏng chơ trên bàn – Em chẳng có chè đâu, chị uống tạm nước trắng nhé!

– Chị đến chơi, mặc dù chưa được chủ nhân đồng ý. Đứng ngoài cửa lo bị lót lá dắt tay ra ngoài đường, ai dè được chiêu đãi món thanh thủy.

Nghe tôi nói nó cười, nhưng nụ cười ấy nhanh chóng biến mất. Tôi trách mình đã đùa quá sớm. Nguyên ngồi xuống ghế ỉu xìu:

– Cái hôm đi đong gạo em dở hơi quá phải không chị?

– Chuyện vặt ấy mà – Tôi gạt đi – Thế đã đong gạo được chưa?

– Hôm trước nhờ các cô ! bác xung quanh góp cho em hơn trăm bạc ăn tết. Em đã đong và vẫn còn nguyên đây – Nó móc túi lôi ra hai tờ năm mươi đồng, một tờ hai mươi đồng và mấy đồng bạc lẻ.

– Chiều nay chị làm cơm cúng ngồi ăn một mình buồn quá, định gọi em xuống nhà chơi luôn, nhưng ngại em… – Tôi hất hàm cười với nó.

– Chị ở một mình thôi à?

– Ừ – Tôi kể cho Nguyên nghe qua hoàn cảnh của tôi. Từ lúc đó câu chuyện giữa chúng tôi trở nên thoải mái hơn. Tôi bỗng thấy một chú bé Nguyên khác hẳn, hoạt bát, vui vẻ. Cũng phải thôi, cuộc sống có những nét giống nhau thì dễ đồng cảm và hòa hợp với nhau. Tôi thiếu thốn tình cảm của người mẹ từ bé nên rất hiểu sự mất mát ấy trong Nguyên. Nhưng Nguyên khổ hơn tôi gấp vạn lần vì có mẹ mà như không.

Tôi lấy các thứ mang theo từ nhà để lên bàn. Nguyên hấp tấp chạy vào buồng lôi ra hai chiếc bát con, một chiếc đĩa và một cái bát ô tô. Nó phân bua:

– Rổ bát nhà em chỉ vậy thôi!

Hà kể cho tôi nghe: một lần bà hàng xóm cho nó mấy miếng thịt kho nó bầy lên mâm nhưng để đấy và chỉ ăn muối ớt, ngày hôm sau cũng thế, đến ngày thứ ba mới ăn. Thấy tôi trầm ngâm nó hỏi:

– Chị làm sao thế?

– À… không!

– Chị xem, em ăn tết cũng đầy đủ các thứ đây này – Nó đứng dạy đi về phía buồng, vén tấm ni lông, bên trong là chiếc bảng hình chữ nhật. Nguyên kéo chiếc bảng ra giữa nhà, lấy cái ghế chặn phía sau. Trên bảng vẽ lọ hoa đào, mứt tết, bánh chưng, con gà ngậm bông hồng đỏ nằm trên đĩa… Toàn hương vị ngày tết, Nguyên cười:
&! #8211; Em vẽ đấy, đẹp chứ chị? Giao thừa xong em sẽ kê ở chỗ kia, ai vào cũng thấy ngay.

Tôi không cười được. Sống mũi tôi cay xè như hít phải ớt bột. Tôi sức nhớ bó hoa mua từ lúc nãy vẫn còn để trong túi. Thấy hoa Nguyên chạy lại mừng rỡ:

– Loại hoa này em thích đấy. Để em kiếm cái cắm. Chà, tết năm nay em xôm thật!

Nguyên chạy ra ngoài sân, lúc quay vào mang theo ống bơ sữa bò đã gỉ. Nó đổ nước vào đấy rồi đưa cho tôi. Tôi giơ chiếc ống bơ lên ngắm nghía, còn đang ngần ngại thì Nguyên giục:

– Chị sợ nó xấu chứ gì? Không lo em đã có cách, chị cứ cắm vào.

Nguyên lấy hai tờ giấy xanh màu cẩm thạch dán liền lại. Loáng một cái nó đã gấp xong hình chiếc lọ, chụp ra bên ngoài ống bơ. Tôi và nó cùng lùi ra xa ngắm nghía. Tôi trầm trồ:

– Đẹp thật! Hoa trắng nền xanh trông rất nổi lại nhã.

Được khen, Nguyên cười gật gù có vẻ khoái chí. Nó kể cho tôi nghe chuyện lớp học, bạn bè như chưa bao giờ có người để nói chuyện. Tôi sống lại thời học sinh với đủ trò nghịch ngợm, khiến nhiều khi bố mẹ, thấy cô phải bực mình. Nỗi buồn man mác ám ảnh tôi suốt cả ngày hôm qua biến đâu mất. Đang kể, chợt nhớ ra điều gì, Nguyên chạy vào buồng, chui tuột xuống gầm giường lôi ra một khúc gỗ dài, một đầu gắn chiếc ống bơ sữa bò trắng tinh, phía trên có thanh sắt dài cong cong. Nguyên lấy tay phủi bụi trên đó như sợ bị đau. Nó khoe:

– Em có cái này nữa cơ. Đàn bầu em tự làm lấy đấy.

Tôi tưởng mình mang đến niềm vui cho Nguyên, không ngờ bị cuốn hút vào thế giới riêng của nó. Hết cái lạ này đến cái lạ khác, vui có, cười ra nước mắt có.

– Bây giờ em đàn cho chị nghe nhé. – Nó nghếch một đầu chiếc đàn lên bàn, còn đầu kia để xuống đùi, tay mân mê cái cần cong cong nhìn tôi lưỡng lự – chơi bài gì bây giờ… À, phải rồi!

Tiếng đàn rè đục. Tôi chẳng hiểu Nguyên đang chơi bài gì nữa. Một mớ âm thanh lùng bùng bên tai. Một hồi Nguyên ngẩng lên nhìn tôi:

– Chị có biết bài gì không?

– Chịu, em đánh đàn mà cứ như đánh đố ấy.

Nó nhe răng cười đổ lỗi tại cái đàn tự tạo để lâu ngày không đánh nên dây bị gỉ.

– Bài hát này em thích lắm mà không biết đầu đề. Như thế này… – Nó e hèm một cái rồi cất tiếng hát bằng cái giọng đang vỡ – Cầm lá thiếp này lòng hướng vô Nam. Dù xa muôn trùng nhưng tình em vẫn ngàn năm không mờ… Thôi em chẳng hát nữa kẻo chị lại cười. Chị nge đoạn này nhé, nghe này… Tình tình tình gió bay. Nghe ra chưa?

Tôi rũ ra cười vì kiểu đánh đàn của nó. Mặc tôi cười, Nguyên vừa đánh vừa minh họa bằng lời hát. Hết bài nó hất hàm nhìn tôi:

– Nghe êm chứ chị?

Tôi cũng bắt chước điệu bộ của nó hai tay xoa xoa vào nhau, gật gật đầu ra chiều tán thưởng, nhưng rồi không nín được, tôi cười phá lên. Nguyên ngất ngư cười theo.

Đang vui, Nguyên chậm chạp đứng dậy, dựng đàn vào góc nhà. Nhìn dáng điệu thẫn thờ, buồn bã của nó, tôi hỏi khẽ:

– Em làm sao thế?

– Chị có phải về trước giao thừa không? – Nguyên vẫn đứng góc nhà hỏi chẳng buồn quay mặt ra.

– Không, chị ở lại đón giao thừa với em. Chị mang theo cả bánh pháo đây này.

– Thật không? Chị ở lại nhá? – Nó quay ngoắt lại, mắt sáng bừng, khiến tôi không dám nhìn thẳng vào đấy – Thế mà em cứ tưởng…

Hóa ra nó buồn vì tưởng tôi phải về. Nếu Nguyên bé lại một chút hoặc tôi già thêm chục tuổi thì tôi sẽ ôm riết lấy nó vào lòng. Nguyên mấp máy môi định nói câu gì nhưng lại thôi, rồi bước nhanh đến bên tôi cuống quýt:

– Chị em mình phải dọn dẹp qua nhà cửa để tí nữa còn đón giao thừa chứ. Chị quét nhà và bày biện lại cho em, em ra đây một tí.

Không đợi tôi trả lời Nguyên chạy vù ra cửa. Lúc quay về cầm theo túi kẹo. Nguyên lấy tờ giấy trắng cắt thành hình hoa và để túi kẹo lên đó.

– Hôm n! ay được phép chi vào "ngân quỹ". Phải có gì khao chị chứ! Giao thừa xong chị em mình sẽ phá cỗ.

Cỗ của Nguyên là mấy thứ tôi mang đến, thêm túi kẹo nó vừa mua. Tôi bày tất cả lên bàn, cạnh lọ hoa hồng.

Chỉ còn nửa tiếng nữa là giao thừa. Nguyên tìm chiếc que để treo bánh pháo khi đốt. Nó làm rất cẩn thận như chuẩn bị cho một việc trọng đại sắp sửa diễn ra tại đây. Vừa làm, nó vừa nói chuyện với tôi:

– Có mấy thằng bạn rủ em đến nhà tụi nó đón giao thừa.Em chả thích thế, dù sao mình cũng là người lạ.

"Thằng bé nghĩ gớm thật!" – Tôi thầm nghĩ – những đứa trẻ như nó thường khôn hơn lũ trẻ cùng tuổi, bởi sớm phải tự quyết định mọi việc của bản thân. Tôi dù sao vẫn còn sự chăm sóc của người cha. Tôi không biết mình sẽ ra sao nếu ba tôi mất sớm hơn?

Lúc này tôi mới có dịp nhìn kỹ khuôn mặt Nguyên. Phải nói là Nguyên đẹp trai, khuôn mặt thon thả đôi mắt đen mở to được che bởi hàng mi dài cong vút – một đôi mắt đặc con gái. Nhìn hàng ria mờ đen phía trên môi cu cậu tôi bật cười. Nguyên nhìn tôi ngạc nhiên:

– Chị cười gì thế?

– À… Em làm khéo tay như con gái ấy – Tôi nói lảng.

– Phải làm cho nó quen tay chứ. Em còn biết khâu nữa cơ. Chị xem này – Nó giơ lưng về phía tôi. Miếng vá bằng bàn tay ở giữa lưng lộ rõ cả đường chỉ.

Tiếng chuông đồng hồ từ vô tuyến ở các nhà xung quanh thong thả gõ từng tiếng. Đó đây đã râm ran tiếng hơi pháo. Nguyên nhìn tôi, hiểu ý, tôi gật đầu.

– Em tắt đèn chị nhé. Để xem ánh lửa từ những quả nổ! trông �! �ẹp hơn.

Nguyên xòe diêm châm lửa đốt. Quả pháo cối đầu tiên nổ rất giòn. Mặc dù đã chuẩn bị trước, tôi vẫn hơi bị giật mình theo phản xạ tự nhiên. Đợi quả pháo cuối cùng nổ xong, tôi bảo Nguyên:

– Năm nay chị em mình sẽ gặp nhiều cái may, vì pháo nổ rất tốt.

Không thấy Nguyên trả lời, tôi nhìn sang. Hai tay vịn vào song cửa sổ, mắt nhìn xa vời vợi. Qua ánh đèn từ ngoài đường hắt vào tôi thấy ở khóe mắt nó hai giọt lệ lớn sắp sửa lăn xuống má. Tự nhiên nước mắt tôi trào ra. Cũng giờ này năm ngoái tôi còn đón giao thừa với ba ở bệnh viện. Năm nay ba bỏ con một mình. Ba ơi…

– Chị! Nguyên quay sang tôi giọng nghẹn ngào: – Chị… Chị là chị gái của em nhé!

Tôi nhìn nó cười trong khi hai hàng nước mắt kéo vệt trên hai má.

– Nguyên! Chị sẽ là chị của em mãi mãi. Nếu ba còn sống chắc ba sẽ rất thích vì có thêm một cậu con trai đấy!

Nguyên cười rồi đưa tay lên quệt má. Tôi chẳng buồn lau mặt nữa. Chúng tôi đứng như vậy nhìn ra phía xa rực ánh đèn các mầu. Xung quanh là tiếng pháo nổ khi xa khi gần, liên tục. Một năm mới bắt đầu…

*
*   *



Mẹ tôi mất năm tôi lên tám tuổi – cái tuổi bắt đầu cảm nhận được tình yêu của người mẹ đối với mình một cách có suy nghĩ. Tôi vẫn còn nhớ mấy hôm sau khi mẹ mất, ba không khóc nhưng thường nhìn tôi thở dài. Lúc ấy trong ba có vẻ suy nghĩ ghê lắm. Một lần đi học về tôi khoe với ba là cái Thụy được mẹ nó may cho một cái váy rất đẹp. Mấy hôm sau, thấy ba sưu tầm ở đâu rất nhiều tranh ảnh những đứa bé mặc váy hỏi tôi thích kiểu nào, rồi ba mang vải đến nhà người quen nhờ họ hướng dẫn cắt và tự tay ba khâu cho tôi. Từ đó đến khi tôi học hết cấp ba, quần áo của tôi đều do ba may cho. Tốt nghiệp Đại học, ba giục tôi lấy chồng, nhưng tôi bảo chưa tìm được người tâm đầu ý hợp, ba đùa yêu: thế tâm với ý của con thế nào để ba chọn giùm. Thực ra trong thâm tâm, tôi rất sợ lấy chồng mà phải về nhà chồng, để ba không ai chăm sóc. Hơn nữa chẳng may phải người không tốt, họ đối xử tệ bạc với ba thì tôi sẽ ân hận suốt đời. Năm ngoái ba mất vì bệnh ung thư phổi, tôi đã phải trải qua giờ phút kinh hoàng khi nghĩ rằng chỉ có một mình ở trên đời.

Trước đây và bây giờ tôi rất nhiều bạn bè, chúng thường xuyên đến chơi với tôi, an ủi tôi làm tôi đỡ đi phần nào cảnh cô đơn. Bọn tôi thường tổ chức các buổi nói chuyện, vui chơi, ăn uống ngay tại nhà tôi. Lúc ấy, tôi thấy rất vui vẻ. Khi mọi người ra về, mình tôi đối diện với bốn bức tường của căn phòng thì sự trống trải lại xâm chiếm tôi.

Cuộc sống của tôi từ ngày có Nguyên khác hẳn. Chúng tôi đến với nhau tự nhiên như sinh ! ra trên đời này là để có nhau. Tôi cảm thấy thời gian nhàn rỗi của mình có ích hơn khi phải bận rộn, lo toan cho cả người khác. Mặc dù tôi nói bã bọt mép, Nguyên vẫn không chịu rời bỏ nếp sống cũ: sáng đi học, chiều đi học, tối gánh nước thuê cho mấy hàng phở ở đầu phố để kiếm sống. Quen Nguyên một thời gian tôi mới biết, hơn hai năm nay nó không hề nhận một đồng nào của bố mẹ nó gửi về cho. Nếu họ đến thăm thì nó tìm cách lẩn trốn. Hàng xóm láng giềng khuyên nó không nên như thế. Nguyên chẳng nói gì nhưng lần sau vẫn lặp lại như cũ. Người ta đã bắt gặp có lần Nguyên đứng ở cửa sổ nhìn theo bóng mẹ nó đi chiếc Diaman cho đến khi khuất hẳn. Đôi mắt vốn đã buồn lại buồn hơn. Tiếp xúc với Nguyên tôi thấy rằng thằng bé có một nghị lực ghê gớm mà tôi không có được. Sống trong môi trường như vậy mà Nguyên vẫn giữ được mình thật là hiếm!

Học hết lớp chín, Nguyên nói với tôi là xin đi làm. Tôi khuyên thế nào nó vẫn một mực: em không thể sống dựa vào lòng tốt của người khác mãi được. Có điều kiện em sẽ học sau, em hứa với chị như vậy!

Sau khi cân nhắc khá lâu, tôi đã kiếm được việc làm cho Nguyên theo nguyện vọng của nó. Công việc chủ yếu là phụ việc cho các họa sĩ trong một xưởng họa. Chỗ đó tuy lương ít hơn mấy nơi khác mà tôi đã hỏi, nhưng yên tâm hơn vì Nguyên học hỏi được nhiều điều ở bậc đàn anh cho cái nghề nghiệp mà nó mơ ước đã chớm bước vào. Hôm lĩnh tháng lương đầu tiên, Nguyên phóng xe thẳng một mạch về nhà tôi, mồ hôi nhễ nhại, một tay thu ra phía sau, khuôn mặt sáng bừng. Chưa khi nào t! ôi thấ! y nó tươi tỉnh như thế:

– Hôm nay em được lĩnh lương. Thế là em đã làm ra tiền rồi nhé. Em mua cho chị cái này, đoán xem, cái mà chị vẫn thích ấỵ

Thấy tôi đoán sai, nó sốt ruột giơ bắp ngô nướng ra, dứ dứ rồi rụt nhanh về.

– Có thế mà không đoán ra.

– Ôi! Đưa cho chị đi Nguyên, chị thèm chảy nước miếng ra đây này – Tôi kêu toáng lên.

Nguyên rối rít kể chuyện các anh chị ở cơ quan đã chúc mừng nó ra sao, có anh còn tặng nó một chiếc túi để đựng đồ đi làm. Với nó, đó là một sự kiện trọng đại trong đời.

- Em mới đi làm một tháng mà thấy khỏe hẳn ra. Chị xem này – Nó đứng dậy vươn vai, hít căng lồng ngực hãy còn phẳng lỳ của đứa trẻ đang lớn. Trong thâm tâm, tôi luôn mơ ước Nguyên sẽ trở thành một họa sĩ nổi tiếng. Sự mong mỏi ấy nhiều khi trở thành niềm tin chắc chắn trong tôi, bởi Nguyên rất có năng khiếu hội họa và giàu nghị lực.

Chị em quý nhau như vậy nhưng bất cứ sự giúp đỡ nào của tôi hơi thiếu tế nhị một chút thì Nguyên khéo léo từ chối ngay. Tôi gọi đùa nó là "mẹ chồng" bởi cái tính khe khắt ấy. Nó cười rồi nói với giọng buồn buồn: "Ở hoàn cảnh em dễ bị người ta nghĩ xấu. Anh em đã vậy, có người tưởng em rồi cũng thế". Cho đến bây giờ tôi vẫn chưa hiểu hết lòng tự trọng của những đứa trẻ như Nguyên lớn đến mức nào?

Một lần, tôi và Nguyên đi chợ, nó xách làn lẽo đẽo đi sau. Gặp một thanh niên mù ăn xin, tôi để vào mê nón của anh ta đồng bạc. Lúc ngẩng lên bắt gặp ánh mắt khinh bỉ và cười mỉa mai của Nguyên. Ra khỏi cổng chợ, nó bảo:

– Sao chị lại cho anh ta? Anh ta vẫn còn khỏe mạnh kia mà!

– Ai muốn vậy đâu em. Em không thấy anh ta mù sao?

– Anh ta mù thì còn chân tay. Thiếu gì việc dành cho người mù, việc phải đem khuyết tật của mình để cầu xin của bố thí của người ta. Thà chết đói còn hơn!

Nguyên nói cũng có lý, nhưng nghe cái giọng lạnh lùng ấy tôi không thể chịu được. Tôi bực bội bảo:

– Em đừng tàn nhẫn như thế. Các cụ đã bảo "giàu hai con mắt, khó đôi bàn tay" đó sao? Nghiêm khắc với mình nhưng phải rộng lư�! ��ng với người khác chứ!

Suốt dọc đường về, tôi và Nguyên không tranh luận gì thêm. Có lẽ nào nó lạnh lùng với đau khổ của người khác đến thế được chăng? Hay nó bị mất mát nhiều trong tình cảm đến mức chai sạn nên khó rung động đến nỗi đau của người khác? Nguyên lặng lẽ đi bên tôi, có thể nó liên tưởng đến chuyện của nó. Được, càng hay!

Cuộc sống của chị em tôi êm ả trôi đi. Từ ngày Nguyên đi làm, tôi bắt nó mỗi tháng phải dành mười đồng gửi tiết kiệm, nói đùa là để cưới vợ. Nó xấu hổ nói lảng: "Nếu thế em chẳng để dành nữa". Ở một mình, nó lôi bạn bè về nhà bày bừa khiếp lên được. Tranh vẽ treo lộn xộn khắp tường, bột mầu rơi loang lổ trên nền nhà, chỗ cái ấm, chỗ cái chén. Tuần nào tôi cũng phải lên dọn dẹp hộ nó nhưng chỉ ngày hôm sau lại đâu vào đấy. Tôi, Nguyên và bạn bè của nó thường tổ chức những chuyến chơi xa vào ngày thứ bảy, chủ nhật. Tụi nó mang theo đồ nghề, tới nơi nào có phong cảnh đẹp là mải mê ngồi vẽ và phân công tôi lo bữa ăn. Biết công việc của tôi hay cần đến sách vở, Nguyên rất chịu khó đi lùng các hiệu sách tìm mua cho tôi những cuốn truyện, sách nghiên cứu vừa in. Không hiểu học được ở đâu, nó viết một câu to tướng vào tủ sách của tôi: "Kẻ nào cho mượn sách là kẻ ngu. Kẻ nào giả sách lại còn ngu hơn". Tôi thuyết phục mãi nó mới chịu bỏ đi…

Thứ bảy, tôi về sớm hơn một chút, đi mua mấy lạng thịt làm bún chả và gọi dây nói báo cho Nguyên về ăn cơm. Đợi đến bảy giờ tối, vẫn chưa thấy nó đâu, tôi sốt ruột đi ra, đi vào. Gần tám giờ, Nguyên m�! ��i lò d! ò về đến cửa đã liến thoắng không kịp để tôi hỏi han câu nào:

– Chị chờ em lâu lắm phải không? Em có chút việc ở cơ quan. Em đói điên lên đây này. Hôm nay em sẽ ăn hết những thứ chị làm cho mà xem.

– Thì rửa mặt đi đã nào!

Ngồi ăn, Nguyên kể cho tôi nghe hôm qua ở cơ quan nó có đợt khám nghĩa vụ quân sự, trúng tuyển năm người, xưởng họa của nó cũng có một anh đi đợt nàỵ

– À quên mất, em được cơ quan cho đi học đấỵ

Nó móc túi lấy tờ giấy đưa tôi xem. Đó là công văn quyết định của Nguyên nghỉ công tác từ tháng chín để ôn thi vào trường Cao đẳng mỹ thuật. Nguyên đã có bằng cấp III bổ túc văn hóa. Gần cuối bữa ăn, Nguyên bảo tôi:

– Chị ơi, em… em… – Nó bỏ lửng không nói tiếp. Tôi bỏ bát bún đang ăn dở nhìn nó khó hiểu. Thảo nào đang lúc nói chuyện, tôi có cảm giác như nó định nói chuyện gì đó nhưng còn ngần ngạị

– Chị tính xem em nên đi học hay đi bộ đội? – Nó nhìn tôi không chớp mắt.

Thật khó trả lời. Lâu nay tôi vẫn là người chị khuyên bảo lời hay lẽ phải. Bây giờ sẽ phải nói với nó ra sao? Đi bộ đội hay đi học? Nếu suy bì hơn thiệt thì đi học sẽ tốt hơn nhiều. Nguyên sẽ có cả một tương lai mà tôi hằng mong mỏi cho nó. Nhưng khi nó đã cân nhắc giữa việc đi học và đi bộ đội thì có nghĩa nó nhận thức được vai trò của người thanh niên và sẵn sàng chấp nhận những khó khăn, vất vả của người lính. Tôi nhìn Nguyên và bỗng thấy nó già dặn hẳn lên. Ừ, nó mười tám tuổi rồi còn gì! Tôi biết, Nguyên đã quyết định, chỉ vì! tôn tr�! ��ng tôi nên mới hỏi như vậy.

– Cái đó tùy em – Tôi nói chậm rãi, mắt không rời vầng trán thông minh được phủ bởi lọn tóc đen phía trước của Nguyên – Em đã lớn, chị tin em sẽ có quyết định đúng đắn. Nhớ báo sớm cho chị biết ngày đi.

– Đấy em biết mà, chị bao giờ cũng nói điều phải… – Nó ngập ngừng rồi nói rất nhanh: – Hơn nữa em ra đi để bù lại phần nào lỗi lầm của anh em, để người ta hiểu những đứa như em hơn.

Nguyên cầm đĩa lên và trút hết chả còn lại vào bát của tôi:

– Chị ăn đi, em gắp cho chị chẳng được bao lâu nữa. Hôm nay em đã khám sức khỏe, loại A1 nhá. Chị cứ chê em còm nữa đi.

Ăn xong, Nguyên dành việc rửa bát. Trước khi bê mâm đi, nó còn lấy khăn mặt ướt và cốc nước đưa cho tôi.

Thế là Nguyên đi bộ đội đã được sáu tháng. Vắng Nguyên tôi thấy cửa nhà vắng vẻ hẳn. Mỗi tháng Nguyên thường viết cho tôi ba bốn lá thư. Chẳng có chuyện gì xảy ra mà nó không kể, nào là bà chủ nhà rất thương hay để dành cho củ khoai, củ sắn mỗi khi đi tập về; nào là các trò nghịch ngợm của các cậu lính trẻ… Nó viết: "… Ngoài giờ luyện tập em vẫn tranh thủ vẽ thêm, nghỉ lâu sợ cứng tay mất. Được nhiều nhiều em sẽ gửi về cho chị xem, góp ý và giữ hộ em. Em rất khỏe. Tăng cân so với hồi ở nhà, da đen hơn trông như anh nông dân ấy, chắc chị không nhận ra mất". Thư tôi nhận được cách đây hai tuần Nguyên báo đã đi lên biên giới phía Bắc. Trước đây, tôi chưa khi nào hỏi mà cũng chẳng nghe thấy Nguyên nhắc đến bố mẹ. Đột nhiên hai hôm trước ngày! lên đ�! �ờng, Nguyên hỏi tôi:

– Chị thấy em có nên đến chào bố mẹ em không?

Hóa ra trong tâm hồn Nguyên vẫn còn một góc không nhỏ dành cho những người đã sinh ra rồi bỏ rơi mà tôi cứ tưởng không bao giờ Nguyên tha thứ cho họ. Hồi còn bé chỉ là sự giận dỗi, tức tối của con trẻ không được người lớn vuốt ve âu yếm. Nhưng khi lớn lên hiểu hết mọi việc diễn ra xung quanh, một mặt nó phán xét, một mặt thèm khát tình yêu của bố mẹ. Bằng cách có thể xa, nhưng ranh giới giữa tình yêu và sự căm thù thực là mỏng manh, Nguyên không căm thù bố mẹ nó, nhưng tình yêu ngày một cạn đi khiến người nó khô cằn. Chính cái đó mới là điều đáng sợ. Tôi rất mừng khi nghe Nguyên nói.

Tối hôm ấy, tôi chuẩn bị cho nó quần áo đẹp nhất và giục đi. Khi Nguyên về, tôi không hỏi chuyện nhưng nhìn đôi mắt nó tôi đoán chuyện gì đã xảy ra. Đôi mắt đẹp ấy buồn hơn nhưng bớt sự lạnh lùng, chua chát. Bây giờ tôi mới chợt hiểu sức mạnh ghê gớm của tình yêu mà tạo hóa đã ban cho con người!

Một năm nữa lại trôi qua. Một năm Nguyên làm anh bộ đội.

Tối nay cũng như mọi tối khác. Viết xong bài báo để ngày mai nộp cho phòng, tôi lôi len ra đan. Đứa bạn đi công tác ở Đức về cho nửa cân len mầu xám, tôi dành để đan cho Nguyên. Mầu này rất hợp với đàn ông, hơn nữa ở biên giới mùa đông rất lạnh. Nguyên thường viết thư kể cho tôi nghe về bông tuyết đầu mùa phủ long lanh trên tán lá rừng… Đan thì đan chứ biết làm thế nào gửi lên cho Nguyên được. Khoảng mười giờ đang định dọn dẹp giường đi ngủ thì có tiếng gõ cửa. Ai đến chơi khuya t! hế nh�! �? Hay là Nguyên về? Tôi mừng rỡ đứng dậy, thì cánh cửa hé mở. Trước mắt tôi là anh bộ đội trạc ba mươi tuổi, quần áo bám đầy bụi đất. Chắc anh ta vừa đi qua chặng đường dài khá vất vả. Thấy vẻ ngạc nhiên, bối rối của tôi, anh ta nói luôn:

– Tôi là Trung, cùng đơn vị với Nguyên.

– Thế ạ! Mời anh vào chơi. Anh vừa trên đó về?

Tôi hấp tấp đi pha nước, hỏi chuyện rối rít khiến khách không nói được câu nào. Bất giác, tôi quay lại nhìn Trung. Anh ta quay mặt đi khi bắt gặp cái nhìn của tôi. Tôi linh cảm có chuyện chẳng lành. Trung vẫn ngồi mân mê cái mũ mềm trong taỵ Không chịu được không khí căng thẳng ấy, tôi run run hỏi:

– Có chuyện gì xảy ra với Nguyên phải không anh?

– Vâng… Nguyên… hy sinh.

Anh ấy nói gì thế nhỉ? Tôi thấy mình đang ngồi trên con thuyền trôi bồng bềnh, các bức tường nhà chao đi, chao lại. Tiếng Trung rơi lõm bõm vào tai tôi như tiếng người thở đứt quãng… Chúng tôi đi trinh sát thì lọt vào ổ phục kích của địch… Gần hết đạn mà địch vẫn tràn lên rất đông… Anh Trung phải quay lại báo cho đơn vị biết thôi… Không!… Nghe em, anh còn bé Sơn, đừng để bé Sơn phải mất bố… Tôi, hạ sỹ Nguyễn Thành Nguyên ra lệnh cho binh nhất Nguyễn Văn Trung phải chấp hành mệnh lệnh… Khi đơn vị tôi diệt xong ổ phục kích của địch, đến nơi thì Nguyên đã tắt thở, trên người có chín vết đạn bắn vào… Bóng đèn giữa nhà tỏa ra quầng xanh, đỏ, vàng giống như ánh đèn các mầu rọi vào chỗ chị em mình đứng đón giao thừa hôm nào, đúng không Nguyên?… C! ó phải! Nguyên đấy không?… Đừng buồn chị nhé, đi bộ đội về em sẽ học ra trò cho mà xem… Em sẽ vẽ tặng chị bức tranh to đúng bằng người chị hôm cưới… Mặc thử áo len này đi, chị đan cho em đấy… Ôi, em không giơ tay lên được; đau quá, chúng nó bắn em. Chúng tưởng thế là chia rẽ được chị em mình chắc…

Ai để hòn than lên ngực tôi thế này? Trời ơi, bức bối quá! Cả chiếc khăn quàng cổ này nữa, vứt đi! Đột nhiên người tôi run bắn lên như chạm phải lửa, nước mắt cứ thế chảy ra không sao ngăn được. Hãy chỉ đứa nào bắn em, Nguyên, chị sẽ trả thù cho em. Đừng bỏ chị, em ơi..!

Không biết tôi sẽ ngồi khóc bao lâu nếu anh Trung không kéo tôi trở về với thực tại.

– Chị hãy bình tĩnh lại. Nguyên dặn tôi đồ đạc của cậu ấy đưa về cho chị. Đây…

Trung đưa cho tôi chiếc ba lô đã bạc mầu đang để dưới chân bàn. Anh xin phép ra về vì đã khuya, trước khi ra cửa anh còn quay lại bảo tôi:

– Chị đừng tỏ ra mềm yếu, Nguyên không thích thế đâu.

Câu nói ấy như một liều thuốc làm ngưng đọng mọi cảm xúc, mọi suy nghĩ trong tôi: ngưng đọng cơn hoảng loạn đang xâm chiếm tôi. Tôi ngồi lần giở ba lô của Nguyên. Có hai bộ áo quần bộ đội bạc mầu. Còn một chiếc áo bộ đội nữ – có lẽ là chiếc áo mà Nguyên đã viết thư kể cho tôi: "Em lấy chiếc áo mới phát nhờ cô cấp dưỡng cắt và tự tay khâu lấy cho chị. Chẳng hiểu có vừa với người chị không?". Một tập tranh vẽ cuộn tròn rất kỹ, xếp giữa mấy bộ áo quần. Và cuối cùng là chiếc hộp sắt nhỏ, dẹt, hình chữ nhật. Tôi mở ra! , bên tr! ong có ba bức ảnh đã ngả màu vàng. Một bức ảnh người đàn ông, một bức ảnh người phụ nữ, đằng sau là chữ Nguyên viết hồi còn bé "Đây là bố", "Đây là mẹ". Còn bức ảnh thứ ba, đứa bé đang lẫy đằng sau có ghi dòng chữ: "… Mặt trời bé con của mẹ".

Lần giở được những thứ ấy ra, chân tay tôi mỏi rã rời như vừa phải làm một việc quá nặng. Không buồn mắc màn, tôi với tay tắt đèn rồi nằm vật ra giường, với chiếc áo len đan giở úp lên mặt…

*
*   *



Bạn bè, người quen hỏi thăm tôi về Nguyên, thì hoặc là tôi né tránh câu trả lời, hoặc là tôi nói thật điềm tĩnh: "Nguyên hy sinh rồi!". Đó là điều không thể có trong tôi trước đây, một người không biết kiềm giữ niềm vui hay nỗi buồn đau. Sao lại thế? – Tôi không trả lời rành rẽ được, chỉ biết đó là ảnh hưởng của Nguyên đối với tôi. Em kiên quyết và bình tĩnh trong khó khăn, vui buồn của cuộc sống ngay từ những ngày em chưa làm người lớn. Và, chính vì vậy em sống có trách nhiệm biết bao!

Tôi đã tìm đưa cho bố mẹ Nguyên ảnh chân dung họ thời trẻ. Họ đã khóc. Người đàn ông gục mặt vào song cửa, lặng lẽ lau mắt, còn người phụ nữ thì òa lên. Cả hai nơi tôi không ngồi lại lâu, chẳng phải vì tôi ghét bỏ họ, trái lại tôi còn thương họ nữa, nhưng quả thật tôi không thể nói chuyện với họ được. Còn bức ảnh đứa trẻ đang tập lẫy thì tôi giữ, tôi thấy mình có quyền làm việc ấy. Giữ bức ảnh đó, là giữ mãi hình ảnh của Nguyên khi buồn bã, khi cười đùa… là giữ mãi một cuộc đời cho cuộc đời mình. Con người đi qua, ánh sáng còn để lại mãi, phải vậy không? Và, em là mặt trời bé con của chị, phải vậy không, Nguyên?

Tháng 8-1983

RỪNG ÁO TRẮNG

                                            Tác giả : Triệu Bôn

Chẳng ai hiểu rừng áo Trắng bằng già Lâm. Già Lâm, con người khó đoán tuổi. Mái tóc đen nhánh chưa vương một sợi bạc. Đôi mắt hình quả đậu ván ngấm ngầm phát sáng gợi ta nghĩ tới một đôi cá đuôi cờ luôn luôn thay đổi mầu sắc, lúc óng ánh rực rỡ, lúc tím biếc, lúc vàng vàng mầu nghệ non. Vầng trán cao, hai má dài rộng, gò má nhọn, những đường nhăn chi chít xuất phát từ gò má, từ thái dương, kéo xuống tận cằm, giống như những dòng sông ngoằn ngoèo phát nguyên từ trong rừng sâu núi cao và kết thúc ở cửa biển. Với tầm vóc cao lớn bao giờ cũng dư thừa sức lực, và chút tật nguyền nằm bên chân phải khiến già Lâm bước tập tễnh làm giảm mất rất nhiều vẻ tráng kiện, tinh nhanh của già.

Căn nhà của già Lâm, một gian nhà hai chái đứng lẻ loi ở bìa rừng áo Trắng. Ngoài hai mái lợp tranh, từ kèo cột đến cửa, vách, tất tật đều bằng bương đẵn trong rừng ra. Căn nhà độc đáo ở chỗ có bốn khung cửa rộng mở ra bốn hướng. Sáng nắng rọi từ cửa bên đông sang bên tây. Chiều nắng rọi từ cửa bên tây sang cửa bên đông. Tuy chật hẹp như thế nhưng chả mấy khi già Lâm vắng khách. Khách của già đều là thợ trồng rừng, những người đàn ông xa nhà, hoặc đám con trai sống độc thân, ở khắp bốn đội trồng rừng của lâm trường, hễ có được vài ngày nghỉ là mò đến bù khú với già.

Cách tiếp khách của già Lâm cũng thật độc đáo. Ai muốn uống rượu, tự mua lấy, còn thức nhắm, già nuô! i một đàn gà không thể biết mấy chục con, với một cây nỏ và chiếc ống tên treo trên vách. Khách đến, thích ăn con nào bắn con ấy. Hễ lớ ngớ bắn trật, xua gà bay táo tác, thì nhịn. Trong trường hợp hẩm hiu như thế, khách vừa phải ăn cơm suông với muối vừa phải nhận lỗi trước chủ. Khắp lâm trường đều biết già Lâm nuôi gà đầy đàn đầy đống nhưng nếu chỉ có mình già thì già không bao giờ động đến chúng. Phải có khách già mới “nhân thể kiếm được vài miếng” như già nói.

Già Lâm không có tính ky cóp dành dụm, nhưng già ngại cách rách. Từ hồi trai trẻ già đã nhiễm tính ấy, thích chăm sóc người khác, với mình tuềnh toàng thế nào cũng xong. Vả lại già Lâm rất bận. Cánh rừng ngót nghét trăm héc ta, một bề kéo dài từ chân núi Bò Liếm lên tới núi Ông Cọp, một bề chạy từ bờ vực áo Trắng tới sát sông Lung, bương mọc so đũa phải kể triệu cây, mà chỉ mỗi mình già coi sóc, canh giữ. Nhiều lần giám đốc lâm trường hỏi già có cần xin thêm người giúp việc, già đều lắc đầu nói không cần. Chừng nào già còn sống trên đời, già còn dành trọn vẹn thời gian và sức lực của mình cho rừng áo Trắng.

Già Lâm trở thành người bí ẩn.

Nhất là từ khi những người cùng lứa với già lần lượt nghỉ hưu rời khỏi lâm trường, những cô những cậu mới lớn, mới gia nhập đội ngũ của rừng thì chẳng mấy ai còn lưu tâm tới việc tại sao cánh rừng bương già Lâm hiện coi giữ lại mang tên là rừng áo Trắng, và tại sao sau khi nghỉ hưu già Lâm không đi đâu mà lại tình nguyện ở lại mãi mãi với nó.

*



Chuyện ! ở đờ! i mình làm mình chịu mà cứ như có bàn tay bí mật nào xếp đặt.

Suốt chín năm đánh Pháp, già Lâm đi từ các chiến dịch Trần Hưng Đạo, Quang Trung, Hoàng Hoa Thám, Thượng Lào… tới chiến dịch Trần Đình – chiến dịch Điện Biên Phủ – xông pha kể biết mấy trận, chẳng hề bị một mảnh đạn làm chảy máu sầy da. ấy vậy mà tới dạo đại đoàn – tức sư đoàn bây giờ – kéo quân về đồng bằng Bắc Giang đánh mấy trận làm hậu thuẫn cho phái đoàn ta đàm phán bên Giơ-ne-vơ, đùng một cái già Lâm thành thương binh, chỉ vì một trái mìn rủi ro ấy già Lâm mới thật sự tin là mình không còn đủ điều kiện ở lại xây dựng quân đội tiến lên chính quy, hiện đại. Già về một nông trường, rồi chuyển qua lâm trường. Lâm trường Quyết Thắng bấy giờ chỉ gồm hai đội, một trồng cây, một khai thác. Đội trồng cây già Lâm ở có hơn năm mươi người, do một đại đội phó chuyển ngành làm đội trưởng, già Lâm làm tổ trưởng cai quản chín người.

Anh tổ phó của già Lâm bấy giờ cũng là bộ đội chuyển ngành, nhưng kém Lâm chục tuổi, một tay đàn giỏi hát hay, mặt trái xoan, mảnh mai trắng trẻo, lên sân khấu đóng giả con gái tài đến mức nhiều chàng trai phải xiêu lòng. Phú – tên anh tổ phó – trở thành “cây” dân vận rất được việc cho tổ. Họ về đóng ở đâu, khi cần tre nứa để dựng lán, cần rau, cần trứng cho anh em ăn tươi, hoặc cần bất cứ sự giúp đỡ nào của dân bản, chỉ cần cho Phú đi dạo một vòng là có ngay.

Một trong những lần đi dân vận như vậy Phú đã dẫn về chỗ đóng quân của tổ một cô gái bản Mường ! Lay, tên! là Sim.. Cô gái cao dong dỏng, môi đỏ, da trắng như thoa phấn, thoạt đầu không ai ngờ đã hai mốt tuổi, vì trông cô chỉ như một cô gái mới lớn, khoảng mười bảy mười tám là cùng. Dĩ nhiên mọi người đều nghĩ sở dĩ cô gái đẹp nõn nà này quyết chí xin vào ở lâm trường là vì cô ta đang chết mê chết mệt với thằng Phú.

Lâm cũng cho thế là phải. Anh nói với đồng chí đội trưởng:

– Đề nghị anh cho cô Sim ở tổ tôi, để hai đứa chúng nó được gần gũi nhau.

Đồng chí đội trưởng hỏi lại:

– Con bé đẹp thì đẹp thật, nhưng chắc gì thằng Phú đã chịu lấy? Cái thằng hay léng phéng thế thôi…

Lâm phản đối:

– Anh đừng nghĩ oan cho thằng Phú. Nó say cô bé như điếu đổ rồi.

– Chắc không?

– Chắc. Hễ léng phéng làm khổ con bé thì tôi cạo trọc đầu!

Thế là tổ Lâm có thêm một thành viên thứ mười. Sim vác cuốc đi trồng thông hôm trước, hôm sau tiếng đồn đã bay khắp lâm trường, lôi cuốn nhiều chàng trai dập dìu tới chiêm ngưỡng người đẹp. Phú càng cố gắng trổ hết tài hoa, và càng làm đỏm hơn. Bộ quần áo bảo hộ lao động của Phú bao giờ cũng sạch sẽ, đêm đêm được cởi ra vuốt phẳng và gối đầu giường để thay bàn là. Phú xin nghỉ phép về thăm quê dưới Thái Bình, nhưng chỉ về tới thị xã Hòa Bình vài ngày rồi trở lên. Người đầu tiên nhận ra sự khác lạ trên mái tóc của Phú chính là Sim. Hôm Phú từ thị xã lên mang tặng Sim chiếc khăn bông bay óng ánh như mạng nhện đính sương, Sim ngắm chiếc khăn tặng thì ít, ngắm mái tóc của Phú thì nhiều. Cô bất giá! c kêu lê! n:

– Tóc anh làm sao rồi. Anh Phú?

Phú đỏ mặt cúi xuống, trả lời lí nhí:

– Không sao đâu. Nhưng… Sim không thích à?

Sim che miệng cười:

– Cũng thích chứ. Nhưng giá anh cứ để tóc đen thì đẹp hơn.

Lúc đó mọi người mới kịp nhận ra mái tóc đen mượt của Phú trước kia giờ vàng hoe và gợn lên thành mấy lượn sóng trước trán. Công bằng mà nói, những lượn sóng vàng có làm cho gương mặt vốn nhẹ nhõm của Phú đẹp hơn lên chút ít, nhưng là vẻ đẹp của thứ cây được uốn tỉa trong bồn. Tệ hại hơn nữa, vì mái tóc ấy mà Phú không dám tắm gội tự nhiên như mọi khi. Mọi khi, sau ngày làm việc người nhễ nhại mồ hôi, Phú cùng anh em cởi quần áo vắt lên đá, nhảy ùm xuống suối thỏa sức quẫy đạp, ngụp lặn, la hét, nô nghịch. Còn bây giờ, Phú chỉ dám men men ở chỗ cạn, khẽ vốc nước lên người, thà chịu những lời chế nhạo của chúng bạn còn hơn bị ướt tóc.

Tuy nhiên sự đời trăm người trăm ý. Có người chê mái tóc của Phú nhưng cũng có người khen. Bên cạnh đám con trai mon men đến làm quen với Sim, có cả đám con gái liếc trộm không chán mắt bộ tóc vàng râu ngô của Phú.

Phú xốn xang trước những đôi mắt vụng trộm ấy. Có điều càng ngày anh càng khắc khoải chờ đợi một tia sáng lạ lóe lên từ đôi mắt xanh mầu trời của Sim. Hay là tại Phú thiếu chững chạc? Phú thèm khát có được sự chín chắn, điềm đạm của tổ trưởng Lâm. Sim thường hay trò chuyện với Lâm, đòi anh kể chuyện này chuyện nọ, khâu vá cho anh, chăm chút anh hơn những người khác, chỉ vì Lâm biết sống như một ngư�! �i anh c�! �� đối với bầy em nhỏ trong nhà. Về phía ấy Phú tự biết mình không thể có được. Phú kiên nhẫn, rồi Phú đau khổ. Đôi mắt của Sim nhìn anh thì vẫn trong trẻo, hồn nhiên như thế. Chẳng lẽ Sim không nghe những câu nói bóng gió, chòng ghẹo của đám chị em bạn gái với cô? Cho đến một hôm từ cái dạo vừa trồng xong cánh rừng thông trên núi Phượng Hoàng và chuyển sang trồng bương dưới chân núi Bò Liếm, Phú và Sim mỗi người vác một chiếc cuốc chim, lững thững đi bên nhau trên đường về lán, Phú buộc lòng phải hỏi:

– Sim ơi!

– Dạ.

– Em có nghe người ta đồn đại về hai chúng mình không?

– Có.

– Em nghĩ sao?

– Em chả nghĩ sao. Mình không thế thì thôi chứ anh. Lo gì!

– Nhưng Sim có nghĩ đến anh không?

– Nghĩ chứ.

– Sim có thương anh không?

– Thương chứ.

Phú gần như phát điên trước những câu trả lời quá ngắn gọn và vô tâm của Sim. Anh nín thở lấy thêm can đảm, giống như người lính bắn đến viên đạn cuối cùng rồi sau đó hoặc là thắng trận hoặc là chết.

– Sim. Em có yêu anh không?

– Anh nói đùa!

– Không. Phú thét lên. Em phải nói cho anh rõ, em có muốn làm vợ anh không?

– …

Phú cướp lời Sim để nói hết ý, môi lắp bắp, tái ngắt:

– Anh yêu em gần năm nay rồi, ngay từ hôm anh gặp em ở Mường Lay. Nếu em không yêu anh, anh sẽ chết. Sim ạ!

Lần đầu tiên Sim bối rối trước mặt Phú. Song thật tội nghiệp cho Phú. Đấy không phải là biểu hiện của tình yêu, mà là nỗi ! hoảng s! ợ của người con gái, Sim ù té chạy và luôn luôn có cảm giác một tiếng sét sắp giáng xuống đầu mình.

Tối hôm đó sáng trăng non. Lâm đi họp trên đội về chợt giật mình thấy một bóng người đứng vẩn vơ ở chỗ lội ngang con suối Nại: Sim. Sim níu chặt lấy cánh tay Lâm và òa khóc. Lâm lay gọi cô gái:

– Sim. Có chuyện gì? Có chuyện gì? Nói anh xem nào! Nói!…

Lâm chột dạ nghĩ đến Phú, rồi lại nghĩ lướt qua vẻ mặt của mấy chàng trai lâu nay vẫn theo đuổi cô bé. Đứa nào vừa mới “làm gì” Sim? Ngực Lâm bỗng nhói đau. Anh nổi giận quát:

– Nín! Nín!

Cô gái không nín. Sim càng ghì chặt cánh tay Lâm vào bộ ngực đang phập phồng của cô, giụi cả gương mặt ướt đầm vào tay áo, vào vai, vào ngực Lâm. Bất ngờ Sim lên tiếng:

– Anh không muốn lấy em à?

Lâm bàng hoàng, hoàn toàn không hiểu gì, đứng trơ.

– Anh không muốn lấy em à?

– Hả?

– Anh chê con gái Mường à?

– Hả? Cô nói gì thế cô Sim? Cô không ốm đấy chứ? Lâm vừa nói vừa đưa bàn tay còn được thả lỏng sờ lên trán Sim. Tỉnh lại đi Sim. Anh là Lâm đây mà!

Lúc sau hai người bình tĩnh lại, Sim thôi khóc, Lâm thôi cái cảm giác ù đặc trong tai như nằm dưới làn đại bác, thì trăng lên. Sau núi ông Cọp như có đám cháy lạnh lẽo vừa nhóm lên và loang rất nhanh. Lâm cùng Sim ngồi xuống một đoạn cây vứt cạnh lối đi.

– Sim ạ, Phú yêu em lắm. Sao em không yêu anh ấy?

– Em không biết.

– Phú tốt đấy. Lại trẻ và có tài…

– Anh ấy bảo anh ấy! muốn �! �� rể. Em không đồng ý. Em chỉ muốn cho anh ở rể thôi.

– Tôi nhiều tuổi rồi. Sim biết không?

– Ai già ai trẻ em khắc biết. Anh không phải nói! Hay là anh đã có vợ dưới xuôi?

– Tôi chưa có vợ. Nhưng Sim hãy chịu khó mà nghe lời tôi. Nếu tôi lấy Sim, anh Phú sẽ nghĩ sao? Anh em trong tổ, trong đội, trong cả lâm trường sẽ nghĩ thế nào về tôi?

Giọng Sim đau đớn bất lực:

– Anh lấy vợ hay là lấy tiếng?

Gà rừng bắt đầu gáy sáng. Sương mù mới đó còn lảng bảng, thoắt cái đã đặc ngầm thành một vành đai bông trắng quấn quanh chân núi. Hai người đứng dậy đi về lán ở. Người nọ thấy cái bóng của người kia nhòe nhoẹt trong sương, buồn tê tái mà chẳng biết nói gì.

– Anh Lâm chờ em với, em bảo cái này.

– Sắp sáng rồi đấy Sim.

– Sáng cũng được. Mai em về rồi.

Lâm sửng sốt.

– Em về đâu?

– Mai có chợ Mường Vang, em ra đó theo người quen về nhà. Em không làm công nhân nữa đâu.

Lâm rùng mình sởn gai ốc, khi cô gái nói tới đoạn này:

– Em trốn bố mẹ đi làm công nhân để khỏi phải lấy chồng. Chồng em là thầy cúng ở Mường Sinh. Nhà nó giàu, nó mua em bốn mươi nén bạc. Nó bắt em về nhà nó, em không về, nó lắp tên thuốc độc vào nỏ định bắn em chết, em cũng không về…

Đằng sau lời nói đơn giản là cả một câu chuyện dài.

Gã thầy cúng người xứ Mường Sinh cầm nỏ và cưỡi ngựa đến Mường Lay để đón Sim về. Sim không chịu. Gã đứng trên bậc cầu thang nhà sàn gọi Sim: “Lại đây bảo!”. “Bảo gì?”. Gã tì cán nỏ vào bụng, lên dây, rút mũi tên trong chiếc ống đeo vắt sau lưng, đặt vào rãnh nỏ, “Trông đây!”. Gã ưỡn ngực giương nỏ lên nhằm con lợn khoang nhà Sim đang nằm cho con bú dưới gốc chuối. Phực. Mũi tên bay sợt qua đám lông gáy con lợn, cắp phập xuống đất. Lúc sau gã kéo tay Sim lôi tới, đã thấy con lợn mẹ nằm trợn mắt, máu ộc ra miệng, và nhễu giọt theo hai hàng núm vú dưới bụng. Sim bưng mặt rú lên. Gã thầy cúng cười hềnh hệch rút thêm một mũi tên giơ ra trước mặt Sim. Gã trừng mắt: “Phần cô đấy!”.

Liền mấy ngày sau Sim mất ăn mất ngủ, bỏ nhà trốn lang thang trong rừng. Nhưng Sim đi khắp mấy cánh rừng mấy ngọn suối đất Mường Lay, cô vẫn không sao gạt bỏ được hình ảnh gớm ghiếc của mũi tên tẩm thuốc độc và đôi mắt nhìn trừng trừng của gã thầy cúng. Đó là những ngày trước lúc Sim gặp Phú.

– Sim định về ở với người ấy?

– Vâng. ở được thì ở. Không ở được, em ăn lá ngón em chết.
– Trời ơi. Sao không bắt cổ thằng ấy đi?

– Có bắt đấy. ủy ban bắt nó lên huyện học tập mấy tháng rồi lại thả cho nó về. Nó không dám đi cúng nhiều như trước. Nhưng tính ác thì vẫn…

Sim không kịp nói hết câu. Lâm đột ngột quay người lại, bằng tất cả sức mạnh của đôi cánh tay người lính, anh ôm ghì lấy Sim và nhấc bổng cô lên.

*

Công việc trồng bương dưới chân núi Bò Liếm được khởi sự từ đầu tháng giêng, những ngày sương mù lẫn mưa bụi, thỉnh thoảng mới thấy nắng hửng lên để liền sau đó bầu trời lại sùm sụp một mầu đá xám. Tình yêu thuần phác biến Sim thành một cô gái nhí nhảnh, bạo dạn, cười nói suốt ngày. Riêng Lâm, bên cạnh sự ban phát thần thánh mà anh được hưởng, anh còn phải chịu đựng biết bao điều tiếng. Mấy chàng trai sinh lòng ghen ghét rủ nhau đặt vè chế giễu Lâm, và để trả thù Sim, họ nhất loạt gán cho anh thêm một chữ già. Cái tên già Lâm sinh ra là như thế. Còn Phú, hàng tháng sau Phú vẫn chưa thể tin cô gái xinh đẹp kia lại yêu Lâm một cách mê say mà không hề yêu mình.

Công việc thì mỗi ngày một thêm vất vả. Mười con người cặm cụi suốt từ sáng sớm tới chiều tà để bấng từng nhò gốc bương non ra khỏi búi cũ, đem trồng vào khoảnh đất mới. Nguồn cây giống ở gần chẳng được bao lâu. Về sau họ phải cơm đùm cơm nắm ngược mãi lên tận nguồn suối Nại để đào bới, gồng gánh mang về. Khoảng đất trồng bương cứ thế được loang rộng ra một cách khá chật vật. Cái vạch đỏ trong tấm biểu đồ trồng rừng treo ở phòng giám đốc lâm trường nhiều ngày ch�! � nhích ! được vài ly, nhiều ngày bị chững hẳn lại. Công việc theo kế hoạch phải kết thúc vào đầu mùa hạ, nhưng mãi tới đầu mùa xuân tổ của Lâm mới kéo được những hàng bương từ phía sông Lùng tiến đến sát bờ tới suối Nại. Những gốc bương cuối cùng được cắm xuống đất dưới bầu trời mưa dông sấm chớp đùng đùng, những hàng cây trồng đầu tiên thì đã tỏa cành và mọc măng tua tủa. Cái thung lũng hình chiếc lá bàng khô vênh xưa nay dành cho sỏi đá và cỏ dại nay khó lòng mà nhận ra.

Con người cũng có biết bao biến đổi. Trong khoảng thời gian từ khi tổ trồng rừng kéo về dựng lán tới nay, nhiều người đã đi từ quãng này sang quãng khác của cuộc đời.

Anh tổ phó đẹp trai giờ đã có “đối tượng” mới ở trường cấp hai huyện, một cô gái dưới xuôi mới lên. Phú dành dụm sắm được chiếc xe đạp sơn đỏ chót, thứ bảy nào cũng xin phép Lâm biến hút từ nửa buổi chiều. Một cô gái khác tên là Thảo lấy chồng bên đội khai thác, mới sinh con trai. Thằng bé chẳng những là con cưng của bố mẹ nó, mà còn là niềm vui chung của cả tổ, cả đội. Bấy giờ ngay cả những tác giả đặt vè châm chọc Lâm dạo nọ cũng không ai còn nghĩ việc Sim yêu Lâm là điều vô lý. Trước đây họ “cào ra”, nay họ lại “vun vào”. Anh tổ trưởng đã trải qua quá nửa đời người giờ mới hiểu thế nào là thời trai trẻ. Và cô gái bản Mường Lay như một chiến sĩ quả cảm vừa vượt ngục thoát ra khỏi những gông cùm của cả một xã hội nghìn năm vua quan, lang đạo, giờ mới tin rằng tình yêu là điều có thật trên đời.

Đời sống công nhân lâm tr! ường c! hưa thể gọi là đầy đủ, song họ thật yên ổn và sung sướng. Những con người được yêu thương, được đổ mồ hôi nước mắt cho rừng, được mong đợi, và được tin cậy vào hạnh phúc…

Già Lâm cho tới những ngày này vẫn đinh ninh mình đã đi qua cái đỉnh cao tuyệt vời của hạnh phúc. Điều đó đã giúp già sống giữa cô đơn vắng lặng mà vẫn thấy thỏa mãn, dường như trên trái đất không thể có một ai khác từng được như già.

Vào một đêm… khi cánh rừng bương mới trồng nhích dần đến bên bờ suối Nại, tổ trưởng Lâm đã mua sẵn mấy con gà, chờ trồng nốt dăm bảy hàng cây nữa là phủi những bàn tay lấm đất, thay quần áo mới, mở tiệc ăn mừng xong công việc… Phải rồi… Vào một đêm sau trận mưa rào khắp trời trăng sao vằng vặc, Sim mang đến chỗ Lâm một dải vải chàm rộng bằng bàn tay và khá dài, ngồi mải miết thêu bên ngọn nến trám tỏa khói thơm hăng hắc.

– Em thêu khăn quàng đấy ư Sim?

Sim ngước lên nhìn Lâm khiến anh thảng thốt trước những tia sáng mầu than đá đang im lặng tưới lên người mình. Sim mủm mỉm cười, giọng nói rung lên vui sướng:

– Hôm cưới, anh có thích em mặc váy Mường không?

Lâm chăm chú nhìn chiếc sơ mi vải xanh trứng sáo trên người Sim, khẽ gật đầu.

– Thú thật, anh thích em mặc thế này hơn. Đẹp và gọn. Nhưng…

Sim ngừng thêu, lắng đợi.

– Nhưng thế nào. Anh?

Lâm gãi gáy, mặt thoáng đỏ biết mình nói quanh co.

– Nhưng nếu em thích mặc váy Mường, anh cũng đồng ý. Miễn em thấy là đẹp.

Sim lại ngẩn! g nhìn L! âm, cái nhìn vừa biết ơn vừa thương anh chan chứa.

– Phải chi em là người xuôi, chắc anh đỡ buồn?

– Sim. Sao em lại nói thế? Không khi nào anh phải cân nhắc em là người Mường hay người Kinh. Chỉ cần em yêu anh là đủ.

Sim cúi nhìn mấy ngón tay cầm kim của Sim nằm gọn trong bàn tay ấm nóng và ram ráp của Lâm. Sim khẽ cựa.

– Buông em ra cho em thêu. Nào! Nào!…

Lâm buông bàn tay bé nhỏ của Sim ra, nhưng chính cô lại ngả hẳn vào lòng anh. Sim giật vội mấy chiếc cúc trên tấm áo quân phục của Lâm rồi giấu mặt vào sau lớp vải, như thở hít mùi mồ hôi mặn của anh thấm nồng trong đó.

– Bao giờ chúng mình có con. Em? – Lâm thì thào.

Sim đáp lại càng nhỏ hơn, vừa đáp vừa dũi sâu mãi vào ngực người yêu:

– Anh đã muốn chưa? Anh muốn… thì…

Bầu trời trăng sao sà xuống thành một trận bão ngũ sắc quanh chỗ họ nằm. Cô gái khóc nghẹn ngào vì không có cách gì nói hết được niềm say đắm trong lòng. Người con trai thì biết chắc từ phút ấy mình đã là một con người khác, một cuộc đời khác – một con người của hai người, một cuộc đời của hai cuộc đời.

Hôm sau Lâm về họp ở ban chỉ huy đội. Buổi sáng nắng chói chang ngay từ lúc ngọn cỏ còn dính sương. Sim chạy theo đưa cho Lâm chiếc áo mưa. Lâm không muốn cầm. Sim trách anh bằng một câu tục ngữ đất Mường Lay:

“Người khôn sắm chăn giữa năm. Người dại gặp mưa mới đi tìm nón”.

Lâm đành ngoan ngoãn nhận chiếc áo mưa, và nắm luôn cổ tay mát rợi của Sim, làm cô bật cười khanh khách.
&! #8211; Người ta cười cho đấy!

– Ai thấy mà cười?

– Rừng thấy. Núi thấy. Suối thấy… Buông ra. Anh!…

Hơn một tiếng đồng hồ leo dốc, tiếng “anh” lúc nào cũng ngân vang bên tai Lâm. Lâm ngồi ở hàng ghế đầu trong phòng họp, cố tập trung đầu óc lắng nghe ông giám đốc lâm trường thuyết trình trên bục mà không sao được. Giám đốc lâm trường mọi khi thường nói vắn tắt, sao hôm nay ông nói lê thê đến thế! Lúc lúc Lâm lại ngoảnh nhìn bóng nắng sắp xiên vào thềm, người nóng như lửa đốt. Giá cuộc họp vắng mặt ông giám đốc, hẳn giờ này Lâm đã được chạy về với tổ, với Sim, để được nghe giọng nói dịu ngọt của tình yêu. Đôi mắt ấy, giọng nói ấy, cả lồng ngực ngọc ngà phát ra nó, hiện lên gần gũi trong vòng tay Lâm.

Vừa ra khỏi phòng họp, Lâm liền chạy như lao mình xuống con dốc dài, những tưởng chỉ sau chớp mắt là anh được ghì chặt Sim vào lòng. Nhưng. Hỡi ôi. Cái chớp mắt ấy. Ai ngờ…

Xế chiều. Anh chị em trong tổ trồng cây còn đang ngồi trốn nắng dưới bóng râm chợt vùng dậy nhớn nhác nhìn quanh. Có tiếng gì ầm ầm như gió bão. Mà trời thì vẫn không một gợn mây. Tắt gió. Nóng ngột. Một người sợ líu lưỡi chỉ tay lên đỉnh thác Nại, nơi vừa xuất hiện một khối trắng đục, lừng lững ngang ngọn cây, đang lao xuống vùn vụt. Nước! Trời ơi nước! Chẳng ai kịp nghe những tiếng kêu thất thanh nữa. Ngọn sóng đã cuộn réo, gầm thét kinh động trên khoảng rừng bương mới trồng…

Những người ít tuổi chưa biết gọi hiện tượng quái dị này là gì. Những người già thì gọ! i đó l�! � họa vỡ con nước.

Họa vỡ con nước ở miền rừng nào cũng có, lâu lắm mới xảy ra, cả đời người chưa chắc gặp một lần. Song đó là công việc của những nhà khoa học chuyên nghiên cứu về thủy văn. Những hiểu biết về hiện tượng này dường như không dính dáng gì đến số phận của mười nhân vật trong tổ trồng rừng của già Lâm.

Sáu người trong họ may mắn thoát nạn. Một cô gái quá hoảng sợ đã trốn biệt trên đỉnh núi Ông Cọp, mặc dầu sau đó chỉ mươi phút đồng hồ nước đã rút hết mà cô vẫn không dám bén mảng xuống chân núi. Khi anh em tìm thấy cô trong một hang đá nhỏ, cô đã kiệt sức vì đói. Gần nửa tháng sau, Lâm leo hết tất cả những ngọn núi, anh sục sạo vào tất cả những cánh rừng trong vùng, chỉ với chút hy vọng le lói rằng Sim cũng có may mắn rơi vào trường hợp giống như cô gái nọ. Mấy tháng sau, Lâm tìm về tận đất Mường Lay quê hương Sim, xuống tận thị xã và rảo qua hầu khắp những xứ Mường Bi, Mường Vang, Mường Trắng, Mường Dốc… để cuối cùng Lâm tìm thấy dấu vết người vợ chưa cưới của anh ngay ở sát mép vực – vực áo Trắng bây giờ – Một mảnh áo sơ mi rách tướp còn mắc lại trên một nhò bương vừa kịp nảy măng! Chính là chiếc sơ mi mầu trứng sáo mà Sim mặc trong đêm cô ngồi thêu cạp váy, bên cạnh Lâm. Mầu trứng sáo chỉ riêng mình già Lâm biết. Sự thực, mưa nắng đã biến mảnh vải ấy thành mầu trắng.

*

Tôi không gọi Lâm bằng già Lâm, mà gọi bằng anh.

Sau đêm thức trắng với Lâm, sáng nay anh tiễn tôi đi dưới vòm trời không biết đâu là cao thấp, vì dày đặc sương mù! . Tôi th! eo anh đi vào một lối mòn xuyên qua rừng áo Trắng. Anh đi trước, những bước chân vững chãi, nhanh nhẹn, con dao rừng giắt vào tấm phẻn vắt vẻo sau mông. Thỉnh thoảng Lâm dừng lại cạnh một khóm bương nào để phạt những dây sắn rừng quấn vào ngọn mưng, hoặc chặt một vài cây bương đổ mất trật tự làm ảnh hưởng tới sức vươn thẳng của bạn bè nó. Chúng tôi không nói chuyện, và cũng không có cảm giác ly biệt nặng nề trước lúc chia tay. Chi tiết cuối cùng Lâm kể cho tôi nghe là có vài người phụ nữ khác đã tự nguyện đến với Lâm, nhưng chẳng thành chuyện gì. Họ đều là những người tốt, cùng là công nhân lâm trường, và ai cũng nhẹ nhõm dễ ưa. Tuy nhiên, vẫn không một ai thay thế được hình bóng Sim trong cuộc sống của anh. Tôi không muốn hỏi thêm Lâm chuyện gì nữa. Lúc anh dừng lại bên bờ vực áo Trắng nhìn theo, tôi đã “nấp” vào sương mù để ngắm trộm anh khá lâu. Dáng đứng của anh quả thật rất ung dung, thư thái. Anh đang tựa vào cánh rừng của anh.

Chúng ta có ai không cần một chỗ tựa như thế để mà sống?

5-1-1983

LÍNH CỐI


                                              Tác giả : Đặng Quang Tình

– Lệch phải không mười lăm, xa.
– Độ hướng sang phải không mười ba, góc bắn sáu mươi bảy, một phát, bắn.
– Súng cối, đạn nổ…

Tiếng đại đội trưởng Noãn ra tình huống, tiếng Phí Cà xử lý đạn rơi, tiếng Điền hạ khẩu lệnh đuổi theo huyên náo cả một góc hội trường, thu hút mọi người đang vui chơi, nghỉ ngơi sáng chủ nhật xúm lại theo dõi. Đến lúc tiếng reo hò dội lên: “Hoan hô Phí Cà! Hoan hô Phí Cà!”, “Thầy Điền cũng phải chịu” thì cặp cờ tướng Hải, Thuộc đang ở nước quyết định cũng chịu không được, phải ngưng tay.
– Thôi, thôi, lại xem thế quái nào mà tiểu đội trưởng của tớ lại hạ được tay Điền vậy!
– Sợ cái “cối tõm” này hả? – Hải thường gọi con pháo đã sang sông của mình là cối, và quả là anh có tài bất ngờ cho nó từ một xó xỉnh mà đến cả các tay chầu rìa cũng không để ý tới “tõm” ngay vào đầu tướng đối phương – mà thôi, đồng ý đi xem chuyện lạ thế giới đã!

Mọi người xúm lại ở góc hội trường quây thành một nửa vòng tròn quanh Phí Cà và Điền mỗi người ở một góc. Còn đại đội trưởng Noãn thì đứng ở giữa, trước tấm bản đồ tác chiến găm trên liếp đang ra tình huống cho trận “đấu cối” tiếp theo. Có mấy người đứng xem cũng giở giấy bút ra ghi các dữ kiện, tính toán. Đại đội trưởng vừa dứt l! ời ra tình huống liền bấm giờ, và suốt từ đấy không lúc nào rời mắt khỏi đồng hồ. Phí Cà vừa lập thành tích làm anh hết sức phấn khởi: hạ khẩu lệnh đầu tiên trong tình huống bắn gián tiếp, tà dương, gió chéo chỉ mất năm mươi lăm giây. Đây là thành tích ngay Điền là khẩu đội trưởng giỏi nhất đơn vị, có bộ thước bắn tự làm khá hoàn chỉnh cũng thỉnh thoảng mới đạt được. Anh muốn kiểm tra lại Phí Cà lần nữa, nên mặc dù đơn vị sắp đến giờ ăn cơm trưa, vẫn tiếp tục ra tình huống. Vả lại, anh em đã bỏ tất cả mọi hoạt động để theo dõi cuộc đấu: đây là dịp tốt để bồi dưỡng lý thuyết xạ kích cho tất cả mọi người dưới hình thức sinh hoạt câu lạc bộ mà anh và chi đoàn thanh niên đã ra sức xây dựng.

Lại một lần nữa Phí Cà đạt thành tích năm mươi lăm giây, vượt Điền hai giây; các tình huống xử lý tiếp theo đều chính xác. Mọi người xúm lại chúc mừng Phí Cà. Nhưng thật là bất ngờ, nét mặt Phí Cà đang vui bỗng chuyển sang tư lự… Một thoáng sau câu “Mình phải cảm ơn đồng chí Điền nhiều, vì có đồng chí Điền giúp đỡ mình mới được thế này, lại là một câu cụt lủn: “Đồng chí Điền không tốt!”.

Mọi người sững lại nhìn Phí Cà. Nhưng người suy nghĩ nhiều hơn cả là đại đội trưởng Noãn. Chính anh cũng đã một lần nhận được ở Phí Cà cái câu: “Đại đội trưởng không tốt!”. Đó là sau trận Xi-Nế. Đại đội đã đánh một trận rất hay. Khẩu đội Phí Cà thay khẩu đội Điền làm khẩu đầu đàn dẫn cả đại đội bắn quét, dồn bọn bành trướng vào “túi chết”, trong khi khẩu đội Điền “giã gạo” chặn đứng yết hầu rút lui của chúng. Gần hết một đại đội địch bị tiêu diệt. Trong không khí mừng vui phấn khởi đó, Phí Cà đã nói thẳng với Noãn cái câu điếng người trên, nói trước mặt mọi người, nói đúng lúc anh em đang khen ngợi Phí Cà. Câu nói đó làm anh sửng sốt, nhưng thật kỳ lạ, nó lại không làm anh tức giận.

Phí Cà mới được bổ sung về đơn vị chưa đầy năm, trong dịp thống nhất các lực lượng biên phòng dưới sự chỉ huy chung của Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam. Nghe tin có anh em mới được bổ sung về, Noãn vội vàng đi gặp thì thấy một trung sĩ thấp lùn, có lẽ chỉ nhỉnh hơn nòng cối 82 ly một chút đang đứng xem khẩu đội Một học thao tác. Tiểu đội trưởng Điền đang cố gắng giảng giải cho chiến sĩ Pâng thế nào là quay tay trục tầm trục hướng theo chiều kim đồng hồ. Pâng đưa đồng hồ lên tay xem, rồi tay cầm tay quay trục tầm, mồm thì đọc: “Muốn hạ nòng pháo xuống, thì quay theo chiều kim đồng hồ”, mà nòng pháo cứ vùn vụt nâng lên làm mọi người không nhịn được cười. Phí Cà đứng xem rất chăm chú, vừa lúc bắt gặp mắt Pâng nhìn ra liền làm động tác xoay cổ tay, mồm khẽ nói: “xoắn lạt, xoắn lạt”… Từ lúc đó trở đi, Pâng nâng nòng pháo lên, hạ nòng pháo xuống không hề nhầm lẫn.

Noãn “mê” người trung sĩ dân tộc Hà Nhì này ngay từ phút đầu, mặc dù anh không thích người thấp. “Ôi chao, những người lùn tè thì xoay xở thế nào với những bộ phận kềnh càng của pháo bộ binh chúng tôi!”. Noãn thường kêu với các đồng chí phụ trách quân lực trung đoàn như vậy.

Câu chuyện tiếp ngay sau đấy càng làm Noãn yêu thích Phí Cà hơn:
– Anh em ở đồn biên phòng Lao Táo được bổ sung về đây có ai có ý kiến gì không?
– Có đấy thủ trưởng à! Đóng ở Lao Táo chúng mình được gần nhà. Gió Hừ ở San Thầu, Pó Hừ ở Tả Cừ, Phì Xá ở Gò Cứ. Còn mình thì ở Mù Cang. Làm lính biên phòng lâu ngày đã quen, bây giờ sang đơn vị mới cũng nhớ đơn vị cũ chứ! Đồn chúng mình vui lắm, là đơn vị anh hùng đấy… Còn cái này nữa… ! cũng có ngại điều lệnh bộ đội chủ lực gò bó đấy! Ở biên phòng điều lệnh cũng nghiêm, nhưng chúng mình thường đi cơ sở nên vẫn thoải mái.

– Thế riêng đồng chí có thắc mắc không?
– Có tý ty ý kiến vậy thôi, chứ không thắc mắc đâu!… Bắn súng cối có khó không, thủ trưởng?… Mình ít văn hoá có học bắn được không? – Câu chuyện hút ngay vào việc học bắn súng cối – Học có lâu không, thủ trưởng? Chắc là khó lắm, thủ trưởng nhỉ?…

Là một sĩ quan được đào tạo chính quy, đã nhiều năm làm cán bộ nhà trường, Noãn thường không thích lối nói không đúng điều lệnh của bộ đội, thế mà lần này anh không thấy bực mình tí nào với cách nói quá lắm “mình” nhiều “thủ trưởng” của Phí Cà.

Thủ trưởng không biết chứ, mình xung phong về đơn vị của thủ trưởng đấy. Mới đầu các thủ trưởng tỉnh đội bố trí mình về làm cán sự tác huấn của huyện đội. Làm cán sự huyện đội cũng thích, hay được xuống xã, đi huấn luyện dân quân, không khác gì công tác đội của đồn biên phòng… lại còn hay được về nhà nữa… Nhưng mình nghe tin đại đội súng cối của thủ trưởng cần người, mình xin về, và được luôn… thế mới thích chứ! Gió Hừ, Pó Hừ, Phì Xá chúng nó cũng thích như mình đấy…

Bằng lối nói lúc thì rồ rà, lúc thì sôi lên, có nhiều chi tiết cắt ngang để giải thích theo thói quen của những cán bộ cơ sở khi phổ biến tình hình hay giải thích chính sách cho nhân dân, Phí Cà đã kể cho Noãn nghe vì sao anh lại xin về đơn vị súng cối 82 ly này.

Bắt đầu chính là từ các quả đạn cối của địch vào buổi chiều hôm ấy. Sau một ngày dùng tất cả mọi chiến thuật mưa đạn, biển người, cả đến hoả công – chúng đốt tất cả rừng tranh bao quanh đồn mà không hạ được đồn Lao Táo, bọn địch đành phải rút quân về. Cay cú, chúng cho trận địa súng cối đặt trên đường biên sau quả núi Khỉ Nhòm không ngừng bắn qua. Cả ngày ngập trong lửa đạn, đã quen với cảnh ù tai nhức óc, thế mà lúc này ai cũng khó chịu với những quả đạn cối 82 ly lúc nhặt lúc khoan, mặc dù chúng chẳng cản trở được bao nhiêu công việc thu dọn doanh trại, cho lợn gà ăn, anh nuôi lo bữa cơm chiều muộn. Phải chăng đó là nỗi bực dọc của những người bị đánh mà không được đánh trả? Giữa lúc đó thì phía núi Giàng Pho bốc lên ! một cuộn khói đạn. Lại thêm bản Mù Sang của Phí Cà bị trúng đạn cối. Như điên lên, Phí Cà vừa xổ cả băng đạn tiểu liên về phía Khỉ Nhòm vừa rít răng: “Hổ vồ chúng mày! Hổ xé xác chúng mày! Hổ nhai sống chúng mày! Hổ nuốt chửng chúng mày! Tao mà có được khẩu súng cối thì tao giã giềng chúng mày”.

Noãn còn được Gió Hừ cho biết thêm về Phí Cà.
– Thủ trưởng không biết chứ… Phí Cà nó khổ lắm đấy. Nó căm thù thằng địch lắm đấy, căm từ trước kia… Nó căm đến mức ban chỉ huy không dám cho nó ra chỗ đấu tranh chính trị chống xâm canh ở suối Xà Hồ hòng lấn đất ta hồi năm bảy tám… Thủ trưởng không biết chứ, bố mẹ nó chỉ đẻ hai chị em. Chị nó lấy chồng bên Trung Quốc, ở ngay bản Lầu Ngải Chồ, bị đánh chết trong cách mạng văn hoá. Trong ba-lô nó còn cái vòng bạc chị nó cho ngày đi lấy chồng… Lại còn chú nó nữa… Chú nó bị thổ phỉ giết năm sáu tư… Dân quân bắt được tên phỉ này. Bên Trung Quốc liền sang xin.. Chúng bảo: “Tên Long Vân là ác bá trốn nợ máu ở Trung Quốc. Xin được đưa nó về cho nhân dân Trung Quốc cũng được hỏi tội nó!”. Mồn chúng cứ xoen xoét. Thế mà một lần sang công tác ở đồn biên phòng Lầu Ngải Chồ chính Phí Cà thấy tên Long Vân mặt đỏ, mũi bóng lấp ló trong buồng tên đồn trưởng…

Phí Cà say mê học tập bắn súng cối như chàng trai mới yêu và được yêu. Anh học không kể giờ kể buổi, học với bất kỳ ai. Anh có lối học nghe kỹ, xem kỹ, rồi tự rút ra kết luận. Và những kết luận của anh đã giúp ích rất nhiều cho sự tiếp thu của các chiến sĩ ng�! �ời mi�! ��n núi. Noãn nhớ mãi cái lần anh giảng về nguyên lý hoạt động của ngòi nổ. Anh dẫn đủ mọi lý lẽ, vẽ đủ mọi hình ảnh lên bảng, mà nhiều chiến sĩ vẫn không sao hiểu được thế nào là quán tính ỳ. Giữa lúc đó thì Phí Cà đứng dậy:
– A, tôi hiểu rồi! Như cưỡi trâu ấy mà! Con trâu đang đứng bất thần lồng lên. Cài đầu ta ngật về phía sau một cái, không khéo thì ngã lộn ngửa xuống đất ấy chứ… Đúng rồi, vì cái đít ta đã chuyển mà cái đầu ta còn ỳ mà!

Mọi người hiểu ngay: cái lúc này đã mở chốt an toàn của ngòi nổ.

Phí Cà tiến bộ nhanh còn bởi một lẽ anh rất mạnh dạn trong việc thảo luận, học tập. Trong anh, cái bộc trực thường thắng cái tự ty. Tuy tự cho mình là người văn hoá kém, mới về đơn vị còn kém xa mọi người, nhưng anh lại không ngại nói sai, không phải đắn đó xem ý kiến của mình có lọt tai mọi người, có đúng ý cấp trên không, nên bên cạnh những ý kiến nhiều khi đến là ngớ ngẩn như: sao không xẻ thêm đường khương tuyến trong nòng cối để bắn được xa hơn, anh lại có những đóng góp hết sức xác đáng.

Cái lần Noãn đang loay hoay không sao giải quyết được việc dùng một hoặc hai khẩu đội bắn chặn yết hầu rút lui của địch, vì các yết hầu này vừa hẹp vừa sâu, có khi chỉ là một cái khe nhỏ, đạn cối tản mạn lớn, khó có thể bắn lọt xuống lõng, thì Phí Cà đưa ra ý kiến: “Tốt quá đi chứ! Hai bên khe toàn đá. Mảnh đá bổ xuống thêm vào mảnh cối, một quả đạn thành hai quả đạn ấy chứ!”.

Noãn thường hay đến dự các buổi luyện tập của khẩu đội Phí Cà, vì ở đây anh có thể rút ra những kinh nghiệm cho việc huấn luyện chiến sĩ mới là người các dân tộc thiểu số mà rồi đây đơn vị sẽ ngày càng được bổ sung thêm nhiều. Mặt khác, anh cũng học tập được nhiều điều bổ ích ở người tiểu đội trưởng này, như việc ước lượng cự ly bằng mắt, việc đưa pháo đạn vượt các vách đá dựng đứng, hay qua suối sâu, nước chảy xiết .v.v. Còn một mục đích nữa, anh quyết tâm bồi dưỡng Phí Cà thành cán bộ nòng cốt của đơn vị. Anh hy vọng rồi đây Phí Cà sẽ là người thay thế được anh. Trong cuộc ch! iến đấu lâu dài bảo vệ Tổ quốc, cần có những lớp người kế tục, mà theo anh tuyệt vời nhất là những người ở ngay trên biên cương, hiểu rõ địch, ta như Phí Cà. Kinh nghiệm mách cho anh biết không có một sự tiến lên nào mà không có sức ỳ cản lại. Sức phóng của tên lửa bị ngay sức nặng của thuốc phóng cản trở. Cần tạo ra những cái sốc, hay nói như Phí Cà, những cái “lắc” để thắng sức ỳ. Noãn đã nhìn thấy sức ỳ ở Phí Cà. Chính cái “trăm nghe không bằng một thấy” đưa Phí Cà tiến nhanh, nay đã trở lại cản trở. Mà cản trở rõ nhất là trong việc vươn lên về xạ kích, vì xạ kích đâu phải lúc nào cũng có đạn bắn thử; có đủ yếu tố “mắt thấy” Noãn đã nhiều lần tâm sự riêng với Phí Cà, đôi lần đưa ra nhận xét trong điểm danh và cuộc họp, nhưng anh chưa có cách nào phá vỡ được bức tường “trăm nghe không bằng một thấy” của Phí Cà.

Phải đến hôm khẩu đội Phí Cà được bổ sung chiến sĩ mới là Khuông. Khuông thuận dùng tay trái và dĩ nhiên việc “xoắn lạt”, “nới lạt” ở người thuận tay trái ngược với người thuận tay phải. Phí Cà đã rơi vào tình trạng: chiến sĩ của mình mồm thì nói nâng nòng pháo lên mà tay cứ tùn tụt hạ nòng pháo xuống. “Cái sốc” này khá mạnh với Phí Cà. Anh nói với Noãn:
– Đại đội trưởng nói đúng quá! Kinh nghiệm giỏi lắm chỉ đúng được chín. Chỉ lý luận mới đúng được cả mười… A, có thế mà không hiểu: súng cối góc bắn càng thấp tầm bắn càng xa, nhưng nếu thấp quá bốn nhăm độ thì lại không bắn được nữa… Đúng là ng�! �t quá h! oá đắng!

“Cái sốc” thứ hai đối với Phí Cà chính là việc Noãn chọn khẩu đội trưởng Điền đi chặn yết hầu Xi-Nế, chứ không chọn khẩu đội Phí Cà. Trước trận đánh này, đại đội tổ chức hội thao và Noãn tuyên bố: Khẩu đội nào đạt thành tích cao nhất sẽ được giao nhiệm vụ khó khăn nhất. Tổng hợp điểm, khẩu đội Phí Cà đã dẫn đầu, nhưng riêng môn xạ kích thì Điền vượt Phí Cà nửa điểm. Phí Cà còn đinh ninh mình sẽ được giao nhiệm vụ chặn yết hầu vì trước đó, trong lần đi phối thuộc với đại đội 7 bộ binh đánh địch ở Khò Ma, Phí Cà đã hiệu chỉnh đạn bắn rất linh hoạt, bỏ hẳn bước bắn tạo khoảng bao bọc đầu tiên, tiêu diệt ngay khẩu đại liên địch bằng hai quả đạn bắn gấp tiếp theo, vì anh nắm vững cự ly giữa các vật chuẩn của vùng này từ ngày còn là chiến sĩ biên phòng. Noãn đã phân tích cho Phí Cà rõ: chặn yết hầu Xi Nế đòi hỏi xạ kích phải hết sức chính xác, vì ở đây chủ yếu là núi đất, không thể lợi dụng độ tản mát của đạn trong vùng núi đá như ở các nơi khác. Và rõ ràng về xạ kích Điền giỏi hơn Phí Cà, nên phải chọn khẩu đội Điền để đảm bảo chắc thắng nhất.

Tôi đã hiểu! Tôi xin bỏ ý kiến bảo là thủ trưởng không tốt, – Phí Cà nói với Noãn. – Tôi đã nghĩ sai cho thủ trưởng quá, cho là thủ trưởng không tin tôi, nói dối tôi… ờ mà mình xạ kích còn kém đồng chí Điền thì rõ rồi! Mình sẽ cố gắng, thủ trưởng phải giúp đỡ mình nhiều hơn nữa!… Mà mình cũng có chủ quan đấy, cho là vùng này mình thông hiểu hết thì bắn cũng không khó lắm… Mà mình cũng có ngại khó đấy, ngại tính tà âm, tà dương, tính độ gió… Từ nay mình sẽ cố gắng.

Phí Cà có bước tiến vọt về xạ kích. Noãn rất mừng. Anh đã tự thưởng cho mình một điếu thuốc lá vấn dài gấp rưỡi bình thường, vì tự nghĩ đã phần nào hiểu được người tiểu đội trưởng miền núi hết sức có triển vọng này, thì một điều khó hiểu nữa lại đến: Tại sao Phí Cà lại bảo: “Đồng chí Điền không tốt!”. Lại những tiếng không tốt.



Báo động!
Không phải bằng tiếng kèn vang lừng làm người chiến sĩ bừng tỉnh ngay, hay bằng tiếng còi lanh lảnh chói vào màng nhĩ người lính đang chìm trong giấc ngủ, mà bằng cái lay khẽ có khi tiếp thêm cái êm đềm cho giấc mơ êm đềm.

Pháo thủ số 1 Lê Văn Thuộc bứt mình ra khỏi giấc mơ về một phố Hà Nội, quơ vội chăn màn nhét vào ba-lô, khoác vội mọi trang bị lên người, vội vã vác cái nòng cối chạy ra sân… và khi giấc ngủ dở dang dịu dịu trở lại thì tai anh nghe tiếng ra lệnh của Phí Cà, khó nhưng rành rọt.
– Xóc người!
Thuộc nhún chân, xóc người liền mấy cái. Không một tiếng động. Cả cái hộp máy ngắm đeo bên sườn c�! �ng không một tiếng lịch kịch. “Thế nào, hết ý kiến rồi chứ ông trung sĩ?” Thuộc tỉnh hẳn trong cái mỉm cười tự bằng lòng mình. Anh nhớ mãi cái lần kiểm tra, mà vừa mới khẽ nhún chân cả người anh đã lọc xọc như chiếc xe đạp long ốc lao trên con đường dốc lổn nhổn đá.

Phí Cà tiếp tục đi kiểm tra các chiến sĩ khác, người lùn tè, trang bị phình ra xung quanh với những băng đạn tiểu liên, dao găm, lựu đạn, ống nhòm, bi đông, ống muối gừng, bao gạo,v.v.. lại còn cả cái nồi nấu cơm của tiểu đội úp chồm ra sau cái ba-lô, rồi lại còn cái ba-lô to kềnh của số 3 Khuông lù lù trước ngực, vì Khuông phải mang cái bàn đế nặng hai mươi bốn ki-lô-gam. Anh em gọi Phí Cà là quả me tròn thật đúng. Đúng cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Đúng đến mức Thuộc phải rút ngay ý kiến “tròn như quả bóng tròn”, vì quả bóng chỉ một mũi gai là xẹp dán, chứ quả me tròn thì dùng móng ngựa hay móng trâu cũng không làm thay hình đổi dạng được. Nó còn đúng ở chỗ mới bập răng vào thì chát, nhưng càng nhấm càng ngọt.

Đơn vị hành quân được một lúc thì trời mưa. Cuối thu, đầu đông, vùng thượng nguồn sông Đà này thường có những trận mưa rào dữ dội thế này. Những hạt mưa to và dày ào ào trút xuống làm tối tăm mặt mày và buốt thì chẳng kém gì sương muối. Cái buốt cái lạnh mới chạm vào cổ thì như kim châm, rồi lan xuống ngực xuống bụng thì như xát nước đá… Cực nhất là khi quần áo đã đủ ướt, thì cả người chả khác gì ngâm dưới nước. Còn khổ hơn ngâm dưới nước. Vì ở dưới nước, những bộ phận nào ngâm còn tránh được gió, chứ ! đằng n! ày toàn thân ướt sũng phơi ra trước gió. Mà cái gió ở đây thật là tai quái. Ngọn gió bắc từ núi cao quét xuống vỗ vào mặt, vào ngực, rồi khi chạm đáy thung lũng thì vòng hắt ngược lên thốc vào gáy, vào lưng, làm con người như rơi vào giữa xoáy lốc, khéo che, khéo quàng mấy thì rồi cũng chỉ một lúc là toàn thân ướt sũng. Phí Cà chạy ngược tiểu đội, xem xét, co kéo áo mưa cho từng chiến sĩ.

Kiểm tra khắp lượt, Phí Cà lại kiểm tra Thuộc một lần nữa. Anh biết Thuộc rất khó chịu với những cái để ý của anh. Nhưng anh không thể không quan tâm đến Thuộc hơn. “Ôi chà, Thuộc là người thành phố: mà thành phố thì cái gì cũng có, cũng tiện. Thuộc lên đây là nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc, nhưng lại trực tiếp bảo vệ người Hà Nhì, người La Hủ mình, mình phải giúp đỡ Thuộc”. Phí Cà thường nói với các bạn trong tiểu đội như vậy, khi anh em có ý kiến cho là tiểu đội trưởng cưng chiều Thuộc.

Đơn vị chiếm lĩnh trận địa ở Phiêng Khoài. Trời sáng rõ thì mưa tạnh, các khẩu đội cũng chuẩn bị xong trận địa chiến đấu tạm thời. Đại đội trưởng Noãn lo anh em bị ốm vì trận mưa, đang mong có lệnh thôi tập thì nhận được lệnh cho đơn vị sử dụng khẩu phần ăn dự trữ. Như vậy là bọn bành trướng đã lợi dụng mưa rét cho quân xâm nhập đất ra. Chúng vào đâu? Xi Nế, Xà Hồ, Hà Nô hay Mù Sang? Noãn rất bằng lòng với vị trí tập kết này, vì đây là trung tâm tuyến phòng thủ mà đơn vị phụ trách. Từ đây, đại đội có thể nhanh chóng tiếp cận tất cả các địa điểm. Các cán bộ đại đội chia nhau đi kiểm tra các trung đội. Noãn đến khẩu đội hai. Anh rất hài lòng khi thấy các chiến sĩ của Phí Cà đều khô, chứ không ướt lướt mướt như các tiểu đội khác. Khi nhận được lệnh sử dụng khẩu phần ăn dự trữ, Phí Cà hiểu ngay tình hình, liền ra lệnh thay quần áo trước khi ăn, mặc dù có người đã nhanh nhẩu bóc khẩu phần ra. Người lính ướt lạnh thì khó mà sử dụng vũ khí chính xác. “Thật là một tiểu đội trư�! ��ng biết lo cho chiến sĩ và công việc!”. Noãn thầm khen và liền ra lệnh cho toàn đại đội thay quần áo.

Phí Cà còn phân phát cho chiến sĩ những lát gừng dầm muối, cả Noãn cũng được mời một lát. Thật tuyệt vời, cái cay nóng thấm vào họng, vào ruột, tỏa ấm toàn thân, còn cái mặn thì làm người lính tỉnh hẳn ra. Lấy lại được hơi ăn, mồm mép Thuộc hoạt động ngay:
– Cối rót ông Điền, cối nghiến ông Cà, cỗi tõm Hải ta. Còn cối bà xã nhà thì ông Khuông.
– Thế Thuộc là cối gì? Là chày cối à? – Khuông “phản cối” liền.
– Ha, ha! Một cối chết tươi nhé Thuộc ơi!
Tiếng cười của mọi người làm ấm không gian. Noãn rất thích cái không khí lúc nào cũng vui cũng nhộn của khẩu đội này. Noãn hỏi Phí Cà khẩu đội đã sẵn sàng chưa? Súng đạn có bị ướt? Có ai việc gì không?
– Báo cáo! Thủ trưởng cứ ra lệnh.
Noãn hài lòng thấy Phí Cà trả lời dứt khoát, sau đó lại thư thái đứng đợi, chứ không đảo mắt xem lại đạn, kiểm tra anh em. Như vậy mọi việc đã hoàn hảo, sẵn sàng đúng như điều lệnh chiến đấu đã quy định.

Bảy giờ. Lệnh trung đoàn truyền xuống: “Một đại đội sơn cước đột nhập thung lũng Hà Nô. Phải tiêu diệt trước giờ X. Đề phòng pháo địch”.
– Đồng chí Hùng! – Noãn gọi.
– Có! – Chiến sĩ điện thanh dập gót đứng nghiêm đợi kệnh.
– Báo cáo về trung đoàn: đại đội sẽ nổ súng đúng X. trừ mười lăm.

Giờ X. là đã quá ngặt nghèo, nhất là lại chọn phương án ba. Có khẩu đội phải hành quân trên chặng đường dài sáu cây số ! mới m�! �t lần giẫm mở gần như là vòng ra sau lưng địch, có khẩu đội phải leo vách đá cao đến mười lăm mét lên Vai Gấu để ngồi ngay trên yết hầu, nhưng Noãn vẫn quyết định nổ súng trước mười lăm phút. Trung đoàn ra lệnh đánh trước giờ X. là vì nếu chậm hơn, địch đã có thể ra khỏi thung lũng đi gây tội ác và chọn con đường khác rút về. Noãn quyết định nổ súng sớm hơn mười phút là để chắc thắng mà lại bảo vệ lực lượng, vì lúc này sương mù đọng trong thung lũng vừa dâng lên tới đỉnh núi che kín mắt các đài quan sát của địch, còn bọn sơn cước thì phơi trần dưới mắt ta như thóc nằm trong cối.

Đơn vị cấp tốc triển khai chiến đấu. Tất cả trang phục để lại, chỉ mang theo vũ khí và các phương tiện cần thiết, người lính gọn gàng và nhanh nhẹn hẳn lên. Noãn trực tiếp kiểm tra khẩu đội Phí Cà trước khi lên đường. Từng người lướt qua mặt anh. Có người cười với anh. Có người còn giơ tay vẫy. Anh rất tin tưởng tài tháo vát của khẩu đội này, nên đã giao cho nó nhiệm vụ khó khăn nhất là lên Vai Gấu, trận địa khó chiếm lĩnh nhất nhưng lại lợi hại nhất trong thế trận hôm nay. Vấn đề trước mắt là đưa an toàn người và vũ khí lên Vai Gấu trước giờ nổ súng. Con đường này chính Phí Cà và Noãn đi tìm. Phương án vượt vách đá đã được khảo sát cụ thể. Các chiến sĩ của khẩu đội hai gần hết là người miền núi thông thạo việc leo trèo, đi men bên các vực sâu, chỉ có Hương số năm và Thuộc số một là người miền xuôi. Hôm nay nhất định Thuộc phải cảm ơn những buổi tập leo trèo trên vách núi sau doanh trại mà có lần Thuộc đã nổi cáu cho là Phí Cà hành hạ mình.

Cùng bổ sung về đơn vị một lần, cùng là sinh viên đại học Tổng hợp Hà Nội, nhưng Thuộc khác hẳn Điền. Điền say sưa đi vào kỹ thuật xạ kích, tích cực với việc xây dựng đơn vị bao nhiêu, thì Thuộc coi thường các buổi học tập và thờ ơ với công việc của đơn vị bấy nhiêu: “Ôi cha, ba cái tam giác lượng…, xì, chương trình toán cấp hai, chứ có gì mà nhắng lên! ăn đời ở kiếp gì với mấu khẩu cối lụt này… Hết ba năm nghĩa vụ là vù”.

Từ một người được coi là có năng lực nhất đại đội, dần dần không tiểu đội nào mu! ốn nhận Thuộc. Noãn đang tìm cách rũ cái gánh nặng, thì Phí Cà được bổ sung về đơn vị và xin Thuộc về khẩu đội mình. Anh nói với Noãn:
– Thủ trưởng cú cho Thuộc về khẩu đội hai. Mình mới về chưa biết bắn súng cối thế nào, văn hoá lại thấp, cần có người giúp đỡ, làm nòng cốt cho khẩu đội.

Thuộc đang tức vì bị mọi người coi thường, liền quyết định sẽ làm thật tốt nhiệm vụ số một khẩu đội hai, để chứng tỏ cho mọi người biết mình không phải là kém mà là chưa ra tay đó thôi. Nhưng rồi cái động cơ “cho mọi người biết tay” không đứng được lâu với cái tính tự do, tính bất cần. Một thời gian ngắn, tất cả những khuyết tật của Thuộc lại hiện ra. Chỉ có điều không không như ở các tiểu đội khác, Phí Cà không bao giờ nhân nhượng với những cái sai điều lệnh, cái vô kỷ luật.

Noãn nhớ mãi cái lần Phí Cà chính đốn nội vụ Thuộc, bắt phơi lại cái khăn mặt phơi không đúng quy định. Không hiểu Phí Cà có hiểu Thuộc đứng cứng người, hếch cằm làm động tác nghiêm một cách quá mức như vậy là để phản ứng không mà cứ rành rẽ nói:
– Điều lệnh nội vụ là để người chiến sĩ lúc nào cũng ở tư thế sẵn sàng hoàn thành nhiệm vụ. Nội quy quy định phơi khăn mặt ngay ngắn là để rèn luyện tính cẩn thận. Quy định phải cặp khăn là để khỏi gió bay, có cái mà dùng, – và cuối cùng hạ một câu rất nghiêm. – Tiến lên ba bước, phơi lại khăn mặt.

Thuộc đã phải phơi lại khăn mặt đúng như quy định. Không thể khác được, vì tiểu đội trưởng đứng nghiêm, cả tiểu đội đứng nghiêm đợ! i Thuộc! chấp hành mệnh lệnh.

Sau chuyện này, Thuộc ức lắm, nói thẳng Phí Cà trong cuộc họp tiểu đội ngay tối hôm đó, yêu cầu cho chuyển sang tiểu đội khác, vì không thể sống được với một tiểu đội trưởng vừa máy móc vừa bắng nhắng.

Lại vẫn cái giọng nhỏ nhẹ, nhưng rành rọt, Phí Cà nói:
– Bắng nhắng là gì mình không biết, xin nói rõ cho. Còn máy móc thì mình phải làm đúng điều lệnh quy định. Để mình báo cáo ý kiến đồng chí lên trên. Nếu cấp trên bác bỏ thì mình cũng sẽ thôi, còn cấp trên chưa bảo bỏ thì chửi mình cũng không thôi đâu… Còn đồng chí Thuộc xin đi tiểu đội khác thì mình không đồng ý. Đồng chí Thuộc thạo tính toán, là pháo thủ số một giỏi phải ở lại giúp đỡ mình và anh em… Mình không đồng ý để đồng chí Thuộc đi đâu.

Qua chuyện này, Noãn càng tâm đắc hơn cái điều mà người cán bộ nào cũng nói được, nhưng khó thực hiện: chiến sĩ tự do không phải chỉ do người đó mà cái quan trọng là còn ở thái độ của cán bộ. Người nào cũng có mặt tốt. Mặt tốt được phát huy sẽ lấn át được mặt xấu. Quả là Thuộc phản ứng Phí Cà nhiều hơn, gay gắt hơn bất cứ tiểu đội trưởng nào Thuộc đã từng ở dưới quyền chỉ huy. Nhưng không ở khẩu đội nào Thuộc hoàn thành nhiệm vụ tốt bằng ở khẩu đội này, và cũng có thể nói không khẩu đội trưởng nào Thuộc gắn bó bằng Phí Cà. Lúc này đây, người đi trước lùn tè, người đi sau cao kều nom thật trái ngươịc nhau. Nhưng người đi trước đi nhanh bao nhiêu, người đi sau sải bước theo nhanh bấy nhiêu, thật là tương đắc.

Trận đánh diễn ra thật đẹp, gần đúng như dự kiến. Từ trên các triền núi cao xung quanh, trong cái thế trận địa thì phủ kín sương mù, còn mục tiêu thì phơi trần dưới thung lũng, các khẩu đội của trung đội hai và tủng đội ba từ hai dãy đồi Con Nhím và Con Chồn liên tiếp dựng lên bức tường lửa lùa địch lui ngược trở lại phía bắc. Đến khi đại bộ phận bọn xâm lấn đã lọt vào yết hầu, thì những quả đạn của Phí Cà từ trên Vai Gấu giọt xuống, của Điền từ núi Phượng Hoàng rót qua, chốt cứng khe núi lại, rồi vùi lấp quân địch giữa hai vách đá. Trong óc Noãn chợt hiện lên cái máng giã gạo của người Mường. Máng dài phía cuối khoét một lỗ tròn, sâu. Các cô gái cho cả cum (Cum thóc, lá bó thóc để cả ngọn rơm, đồng bào Mường thường cắt thóc cả bó) thóc vào đầu máng giã.
!
Thóc tách khỏi rơm dồn dần xuống đến gần cuối máng thì đã thành hạt gạo. hạt gạo chỉ còn vỏ cám lăn xuống lỗ để được dần giã đến trắng phau. Cối gạo của người Mường có khi có đến ba, bốn cặp giã. Hai người dẻo tay nhất bao giờ cũng đứng ở cuối, “cắc cùm cum, cắc cùm cum…” nhịp ba nhịp bảy đảm nhiệm việc giã trắng cuối cùng.

Từ hai phía rót đạn vào hẻm núi, khẩu đội Điền và khẩu đội Phí Cà chẳng khác gì hai tay dẻo nhất của hội giã, nghiền nát bọn xâm lấn bị đại đội dồn từ trong ra…

Sau mười phút trời long dất lở, vùng Hà Nô bỗng lặng băng. Và sương mù ttrên các đỉnh núi tan hết thì núi đồi hoàn toàn vắng lặng.

Nhưng bỗng thung lũng lại rung lên những tràng nổ liên hồi và rồi tất cả các quả đồi xung quanh, cả mỏm Đầu Gấu – từ khi thiên lập địa đến nay chưa có một ai trèo lên được – mù mịt khói đạn. Các vệt lửa của các giàn tên lửa H12 lem lét đốt cháy cây cỏ. Pháo binh địch lồng lên vì cay cú và cũng là để phi tang đồng bọn.

Chúng bắn mãi, bắn mãi… các chiến sĩ đại đội Năm về đến doanh trại vẫn còn nghe chúng bắn.
Noãn, Điền, Phí Cà gặp nhau ở cửa hội trường:
– Hoan hô! Các đồng chí chốt yết hầu hay quá!
– Báo cáo đại đội trưởng, cũng là nhờ Phí Cà đấy.
– Đồng chí Điền nói khiêm tốn thế, mình không thích đâu. Mình phải học tập đồng chí nhiều thì có.
– Không phải mình khiêm tốn đâu, mà đúng như thế đấy. Không có cái sáng chủ nhật bị thua đồng chí liền hai ván, thì mình không bắn được như hôm n! ay đâu.! Tình huống hôm nay giống hệt hôm ấy: bắn tà âm, gió xuôi chéo.
– Thế hôm ấy đồng chí Điền thua thật à?
– Thua thật, chứ ai lại còn thua dối! Sao đồng chí hỏi vậy?
– Đồng chí Cânỳ! Hôm ấy đồng chí Điền thua thật đấy. Đồng chí ấy thua là vì chỉ thường luyện bắn theo hướng phòng thủ chung, bắn lên phía bắc, bắn ngược chiều gió. Hôm ấy đồng chí Điền ở vị trí quân xanh nên lúng túng… Tôi biết từ bữa đó đồng chí rất chú ý luyện tập tình huống bắn ngược lại. Đánh bọn này không phải chỉ có đánh vỗ mặt, mà còn phải biết đánh quặp, đánh từ sau tới, đánh từ mọi hướng.
– Ô, thế mình sai quá rồi, mình khuyết điểm quá rồi. Hôm ấy mình cho là đồng chí Điền giả vờ thua để động viên mình nên mình tức… Mình nghĩ sai cho đồng chí quá. Mình bảo đồng chí không tốt là bậy quá… Mình xin lỗi đồng chí đấy!

Noãn sững cả người nhìn Phí Cà. À ra thế! Cái câu “đồng chí Điền không tốt” là thế. Phí Cà cần sự giúp đỡ, chứ không cần sự chiếu cố. Phí Cà đòi hỏi được đối xử ngang bằng trong thi đua, trong đánh giặc, chứ không cần sự châm chước… Chà, còn bao điều anh chưa hiểu về Phí Cà, chưa hiểu về chiến sĩ của mình…, ngay như Thuộc… Tiếng Thuộc oang oang ngoài gốc muỗm càng làm cho suy nghĩ của Noãn thêm sâu lắng.

– Này Hải, làm một ván cờ chứ?… Còn đi tán hả?… Thế thì… cối rót ông Điền, cối nghiền ông Cà, cối tõm Hải ta…
– Còn cối bà xã nhà… – tiếng một người xen vào.
– Ê, không nói bậy. – Thuộc bỗng! quát l�! �n.
– Hoan hô… hoan hô… – tiếng reo hò tán thưởng rộ lên từ gốc muỗm, nơi anh nuôi đang chia cơm, lan ra tận bờ suối chỗ chiến sĩ đang ùm ùm tắm giặt, cho du mùa đông miền núi trời đổ tối rất nhanh và rất rét.

Hà Nội, tháng 12-1981

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét